VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XVIH
3. Trịnh - Nguyễn phân tranh
Ngay từ khi cuộc chiến Nam - Bắc triéu còn đang tiếp diễn, trong nội bộ Nam triêu đã nảy sinh mâm mống chia rẽ. Năm 1545,sau khi Nguyễn
Kim bị sát hại, vua Lê trao mọi quyền bính cho Trịnh Kiểm. Hai họ
Trịnh- Nguyễn vốn đã từng được gắn kết bởi mục đích chung giúp vừa Lê dựng lại cơ nghiệp, lại được thắt chặt thêm bằng quan hệ hôn nhân 137
(Trinh Kiểm là con rể Nguyễn Kim), đến đây bị rạn nứt. Để thâu tóm moi
quyền lực, Trịnh Kiểm tìm mọi cách loại bỏ ảnh hưởng của họ Nguyễn.
Mâu thuẫn giữa hai thế lực đạt đến độ gay gắt khi người con trai trưởng của Nguyễn Kim là Tả tướng Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm lập mưu giết hại. Em trai của Uông là Nguyễn Hoàng, theo lời gợi ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã
nhờ chị gái là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin cho được vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Việc ra đi của Nguyễn Hoàng, như lịch sử đã cho thấy, không - phải chỉ để bảo toàn tính mạng, mà là thực hiện bước mở đầu cho một chiến lược lâu dài: xây dựng lực lượng chống lại họ Trịnh. Đất Thuận Hóa trở thành nơi dấy nghiệp của họ Nguyễn.
Thuận Hóa vốn là đất cũ của Champa, được sáp nhập dân dần vào
lãnh thổ Đại Việt bắt đâu từ thời Lý. Sau khi bị thất bại trong cuộc chiến
tranh năm 1069, vua Champa Rudravarman III đã cắt cho Đại Việt 3 châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh (tương đương với vùng đất từ huyén Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đến huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị). Năm 1306, để cưới công chúa Huyền Trân, quốc vương Sừnhavarman III (Chế Mán) lại cắt 2 châu Ô và Lý (tương đương với vùng đất từ huyện Triệu Phong, tỉnh
Quảng Trị đến huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) cho nhà Trân làm sính
lễ. Năm sau nhà Trần đổi tên hai châu này thành Thuận châu và Hóa châu.
Đến thời Lê Thánh Tông chia cả nước thành 13 xứ, trong đó có xứ Thuận Hóa bao gồm một vàng đất từ phía nam đèo Ngang đến đèo Hải Vân.
Cuối năm 1558, Nguyễn Hoàng đưa gia quyến, tùy tùng và họ hàng thân thuộc ở huyện Tống Sơn vào Thuận Hóa. Năm sau, vùng Thanh Hoá, Nghệ An bị lụt to, hàng trăm ngàn gia đình bị mất nhà cửa, mùa màng thất
bát, nhân dân đói khổ, nhiều người đã kéo nhau vào đất Thuận Hóa để tìm
kế sinh nhai. Khi Nguyễn Hoàng mới vào trấn thủ, đây còn là một vùng
dân cư thưa thớt, kinh tế kém phát triển. Theo mô tả của sử cũ, trên con
đường giao thông chính chạy dọc Thuận Hóa đến tận đèo Hải Vân chỉ có 4
cái quán nhỏ ; cả xứ chỉ có 3 cái chợt”,
Để lôi kéo nhiều người đến Thuận Hóa làm ăn sinh sống, Nguyễn
Hoàng và những cộng sự của ông đã thực thi một chế độ cai trị khoan hòa, khuyến khích sản xuất. Sách Đại Nam thực lục có nhận xét: " Chúa vỗ về thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, thường gọi là chúa Tiên "9,
Đối với triều Lê, Nguyễn Hoàng tổ ra hết sức mềm dẻo, khiến cho họ Trịnh không chút nghị ngờ. Sau hơn 10 năm làm Trấn thủ Thuận Hóa, năm 1570, Nguyễn Hoàng được tin cậy giao cho kiêm lãnh trấn thủ cả xứ Quảng Nam.
138
Xứ Quảng Nam thời kỳ này bao gồm dải đất miền Trung từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông, vốn là đất Champa, sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt sau hai cuộc chiến tranh lớn. Lân thứ nhất xảy ra vào năm 1402, sau khi thất bại trước đại quân do Hồ Hán Thương chỉ huy, Champa
phải cắt đất Chiêm Động và Cổ Lãy (tương đương với vàng đất phía
nam tỉnh Quảng Nam và bắc Quảng Ngãi ngày nay). Cuộc chiến lần thứ hai xảy ra vào năm 1471 dưới thời Lê Thánh Tông. Sau sự kiện này, đèo Cù Mông trở thành biên giới phía nam của Đại Việt.
Có trong tay quyền cai quản toàn bộ hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam,
Nguyễn Hoàng vẫn tiếp tục giữ vẻ bể ngoài hòa hiếu với chính quyện Lê - Trịnh, góp sức với Nam triểu trong cuộc chiến tranh chống lại nhà Mạc, nhưng đồng thời hết sức chú trọng phát triển kinh tế, tăng cường tiểm lực vé moi mặt . Lê Quý Đôn, một quan lại cao cấp của họ Trịnh, đứng trên lập trường đối địch, khi đánh giá về Nguyễn Hoàng cũng phải thừa nhận:”
Đoan quận công có uy lược, xét kỹ, nghiêm mình, không ai dám lừa dối...
chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, pháp tắc công bằng, nghiêm giữ quân sỹ có kỷ luật, cấm chấp kẻ hung bạo. Quân dân hai xứ đêu mến yêu kính phục ; thay đổi phong tục xấu, ai ai cũng cắm ơn mến đức. Chợ không có hai giá, trong dân gian không có trệm cướp, đêm không
phải đóng cổng; thuyên ngoại quốc đến buôn bán, việc giao dịch phân
mỉnh, ai cũng cố gắng, toàn cối nhân đân an cu lạc nghiệp” ay,
Khi cuc dién Nam - Bac triéu két thúc cũng là lúc mâu thuẫn giữa hai tập đoàn Trịnh - Nguyễn đến ngày không thể dung hòa. Sau hơn 40 năm gây dựng lực lượng, trước khi qua đời vào năm 1613, Nguyễn Hoàng đã nói rõ ý định của mình với con cháu và thuộc bạ trong lời trăng trối: " Đất Thuận Quảng phía bắc có Hoành Sơn và Linh Giang, phía nam có núi Hải Van và Thạch Bì, địa thế hiểm cố, thật là một nơi để cho người anh hùng dụng võ. Nếu biết dạy bảo nhân dân, luyện tập bình sỹ, kháng cự lại họ Trịnh thì gây dựng được cơ nghiệp muôn đời "(2), Người trực tiếp thực hiện
lời di huấn ấy là Nguyễn Phúc Nguyên.
Phúc Nguyên là con trai thứ 6 của Nguyễn Hoàng. Ngay từ lúc còn trể đã tỏ ra là một anh kiệt Năm 1585, khi mới 22 tuổi đã chỉ huy một thủy đội đánh thắng 5 chiếc tâu lớn của nước ngoài đến xâm phạm vùng biển Của Việt. Năm 1602 được Nguyễn Hoàng giao cho làm tr ấn thủ xứ Quảng Nam, Phúc Nguyên đã có nhiều công lao trong việc mở mang thương cảng Hội An
và phát triển thương mại quốc tế.
139
Ngay sau khi thay cha làm trấn thủ Thuận- Quảng, Phúc Nguyên cho sửa thành lũy, sắp đặt lại hệ thống quan ải, cải tổ bộ máy cai trị. Năm 1614.
ba ty Đô, Thừa, Hiến theo hệ thống của nhà Lê bị bãi bỏ, thay bằng ty
Xá sai, ty Tướng thần và ty Lệnh sử. Năm sau, quy chế mới về chức trách và quyền hạn của các phủ, huyện được ban hành. Năm 1618, chính quyền họ Nguyễn tiến hành đo đạc lại ruộng đất hai xứ, làm cơ sở cho việc quản.
lý. Đối với nhà Lê, khác với cha, Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách thoái
thác việc cống nạp. Tình hình trở nên căng thẳng vào năm 1620 khi Trịnh
Tráng sai Đô đốc Nguyễn Khải đem 5000 quân đến cửa biển Nhật Lệ để uy
hiếp. Có lúc, nhân họ Trịnh rối ren (Trịnh Tùng chết năm 1623), Phúc
Nguyên đã toan cất quân đánh ra Bắc, nhưng rồi lại thôi), Trịnh Tráng lên thay Trịnh Tùng thi hành chính sách cứng rắn với họ Nguyễn. Năm 1627, chiến tranh đã nổ ra. Trên thực tế đất nước bị chia cắt làm hai miền. Vùng đất từ đèo Ngang trở ra Bắc nằm đưới quyền cai trị của chính quyền Lê - Trịnh gọi là
Đăng Ngoài. Đất Thuận - Quảng được gọi là Đàng Trong.
Trong vòng 45 năm, quân Trịnh đã 6 lần tấn công với quy mô lớn vào Đàng Trong các năm 1627, 1633, 1643, 1648, 1661 và 1672. Nhìn toàn
cục, lực lượng quân Trịnh mạnh hơn. Có thời kỳ, quân Trịnh đã huy động tới 20 vạn quân thủy bộ với 600 chiến thuyền, 500 thuyền vận tải và 500 - vơi cho một trận đánh”). Trong khi đó, quân đội thường trực của Đàng
Trong chỉ có khoảng 4 vạn bộ binh với 200 chiến thuyển(]5), Nhưng do phải
điều động quõn đi xa và gặp rất nhiều khú khăn trước hệ thống lủy phũng ngự kiên cố của quân Nguyễn nên quân Trịnh không lần nào giành: được
thắng lợi quyết định.
Ngay từ giai đoạn đâu của cuộc chiến tranh, Nguyễn Phúc Nguyên đã có được một nhà quân sự tài giỏi thời bấy giờ là Đào Duy Từ trợ giúp: Họ Nguyễn đã cho xây dựng hàng loạt chiến lãy phòng thủ, trong đó lũy Trường
Dục dài đến 10km, lũy Đẳng Hới (còn gọi là luỹ Thầy) cao 6m dài tới 18km:
Phía bên ngoài có rào bằng sắt. Phía bên trong làm bậc để binh sỹ, ngựa,
voi có thể di lại được. Trên mặt lãy cứ 20m lại có một công sự đặt một khẩu đại pháo, 4m lại có một khẩu súng quá sơn (pháo nhỏ).
Nam 1655, quân Nguyễn đánh ra Đàng Ngoài. Cuộc chiến kéo dài 5 năm, quân Nguyễn mới bị đẩy lui khỏi đất Nghệ An. Sau 7 lần đánh nhau, có lúc đã lôi kéo cả người nước ngoài vào cuộc, mà kết
cục không bên nào thôn tính được bên nào, năm 1672 cuộc chiến tranh - chấm dứt. Sông Gianh trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai miền. Nhìn bể
140 ,
ngoài thì đây là cuộc chiến tranh không phân thắng bại, nhưng nếu xét theo
mục đích thì bên thất bại là chính quyền Lê - Trịnh. Họ Nguyễn đã bước đầu thực hiện được ý đồ của mình trong việc tách Đàng Trong ra thành một
giang sơn riêng. =