Chương 4. QUẢN LÝ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 4.1. MỐI LIÊN HỆ GIỮA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ CÁC NGUỒN VỐN 4. 2. NGUỒN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH. 4.2.1. PHÂN BIỆT CÁC NGUỒN TÀI TRỢ. 4. 3. NỘI DUNG CỦA CÁC NGUỒN TÀI TRỢ 4.3.1. CÁC NGUỒN VỐN TỰ TÀI TRỢ 4.3.2. CÁC NGUỒN VỐN TÀI TRỢ TỪ BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP. 4.3.3. PHƯƠNG CHÂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN TÀI TRỢ Thị trường tài chính: Là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các loại tích sản tài chính, hoặc các công cụ tài chính, hoặc vốn. Tích sản tài chính là tiền mặt và tất cả những gì gần với tiền mặt như cổ phiếu, trái phiếu, vận đơn gửi hàng...chúng dễ dàng được chuyển đổi thành tiền khi cần thiết. Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tiền tệ: Là những thị trường tài chính chuyên giao dịch các công cụ nợ ngắn hạn. Các tích sản tài chính này có thời gian đáo hạn ngắn hơn một năm, chúng bao gồm các loại thương phiếu, trái phiếu kho bạc, kỳ phiếu....Thị trường tiền tệ gồm có thị trường hối đoái, thị trường cho vay ngắn hạn, thị trường liên ngân hàng. Thị trường hối đoái chuyên giao dịch trao đổi các loại ngoại tệ. Thị trường cho vay ngắn hạn là một cơ chế diễn ra các hoạt động giao dịch giữa các ngân hàng thương mại với công chúng và các doanh nghiệp. Thị trường liên ngân hàng là cơ chế diễn ra các giao dịch giữa các ngân hàng thương mại với nhau và với Ngân hàng Nhà nước. Từ thị trường này hình thành các loại lãi suất cơ bản của các thị trường tài chính như lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu thương phiếu... Thị trường vốn là thị trường chuyên giao dịch, trao đổi các công cụ vốn và nợ dài hạn. Những công cụ này bao gồm các loại chứng khoán, trái phiếu và các loại chứng từ có giá khác. Thị trường vốn gồm có thị trường cầm cố bất động sản, thị trường chứng khoán và thị trường tín dụng thuê mua. Thị trường cầm cố bất động sản là thị trường chuyên cung cấp những khoản tài trợ dài hạn bảo đảm bằng việc cầm cố, thế chấp các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu các loại bất động sản hay cầm cố, thế chấp các loại bất động sản. Thị trường chứng khoán là cơ chế chuyên giao dịch trao đổi các loại chứng khoán, đó là thị trường sử dụng các thông tin dữ liệu có liên quan đến mức sinh lời tiềm năng và coi đó như một chuẩn mực đầu tư. Các công cụ vốn được giao dịch trao đổi trên thị trường chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu công ty, công trái quốc gia và nhiều loại giấy tờ có giá khác. Thị trường tín dụng thuê mua là thị trường diễn ra các giao dịch tín dụng nhằm tài trợ cho các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh khác thuê dài hạn, hay thuê mua trả góp các loại máy móc thiết bị hoặc các loại bất động sản. Khoản phải thu: Là hình thức bán hàng chịu, thường được thanh toán qua ngân hàng. Vay nợ có thế chấp bằng khoản phải thu: Là hình thức tài trợ ngắn hạn mà nhờ đó công ty đi vay sử dụng khoản phải thu của họ làm tài sản thế chấp cho khoản vay. Trái phiếu: Là giấy hẹn nợ được bán ra để huy động nguồn tài chính cho doanh nghiệp. Tài sản thế chấp: Là những tài sản được người vay tiền đem thế chấp cho người cho vay để bảo đảm việc hoàn trả cho khoản tiền vay. Kỳ phiếu: Là giấy hẹn nợ được hậu thuẫn bởi danh tiếng của người phát hành hơn là thế chấp bằng những tài sản hữu hình. Mua nợ: Là hình thức tài trợ ngắn hạn, nhờ đó công ty bán các thương phiếu cho một công ty mua nợ với giá chiết khấu để lấy tiền mặt. Cổ phiếu: Là chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần. Hay nó cách khác nó là giấy chứng nhận việc đầu tư vào công ty cổ phần, tức là cổ đông có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu và cổ phần là phần góp vốn để cùng sở hữu công ty cổ phần. Cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu ưu đãi hay còn gọi là cổ phiếu đặc quyền, nó có các đặc điểm sau đây: Được hưởng cổ tức cố định hàng năm. Thông thường cổ tức này được ghi sẵn trên cổ phiếu, được chia cổ tức trước cổ phiếu thường và được ưu tiên chia tài sản còn lại khi phá sản trước cổ phiếu thường. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Trình bày khái niệm và phân loại vốn của doanh nghiệp? 2. Phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp theo quyền sở hữu? 3. Nội dung các nguồn tài trợ cho doanh nghiệp? 4. Phương châm và các biện pháp huy động vốn cho doanh nghiệp?
Trang 1Chương 4 QUẢN LÝ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
4.1 MỐI LIÊN HỆ GIỮA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH
VÀ CÁC NGUỒN VỐN
Sự hình thành và phân chia các nguồn tài chính trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện bằng chu trình tài chính của doanh nghiệp Trong chu trình này ta thấy:
Tài trợ của doanh nghiệp được hình thành từ bên ngoài và từ tích luỹ bên trong của doanh nghiệp
Thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ, qua đó doanh nghiệp
có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh của mình và đồng thời có thể đâù tư vốn nhàn rỗi của mình để tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp
Mối liên hệ giữa doanh nghiệp và thị trường tài chính được thực hiện thông qua các công cụ tài chính dài hạn và ngắn hạn Đầu tư cho sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ chính của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, thu nhập của doanh nghiệp được phân chia cho các bộ phận có liên quan như các cổ đông, ngân sách nhà nước và một phần lớn sẽ được tái đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh
4 2 NGUỒN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
VÀ CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH.
4.2.1 PHÂN BIỆT CÁC NGUỒN TÀI TRỢ
Căn cứ vào xuất xứ của nguồn vốn chia thành nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài và nguồn vốn tự tài trợ
Theo thời gian đáo hạn chia thành nguồn tài trợ ngắn hạn và nguồn tài trợ dài hạn Phân biệt hai loại nguồn vốn này như sau
Thời gian đáo hạn ngắn hơn 1 năm
Doanh nghiệp thường không phải trả lãi cho
các khoản nợ phát sinh
Lãi suất thấp hơn lãi suất dài hạn
Doanh nghiệp nhận được dưới hình thức nợ
Thời gian đáo hạn dài hơn 1năm Phải trả lãi cho tất cả các khoản tín dụng Lãi suất cao hơn
Doanh nghiệp có thể nhân dưới hình thức vay hay các hình thức huy động vốn khác
Trang 2Theo trái quyền chia thành nguồn nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu Phân biệt hai loại nguồn vốn này như sau
1 Doanh nghiệp được nợ từ những người không
phải là chủ sở hữu
2 Phải trả lãi cho các khoản tiền vay
3 Mức lãi phải ổn định, phải được thoả thuận
trước khi vay
4 Doanh nghiệp phải hoàn trả khi đáo hạn
5 Doanh nghiệp có thể phải bảo đảm bằng thế
chấp hay nhờ bảo lãnh
1 Do các chủ sở hữu tài trợ
2 Chủ sở hữu chỉ nhận được lợi tức nếu công ty làm ăn có lãi
3 Lợi tức cổ phần được chia theo quyết định của hooij đồng quản trị và số lãi của doanh nghiệp
4 Doanh nghiệp không phải hoàn trả vốn
4 3 NỘI DUNG CỦA CÁC NGUỒN TÀI TRỢ
4.3.1 CÁC NGUỒN VỐN TỰ TÀI TRỢ
Phương thức tự cung ứng vốn có ưu điểm rất lớn là hoàn toàn do doanh nghiệp chủ động, không bị phụ thuộc vào bên ngoài, doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng trong dài hạn với chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp Mặt khác, sự nỗ lực tự cung ứng luôn được coi là một yếu tố để người cấp vốn bên ngoài xem xét khả năng cho vay vốn Tuy nhiên phương thức tự cung ứng vốn cũng có hạn chế cơ bản là quy mô cung ứng vốn là nhỏ và nguồn bổ sung luôn có giới hạn
a Quỹ khấu hao tài sản cố định
Đây là một nguồn tự tài trợ có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp Quỹ này phản ánh độ lớn của các khoản khấu hao tài sản cố định và gián tiếp phản ánh tốc độ đổi mới của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có điều kiện khấu hao nhanh tài sản cố định của mình thì doanh nghiệp càng có điều kiện hiện đại hoá máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm và từ đó càng có điều kiện chiếm lĩnh thị trường Doanh nghiệp cần coi đây là một nguồn vốn cơ bản để có biện pháp quản lý và khai thác có hiệu quả
Tài sản cố định là những tư liệu lao động tham gia vào nhiều quá trình sản xuất Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn dần và chuyển dần giá trị của nó vào giá thành sản phẩm Hao mòn tài sản cố định là một quá trình mang tính khách quan, phụ thuộc vào nhiều nhân tố như chất lượng của bản thân tài sản cố định, các yếu tố tự nhiên, cường độ sử dụng tài sản cố định, Trong qúa trình sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệp phải xác định
Trang 3mức độ hao mòn của chúng để chuyển dần giá trị hao mòn vào giá trị sản phẩm được sản xuất
ra từ các tài sản cố định đó Xác định để chuyển dần giá trị hao mòn của tài sản cố định vào giá trị sản phẩm được gọi là khấo hao tài sản cố định Việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định cũng như ý muốn chủ quan của con người Đối với các doanh nghiệp nhà nước trong chừng mực nhất định qúa trình xác định khấu hao chịu ảnh hưởng của ý đồ của nhà nước thông qua các quy định, chính sách cụ thể của cơ quan tài chính trong từng thời kỳ Các doanh nghiệp khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp tính khấu hao cụ thể Trong chính sách tài chính cụ thể ở từng thời kỳ, doanh nghiệp có thể lựa chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây như một công cụ điều chỉnh nguồn cung ưngs vốn bên trong của mình Tuy nhiên, cần chú ý rằng việc điều chỉnh khấu hao không thể diễn ra một cách tuỳ tiện, không có kế hoạch mà phải trên cơ sở các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn đã được xác định Mặt khác, cần chú ý rằng điều chỉnh tăng khấu hao tài sản cố định sẽ dẫn đến tăng chi phí kinh doanh khấu hao tài sản cố định trong giá thành sản phẩm nên luôn luôn bị khống chế bởi giá bán sản phẩm
b Quỹ tích luỹ tái đầu tư phát triển sản xuất
Quỹ này được hình thành từ nguồn lợi nhuận kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp được trích lập theo tỷ lệ nhất định do nhà nước, đối với doanh nghiệp nhà nước, do hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn quyết định Tích luỹ tái đầu
tư luôn được các doanh nghiệp coi là nguồn tự cung ứng tài chính quan trọng vì có các ưu điểm cơ bản là doanh nghiệp có thể hoàn toàn chủ động, giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng, giúp doanh nghiệp tăng tiềm lực tài chính nhờ giảm tỷ lệ nợ/vốn
Quỹ này càng có ý nghĩa hơn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện chưa tạo được tín nhiệm với các nhà cung ứng tài chính
Quy mô tự cung ứng vốn từ tích luỹ tái đầu tư tuỳ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu là tổng số lợi nhuận thu được trong từng thời kỳ kinh doanh cụ thể và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Tổng số lợi nhuận cụ thể thu được trong từng thời kỳ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, chất lượng hoạt động kinh doanh của toàn doanh nghiệp trong thời kỳ đó Chính sách phân phối lợi nhuận tuỳ thuộc vào trước hết vào từng loại hình doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp nhà nước, toàn bộ lợi nhuận thu được sẽ phải được sử dụng cho các khoản sau:
1 Nộp tiền sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định
2 Trả các khoản phạt quy định không được tính vào chi phí kinh doanh
3 Lập các quy đặc biệt
Trang 44 Chia lãi cho các đối tác liên doanh
5 Phần còn lại được sử dụng để lập các quỹ doanh nghiệp Theo quy định hiện nay gồm các loại sau:
- Quỹ đầu tư phát triển không nhỏ hơn 50%
- Quỹ dự phòng tài chính (10%) và số dư không vượt quá 25% vốn điều lệ
- Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc (5%) và số dư không quá 6 tháng lương
- Quỹ khen thưởng và phúc lợi với mức trích không vượt 2 hoặc 3 tháng lương
Đối với các công ty cổ phần, toàn bộ lợi nhuận sau thuế sẽ được dùng để trích lập quỹ
dự trữ bắt buộc (5% lợi nhuận) cho đến khi số dư quỹ bằng 10% vốn điều lệ Số còn lại tuỳ thuộc chính sách phân phối cụ thể của công ty trong từng thời kỳ, do đại hội cổ đông quyết định
1 Quỹ tái đầu tư khoảng (15÷45)%
2 Quỹ nghiên cứu phát triển và đào tạo khoảng (5÷10)%
3 Quỹ dự phòng rủi ro khoảng (0÷5)%
4 Quỹ khen thưởng và phúc lợi tối thiểu 10%
5 Số còn lại là cổ tức chia theo cổ phần
c Nguồn tài chính do điều chỉnh cơ cấu
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có những tài sản cố định đầu
tư sai mục đích hoặc không phát huy được tác dụng hay do những sai lầm trong cơ cấu đầu tư tài sản cố định và đầu tư cho tài sản lưu động dẫn đến có sự chênh lệch bất hợp lý Quá trình điều chỉnh cơ cấu này dẫn đến có những tài sản cố định được bán, được thanh lý trước thời hạn, cho thuê hoặc tái cho thuê hình thành một số vốn nhất định phục vụ cho mục đích đầu
tư hiện đại hoá hoặc mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp
Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất kinh doanh nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết Do môi trường kinh doanh biến động, nhiệm vụ kinh doanh thay đổi nên trong kinh doanh luôn diễn ra hiện tượng thừa loại tài sản này nhưng lại thiếu tài sản khác Điều chỉnh cơ cấu tài sản chính là việc kịp thời có giải pháp bán các tài sản cố định dư thừa, không (chưa) sử dụng đến Mặt khác, phải trên cơ sở thường xuyên kiểm tra, tính toán và xác định lại mức dự trữ tài sản lưu động trên cơ sở ứng dụng mô hình dự trữ tối ưu nhằm giảm lượng lưu kho tài sản lưu động không cần thiết, đảm bảo lượng lưu kho mỗi loại tài sản lưu động hợp lý
4.3.2 CÁC NGUỒN VỐN TÀI TRỢ TỪ BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP
Trang 5Nguồn vốn tài trợ từ ngoài doanh nghiệp rất phong phú da dạng, biến đổi linh hoạt về quy mô, điều kiện khai thác Người kinh doanh giỏi là người biết huy động tốt nhất các nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho hoạt hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
a Căn cứ theo thời gian hoàn trả thì nguồn tài trợ từ bên ngoài chia thành nguồn tài trợ ngắn hạn và nguồn tài trợ dài hạn
Nguồn tài trợ ngắn hạn là những khoản vốn và doanh nghiệp phải hoàn trả trong thời hạn một năm Nó bao gồm tín dụng thương mại, tiền đặt cọc, vay ngắn hạn, nợ tích luỹ (như chậm thanh toán cho người lao động, chậm trả tiền thuê nhà, máy móc thiết bị, chậm thanh toán với Ngân sách ) những nguồn đó có thể là do vay mượn song cũng có thể hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ thường xuyên giữa doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan Chia ra 2 loại
Nguồn tài trợ ngắn hạn không do vay mượn phát sinh thường xuyên và có quy mô lớn của doanh nghiệp là tín dụng thương mại Đây là hình thức mua hàng hoá của các bạn hàng
mà chưa thanh toán tiền Hình thức tín dụng này khác với các hình thức tín dụng do Ngân hàng hoặc các định chế tài chính cấp cho doanh nghiệp Khi sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp cần phải xem xét đến hậu quả trong tương lai của nó Do việc sử dụng khoản nợ này tương đối dễ dàng mặt khác doanh nghiệp có thể ở trong tình trạng khó khăn tạm thời về tài chính nên có thể trì hoãn các khoản thanh toán đến hạn trả, nợ nần dây dưa Điều đó có thể làm cho nghiệp mất đi những bạn hàng của mình, hoặc các nhà cung cấp không muốn tiếp tục cung cấp cho doanh nghiệp với những điều kiện như trước nữa mà phải chịu các điều kiện thanh toán khắt khe hơn khi mua hàng như: Phải trả ngay, giá cao hơn gây khó khăn cho doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp còn nhận được các khoản tài trợ không do vay mượn khác như chậm thanh toán cho người lao động, chậm trả tiền thuê nhà, máy móc thiết bị, chậm thanh toán với Ngân sách Dĩ nhiên doanh nghiệp sẽ phải thanh toán các khoản nợ tích luỹ này trong thời hạn ngắn nếu không công ty có thể phải trả lời trước cơ quan luật pháp
Nguồn tài trợ ngắn hạn do vay mượn Thông thường các nguồn vay ngắn hạn của doanh nghiệp là từ các định chế tài chính Những khoản vay này có thể phải bảo đảm, song cũng có thể nhận được từ nhà tài trợ mà không cần bất cứ sự bảo đảm thanh toán nào Việc bảo đảm thanh toán cả gốc và lãi của khoản vay là hình thức thế chấp Tài sản thế chấp cho các khoản vay ngắn hạn thường là các khoản phải thu, giấy hẹn nợ, các loại hàng hoá, các loại chứng khoán Chúng cũng có thể là các loại cổ phiếu, những giấy tờ có giá trị, có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền, những khoản ký quỹ, đặt cọc, máy móc, thiết bị, bất động sản hoặc cũng có thể chỉ là sự bảo lãnh của một tổ chức hoặc cá nhân có đủ uy tín đối với người cho vay
Trang 6Nguồn tài trợ dài hạn là những khoản tiền có thời hạn sử dụng dài hơn một năm kể từ ngày đầu tiên nhận được chúng Nguồn tài trợ dài hạn thường được doanh nghiệp đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư cho các đối tượng sử dụng lâu dài như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải Doanh nghiệp có thể huy động tín dụng dài hạn từ nhiều nguồn khác nhau như: Tín dụng thuê mua trả góp, vay dài hạn có kỳ hạn, phát hành trái phiếu hay huy động vốn từ phát hành cổ phiếu
b Căn cứ theo đối tượng cung ứng vốn thì nguồn tài trợ từ bên ngoài chia thành các loại sau
Vốn từ Ngân sách nhà nước cấp Doanh nghiệp Nhà nước sẽ nhận được một lượng vốn xác định từ Ngân sách nhà nước cấp Thông thường hình thức này không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với doanh nghiệp được cấp vốn như các hình thức huy động vốn khác Tuy nhiên, càng ngày hình thức cung ứng vốn từ Ngân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp càng bị thu hẹp cả về quy mô của vốn và phạm vi được cấp vốn Hiện nay, đối tượng được cung ứng vốn theo hình thức này thường phải là các doanh nghiệp nhà nước được nhà nước xác định duy trì để đóng vai trò công cụ điều tiết kinh tế, các dự án đầu tư ở những lĩnh vực sản xuất hàng hoá công cộng, hoạt động công ích mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng đầu tư, các dự án lớn có tầm quan trọng đặc biệt do nhà nước trực tiếp đầu tư
Vốn qua phát hành cổ phiếu Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp được cung ứng vốn trực tiếp từ thị trường chứng khoán Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức này, doanh nghiệp tính toán và phát hành cổ phiếu, bán trên thị trường chứng khoán Hình thức cung ứng vốn này có đặc trưng cơ bản là tăng vốn mà không làm tăng nợ của doanh nghiệp bởi những người sở hữu cổ phiếu trở thành cổ đông của doanh nghiệp Vì lẽ này nên các nhà quản trị học coi hình thức gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là nguồn cung ứng nội
bộ Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp được phép khai thác nguồn vốn này mà chỉ những doanh nghiệp được phép phát hành cổ phiếu (công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước
có quy mô lớn) Hình thức huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu có ưu điểm lớn là tập hợp được lượng vốn lớn ban đầu và dễ tăng vốn trong quá trình kinh doanh, quyền sở hữu vốn tách rời quyền quản trị một cách tương đối nên bộ máy quản trị doanh nghiệp được toàn quyền chủ động sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này Bên cạnh đó, hình thức gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu cũng có hạn chế là doanh nghiệp phải có nghĩa vụ công khai hoá thông tin tài chính theo luật doanh nghiệp, khi thừa vốn không hoặc chưa sử dụng đến doanh nghiệp không thể hoàn trả lại được Vì vậy, khi có cầu gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu đòi hỏi doanh nghiệp phải rất thận trọng tính toán, cân nhắc Mặt khác, hình thức huy động vốn này
có thể làm cổ tức giảm cho nên doanh nghiệp phải có quy mô lớn, hứa hẹn lợi nhuận cao mới
dễ bán được cổ phiếu phát hành trên thị trường
Trang 7Vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn Đây là hình thức cung ứng vốn trực tiếp từ công chúng: Doanh nghiệp phát hành lượng vốn cần thiết dưới hình thức trái phiếu thường là có kỳ hạn xác định và bán cho công chúng Khác với hình thức phát hành cổ phiếu, hình thức huy động vốn từ phát hành trái phiếu mang đặc trưng rất cơ bản là tăng vốn gắn với tăng nợ của doanh nghiệp Vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu có những ưu điểm chủ yếu là: có thể thu hút được một lượng vốn lớn cần thiết, chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn
so với vay ngân hàng, không bị người cung ứng kiểm soát chặt chẽ như vay ngân hàng và doanh nghiệp có thể lựa chọn loại trái phiếu thích hợp với yêu cầu của mình Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm chắc các kỹ thuật tài chính để tránh áp lực nợ đến hạn và vẫn có lợi nhuận, đặc biệt khi kinh tế suy thoái, lạm phát cao Chi phí kinh doanh phát hành trái phiếu khá cao vì doanh nghiệp cần có sự trợ giúp của ngân hàng thương mại Mặt khác, không phải mọi doanh nghiệp mà chỉ những doanh nghiệp nào thoả mãn các điều kiện theo luật định mới được phép phát hành trái phiếu
Vốn vay của các ngân hàng thương mại Đây là hình thức doanh nghiệp vay vốn dưới các hình thức vay ngắn hạn, vay trung hạn hoặc vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại Đây là mối quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng thương mại và doanh nghiệp Với hình thức vay vốn như thế này doanh nghiệp có thể huy động được lượng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời các ngân hàng cùng tham gia thẩm định dự án nếu có yêu cầu vay đầu tư lớn Bên cạnh đó để thực hiện được hình thức vay vốn từ các ngân hàng thương mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có
uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục thẩm định ngặt nghèo Trong thời gian sử dụng vốn, doanh nghiệp phải tính toán trả nợ ngân hàng theo đúng tiến độ kế hoạch Mặt khác, khi doanh nghiệp vay vốn ở các ngân hàng thương mại có thể bị ngân hàng thương mại đòi hỏi quyền kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian cho vay, chẳng hạn: Ngân hàng cho vay có thể khống chế giá trị tài sản cố định để tránh "ngâm vốn", tránh rủi ro ; Doanh nghiệp sẽ không được vay thêm dài hạn nếu không có sự đồng ý của ngân hàng cho vay; Doanh nghiệp không được đem thế chấp tài sản nếu không có sự đồng ý của ngân hàng cho vay; Ngân hàng cho vay có thể áp đặt cơ chế kiểm soát chi phối hoạt động đầu tư để phòng ngừa doanh nghiệp sử dụng vốn bừa bãi; Ngân hàng cho vay có thể đòi hỏi can thiệp vào sự thay đổi ban lãnh đạo của doanh nghiệp,
Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp Trong hoạt động kinh doanh do đặc điểm quá trình cung ứng hàng hoá và thanh toán không thể khi nào cũng phải diễn ra đồng thời nên tín dụng thương mại xuất hiện và tồn tại như một tất yếu khách quan Thực chất, luôn diễn ra đồng thời quá trình doanh nghiệp nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng Nếu
số tiền doanh nghiệp chiếm dụng của khách hàng lớn hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng
Trang 8thì số tiền dư ra sẽ mang bản chất tín dụng thương mại Có các hình thức tín dụng thương mại chủ yếu như
Thứ nhất là doanh nghiệp mua máy móc, thiết bị theo phương thức trả chậm Sẽ chỉ có được hình thức tín dụng này nếu được ghi rõ trong hợp đồng mua bán về giá cả, số lần trả và
số tiền phải trả mỗi lần, khoảng cách giữa các lần trả tiền Như thế, doanh nghiệp có máy móc thiết bị sử dụng ngay nhưng tiền lại chưa phải trả ngay, số tiền chưa phải trả là số tiền doanh nghiệp chiếm dụng được của người cung ứng Trong môi trường kinh doanh hiện nay, với nhiều mặt hàng thì mua bán chưa phải trả ngay thì được coi là một chiến lược marketing của người bán cho nên doanh nghiệp dễ dàng tìm đượcnguồn vốn tín dụng loại này Đặc biệt, khi thị trường có nhiều nhà cung ứng cạnh tranh với nhau thì doanh nghiệp càng có lợi thế về giá
cả, kỳ hạn trả Khi quá trình này diễn ra một cách thường xuyên thì nguồn tín dụng này đóng một vai trò như một như một nguồn tín dụng trung hoặc dài hạn Với phương thức tín dụng này doanh nghệp có thể đầu tư chiều sâu với vốn ít mà không ảnh hưởng đéen tình hình tài chính của mình Hình thức tín dụng mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm lại càng
có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu các điều kiện cần thiết để vay vốn từ các nguồn khác Bên cạnh đó, hình thức mua máy móc thiết bị theo phưong thức trả chậm cũng có những hạn chế nhất định Chẳng hạn, mua theo phương thức này doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí kinh doanh sử dụng vốn khá cao Mặt khác, sẽ chỉ mua theo phương thức trả chậm được nếu doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống tín dụng sòng phẳng cũng như tài chính lành mạnh
Thứ hai, vốn khách hàng ứng trước Trong quá trình kinh doanh, khi ký hợp đồng đặt hàng khách hàng thường phải trả trước một lượng tiền hàng hoặc đặt cọc một số tiền nhất định Doanh nghiệp đực sử dụng số tiền này mặc dù chưa sản xuất và cung cấp sản phẩm cho khách hàng Tuỳ theo lượng mua hàng của khách, thông thường doanh nghiệp chiếm dụng được hai nguồn là vốn ứng trước của khách hàng lớn và vốn ứng trước của người tiêu dùng Thông thường số vốn ứng trước này không lớn Mặt khác, để sản xuất sản phẩm cho khách hàng thì doanh nghiệp phải đặt hàng (nguyên vật liệu, ) nên lại bị người cấp hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp cũng theo hình thức này nên nếu các quá trình kinh doanh diễn ra bình thường thì số dư vốn chiếm dụng hình thức này là không lớn Trên thị trường hiện tại đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán, cân nhắc rất thận trọng bởi vì không chỉ tồn tại lượng vốn nhất định khách hàng đặt cọc trước mà còn tồn tại lượng tiền khách hàng chiếm dụng lại khi mua hàng của doanh nghiệp
Tín dụng thuê mua Trong cơ chế kinh tế thị trường phương thức tín dụng thuê mua được thực hiện giữa doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện chức năng mua diễn ra khá phổ biến Sở dĩ hình thức thuê mua diễn ra phổ biến vì
Trang 9nó đáp ứng được nhu cầu cơ bản cuả bên cầu ( doanh nghiệp muốn thuê mua thiết bị ) và bên đáp ứng cầu ( doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua) Hình thức tín dụng thuê mua có
ưu điểm rất cơ bản là giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu sử dụng về máy móc, thiết bị cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua và chỉ kí hợp đồng thuê mua trong khoảng thời gian thích hợp Doanh nghiệp không chỉ nhận được máy móc thiết bị mà còn nhận được tư vấn đào tạo và hướng dẫn kĩ thuật cần thiết từ doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua Doanh nghiệp sử dụng máy móc, thiết bị có thể tránh được những tổn thất do mua máy móc, thiết bị không đúng yêu cầu hoặc mua nhầm Doanh nghiệp
sử dụng có được máy móc thiết bị cần thiết mà không phải đầu tư một lần với số tiền lớn Mặt khác, doanh nghiệp sử dụng máy móc, thiết bị có thể giảm được tỉ lệ nợ/ vốn vì tránh phải vay ngân hàng thương mại Trong quá trình sử dụng máy móc, thiết bị doanh nghiệp sử dụng có thể tái thuê với doanh nghiệp có chức năng thuê mua; tức là doanh nghiệp sử dụng bán một phần tài sản thiết bị cho doanh nghiệp thuê mua rồi lại thuê lại để tiếp tục sử dụng tài sản thiết
bị đó Với phương thức thuê mua doanh nghiệp sử dụng có thể nhanh chóng có thể đổi mới tài sản cố định của mình Hạn chế cơ bản của phương thức tín dụng thuê mua đối với doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc thiết bị là chi phí kinh doanh sử dụng vốn cao và hợp đồng tương đối phức tạp
Vốn liên doanh, liên kết Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một (một số) doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho một (một số) hoạt động (dự án) liên doanh nào đó Các bên liên doanh ký hợp đồng liên doanh với các thoả thuận cụ thể về phương thức hoạt động, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên có giá trị trong 1 khoảng thời gian nào đó Khi hết hạn, hợp đồng liên doanh hết hiệu lực Với phương thức liên doanh, liên kết doanh nghiệp
sẽ có được lượng vốn lớn cần thiết cho một (một số) hoạt động nào đó mà không làm tăng nợ
Vì vậy, nhiều nhà quản trị học cho rằng phương thức này có thể được coi là phương thức cung ứng vốn nội bộ Trong quá trình hoạt động, các bên liên doanh cùng chia sẻ rủi ro Nhưng phương thức liên doanh, liên kết cũng có những hạn chế nhất định Chẳng hạn, huy động vốn theo phương thức này tất sẽ dẫn đến các bên liên doanh cùng tham gia kinh doanh và cùng chia sẻ lợi nhuận thu được
Vốn được cung ứng từ sự kết hợp công và tư trong xây dựng cơ sở hạ tầng (phương thức BOT) Phương thức này rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng Thực tế, có thể có nhiều hình thức kết hợp khác nhau với cách thức tiến hành cụ thể khác nhau Đó là các hình thức:
1 Xây dựng - sở hữu - chuyển giao (BOT)
2 Xây dựng - sở hữu - điều hành - chuyển giao (BOOT)
Trang 103 Xây dựng - chuyển giao - điều hành (BTO)
4 Xây dựng - sở hữu - điều hành (BOO)
5 Xây dựng - sở hữu - bán (BOS)
Tuỳ theo hoàn cảnh thực tế doanh nghiệp có thể lựa chọn quyết định hình thức cụ thể thích hợp Lựa chọn phương thức này, doanh nghiệp phải thoả mãn các điều kiện nhất định
Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp (FDI) Trong cơ chế kinh tế mở, từ khi có Luật đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước còn có thể tự cung ứng vốn bằng phương thức các doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) nước ngoài đầu tư trực tiếp Với nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp doanh nghiệp không chỉ nhận được vốn mà còn nhận được cả kỹ thuật -công nghệ cũng như phương thức quản trị tiên tiến Hơn nữa, doanh nghiệp cũng được chia sẻ thị trường xuất khẩu Tuy nhiên, huy động vốn bằng nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp doanh nghiệp sẽ phải chịu sự kiểm soát của doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế cấp vốn Mức
độ kiểm soát của doanh nghiệp ( Tổ chức kinh tế) nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của
họ Mặt khác một khó khăn mà các doanh nghiệp trong nước vấp phải là doanh nghiệp khó tìm được đối tác nước ngoài thích hợp nhằm phát huy ưu thế mỗi bên Vấn đề duy trì hợp tác trong bao lâu cũng là vấn đề các doanh nghiệp phải cân nhắc một cách thận trọng
Nguồn vốn ODA Với nguồn vốn này thì đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận được nguồn vốn là các chương trình hợp tác của Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ
và các tổ chức Quốc tế khác Hình thức cấp vốn ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất hoặc ưu đãi về thời hạn thanh toán Nguồn vốn ODA thường
có mức lãi suất khoảng 1% đến 1,5%, phí ngân hàng thường là 0,2% đến 0,3% một năm, thời hạn vay có thể từ 10 đến 20 năm và có thể được gia hạn Hình thức huy động vốn ODA có chi phí sử dụng vốn thấp Tuy nhiên, để nhận được nguồn vốn này doanh nghiệp phải chấp nhận các thủ tục rất chặt chẽ Đồng thời doanh nghiệp phải có trình độ quản trị dự án đầu tư cũng như trình độ phối hợp làm việc với các cơ quan Chính phủ và chuyên gia nước ngoài
4.3.3 PHƯƠNG CHÂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN
Để đảm bảo luôn luôn có đủ lượng vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh với hiệu quả kinh tế cao, rủi ro thấp thì doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm mọi nguồn vốn
có thể huy động, phân tích, so sánh rủi ro tín dụng cũng như so sánh chi phí sử dụng vốn từ các nguồn để chọn các nguồn vốn huy động theo phương châm đa dạng hoá các nguồn cung ứng vốn Muốn vậy, có các giải pháp chủ yếu sau:
Phải xây dựng chiến lược huy động vốn phù hợp với thực trạng thị trường và môi trường kinh doanh trong từng thời kỳ Đồng thời trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải lấy chiến lược làm công cụ định hướng cho các hoạt động của mình