Ngay từ lớp một, chương trình đã cung cấp cho học sinh biết thực hiên 2 phép tính cộng + và trừ -, đây là lớp đầu tiên nên các phép tính chỉ được thực hiện đối với các số tự nhiên.. Sang
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY
TOÁN CHIA LỚP 3
I.
PHẦN MỞ ĐẦU
Mục lục
Trang
I PHẦN NỘI DUNG 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
II PHẦN NỘI DUNG 4
1 Các biện pháp đề ra 4
Biện pháp 1 5
Biện pháp 2 7
2 Điều kiện để thực hiện các biện pháp .8
3 Kết quả: 10
III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 10
1 Bài học kinh nghiệm 10
2 Kết luận 12
3 Đề xuất 12
Trang 21 Tính cấp thiết của đề tài:
Toán là một môn học có vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng Bởi lẽ Toán học không những cung cấp cho học sinh những kiến thức kỹ năng cần thiết để học lên các lớp trên hay áp dụng vào cuộc sống, mà toán học còn góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh và hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu giáo dục toàn diện cho các em
Trong trường tiểu học hịên nay, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán là môn có thời lượng giảng dạy cao hơn hẳn các môn học khác Điều đó cho thấy môn Toán hết sức quan trọng trong việc dạy học
Trong môn toán tiểu học, các phép tính số học là nội dung cơ bản nhất Trong các phép tính số học, phép tính chia là khó nhất, phức tạp nhất Bởi vì trong phép chia có các phép tính số học khác nhau Làm tính chia là thực hiện liên tiếp nhiều phép chia, là vận dụng kĩ năng ước lượng và kĩ năng nhân nhẩm có nhớ, trừ nhẩm có nhớ liên tục
Ngay từ lớp một, chương trình đã cung cấp cho học sinh biết thực hiên 2 phép tính cộng (+) và trừ (-), đây là lớp đầu tiên nên các phép tính chỉ được thực hiện đối với các số tự nhiên Sang lớp hai thì 2 phép tính nhân (x) và chia (:) còn lại cũng được đưa vào giảng dạy cho học sinh nhưng cũng chỉ thực hiện trên các số tự nhiên trong phạm vi 1000 Sang lớp 3 học sinh mới bắt đầu làm quen thêm một số mạch kiến thức cao hơn, trong đó có phép chia
có dư Đây là một nội dung khá phức tạp đòi hỏi học sinh phải thực hiện rất nhiều công đoạn mới làm được như thuộc bảng cửu chương, hiểu rõ số bị chia, số chia, số dư, thương số,
Qua nhiều năm đứng dạy lớp 3 chương trình sách giáo khoa cũ và thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa môn Toán lớp 3, bản thân tôi đã có tinh thần trách nhiệm, có ý thức về chuyên môn trong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy toán 3 mới Tôi nhận thấy đối tượng học sinh không đồng đều, một số học sinh có mức học trung bình, yếu, Phần nhiều học
Trang 3sinh chưa nắm vững chắc những kiến thức cơ bản về toán, nhất là toán chia có
dư Dường như những bài toán liên quan đến chia có dư thì nhiều học sinh bỏ trống hoặc làm sai
Trước thực trạng trên, là giáo viên chủ nhiệm và trực tiếp giảng dạy lớp
3,tôi thật sự băn khoăn là làm thế nào để bồi dưỡng, hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản giúp học sinh học tốt toán chia Với 15 năm đi dạy,
bản thân tôi cũng có chút vốn về chuyên môn, tôi xin ghi lại để chia sẻ Một
số biện pháp dạy toán chia lớp 3, mong được nghe những ý kiến đánh giá
của các cấp chuyên môn
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán, để giải được các bài toán chia trong chương trình đổi mới sách giáo khoa Toán lớp 3
3.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu về nội dung qui định Chương trình sách giáo khoa toán 3
- Tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu có liên quan Chương trình sách giáo khoa toán 3, trao đổi với đồng nghiệp với học sinh và tự rút ra những kinh nghiệm hay phù hợp để giảng dạy cho học sinh
4 Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa toán lớp 3
- Nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu toán
- Nghiên cứu những biện pháp, phương pháp giáo dục hay phù hợp để khắc sâu kiến thức, hình thành thói quen, giúp học sinh nắm và để học tốt môn Toán
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài này viết trong phạm vi môn Toán lớp 3 Đề cập đến nội dung Toán chia lớp 3 ( hệ thống hoá kiến thức) phân tích nội dung Toán 3, phương pháp dạy Toán lớp 3
- Công tác giảng dạy và quá trình thực hiện phạm vi nghiên cứu là học sinh lớp 3/7Trường TH Phù Đổng, năm học 2019 - 2020
Trang 4* Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học sinh lớp 3.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực hành luyện tập
- Phương pháp tổng kết
II PHẦN NỘI DUNG
1 Giải pháp đề ra
Để rèn luyện và bồi dưỡng học sinh học tốt môn toán, ngay từ đầu năm tôi được phân công giảng lớp 3/7 Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm và qua các tiết ôn tập toán đầu năm, tôi đã phân loại học sinh cụ thể vào sổ tay như sau:
+ Chưa thuộc bảng chia ở lớp 2 đã học: 28/36 học sinh
+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 20/36 học sinh
+ Giải toán có lời văn chưa được: 26 /36 học sinh
+ Chưa thuộc các quy tắc đã học 30 /36 học sinh
- Để tìm hiểu về gia đình, điều kiện sống, sự chăm lo của phụ huynh đối với con em Ngay cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm, tôi đã báo cáo lại tình hình học tập của từng học sinh đặc biệt là học sinh yếu môn Toán
- Trong cuộc họp tôi động viên phụ huynh mua đầy đủ dụng cụ học tập cho học sinh
- Cần tạo điều kiện cho con em có góc học tập ở nhà, đặc biệt là phụ huynh nhắc nhở việc học tập của các em và học thuộc bảng cửu chương Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp
- Qua cuộc họp tôi nắm được lớp có 24 học sinh cha mẹ làm nghề buôn bán nên không có thời gian thường xuyên theo dõi bài vở của con
Trang 5- Để lớp đủ dụng cụ học tập tôi liên hệ thư viện mượn sách giáo khoa và
vở bài tập cho học sinh nên lớp tôi 100 % học sinh đầy đủ sách vở và dụng
cụ học tập
- Qua hai tháng đầu giảng dạy tôi cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến các em học yếu toán
- Từ đó tôi suy nghĩ tìm hiểu, lựa chọn các phương pháp, biện pháp mới,
để giúp học sinh có kĩ năng, thói quen và căn bản trong quá trình học toán Cụ thể như sau:
Biện pháp 1: Luyện cho học sinh thuộc bảng chia.
- Đã nhiều năm giảng dạy lớp 3, theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán
thì không thể không luyện cho học sinh học thuộc bảng chia Bởi lẽ học sinh
có thuộc bảng chia mới vận dụng giải các bài tập có liên quan Đặc biệt là các phép chia có số bị chia 3, 4 chữ số và giải toán hợp
- Để luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng chia tôi làm như sau: + Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh lập được bảng chia và tôi chốt lại cho học sinh nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn như sau:
VD: Bảng chia 9.
* Các số bị chia trong bảng chia 9 là các tích của bảng nhân 9 và hơn
kém nhau 9 đơn vị.
* Số chia trong bảng chia 9 là các thừa số thứ nhất của bảng nhân 9 đều
là 9.
* Các thương của bảng chia 9 là thừa số thứ hai của bảng nhân 9.
+ Hàng ngày, đầu giờ học môn toán, thay vì cho học sinh vui, để khởi động, tôi thay vào cả lớp cùng đọc các bang chia đã học
+ Sau mỗi giờ học toán tôi thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảng chia từ 2 đến 4 em
+ Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng chia bằng cách in bảng chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép chia trong bảng Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phút cho các em ghi
Trang 6đầy đủ và hoàn chỉnh bảng chia như yêu cầu Tôi và học sinh cùng nhau nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các em làm bài chưa tốt
+ Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng chia nào mà các em chưa thuộc vào tập riêng Ngày sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu giờ, sau đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên
Biện pháp 2: Giúp học sinh nhớ và áp dụng
VD: 6369 : 3 = 2123
+ Muốn tìm thương, ta lấy số bị chia, chia cho số chia 6369 : 3
+ Muốn tìm số bị chia chưa biết, ta lấy thương nhân với số chia
x : 3 = 2123
x = 2123 x 3
+ Muốn tìm số chia chưa biết, ta lấy số bị chia, chia cho thương
32 : x = 8
x = 32 : 8 + Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó
4 : 1 = 4; 9 : 1 = 9 + 0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0
0 : 3 = 0
* Nhắc thêm cho học sinh: không thể chia cho 0
Không có 3 : 0
+ Muốn tìm số chia trong phép chia có dư, ta lấy số bị chia trừ đi số dư rồi chia cho thương
7 : 3 = 2(dư 1) Vậy: (7 – 1) : 2 + Muốn tìm số bị chia trong phép chia có dư, ta lấy thương nhân với số chia rồi cộng với số dư
7 : 3 = 2 (dư 1) Vậy: 2 x 3 + 1
Trang 7+ Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1
đơn vị ( trong chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn
nhất là 8).
VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, 8 (số dư phải nhỏ hơn số chia)
- Đặt tính và tính:
Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép chia là khó nhất vì:
- Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có em chỉ mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện hết) Cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, Đặc biệt đối với học sinh yếu toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện Thực hiện như sau: VD: Chia số có 4 chữ số cho số có 1 chữ số: 1276 : 3 = ?
- Trước tiên giúp học sinh biết ghi theo cột dọc và hiểu tên gọi các thành phần trong cột dọc của phép chia (sử dụng phần bảng được xoá)
Số bị chia dấu chia số chia
1276 : 3
1276 3
Hạ 425 Thương tìm được
Số dư lần chia 1 07
Số dư lần chia 2 16
1 Số dư lần chia cuối cùng (Phép
chia có dư)
* Khi hạ hàng nào phải hạ dưới sao cho thẳng hàng, để ta biết sẽ thực hiện hàng đó, sau đó mới thực hiện hàng kế tiếp
Trang 8* Nhắc học sinh:
Tôi nói trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép cộng, trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng đơn vị, hàng chục, Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tụ từ trái sang phải, hoặc từ hàng cao nhất đến hàng thấp nhất ( hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị)
Nhìn chung, các em có tiến bộ rõ rệt Các em không còn đặt tính sai, cộng, trừ, nhân, chia không viết lộn kết quả và quên số nhớ nữa
Đối với các em này, hàng ngày mỗi tiết học toán tôi gọi lên bảng thực hiện phép tính Tôi cũng thường xuyên đến các em yếu toán, việc làm theo
yêu cầu cần đạt của chuẩn kĩ năng, kiến thức Có khi tôi yêu cầu những em này chỉ làm một phần trong mỗi bài tập và hướng dẫn rất kĩ khi làm bài vào
vở Cách trình bày từng con số, cách sửa sai để từng trang vở được sạch đẹp Qua một thời gian các em có tiến bộ rõ rệt Mỗi lần thực hiện các em viết rất rõ ràng và tính chính xác
2 Điều kiện để thực hiện các giải pháp
* Giáo viên
- Có tinh thần trách nhiệm trong công tác giảng dạy, phải có tình yêu đối với học sinh
- Để học sinh chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức, vận dụng được chính xác, linh hoạt kiến thức đó trong luyện tập, thực hành thì đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kĩ nội dung bài dạy trước khi lên lớp
- Để chuẩn bị tốt cho nội dung bài dạy, theo tôi người giáo viên phải chuẩn bị những yêu cầu sau:
a/ Chuẩn bị thiết kế bài dạy.
* Những việc làm để chuẩn bị bài dạy.
Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu cầu kiến thức, kĩ năng của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ thể của chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn (sách giáo viên)
Trang 9Sưu tầm nghiên cứu các kinh nghiệm dạy học trên các tập chí, tài liệu bồi dưỡng giáo viên về kiến thức, nghiệp vụ, nắm tình hình điều kiện địa phương, trường lớp và hoàn cảnh học tập của học sinh
* Nghiên cứu tài liệu và xác định nội dung bài dạy học.
Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt (kiến thức, kĩ năng tư duy và giáo dục) Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ trên mục đích yêu cầu Lựa chọn phương pháp cụ thể và phương tiện dạy học, các biện pháp sẽ thực hiện từng khâu từng đối tượng học sinh
* Soát lại việc chuẩn bị của học sinh về bài học.
Tình hình nắm kiến thức đã học có liên quan, tình hình sách giáo khoa và
đồ dùng học tập của học sinh
b/ Điều kiện tiến hành một tiết dạy đạt hiệu quả.
Tạo được không khí sẵn sàng học tập ở chỗ học sinh nắm chắc bài cũ, chuẩn bị tốt sách giáo khoa và đồ dùng học tập Tập thể học sinh tự giác, tôn trọng nội quy, nề nếp và làm việc tốt Học sinh trong trạng thái khoẻ mạnh, tỉnh táo
Tạo mối quan hệ tốt giáo viên và học sinh thể hiện ở chỗ:
+ Giáo viên có thái độ cởi mở, chan hoà, ân cần, quan tâm đến học sinh, mẫu mực trong tác phong Giáo viên chuẩn bị bài soạn, sẵn sàng lên lớp + Học sinh lễ phép, chăm chỉ và tích cực trong học tập
c/ Những yêu cầu chung của một tiết học trên lớp.
- Tiết học toán phải chú ý đến hai mặt giáo dục và giáo dưỡng Hai mặt này kết hợp chặt chẽ với nhau
- Luôn luôn chú ý theo dõi thái độ học tập và sự lĩnh hội nội dung bài học của học sinh, để có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời
- Tiết học trên lớp cần căn cứ vào trình độ học sinh trung bình ở lớp, có phân biệt đến hai đối tượng giỏi và yếu
d/ Thực hiện bài soạn
Trang 10- Giáo viên thực hiện tiết học theo trình tự bài soạn, có điều chỉnh thời gian các phần nhưng đảm bảo nội dung trọng tâm của bài
- Cần quan tâm đến hoạt động của học sinh, sao cho học trực tiếp giải quyết vấn đề qua các bước suy luận, thảo luận thực hành phát biểu, báo cáo kết quả
- Cần quan tâm đối tượng khác nhau về trình độ để giao việc, đặt câu hỏi thích hợp Có động viên khuyến khích, biểu dương kịp thời các tiến bộ, cố gắng của học sinh Nhưng phải nghiêm khắc đối với học sinh lười biếng, vô trách nhiệm Giáo viên phải linh động, khéo léo xử lí tình huống diễn ra sao cho đạt mục đích yêu cầu của tiết dạy
3
Kết quả:
Từ việc áp dụng những biện pháp trên đến nay đã sang học kì II năm học
2019 - 2020 Trong quá trình thực hiện cho thấy nhiều học sinh trong lớp
có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm Học sinh nắm được một số kiến thức căn bản
về toán lớp 3
Qua thời gian đứng lớp giảng dạy theo cách làm trên đã đưa chất lượng lớp tôi có kết quả rất khả quan
Kết quả kiểm tra cuối học kì I như sau:
+ Điểm 9 10 : 18 học sinh + Điểm 7-8 : 16 học sinh
+Điểm 5-6 : 1 học sinh + Điểm dưới 5 : 0 học sinh
III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
1 Bài học kinh nghiệm:
Sau khi nắm thực trạng học sinh về môn toán Tôi đã kịp thời áp dụng một số biện pháp nêu trên mang lại kết quả khả quan Qua đó tôi rút ra được một số kinh nghiệm như:
+ Cần khảo sát nắm chắc từng đối tượng và năng lực học của học sinh, có biện pháp thiết thực, nâng chất lượng phù hợp đối với từng học sinh