BÀI TẬP LỚN TOÀN CẦU HÓA VÀ THƯƠNG MẠI TỰ DO THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHÚNG DẪN ĐẾN VIỆC HẠ GIÁ HÀNG HÓA Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quốc giachú trọng nhiều đến trao đổi thương mại quốc tế, đặc biệt là thương mại tự do cũng được các quốc gia chú trọng và quan tâm để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên việc “tự do hóa thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa”cũng tồn tại cả hai mặt tích cực và tiêu cực.Bài phân tích dưới đây gồm 4 phần chính: Đầu tiên em sẽ làm rõ các khái niệm liên quan. Thứ hai, em đưa ra những luận điểm chứng minh tính phù hợp của “toàn cầu hóa và thương mại tự do thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chúng dẫn đến việc hạ giá hàng hóa”, sau đó là những phản biện (tính chưa phù hợp) của vấn đề tự do thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cuối cùng, em đưa ra trường hợp thực tế của Việt Nam trong bối cảnh hiện tại. Theo định nghĩa của Ủy ban châu Âu, toàn cầu hóa là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau do sự năng động của việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ cũng như do có sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ. Đây không phải là hiện tượng mới mà là sự tiếp tục của một tiến trình được khơi mào từ lâu. Tác giả J.Shishkov thì cho rằng “toàn cầu hóa là một quá trình hội nhập kinh tế, nó có đặc điểm không chỉ là sự gia tăng thương mại giữa các nước mà còn có một sự gia tăng rất mạnh mẽ các dòng tài chính thế giới. Những dòng di chuyển vốn và đầu tư như vậy kéo theo một sự thâm nhập lẫn nhau sâu sắc hơn giữa các nền kinh tế quốc dân và một sự cạnh tranh trực tiếp hơn giữa các doanh nghiệp. Như vậy toàn cầu hóa chỉ là giai đoạn cuối của quá trình kinh doanh quốc tế của sự hợp nhất kinh tế thế giới.” 1 Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế... trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay tự do thương mại nói riêng2. Thương mại tự do (FTA) là nền thương mại quốc tế trong đó các hoạt động thương mại diễn ra mà không vấp phải bất kỳ hàng rào cản trở nào như thuế quan, hạn ngạch CuuDuongThanCong.com https:fb.comtailieudientucntt cuu duong than cong . com 2 hoặc các biện pháp kiểm soát hối đoái được đặt ra để cản trở sự di chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ giữa các nước. Mục đích của tự do hóa thương mại là tận dụng các mối lợi của chuyên môn hóa quốc tế 3. Hiện nay, toàn cầu hóa và tự do thương mại là xu thế tất yêu trên thế giới. Bởi trên thực tế, những thành quả mà toàn cầu hóa mang lại cho tất cả các bên có liên quan, đặc biệt là trên các lĩnh vực như hội nhập kinh tế, thương mại và giảm đói nghèo. Không ai có thể phủ nhận xu thế tất yếu của toàn cầu hóa, nhất là khi các biện pháp bảo hộ thương mại, hạn chế nhập khẩu đang làm tổn thương tới người dân, đặc biệt là những người tiêu dùng có thu nhập thấp. Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao 2018 tổ chức tại Hải Nam (Trung Quốc), Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Christine Lagarde đã lên tiếng cảnh báo Chính phủ các nước cần ngăn chặn các chính sách bảo hộ thương mại vì sẽ làm suy yếu tăng trưởng kinh tế toàn cầu và đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của thương mại tự do khi tạo ra hàng triệu việc làm mới với mức lương cao hơn. Trước đó, cũng tại Diễn đàn này, TổngThư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres đã khẳng định toàn cầu hóa mang tính phổ biến và cần phải đạt được mục tiêu toàn cầu hóa công bằng để không ai bị bỏ lại phía sau. Đánh giá tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển của quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế thương mại nói riêng là rất khác nhau giữa các nước. Toàn cầu hóa có những tác động hết sức sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước và toàn bộ các mối quan hệ quốc tế. Đặc biệt, toàn cầu hóa có những tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế của một đất nước. Cụ thể:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÀI TẬP CUỐI KỲ (Môn: Toàn cầu hóa và phát triển kinh tế)
Tên chủ đề:
TOÀN CẦU HÓA VÀ THƯƠNG MẠI TỰ DOTHÚC ĐẩY TĂNG TRƯởNG
KINH Tế VÀ CHÚNG DẫN ĐếN VIệC Hạ GIÁ HÀNG HÓA
Giảng viên : Hoàng Ngọc Quang Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Quỳnh
Mã sinh viên :18050315
Hà Nội, 2020
cuu duong than cong com
Trang 2Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quốc giachú trọng nhiều đến trao đổi thương mại quốc tế, đặc biệt là thương mại tự do cũng được các quốc gia chú trọng và quan tâm để
nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên việc “tự do hóa thương
mại trong bối cảnh toàn cầu hóa”cũng tồn tại cả hai mặt tích cực và tiêu cực.Bài phân
tích dưới đây gồm 4 phần chính: Đầu tiên em sẽ làm rõ các khái niệm liên quan Thứ hai,
em đưa ra những luận điểm chứng minh tính phù hợp của “toàn cầu hóa và thương mại tự
do thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chúng dẫn đến việc hạ giá hàng hóa”, sau đó là những
phản biện (tính chưa phù hợp) của vấn đề tự do thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa Cuối cùng, em đưa ra trường hợp thực tế của Việt Nam trong bối cảnh hiện tại
Theo định nghĩa của Ủy ban châu Âu, toàn cầu hóa là một quá trình mà thông qua
đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau do sự năng động của việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ cũng như do có sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ Đây không phải là hiện tượng mới mà là sự tiếp tục của một tiến trình được khơi mào từ lâu
Tác giả J.Shishkov thì cho rằng “toàn cầu hóa là một quá trình hội nhập kinh tế, nó
có đặc điểm không chỉ là sự gia tăng thương mại giữa các nước mà còn có một sự gia tăng rất mạnh mẽ các dòng tài chính thế giới Những dòng di chuyển vốn và đầu tư như vậy kéo theo một sự thâm nhập lẫn nhau sâu sắc hơn giữa các nền kinh tế quốc dân và một sự cạnh tranh trực tiếp hơn giữa các doanh nghiệp Như vậy toàn cầu hóa chỉ là giai đoạn cuối của quá trình kinh doanh quốc tế của sự hợp nhất kinh tế thế giới.” [1]
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự do thương mại" nói riêng[2]
Thương mại tự do (FTA) là nền thương mại quốc tế trong đó các hoạt động thương mại diễn ra mà không vấp phải bất kỳ hàng rào cản trở nào như thuế quan, hạn ngạch
cuu duong than cong com
Trang 3hoặc các biện pháp kiểm soát hối đoái được đặt ra để cản trở sự di chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ giữa các nước Mục đích của tự do hóa thương mại là tận dụng các mối lợi của chuyên môn hóa quốc tế [3]
Hiện nay, toàn cầu hóa và tự do thương mại là xu thế tất yêu trên thế giới Bởi trên thực tế, những thành quả mà toàn cầu hóa mang lại cho tất cả các bên có liên quan, đặc biệt là trên các lĩnh vực như hội nhập kinh tế, thương mại và giảm đói nghèo Không ai có thể phủ nhận xu thế tất yếu của toàn cầu hóa, nhất là khi các biện pháp bảo hộ thương mại, hạn chế nhập khẩu đang làm tổn thương tới người dân, đặc biệt là những người tiêu dùng có thu nhập thấp
Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao 2018 tổ chức tại Hải Nam (Trung Quốc), Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) - Christine Lagarde đã lên tiếng cảnh báo Chính phủ các nước cần ngăn chặn các chính sách bảo hộ thương mại vì sẽ làm suy yếu tăng trưởng kinh tế toàn cầu và đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của thương mại tự do khi tạo ra hàng triệu việc làm mới với mức lương cao hơn Trước đó, cũng tại Diễn đàn này, TổngThư ký Liên Hợp Quốc - Antonio Guterres đã khẳng định toàn cầu hóa mang tính phổ biến và cần phải đạt được mục tiêu toàn cầu hóa công bằng để không ai bị bỏ lại phía sau
Đánh giá tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển của quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế thương mại nói riêng là rất khác nhau giữa các nước Toàn cầu hóa có những tác động hết sức sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước và toàn bộ các mối quan hệ quốc tế Đặc biệt, toàn cầu hóa có những tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế của một đất nước Cụ thể:
Thứ nhất, toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các nước (đặc biệt là các nước đang phát
triển) phát huy được lợi thế so sánh để phát triển Việc phát huy tối đa lợi thế so sánh trong quá trình toàn cầu hóa của các nước đang phát triểnđể nhằm tận dụng tự do hoá th-ương mại, thu hút vốn đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tỷ trọng mậu dịch thế giới trong tổng kim ngạch mậu dịch thế giới của các nước đang phát triển ngày một tăng (năm 1985: 23%, năm 1997: 30%) Các nước đang phát triển cũng
cuu duong than cong com
Trang 4ngày càng đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ kinh tế quốc tế, tỷ trọng hàng công nghiệp trong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng (năm 1985: 47%, năm 1998: 70%) và các nước đang phát triển đang nắm giữ khoảng 25% lượng hàng công nghiệp xuất khẩu trên toàn thế giới
Thứ hai, tăng nguồn vốn đầu tư Toàn cầu hóa đã tạo ra sự biến đổi và gia tăng cả
về lượng và chất dòng luân chuyển vốn vào các nước đang phát triển, nhất là trong khi các nước đang phát triển đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn đầu tư cho phát triển
Ví dụ điển hình là ở tỉnh Champasak (Lào), trong thời gian 5 năm (2006-2010), đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước gồm 267 dự án, giá trị theo phê duyệt là 6606,6 tỉ kíp, tương đương 542 triệu USD, tăng 83% so với kế hoạch đề ra Đầu tư trực tiếp nước ngoài
có sự tăng lên rõ rệt qua các năm Tính đến năm 2011, đầu tư nước ngoài trong cả 3 lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp và thương mại dịch vụ tăng gấp nhiều lần so với năm
2005 Điển hình, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp năm là 6 dự án, năm 2011
là 12 dự án với giá trị tương ứng là từ 43,148 tỉ kíp tăng lên 165,304 tỉ kíp [4]
Thứ ba, nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ, chất lượng sản phân cao vớigiá
thành thấp hơn.Trong nền kinh tế toàn cầu, cùng với các quan hệ trao đổi hàng hóa dịch
vụ tăng lên mạnh mẽ là sự gia tăng nhanh chóng của công nghệ Vì vậy, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia có cơ hội to lớn trong việc tiếp nhận được các công nghệ,
kỹ thuật hiện đại,sản xuất ra nhiều hàng hóa chất lượng cao với chi phí sản thấp và giá thành rẻ; từ đó rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển hơn
Thứ tư, đối với các nước đang phát triển, toàn cầu hóa đã tạo điều kiện cho các
quốc gia nhanh chóng tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Từ đó hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, rút ngắn được tiến trình hiện đại hóa Xu hướng phân công lao động quốc tế ngày nay đã chuyển dịch từ chiều dọc sang phân công lao động theo chiều ngang, phân công theo chi tiết, theo quy trình sản xuất Chẳng hạn, việc sản xuất máy bay của hãng Boing ở Mỹ có các chi tiết được chế tạo từ gần 100 quốc gia khác nhau
cuu duong than cong com
Trang 5Thứ năm, mở rộng thị trường Trong quá khứ, khó có doanh nghiệp nào có được
khả năng mở rộng hoạt động tiếp thị ra thị trường toàn cầu, do giới hạn về nguồn lực Tuy nhiên ngày nay, không ít các doanh nghiệp dễ dàng phát triển nhờ vào mạng lưới toàn cầu
và sự phát triển của Internet
Lấy ví dụ, loại hình kinh doanh “dropshipping’ mới xuất hiện gần đây Dropshipping là
mô hình nhà bán lẻ kinh doanh trực tuyến và không giữ hàng trong kho, khi khách hàng mua hàng, nhà bán lẻ sẽ mua hàng từ nhà cung cấp và yêu cầu nhà cung cấp vận chuyển hàng tới tay khách hàng và chỉ có thể được vận hành trong môi trường thương mại tự do
Cuối cùng, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tích cực Toàn cầu hóa đang mở ra
nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia cơ cấu lại nền kinh tế của mình Nền kinh tế toàn cầu đang biến đổi nhanh chóng, thì nền kinh tế của các nước đang phát triển, nếu muốn phát triển, không còn con đường nào khác là phải nhanh chóng hoà nhập vào quỹ đạo vận động chung của nền kinh tế thế giới Chính vì vậy, cơ cấu kinh tế của nhiều nước đang phát triển đã có nhiều biến đổi theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu hàng xuất khẩu cũng thay đổi, chất lượng hàng hoá xuất khẩu được nâng lên theo hướng đạt các tiêu chuẩn quốc tế,
tỷ trọng sản phẩm qua chế biến đã tăng từ 5,65% (năm 1980) lên 77,7% (năm 1994) [5]
Bên cạnh toàn cầu hóa, thương mại tự do cũng có những tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế Điều này được thể hiện qua những mặt chính sau:
Tác động đến tăng GDP và xuất nhập khẩu:
Nếu như vào nửa đầu thế kỷ XX, tổng GDP của thế giới tăng 2,7 lần, thì đến nửa cuối thế kỷ, tổng GDP thế giới đã tăng 5,2 lần Đầu năm 1950, tỷ trọng thương mại trong GDP toàn cầu là 7% thì hiện nay đã tăng lên hơn 50% Năm 2004, tổng giá trị thương mại toàn cầu đạt hơn 22.267 tỷ USD làm cho thương mại thực sự trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế thế giới Biểu đồ sau đây cho thấy mức tăng trưởng GDP và xuất khẩu hàng hóa thế giới trong 10 năm sau khi WTO ra đời
cuu duong than cong com
Trang 6Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP và xuất khẩu hàng hóa của thế giới thời kỳ 1995 – 2004
Nguồn: Kinh tế toàn cầu Tác động đến chất lượng và giá cả hàng hóa:
Thương mại tự do đã tạo ra mức độ cạnh tranh trong thị trường mở, tạo ra sự đổi mới liên tục và dẫn đến các sản phẩm có chất lượng tốt hơn Thương mại tự do cho phép nhiều hàng hóa và dịch vụ được bán với giá thấp hơn, do đó làm tăng đáng kể tiêu chuẩn của cuộc sống của mọi người Theo cách này, một trong những lợi ích mà thương mại tự
do mang lại là thúc đẩy đổi mới và cạnh tranh vớimục đích tiếp cận với nhiều loại hàng hóa và dịch vụ hơn Thương mại tự do là loại hình thương mại thực sự công bằng duy nhất vì nó mang lại cho người tiêu dùng nhiều nhất lựa chọn và cơ hội tốt nhất để cải thiện mức sống của họ Nó nuôi dưỡng cạnh tranh, thúc đẩy các công ty đổi mới và phát triển các sản phẩm tốt hơn và mang lại nhiều hàng hóa và dịch vụ của họ ra thị trường hơn, giữ giá thấp và chất lượng cao ở để giữ hoặc tăng thị phần của họ [6]
Tác động đến đến thể chế, cơ chế chính sách hay hệ thống pháp lý:
Các tác động thúc đẩy chủ yếu nhất của FTA gồm: Tăng năng suất trên cơ sở khai thác tính kinh tế của quy mô; cạnh tranh, chuyên môn hóa sản xuất và tính hiệu quả; thúc đẩy đầu tư; thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và phát triển bền vững; tạo ra cơ hội hài hòa hóa các chính sách kinh tế vĩ mô; tạo sức ép cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp lý Cụ
cuu duong than cong com
Trang 7thể, tác động thúc đẩy của FTA thể hiện ở 3 dạng: mở rộng thị trường; thúc đẩy cạnh tranh và thu hút đầu tư
Ví dụ, năm 2006, Việt Nam chỉ thu hút được 10 tỷ USD vốn FDI nhưng đến năm 2007 đã lên tới 21,3 tỷ USD và đạt 64 tỷ USD vào năm 2008 Vào năm 2014, con số này đạt mức 21.9 tỷ USD
Tác động đến việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động:
Một là,làm cho tiền lương thực tế của cả lao động có kỹ năng và không có kỹ năng đều tăng lên
Hai là, một số nước giảm dần sử dụng lao động giản đơn sang sử dụng nhóm lao động có kỹ năng và trình độ cao dẫn đến chất lượng lao động được nâng cao
Có thể nhận thấy rằng, thương mại tự do trong bối cảnh toàn cầu hóa là động lực
và cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, giúp nâng cao chất lượng hàng hóa với giá bán rẻ hơn, khoa học – công nghệ có tiềm năng phát triển, Tuy nhiên luôn có sự bất bình đẳng về lợi thế các yếu tố đầu vào trong sản xuất và lợi ích kinh tế đã dẫn đến xu hướng bảo hộ thương mại, đặc biệt là bảo hộ đối với các ngành công nghiệp non trẻ Tuy nhiên, xu hướng bảo thương mại vẫn còn những bất cập khi được Chính phủ các nước áp dụng:
Đầu tiên, khi thực hiện bảo hộ sẽ phải đưa ra các luật pháp, chính sách gây khó
khăn trong việc các người dân trong nước và nước ngoài có thể thực hiện và gây ra rào cản trong thương mại ngày càng lớn
Ví dụ như đối với các doanh nghiệp Việt Nam.Hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa nắm được hết quy định để sử dụng bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình (theo điều tra mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam với 1.000 DN thì có đến 63%
DN có nghe nói về phòng vệ thương mại nhưng không hiểu sâu) Do đó, khi đối diện với các vụ kiện quốc tế, doanh nghiệp loay hoay không biết làm như thế nào, có doanh nghiệp thua cuộc và mất trắng thị trường do bị áp thuế cao và không thể cạnh tranh được Theo WTO - cơ quan giải quyết tranh chấp từ năm 1995 đến năm 2007 đã có đến 369 vụ kiện
cuu duong than cong com
Trang 8liên quan đến việc bảo hộ thương mại và con số đó đã tăng thêm rất nhiều lần khi bảo hộ thương mại được siết chặt ở các nước lớn như Mỹ
Thứ hai, tạo ra cạnh tranh kém công bằng trong nước, hiện tượng hàng hóa tăng
giá không hợp lý và giảm động lực cạnh tranh của các môi trường trong nước khi áp dụng chính sách bảo hộ thương mại đối với mặt hàng trong nước
Trong giai đoạn 1947-1965, các chính sách bảo hộ, nội địa hóa và kiểm soát chặt chẽ đã giúp ngành công nghiệp ô tô Ấn Độ có tỷ lệ nội địa hóa cao (từ 50% - 80%) Tuy nhiên, việc kiểm soát quá chặt sự tham gia của nước ngoài đã kìm hãm sự phát triển của ngành ô
tô trong nước Thêm vào đó, sự bảo hộ của nhà nước đã mang lại thế độc quyền cho các công ty trong nước, làm méo mó thị trường, không khuyến khích R&D để cải thiện chất lượng và nâng cấp sản phẩm [7]
Thứ ba, người tiêu dùng phải hạn chế sử dụng vì phải trả giá cao hơn cho những
sản phẩm có chất lượng thấp hơn
Hiện nay, thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc của Việt Nam đã giảm xuống 0%, ngoài khu vực ASEAN vẫn phải chịu thuế từ 50-70% Điều này có thể nhận thấy rõ rệt ở giá bán của
xe ô tô hiện nay Có 3 loại thuế chính mà người dân phải chịu đó là: thuế nhập khẩu (gần 30%), thuế tiêu thụ đặc biệt (35%-150%) và thuế giá trị gia tăng (10%) Ngoài chi phí mua, để có thể sử dụng xe ô tô cũng phải chịu các chi phí như: phí trước bạ, phí cấp biển, phí đăng kiểm, phí bảo hiểm, [8] Theo tính toán, với thu nhập bình quân của người Việt Nam hiện nay là 2.500 USD/năm thì phải sau 7 năm đi làm, không chi tiêu gì mới tích góp đủ tiền mua một chiếc xe có giá loại rẻ ở Việt Nam Vậy, việc áp dụng các loại bảo
hộ này đã giảm đi lượng tiêu dùng của người Việt Nam đối với mặt hàng công nghệ này
Cuối cùng, một số nước đang phát triển áp dụng chính sách bảo hộ ngành công
nghiệp non trẻ Điều này đang đi ngược lại với xu hướng toàn cầu hóa hiện nay
Toàn cầu hóa mở ra, xu hướng thương mại hóa ngày càng tăng cao Vậy nếu như các đất nước áp dụng bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ chính là đi ngược lại quy luật chung, ảnh hưởng đến thương mại của thế giới Hiện nay, có rất nhiều hiệp định, tổ chức mở ra để cắt giảm thuế, chống lại việc bảo hộ thương mại Tiêu biểu như, FTA trong khuôn khổ
cuu duong than cong com
Trang 9ASEAN cắt giảm 98% số dòng thuế, CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) cắt giảm 100% dòng thuế và EVFTA (FTA Việt Nam với EU) cắt giảm 99% số dòng thuế, G20 đã áp dụng 145 biện pháp mới về hạn chế thương mại trung bình mỗi tháng áp dụng 21 biện pháp Hội nghị thượng đỉnh G7 cũng cam kết hiện đại hòa tổ chức mương mại Thế giới (WTO) để có thể nỗ lực giảm các hàng rào thuế quan [9] Vậy có thể nói, nếu như áp dụng các chính sách bảo hộ các ngành công nghiệp ở thời điểm hiện tại, nếu như chính sách đối ngoại không khôn khéo rất dễ xảy ra các tranh chấp,
bị cô lập bởi các liên hiệp các đất nước ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước
Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch lan tràn và nguy cơ xảy ra các chiến tranh thương mại
sẽ càng khiến cho tự do hóa thương mại đi vào bế tắc, và kết quả là tất cả các nền kinh tế
sẽ cùng bị tổn thương Đây sẽ là cuộc chiến không có người thắng mà chỉ có kẻ thua, bởi tất cả sẽ cùng phải gánh chịu thiệt hại Đó cũng chính là bước đi khó khăn của kinh tế toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng tài chính Các quốc gia phát triển và đang phát triển đang phải đứng trước những lựa chọn quan trọng khi xác định hướng đi cho chính sách bảo hộ mậu dịch trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu thay đổi nhanh chóng như hiện nay Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã tham gia ký kết, thực thi và đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) Đây có thể xem là thành công của Việt Nam trong quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế
Việc tham gia các hiệp định FTA đã tạo thêm động lực và mang lại nhiều tác động tích cực cho kinh tế Việt Nam: thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng và đa dạng hóa; thị trường dịch vụ tài chính phát triển hơn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nước ngoài; hệ thống thể chế, chính sách cũng từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực thi cam kết trong các FTA, Cùng với sự tham gia WTO từ năm
2007, việc thực thi các FTA đã góp phần thúc đẩy GDP của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%
Năm 2019, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu giảm tốc do ảnh hưởng của căng thẳng thương mại toàn cầu và cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn, Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng xuất nhập khẩu ở mức cao, tổng kim ngạch xuất
cuu duong than cong com
Trang 10- nhập khẩu năm 2019 vượt mốc 500 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 263,45 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm 2018; kim ngạch nhập khẩu 2019 đạt 253,5 tỷ USD, tăng 7%
so với năm 2018 [10]
Bên cạnh những thành công và cơ hội khi tham gia các Hiệp định FTA nói riêng, đặc biệt là các hiệp định FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao và toàn diện như CPTPP và EVFTA cũng đem lại nhiều rủi ro và thách thức cần lưu ý: tính cạnh tranh trên thị trường, chính sách phúc lợi và an sinh xã hội, sự phụ thuộc giữa các nước tăng, đảm bảo môi trường ổn định cho phát triển,…
Trong 08 tháng đầu năm 2020, trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam đã ảnh hưởng đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng trong nước: tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 337,23 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm trước Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 175,36 tỷ USD, tăng 2,3% và nhập khẩu đạt 161,87 tỷ USD, giảm 2,4% [10]
Nói tóm lại, việc tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam đã và đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Đây là một xu thế khách quan, không thể đảo ngược Hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Chính vì vậy, Chính phủ các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích thu được và thiệt hại phải gánh chịu khi đưa ra