1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận BCTC cuối khóa (5)

22 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 678,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hiện vật khảo cổ học chỉ giúp người ta biết được tình hình phát triển của các ngành kinh tế và văn hóa, qua đó có thể suy ra đây là thời kỳ đã có nhà nước, chứ chưa biết được lịch

Trang 1

Th i c i , khi nhà nờ ổđạ ướ đưc ợ c hình thành, loài ngưi bưc vào xã h i v n minh Trong bu i bình minh c a l ch s , các dân ộ ă ổ ủ ị ử

t c phộ ưn g ô n g ã sáng t o nên nhi u thành t u v n hoá r c r mà ngày nay chúng ta v n a ng Đ đ ạ ề ự ă ự ỡ ẫ đ đư c th a hừ ưn g:

*Sáng t o ch vi t:ạ ữ ế

Khi nhà nướ đưc ợ c hình thành, do nhu c u c a vi c qu n lý hành chính (công v n, l u gi s li u ru ng t , thu má…) và ầ ủ ệ ả ă ư ữ ố ệ ộ đấ ếnhu c u trao i th t , ngầ đổ ư ừ ưi ta c n ghi chép và l u gi nên ch vi t ra i Ban u , ngầ ư ữ ữ ế đờ đầ ưi ph ưn g ô ng c i u dùng Đ ổđạ đề

ch tữ ượn g hình mô ph ng v t th t ỏ ậ ậ để nói lên ý ngh c a mình.ĩ ủ

Ngưi ta ã tìm th y Tây Á hình v m t con thuy n, ba M t Tr i và ba con hđ ấ ở ẽ ộ ề ặ ờ ưu n m dằ ưi chân ngưi B c v mu n k l i ứ ẽ ố ể ạ

m t cu c i s n b ng thuy n ven sông trong ba ngày và s n ộ ộ đ ă ằ ề ở ă đượ c ba con hưu

V sau, ề để di n t linh ho t, ngễ ả ạ ưi ta ã dùng nh ng nét tđ ữ ưn g tr ng thay cho hình v và ghép các nét theo quy ư ẽ ưc để thành

ch g i là ch tữ ọ ữ ượn g ý Ch tữ ượn g ý c ng ch a tách kh i ch tũ ư ỏ ữ ượn g hình và th ưn g đư c ghép v i m t thanh ớ ộ để bi u th ể ị

ti ng nói có âm s c thanh i u c a con ngế ắ đ ệ ủ ưi

Nh ng ch này ữ ữ đư c vi t trên gi y làm b ng v cây pa-pi-rút, trên mai rùa, trên th tre ho c trên các phi n t sét ế ấ ằ ỏ ẻ ặ ế đấ ưt r i e m ồ đnung ho c ph i khô Ai C p, ngặ ơ Ở ậ ưi ta ã tìm đ đư c nhi u “t gi y” pa-pi-rút nh th , có “t ” dài t i 40m; còn Lề ờ ấ ư ế ờ ớ ở ưn g Hà, khikhai qu t thành Ni-ni-v , ngậ ơ ưi ta ã tìm đ đư c m t th vi n l n có ch a t i 22000 “cu n sách” b ng t nung.ộ ư ệ ớ ứ ớ ố ằ đấ

Nh nh ng “ v n t ” c còn l u gi l i, ngày nay chúng ta m i bi t ờ ữ ă ự ổ ư ữ ạ ớ ế đượ c r ng các qu c gia c i phằ ở ố ổđạ ưn g ô n g, các ngành Đkhoa h c nh thiên v n, toán h c, y h c, v n h c, s h c ã phát tri n.ọ ư ă ọ ọ ă ọ ử ọ đ ể

*Thiên V n:ă

Qua nhi u n m cày c y, nông dân hi u ề ă ấ ể đượ c tính ch t sinh trấ ưn g và th i v c a cây lúa có liên quan n quá trình “m c” và ờ ụ ủ đế ọ

“l n” c a M t Tr i và M t Tr ng Qua quan sát, ngặ ủ ặ ờ ặ ă ưi ta th y c kho ng 30 ngày ê m là m t l n tr ng tròn ó là c s ấ ứ ả đ ộ ầ ă Đ ơ ởđể

ngưi ta tính chu k th i gian và mùa T ó , ngỳ ờ ừđ ưi phưn g ô ng ã bi t làm ra l ch, m i n m có 365 ngày, chia thành 12 Đ đ ế ị ỗ ătháng H còn o th i gian b ng bóng n ng M t Tr i, m i ngày có 24 gi ọ đ ờ ằ ă ặ ờ ỗ ờ

*Toán H c:ọ

C dân phư ưn g ô n g c ng là nh ng ngĐ ũ ữ ườ đầi u tiên sáng t o ra các ch s Ban u ngạ ữ ố đầ ưi Ai C p m i ch bi t dùng nh ng ậ ớ ỉ ế ữ

v ch n gi n và nh ng kí hi u tạ đơ ả ữ ệ ưn g tr ng cho các s 10, 100, 1000… còn h th ng ch s A-r p, k c s 0 mà chúng ta ư ố ệ ố ữ ố ậ ể ả ố

a ng dùng ngày nay, là do ng i n c i sáng t o ra Do nhu c u th c t , ng i Ai C p x a r t gi i v hình h c H ã

tính đư c s Pi ( ) b ng 3,16 và gi i ố π ằ ả đượ c nhi u bài toán hình h c ph ng ph c t p Ngề ọ ẳ ứ ạ ưi L ưn g Hà l i phát tri n h n v s ạ ể ơ ề ố

h c H bi t làm các phép tính v i s th p phân.ọ ọ ế ớ ố ậ

*Ki n Trúc:ế

S phát tri n c a toán h c ã giúp cho c dân phự ể ủ ọ đ ư ưn g ô n g có th tính toán, xây d ng nh ng công trình ki n trúc Đ ể ự ữ ế đồ s trong ộ

l ch s Tiêu bi u nh t c a lo i công trình ki n trúc này là các Kim t tháp Ai C p ị ử ể ấ ủ ạ ế ự ở ậ Đư c xây d ng t r t s m (vào kho ng ự ừ ấ ớ ảthiên niên k III trỉ ưc Công nguyên), các Kim t tháp Ai C p n nay v n làm cho hàng tri u du khách n â y ph i choáng ự ở ậ đế ẫ ệ đế đ ả

ng p b i các hình kh i hùng v c a nó, có tháp cao g n 150m (b ng toà nhà 50 t ng); còn các tháp hình núi nh n, cao nhi u ợ ở ố ĩ ủ ầ ằ ầ ọ ề

t ng n ầ ở Ấ Độ l i làm cho ngạ ưi ta ph i kinh ng c b i ngh thu t ch m tr t m trên các b c phù i êu, t o nên m t phong cách ả ạ ở ệ ậ ạ ổ ỉ ỉ ứ đ ạ ộngh thu t ki n trúc Hin u c á o.ệ ậ ế đ độ đ

*V n h c:ă ọ

S thi, th n tho i, k ch th c á oử ầ ạ ị ơđộ đ

Trang 2

Văn minh Ấn Độ cổ đại

I – Tổng quan về Ấn Độ cổ trung đại

1 Địa lý và cư dân

Ấn Độ là một bán đảo ở Nam á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya nổi tiếng Ấn Độ chia làm hai miền Nam, Bắc lấy dãy núi Vinđya làm ranh giới Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông) Tên nước Ấn

Độ là gọi theo tên con sông này Sông Hằng ở phía Đông được coi là một dòng sông thiêng Từ xưa nhân dân Ấn Độ thường đến khúc sông ở thành phố Varanadi (Bênarét) để cử hành lễ tắm mang tính chất tôn giáo Cả hai dòng sông này đã bồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, vì vậy nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh của đất nước này.Cư dân Ấn Độ, về thành phần chủng tộc, gồm hai loại chính: người Đraviđa chủ yếu cư chú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư chú ở miền Bắc Ngoài ra còn có nhiều tộc khác như người Hy Lạp, người Hung Nô, người Arập… Họ dần dần đồng hóa với các thành phần cư dân khác, do đó vấn đề bộ tộc ở Ấn Độ là một vấn đề hết sức phức tạp.Thời cổ trung đại, phạm vi địa lý của nước Ấn Độ bao gồm cả các nước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay.

2 Sơ lược lịch sử cổ đại Ấn Độ

·Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN)

Từ khoảng đầu thiên kỷ III TCN, nhà nước Ấn Độ đã ra đời, nhưng cả giai đoạn từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỷ II TCN, trước đây chưa được biết đến Mãi đến năm 1920 và 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố Harappa và Môhenjô Đarô cũng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất ở vùng lưu vực sông Ấn, người ta mới biết được thời kỳ lịch sử này Những hiện vật khảo cổ học chỉ giúp người ta biết được tình hình phát triển của các ngành kinh tế và văn hóa, qua đó có thể suy ra đây là thời kỳ đã có nhà nước, chứ chưa biết được lịch sử cụ thể, vì vậy người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ văn hóa Harappa hoặc thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn.Về đầu trang

·Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)

Thời kỳ này, lịch sử Ấn Độ được phản ánh trong các tập Vêđa nên gọi là thời Vêđa Vêđa vốn là những tác phẩm văn học, gồm

có 4 tập là: Rich Vêđa, Xama Vêđa, Atácva Vêđa và Yagiva Vêđa, trong đó Rich Vêđa được sáng tác vào khoảng giữa thiên kỷ

II đến cuối thiên kỷ II TCN, còn 3 tập Vêđa khác thì được sáng tác vào khoảng đầu thiên kỷ I TCN.Chủ nhân của thời kỳ Vêđa là người Arya (nghĩa là “Người cao quý”) mới di cư từ Trung á vào Ấn Độ Địa bàn sinh sống của họ trong thời kỳ này chủ yếu là vùng lưu vực sông Hằng Trong giai đoạn đầu của thời Vêđa, người Arya đang sống trong giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thủy đến khoảng cuối thiên kỷ II TCN, họ mới tiến vào xã hội có nhà nước Chính trong thời kỳ này, ở Ấn Độ đã xuất hiện hai vấn đề có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xã hội nước này, đó là chế độ đẳng cấp (varna) và đạo Bàlamôn.Về đầu trang

II – Những thành tựu chính của văn minh Ấn Độ

1 Chữ viết

Chữ viết đầu tiên của Ấn Độ được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa Tại các di chỉ thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn đã phát hiện được hơn 3.000 con dấu khắc chữ đồ họa Suốt nửa thế kỷ từ khi phát hiện lần đầu tiên vào năm 1921, nhiều tác giả của nhiều nước đã nghiên cứu cách đọc loại chữ này nhưng chưa thành công Mãi đến cách đây vài chục năm, một nhà khảo

cổ học Ấn Độ là tiến sĩ S.R Rao đã khám phá được sự bí ẩn của loại chữ này.Theo ông Rao, đây là một loại chữ dùng hình vẽ

để ghi âm, ghi vần Trong số hơn 3000 con dấu ấy có 22 dấu cơ bản Loại chữ này chủ yếu viết từ phải sang trái Những con dấu đã phát hiện được là những con dấu dùng để đóng trên các kiện hàng để xác nhận hàng hóa và chỉ rõ xuất xứ của những hàng hóa đó.Đến khoảng thế kỷ V TCN ở Ấn Độ xuất hiện một loại chữ khác gọi là chữ Kharosthi Đây là một loại chữ phỏng theo chữ viết của vùng Lưỡng Hà Sau đó lại xuất hiện chữ Brami, một loại chữ được sử dụng rộng rãi Các văn bia của Axôca đều viết bằng loại chữ này Trên cơ sở chữ Brami, người Ấn Độ lại đặt ra chữ Đêvanagari có cách viết đơn giản thuật tiện hơn

Đó là thứ chữ mới để viết tiếng Xanxcrit Đến nay ở Ấn Độ và Nêpan vẫn dùng loại chữ này.

Trang 3

dữ đến ngày nay, điển hình nhất là tháp Xansi (Sanchi) ở Trung Ấn, xây từ thế kỷ III TCN Tháp này xây bằng gạch, hình nửa quả cầu, cao hơn 16m, xung quanh có lan can và bốn cửa lớn Lan can và cửa đều làm bằng đá và được trạm trổ rất đẹp.Trụ

đá cũng là một loại công trình kiến trúc dùng để thờ Phật Những trụ đá này trung bình cao 15m nặng 50 tấn, trên đó trạm một hoặc nhiều con sư tử và các hình trang trí khác Các sắc lệnh của Axôca thường được khắc trên các trụ đá đó Trong số các trụ đá còn lại, nổi tiếng nhất là trụ đá ở Xácna (Sarnath) Trên đỉnh trụ đá này có chạm hình 4 con sư tử chụm đuôi vào nhau, mặt nhìn ra 4 hướng trong tư thế tự vệ Dưới sư tử, có hình bánh xe luân hồi Hình tượng này nay được vẽ thành quốc huy của nước Ấn Độ.Trong số các chùa đền của các tôn giáo như Bàlamôn, đạo phật, đạo Jain, chùa hay là một loại công trình đặc biệt của Ấn Độ thời cổ trung đại, thường là những công trình nghệ thuật kết hợp kiến trúc với điêu khắc, hội họa Tiêu biểu cho loại công trình này là những gian chùa hang ở Ajanta được kiến tạo từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ VIII sau CN Phương pháp kiến tạo chùa này là khoét sâu vào vách núi đá, có nhiều cột chống và được trang trí bằng nhiều bức trạm tinh vi và những tranh bích họa rất đẹp Dãy chùa hang Ajanta gồm tất cả 29 gian (trong đó có gian hình vuông, mỗi chiều 20m) dùng để làm nơi thờ Phật, nơi giảng kinh và nơi ở của các nhà sư.Ngoài chùa Ajanta, dãy chùa hang Enlôra ở Trung Ấn kiến tạo vào thế kỷ VIII cũng là một công trình tuyệt mỹ.Dãy chùa này dài khoảng 2km, bao gồm chùa Phật giáo, chùa đạo Hinđu và chùa đạo Jain.Ở Ấn Độ còn có những ngôi chùa lớn xây bằng gạch và đá Đặc biệt, ở chùa Tanjo có một ngọn tháp xây hình Kim tự tháp, gồm 14 tầng, cao 61m, xây dựng từ thế kỷ XI Đó cũng là một công trình kiến trúc nổi tiếng.Đến thời Xuntan Đêli và thời Môngôn, cùng với việc đạo Hồi trở thành quốc giáo, ở Ấn Độ đã xuất hiện những công kiến trúc mới xây dựng theo kiểu Trung á và Tây á Đó là những nhà thờ Hồi giáo, cung điện, lăng mộ mà đặc điểm chung của lối kiến trúc này là mái tròn cửa vòm, có tháp nhọn Có khi các công trình này còn kết hợp với phong cách truyền thống của Ấn Độ như xây theo lối có bao lơn

lộ thiên, có cột chống thanh thoát…Công trình tiêu biểu nhất của thời Môgôn là lăng TajMahan được xây dựng vào thế kỷ XVII Lăng này là kết tinh tài nghệ của các kiến trúc sư và thợ thủ công nhiều nước: Ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, v,.v… Toàn bộ ngôi lăng xây bằng đá cẩm thạch trắng Chính điện, gác chuông, tháp, sân đều bố trí rất hài hòa, bên trong bên ngoài đều trạm trổ Nhìn từ xa, tất cả cảnh vật của lăng in lung linh trên mặt nước hồ xanh biếc, trông lại càng kỳ diệu.Về nghệ thuật tạo hình,

vì đạo Phật, trong thời kỳ đầu phản đối việc thờ thần tượng và hình ảnh nên nghệ thuật tạc tượng bị hạn chế trong một thời gian dài Mãi đến khi phái Phật giáo Đại thừa ra đời, chủ trương đó mới thay đổi, do vậy, từ thế kỷ I về sau, tượng Phật mới được tạo nên ngày một nhiều, trong đó tiêu biểu nhất là pho tượng bằng đá ở Ganđara.Ngoài tượng Phật còn có các tượng thần đạo Hinđu như tượng thần Visnu, thần Siva v.v… Các tượng thần đạo Hinđu thường được thể hiện dưới hình tượng nhiều đầu nhiều mặt nhiều tay và nhiều khi có hình thù rất đáng sợ.Nói chung nghệ thuật tạo hình Ấn Độ phần lớn nhằm vào chủ đề tôn giáo, nhưng vì bắt nguồn từ cuộc sống thực tế nên tính hiện thực vẫn thể hiện rất rõ rệt, ví dụ tượng nhiều tay nhiều đầu

là phỏng theo tư thế của các đội múa trong đền chùa và cung đình.

4 Khoa học tự nhiên

Trang 4

Mặc dầu áp lực của tôn giáo rất mạnh nhưng do nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, nhân dân Ấn Độ đã có nhiều phát minh quan trọng về một số môn khoa học tự nhiên như thiên văn, toán học, vật lý, y dược học…

·Thiên văn

Từ rất sớm, người Ấn Độ đã biết chia một năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ, cứ năm năm thì thêm 1 tháng nhuận Các nhà thiên văn học Ấn Độ cổ đại đã biết được quả đất và mặt trăng đều hình cầu, biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kỳ trăng tròn, trăng khuyết Họ còn phân biệt được 5 hành tinh Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ; biết được một số chòm sao và sự vận hành của các ngôi sao chính.Tác phẩm thiên văn học cổ nhất của Ấn Độ là quyển Xitđanta

(Siddhantas) ra đời vào khoảng thế kỷ V TCN.

·Toán học

Người Ấn Độ có một phát minh tưởng rất bình thường nhưng kỳ thực là một phát minh vô cùng quan trọng, đó là việc sáng tạo ra 10 chữ số mà ngày nay được dùng rộng rãi trên thế giới.Vào thế kỷ VIII, người Arập nhờ dịch tác phẩm Sidd hantas mà học tập được chữ số Ấn Độ Từ Arập, hệ thống chữ số này được truyền sang châu Âu, do đó những chữ số này thường bị gọi lầm là chữ số Arập.Tư liệu sớm nhất về các chữ số này là các bia đá của Axôca khắc từ thế kỷ III TCN Tuy nhiên con số 0 được thấy sớm nhất trong một tài liệu Arập năm 873, sau đó 3 năm mới thấy trong tài liệu Ấn Độ Mặc dầu vậy, người ta vẫn cho rằng, số 0 cũng do người Ấn Độ sáng tạo.Nhận được về tầm quan trọng của hệ thống chữ số này, cũng như tính chất vĩ đại việc phát minh ra hệ thống chữ số, nhà bác học Pháp Laplaxơ (Laplace, 1749-1827) viết:”Chính nhờ Ấn Độ mà chúng ta học được phương pháp tài tình chỉ dùng có mười chữ mà viết được đủ các số, mỗi chữ vừa có một trị số tuyệt đối, vừa có một trị

số tùy theo vị trí của nó ý đó tế nhị mà quan trọng, ngày nay chúng ta cho là đơn giản quá nên không thấy được công lao của người Ấn Độ Nhưng chính nhờ nó đơn giản mà làm toán mới hóa ra hết sức dễ dàng và hệ thống số học đáng được kể là sáng kiến ích lợi nhất Nếu có nghĩ rằng hai vị thiên tài bậc nhất thời cổ đại là Acsimét và Apôlôniốt (Apollonios) mà cũng không phát minh được hệ thống đó thì mới nhận định nổi sáng kiến của người Ấn Độ tài tình đến như thế nào”.Đến thế kỷ VI, người

Ấn Độ đã tính được một cách chính xác số π là 3,1416; đồng thời còn phát minh ra đại số học và về sau cũng đã truyền sang Arập.Về hình học, người Ấn Độ cổ đại đã biết tính diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác và hình đa giác Người

Ấn Độ cũng đã biết được quan hệ giữa các cạnh của tam giác vuông.

·Vật lý học

Các nhà khoa học kiêm triết học Ấn Độ đã nêu ra thuyết nguyên tử Người sáng lập trường phái triết học Vaisêsica là Canađa cho rằng vạn vật do các nguyên tử tạo nên, nhưng vật chất sở dĩ khác nhau là do mỗi loại có một thứ nguyên tử khác với loại khác Còn các nhà triết học đạo Giainơ (Jain) thì cho rằng nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ có các tổ hợp khác nhau mà thôi.Người Ấn Độ cổ đại cũng đã biết được sức hút của quả đất Sách Siddhantas viết vào thế kỷ V TCN đã ghi rằng: ” Quả đất,

đã nêu ra hàng trăm loại thuốc thảo mộc Song song với sự phát triển sớm của thuật giải phẫu, người Ấn Độ đã biết chế thuốc

tê cho bệnh nhân uống để giảm đau khi mổ.Ngoài các ngành nói trê, người Ấn Độ còn nhiều hiểu biết về các môn Hóa học, Sinh học, Nông học… do đó đã phục vụ đắc lực cho các lĩnh vực khoa học khác và các nghề thủ công như luyện thép, nhuộm, thuộc da v.v…

5 Tôn giáo

Ấn Độ là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất là đạo Bàlamôn về sau là đạo Hinđu và đạo Phật Ngoài

ra còn có một số tôn giáo khác như đạo Jain, đạo Xích.

Trang 5

Ai Cập

Tổ chức chính quyền và thương nghiệp

pharaoh thường được miêu tả mang những biểu tượng của hoàng gia và quyền lực

Pharaoh là vị người nắm giữ toàn bộ quyền lực tối cao của vương quốc và ít nhất là trên lý thuyết sở hữu toàn bộ đất đai cùng tất cả các nguồn tài nguyên của nó Nhà vua là tổng tư lệnh tối cao của quân đội và là người đứng đầu nhà nước, dựa vào một bộ máy quan lại giúp ông quản lý công việc của mình Đứng đầu chính quyền của nhà nước chỉ sau nhà vua là tể tướng, người đóng vai trò là đại diện và quản lý toàn bộ đất đai, quốc khố, các công trình xây dựng, hệ thống pháp luật, và các tài liệu lưu trữ Ở cấp độ khu vực, đất nước được chia thành 42 khu vực hành chính gọi là

các nome nằm dưới sự cai trị bởi một nomarch, những người nằm dưới sự giám sát của tể tướng Các ngôi đền hình thành nên xương sống của cả nền kinh tế Không chỉ là nơi thờ cúng, chúng còn giữ nhiệm vụ thu gom và tích trữ của cảicủa vương quốc trong một hệ thống các kho thóc và Kho bạc được quản lý bởi những đốc công, họ giữ trọng trách phân phối thóc lúa và hàng hóa.[89]

=> Pharaoh cao nhất, dưới là tể tướng quản lí, dưới tể tướng là nomarch, dưới là dân Quản lí và phân phối của cải qua kho thóc và khó bạc bởi đốc công

Phần lớn nền kinh tế được tổ chức một cách tập trung và nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ Mặc dù những người Ai Cập

cổ đại không sử dụng tiền đúc cho đến thời kỳ hậu nguyên, họ đã sử dụng một loại hệ thống trao đổi hàng hóa,[90] sử dụng các bao tải thóc để làm tiêu chuẩn vàdeben, trọng lượng khoảng 91 gram (3 oz) bằng đồng hoặc bạc để tạo nên một đơn vị đo lường chung.[91] Người lao động được trả bằng thóc và một người lao động bình thường có thể kiếm được

5 ½ bao tải (200 kg hoặc 400 lb) thóc mỗi tháng, trong khi một quản đốc có thể kiếm được 7½ bao tải (250 kg hoặc

550 lb) Giá cả được cố định trên toàn quốc và được ghi vào sổ sách để tạo điều kiện cho việc kinh doanh; ví dụ như mộtchiếc áo có giá năm deben đồng, trong khi một con bò có giá 140 deben.[91] Thóc lúa có thể được trao đổi với các mặt hàng khác, theo một bảng giá cố định.[91] Vào thế kỷ thứ 5 TCN, tiền đúc đã được du nhập vào Ai Cập từ nước ngoài

=> Có đơn vị đo lường, giá cả, tiền

Địa vị xã hội

Trang 6

Xã hội Ai Cập đã có sự phân chia giai cấp ở mức độ cao, và địa vị xã hội đã được phân biệt rõ ràng Nông dân chiếm phần đông trong xã hội, nhưng nông sản lại thuộc sở hữu trực tiếp của nhà nước, đền thờ, hay các gia đình quý tộc mà

sở hữu đất đai.[92] Nông dân cũng phải chịu thuế lao động và bị buộc phải tham gia lao động trong các dự án thủy lợi, các công trình xây dựng theo một hệ thống sưu dịch.[93] Nghệ sĩ và thợ thủ công lại có địa vị cao hơn nông dân, nhưng họ cũng nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước, làm việc tại các phân xưởng gắn với những ngôi đền và được trả lương trựctiếp từ quốc khố Các viên ký lục và quan lại hình thành nên tầng lớp thượng lưu ở Ai Cập cổ đại, được gọi là "tầng lớp váy trắng", một sự ám chỉ đến việc sử dụng quần áo bằng vải lanh màu trắng như là một dấu hiệu cho địa vị của họ.[94] Tầng lớp thượng lưu này còn làm nổi bật địa vị xã hội của họ thông qua nghệ thuật và văn học Bên dưới giới quý tộc

là các giáo sĩ, thầy thuốc, và các kỹ sư được đào tạo một cách chuyên môn trong lĩnh vực của họ Nô lệ cũng đã được biết đến ở Ai Cập cổ đại, nhưng mức độ và tỷ lệ của nó lại không rõ ràng.[95]

=> Có giai cấp thống trị và bị trị : Nhà nước, đền thờ => Quý tộc / => Quan viên => Giáo

sĩ, thầy thuốc, kĩ sư => Nghệ sĩ, thợ thủ công => Nông dân => Nô lệ

/ là phân cách giữa thống trị và bị trị

“Tầng lớp váy trắng” ?

Trừng phạt ở Ai Cập cổ đại

Những lao động trẻ tuổi người Ai Cập đang được thầy thuốc chữa trị

Người Ai Cập cổ đại coi đàn ông và phụ nữ, kể cả tất cả mọi người đến từ tất cả các tầng lớp xã hội, ngoại trừ nô lệ, về

cơ bản là bình đẳng với nhau theo quy định của pháp luật, và ngay cả những người nông dân dưới đáy cũng được quyềnkiến nghị tới tể tướng và triều đình.[96] Mặc dù, nô lệ được sử dụng chủ yếu như là những người hầu chịu sự ràng buộc

Họ có thể bị mua và bán, hoặc có thể làm việc tự do và thường được điều trị bởi các thầy thuốc tại nơi làm việc.[97] Cả đàn ông và phụ nữ đều có quyền sở hữu và mua bán tài sản, ký kết hợp đồng, kết hôn và ly hôn, nhận thừa kế, và theo đuổi các tranh chấp pháp lý tại tòa án Các cặp vợ chồng có thể sở hữu tài sản chung và bảo vệ bản thân khi ly dị bằng cách đồng ý hợp đồng hôn nhân, trong đó quy định các nghĩa vụ tài chính của người chồng đối với vợ và con cái khi kết thúc cuộc hôn nhân của họ So với phụ nữ ở Hy Lạp cổ đại, La Mã, và thậm chí là nhiều nơi trên thế giới vào ngày nay, phụ nữ Ai Cập cổ đại đã có nhiều quyền lợi hơn Những người phụ nữ như Hatshepsut và Cleopatra VII thậm chí đã trở thành các pharaoh, trong khi nhiều người khác nắm giữ địa vị Người vợ thần thánh của Amun Mặc dù có được nhiều quyền tự do, phụ nữ Ai Cập cổ đại lại không thường xuyên nắm giữ các vị trí chính thức trong chính quyền, họ chỉ giữ vaitrò thứ yếu trong các ngôi đền, và không được nhận nền giáo dục như nam giới.[96]

Trang 7

Ký lục là những người có địa vị xã hội cao và được giáo dục tốt Họ được giao trách nhiệm tính thuế, ghi chép, và quản lý.

- Nam nữ bình đẳng, phụ nữ có quyền như nam giới nhưng ít được giáo dục

- có sự chiếm hữu nô lệ

Hình phạt cho những tội lỗi nhỏ có thể là phạt tiền, đánh đập, cắt xẻo khuôn mặt, hay lưu đày, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội Những tội nghiêm trọng như giết người và cướp mộ thì bị trừng phạt bằng cách xử

tử, có thể bằng cách chém đầu, dìm chết đuối, hoặc đóng cọc đối với người phạm tội Hình phạt cũng có thể được mở rộng ra đối với gia đình của người phạm tội.[88] Bắt đầu từ thời Tân vương quốc, các nhà tiên tri đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật, xét xử cả trong trường hợp dân sự và hình sự Trình tự cho quá trình này đó là hỏi thần linh một câu hỏi "có" hoặc "không" có liên quan đến việc đúng hay sai của một vấn đề Thần linh thông qua một số vị thầy

tế, sẽ phán quyết bằng cách chọn một hoặc theo cách khác là di chuyển về phía trước hoặc phía sau, hoặc chỉ vào một trong những câu trả lời được viết trên một mảnh giấy cói hoặc một ostracon.[99]

- Chưa có bộ luật cụ thể, chỉ qua thoả thuận và giải quyết xung đột.

- Trong xử án Kenbet là người ra phán quyết

- Hình phạt khá dã man ~~

Nông nghiệp

Trang 8

Một bức phù điêu từ ngôi mộ của Nakht mô tả cảnh người lao động đang cày ruộng, thu hoạch mùa vụ, và đập lúa dưới sự chỉ đạo của một quản đốc.

Sự kết hợp các điều kiện địa lý thuận lợi góp phần vào sự thành công của văn hóa Ai Cập cổ đại, quan trọng nhất trong

đó là đất đai có độ màu mỡ cao, kết quả từ sự ngập lụt hàng năm của sông Nile Như vậy, người Ai Cập cổ đại có thể tạo

ra một nguồn lương thực dồi dào, cho phép dân cư dành nhiều thời gian và nguồn lực cho các mục đích văn hóa, kĩ thuật, và nghệ thuật Quản lý đất đai có vai trò rất quan trọng trong thời Ai Cập cổ đại bởi vì số thuế được dựa trên số lượng đất mà một người sở hữu.[100]

Công việc đồng áng ở Ai Cập phụ thuộc vào chu kỳ của sông Nile Người Ai Cập ghi nhận ba mùa: Akhet (lũ lụt), Peret (trồng trọt), và Shemu (thu hoạch) Mùa lũ lụt kéo dài từ tháng sáu tới tháng chín, bồi đắp hai bên bờ sông một lớp phù

sa lý tưởng, giàu khoáng chất cho việc trồng trọt Sau khi nước lũ rút, mùa gieo trồng kéo dài từ Tháng Mười tới tháng hai Nông dân cày và trồng hạt giống trên các cánh đồng, được tưới bằng mương, kênh rạch Ai Cập vốn có lượng mưa hàng năm ít, do đó, nông dân đã dựa vào sông Nile để tưới nước cho cây trồng của họ[101] Từ tháng ba tới tháng năm, nông dân sử dụng liềm để thu hoạch cây trồng của họ, mà sau đó đã đập với một cái đập lúa một để tách riêng rơm khỏi hạt thóc lúa Sàng lọc loại bỏ trấu khỏi thóc, các hạt thóc lúa sau đó được nghiền thành bột, ủ làm bia, hoặc được lưu trữ

để sử dụng sau này.[102]

Người Ai Cập cổ đại trồng lúa mì và lúa mạch, và một số loại ngũ cốc khác, tất cả đều được sử dụng để làm cho hai loại thực phẩm chính là bánh mì và bia [103] Các cây lanh bị nhổ bật gốc trước khi chúng bắt đầu ra hoa, vốn được trồng để lấysợi Những sợi này được tách dọc theo chiều dài của nó và xe thành sợi, được sử dụng để dệt vải lanh và may quần áo Cây cói mọc trên các bờ của sông Nile đã được sử dụng để làm giấy Rau và hoa quả được trồng ở những mảnh đất vườn, gần các ngôi nhà và trên khu đất cao hơn, và phải được tưới nước bằng tay Rau bao gồm tỏi tây, tỏi, dưa hấu, bí, đậu, rau diếp, và các cây trồng khác, ngoài ra còn có nho đã được chế biến thành rượu.[104]

Sennedjem cày ruộng của ông với một cặp bò

- Nông nghiệp phát triển nhờ sông Nile, chia làm 3 mùa theo chu kì sông Nile.

- Trồng nhiều loại cây, chủ yếu làm bánh mì, bia Ngoài ra có lanh, giấy, rau, rượu.

Động vật

Người Ai Cập tin rằng một mối quan hệ cân bằng giữa con người và động vật là một yếu tố thiết yếu của trật tự vũ trụ, do

đó con người, động vật và thực vật được cho là thành viên của một tổng thể chung duy nhất [105] Gia súc là những vật nuôi quan trọng nhất, việc quản lý thuế đánh vào vật nuôi trong những cuộc tổng điều tra thường xuyên, và kích thước

Trang 9

của một đàn phản ánh uy tín và tầm quan trọng của điền trang hoặc ngôi đền mà sở hữu chúng Ngoài ra cho gia súc, người Ai Cập cổ còn nuôi cừu, dê và lợn Gia cầm như vịt, ngan, ngỗng, chim bồ câu đã bị bắt do mắc bẫy và được nuôi

ở các trang trại, nơi chúng đã bị ép ăn với bột để vỗ béo[106] Ngoài ra sông Nile còn là một nguồn cung cấp cá phong phú Ong cũng được thuần hóa ít nhất là từ thời Cổ Vương quốc, và chúng đã cung cấp cả mật ong và sáp.[107]

Người Ai Cập cổ đại sử dụng lừa và bò để chuyên chở, và chúng còn được sử dụng trong việc cày ruộng và gieo hạt giống Việc giết mổ một con bò được vỗ béo cũng là một phần trọng tâm trong các nghi lễ thờ cúng.[106] Ngựa đã

được nguời Hyksos du nhập vào Ai Cập trong thời kỳ chuyển tiếp thứ hai, và lạc đà, mặc dù được biết đến từ thời Tân vương quốc, chỉ được sử dụng để chuyên chở vào thời Hậu nguyên Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy những con voi đã được sử dụng trong một thời gian ngắn vào giai đoạn Hậu nguyên, nhưng phần lớn chúng đã bị bỏ rơi do thiếu đất chăn thả Chó[106] , mèovà khỉ là những loài thường được nuôi trong gia đình, trong khi các loài vật ngoại quốc khác được đưa về từ khu vực trung tâm của châu Phi, như sư tử, lại được dành riêng cho hoàng gia Herodotus quan sátthấy rằng người Ai Cập là những người duy nhất giữ những loài vật nuôi ở cùng trong nhà với họ.[105] Trong giai đoạn Tiềntriều đại và Hậu nguyên, việc thờ cúng các vị thần trong hình dạng động vật của họ trở nên vô cùng phổ biến, chẳng hạn như nữ thần mèo Bastet và thần còThoth, nhiều loài còn được nhân giống với số lượng lớn tại các trang trại nhằm dành cho mục đích hiến tế trong các nghi lễ

- Đã biết nuôi gia súc, gia cầm, đi bắt cá và lấy mật ong, sáp

- Dùng lừa và bò, ngựa, lạc đà để chuyên chở

- Nuôi chó, mèo, khỉ trong gia đình

- Thờ cúng thần trong dạng động vật

Tài nguyên

Ai Cập có nguồn tài nguyên đá phong phú dành cho các công trình xây dựng, cùng với đồng và chì, vàng, và đá bán quý.Các nguồn tài nguyên thiên nhiên này cho phép người Ai Cập cổ đại xây dựng các công trình kiến trúc, tạc tượng, chế tạo các công cụ và đồ trang sức.[109] Quá trình ướp xác sử dụng muối từ Natrun Wadi để làm khô các xác ướp, ngoài ra còn cung cấp nguồn thạch cao cần thiết để làm vữa.[110] Còn có những mỏ vàng lớn Nubia, và một trong những bản đồ đầu tiên được biết đến là bản đồ về một mỏ vàng ở khu vực này Wadi Hammamat là nơi cung cấp nguồn đá granit nổi tiếng,greywacke, và vàng Đá lửa là loại khoáng chất đầu tiên được thu thập và sử dụng để làm công cụ, và những chiếc rìu đá là bằng chứng sớm nhất về quá trình định cư ở khu vực thung lũng sông Nile Những viên đá nhỏ đã được mài một cách cẩn thận để làm lưỡi dao và đầu mũi tên nhờ vào độ cứng vừa phải của chúng và độ bền thậm chí chỉ kém đồng mà được sử dụng để thay thế sau này.[111] Người Ai Cập cổ đại là những người đầu tiên sử dụng các khoáng chất như lưu huỳnh làm mỹ phẩm.[112]

Người Ai Cập còn biết tách galen ra khỏi quặng chì tại Gebel Rosas để chế tạo lưới chì, các quả dọi bằng chì, và những bức tượng nhỏ Đồng là kim loại quan trọng nhất được sử dụng để chế tạo công cụ ở Ai Cập cổ đại và loại quặng

malachitedùng để nấu đồng lại được khai thác ở Sinai.[113] Công nhân khai thác vàng bằng cách đãi quặng vàng ra khỏi các lớp đá trầm tích, hoặc thông qua quá trình nghiền và đãi loại quặng vàng lẫn với quartzi vốn tốn nhiều công sức Quặng sắt được tìm thấy ở thượng Ai Cập đã được sử dụng vào thời Hậu nguyên[114] Những loại đá xây dựng với chất lượng cao rất dồi dào ở Ai Cập, người Ai Cập cổ đại đã khai thác đá vôi dọc theo thung lũng sông Nile, đá granite từ Aswan, và đá bazan cùng đá sa thạch từ các con sông cạn ở sa mạc phía đông Những loại đá dùng để chạm khắc như Pocfia, greywacke,thạch cao tuyết hoa, và carnelian nằm rải rác ở sa mạc phía đông và được khai thác từ trước khi triều đại đầu tiên được lập nên Vào thời kỳ nhà Ptolemy và La Mã cai trị, người Ai Cập đã tiến hành khai thác đá ngọc lục bảo ở Wadi Sikait và thạch anh tím ở Wadi el-Hudi.[115]

Có nhiều khoáng vật, biết sử dụng các khoáng vật hợp lí

Thương mại

Người Ai Cập cổ đại đã tiến hành giao thương với các nước láng giềng ngoại quốc của họ để có được hàng hóa quý hiếm và kỳ lạ vốn không được tìm thấy ở Ai Cập Trong giai đoạn Tiền triều đại, họ đã thiết lập thương mại với Nubia để

Trang 10

có được vàng và hương liệu Họ cũng thiết lập thương mại với Palestine với bằng chứng là những chiếc bình quai chứa dầu theo phong cách Palestine đã được tìm thấy trong các ngôi mộ của các pharaoh thuộc triều đại thứ nhất.[116] Một khu thực dân của người Ai Cập đã được thiết lập ở miền nam Canaan có niên đại vào giai đoạn trước khi triều đại thứ nhất bắt đầu.[117]Vua Narmer còn có các đồ gốm Ai Cập được sản xuất tại Canaan và sau đó xuất khẩu trở lại Ai Cập.[118]

Tới triều đại thứ hai, thương mại giữa Ai Cập cổ đại với Byblos đã giúp cho Ai Cập có được một nguồn cung cấp gỗ chất lượng vốn không có ở Ai Cập Đến triều đại thứ năm, thương mại với Punt đã đem về vàng, nhựa thơm, gỗ mun, ngà voi

và các loài động vật hoang dã như khỉ và khỉ đầu chó.[119] Thương mại giữa Ai Cập với khu vực Anatolia đã mang về một lượng lớn thiếc cần thiết cũng như nguồn cung cấp đồng bổ sung, cả ở dạng kim loại và quặng đồng dùng cho việc chế tạo đồ đồng Người Ai Cập cổ đại cũng rất coi trọng loại đá lapis lazuli màu xanh, mà phải nhập khẩu từ vùng

đất Afghanistanxa xôi Các đối tác thương mại ở Địa Trung Hải của Ai Cập còn bao gồm cả người Hy Lạp và Crete, họ đãcung cấp cho người Ai Cập nhiều loại hàng hóa khác nhau trong đó có dầu olive.[120] Về phần mình, Ai Cập chủ yếu xuất khẩu ngũ cốc, vàng, vải lanh, và giấy cói, ngoài ra còn bao gồm cả thủy tinh và những đồ vật bằng đá.[121]

- Giao thương với các nước láng giềng và để có những hàng hoá khác

- Xuất khẩu thực phẩm, sản phẩm thủ công và nhập olive, đá quý, động vật, kim loại

Ngôn ngữ

Lịch sử phát triển

Tiếng Ai Cập là một ngôn ngữ Phi-Á phía bắc có mối quan hệ gần gũi với tiếng Berber và ngôn ngữ Semite.[122] Nó là một trong những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời nhất (chỉ sau tiếng Sumer), và được viết từ khoảng năm 3200 TCN cho đến thời Trung Cổ và tồn tại là một ngôn ngữ nói còn lâu hơn nữa Các giai đoạn của tiếng Ai Cập cổ đại là Cổ Ai Cập, Trung Ai Cập(tiếng Ai Cập cổ điển), Hậu kỳ Ai Cập, ngôn ngữ bình dân và tiếng Copt.[123] Những ghi chép của người Ai Cập không cho thấy sự khác biệt về phương ngữ trước giai đoạn Copt, nhưng có thể co sự khác biệt trong cách nói tiếng địa

phương ở khu vực xung quanh Memphis và Thebes sau này.[124]

Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại là một ngôn ngữ đa tổng hợp, nhưng nó đã dần trở thành một loại ngôn ngữ đơn lập sau này Đến giai đoạn Hậu kỳ Ai Cập, nó đã phát triển các tiền tố hạn định và các mạo từ bất định, mà thay thế cho các hậu biến

tố cũ Đã có một sự thay đổi từ thứ tự động từ-chủ ngữ-bổ ngữ cũ thành dạng chủ ngữ-động từ-bổ ngữ.[125] Các ghi chép bằng chữ tượng hình, chữ thầy tu, và ngôn ngữ bình dân Ai Cập đã dần dần bị thay thế bằng bảng chữ cái ngữ âm của tiếng Copt Tiếng Copt vẫn được sử dụng trong các nghi thức tế lễ của Giáo hội Chính Thống Ai Cập, và dấu vết của nó còn được tìm thấy ở trong ngôn ngữ Ai Cập Ả Rập ngày nay

- Ngôn ngữ lâu đời, đa tổng hơp

Phát âm và ngữ pháp

Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại có 25 phụ âm tương tự với những ngôn ngữ Phi-Á khác Chúng bao gồm phụ âm đầu và trọng

âm, âm tắc, âm xát và âm rung, âm vang và âm ồn Nó có ba nguyên âm dài và ba nguyên âm ngắn, sau này vào thời Hậu kỳ Ai Cập thì nó được mở rộng lên thành chín.[127] Các từ cơ bản của tiếng Ai Cập tương tự như tiếng Semite và Berber, bao gồm ba hoặc hai gốc phụ âm và bán phụ âm Hậu tố được thêm vào để tạo thành từ Việc chia động từ tương ứng với ngôi Ví dụ, bộ khung ba phụ âm S-D-M là phần cốt lõi ngữ nghĩa của từ 'nghe'; chia động từ cơ bản của

nó là sḏm, 'ông ta nghe' Nếu chủ ngữ là một danh từ, hậu tố không được thêm vào động từ:[128]sḏm ḥmt, 'người phụ nữ

nghe'

Tính từ đuợc tạo thành từ danh từ thông qua một quá trình mà các nhà Ai Cập học gọi là nisbation vì sự tương đồng so với tiếng Ả Rập.[129] Thứ tự của từ là vị ngữ-chủ ngữ trong động từ và tính từ, và chủ ngữ-vị ngữ trong danh từ và phó từ

Trang 11

Chủ ngữ có thể được di chuyển đến đầu câu nếu nó dài và được theo sau bởi một đại từ bổ ngữ Các động từ và

danh từ dạng phủ định thì thêm tiếp đầu ngữ n, còn nn được sử dụng cho các trạng từ và tính từ Trọng âm rơi vào âm

tiết cuối cùng hoặc áp chót, có thể là mở âm (CV) hoặc đóng âm (CVC).[132]

- Phát âm nhiều phụ âm, ít nguyên âm.

- đoạn dưới khó hiểu ?

Chữ viết

Phiến đá Rosetta (khoảng năm 196 TCN).[133]

Những ghi chép bằng chữ tượng hình có niên đại từ khoảng năm 3000 TCN, và bao gồm hàng trăm biểu tượng Một chữtượng hình có thể đại diện cho một từ, một âm thanh, hoặc một âm câm nhất định; và cùng một biểu tượng tương tự có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau trong những bối cảnh khác nhau Chữ tượng hình là một dạng chữ viết chính thức, được sử dụng trên các công trình bằng đá và trong các ngôi mộ, và nó có thể mang tính chi tiết như các tác phẩm nghệ thuật cá nhân Trong các ghi chép hàng ngày, các viên ký lục đã sử dụng một dạng chữ viết soạn thảo, còn được gọi là chữ thầy tu, giúp họ viết nhanh hơn và dễ dàng hơn Trong khi chữ tượng hình chính thức có thể được đọc theo hàng hoặc cột hoặc cả hai hướng (mặc dù thường được viết từ phải sang trái), chữ thầy tu thì lại luôn luôn được viết từ phải sang trái, thường là theo các hàng ngang Một dạng chữ viết mới, chữ viết bình dân, sau này đã trở thành cách viết phổ biến, và dạng chữ viết này cùng với dạng chữ tượng hình chính thức đã được sử dụng trên phiến đá Rosettakèm theo văn bản tiếng Hy Lạp.[134]

Chữ tượng hình trên một bức vẽ

Khoảng thế kỷ thứ nhất, bảng chữ cái Copt đã bắt đầu được sử dụng cùng với chữ viết bình dân Chữ Copt là một dạng biến thể của bảng chữ cái Hy Lạp với việc bổ sung thêm một số dấu hiệu của chữ viết bình dân.[135] Mặc dù chữ tượng hình chính thức được sử dụng trong các nghi lễ cho đến thế kỷ thứ tư, tới giai đoạn cuối chỉ có một số ít các thầy tu vẫn còn có thể đọc được chúng Khi mà các tôn giáo truyền thống bị cấm đoán, hiểu biết về chữ viết tượng hình được coi là

đã thất truyền Những nỗ lực nhằm giải mã chúng đã bắt đầu từ thời Byzantine[136] và trong thời kỳ Hồi giáo ở Ai Cập,[137]nhưng mãi đến năm 1822, sau khi phiến đá Rosetta được phát hiện và qua nhiều năm nghiên cứu của Thomas Young cùng Jean-François Champollion, chữ tượng hình mới gần như được giải mã hoàn toàn.[138]

- Chữ tượng hình, dùng cho nhiều mục đích, được dùng tới TK4

Văn học

Ngày đăng: 08/01/2022, 09:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w