1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận và đáp án môn kinh tế vĩ mô

13 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 32,93 KB
File đính kèm Tự luận và đáp án kinh tế vĩ mô.rar (18 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thống kê cho thấy, nhập khẩu từ một số thị trường chủ lực tăng do hoạt động sản xuất kinh doanh dần trở lại bình thường, cụ thể như: kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là 26,3 tỷ USD, tăn

Trang 1

Kinh tế vĩ mô Câu 1: Trong năm 2019 thế giới phải đối mặt với đại dịch Covid 19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu Hãy phân tích ảnh hưởng của dịch Covid 19 đến kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam

Về xuất khẩu

Năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 281,5 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước không còn là động lực cho sự tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu như trong 9 tháng đầu năm 2020, khi giảm 1,1% và chỉ đạt 78,2 tỷ USD, chiếm 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đã giành lại vị thế đầu tàu xuất khẩu, khi đạt 203,3

tỷ USD, tăng 9,7%, chiếm 72,2 tổng kim ngạch xuất khẩu

Về nhập khẩu

Năm 2020, tổng trị giá nhập khẩu tăng 3,6% so với năm 2019 và đạt khoảng 262,4 tỷ USD, trong đó, xăng dầu các loại giảm 2,66 tỷ USD, tương ứng giảm hơn 45%; vải giảm 1,5 tỷ USD, tương ứng giảm trên 11%; sắt thép các loại giảm 1,41 tỷ USD, tương ứng giảm 15%; ô tô nguyên chiếc các loại giảm 919 triệu USD, giảm tương ứng 27%,

Thống kê cho thấy, nhập khẩu từ một số thị trường chủ lực tăng do hoạt động sản xuất kinh doanh dần trở lại bình thường, cụ thể như: kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là 26,3 tỷ USD, tăng khoảng 31% so với năm 2019 (tương đương 6,3 tỷ USD); từ Hàn Quốc đạt 13,3 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2019 (tương đương 1,7 tỷ USD); từ Nhật Bản là 5,9 tỷ USD, tăng 9,25% so với năm 2019 (tương đương 500 triệu USD); từ ASEAN đạt 7,1 tỷ USD;…

* Phân tích ảnh hưởng của Covid đến xuất nhập khẩu của Việt Nam

- Dịch COVID-19 khởi nguồn từ Trung Quốc đã để lại tác động đa diện về kinh tế-xã hội, không chỉ cho Trung Quốc, mà còn cả thế giới, trong đó có Việt Nam

+ Dịch bệnh Covid-19 đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tiêu cực đến hoạt động kinh doanh du lịch, việc thông thương, đi lại tại các cửa khẩu, cũng như nhu cầu sản phẩm nông sản và việc vận chuyển giao nhận hàng hóa giữa các tỉnh, thành của Trung Quốc với Việt Nam; làm chậm lại tiến trình thúc đẩy đàm phán mở cửa thị trường và tháo

gỡ khó khăn đối với một số sản phẩm có thế mạnh của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

+ Dịch bệnh còn làm sụt giảm hàng tỷ USD kim ngạch xuất khẩu nông sản và làm rớt giá nhiều mặt hàng nông sản, như dưa hấu, thanh long, xoài

Trang 2

+ Dịch Covid-19 còn có thể làm đứt gãy một số chuỗi cung ứng về cung ứng nguyên liêu đầu vào và tiêu thụ đầu ra sản phẩm của doanh nghiệp, như dệt may và da giầy, ngành nông sản…; ngành dịch vụ du lịch và bán lẻ… phụ thuộc thị trường Trung Quốc

-Đề xuất:

- Tiếp tục tổ chức khai thác, tận dụng cơ hội từ các FTA để tìm giải pháp phát triển thị trường và tháo gỡ các rào cản để thâm nhập các thị trường mới; Tiếp tục theo dõi sát sao diễn biến của đại dịch COVID-19 trên thế giới và trong nước để có các biện pháp ứng phó kịp thời, hỗ trợ DN; Đưa ra những khuyến cáo đối với các cơ quan, DN tham gia XNK, cần nhận thức rõ được những diễn biến trên thị trường thế giới để có thể tranh thủ khai thác hết cơ hội, tiếp tục duy trì được thế mạnh xuất khẩu trong bối cảnh hiện nay

- Ưu tiên triển khai các hoạt động xúc tiến xuất khẩu và các thị trường xuất khẩu sớm khôi phục sau đại địch; tập trung theo dõi sát tình hình từng thị trường để rà soát, xác định các chủng loại hàng hóa mà các nước đang có nhu cầu nhập khẩu để khai thác, thúc đẩy xuất khẩu

- Tăng cường các hoạt động hỗ trợ DN về thị trường, cải cách thủ tục hành chính liên quan đến XNK, tháo gỡ khó khăn về đầu vào, hỗ trợ về thông tin và đẩy mạnh tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại trực tuyến, nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa

- Nâng cao năng lực trong công tác cảnh báo sớm, phân tích, cảnh báo tình hình tăng trưởng xuất khẩu nóng, dẫn tới nguy cơ bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại và chủ động có biện pháp phù hợp để bảo vệ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ để hỗ trợ ngành sản xuất trong nước, từ đó nâng cao năng lực xuất khẩu

- Có chính sách hỗ trợ tín dụng, chính sách thuế hỗ trợ đối với các DN xuất khẩu Đối với

DN XNK

- Đa dạng hóa hơn nữa các đối tác thương mại, giảm thiểu những tác động đến từ một đối tác thương mại cụ thể

- Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản trị và sức khỏe tài chính cũng như khả năng thích ứng để vượt qua các thách thức, rủi ro trong hoạt động giao thương quốc tế

- Cần có những chuyển đổi mạnh về cơ cấu ngành hàng thông qua việc nghiên cứu, dự báo các nhu cầu Chú trọng nâng cao chất lượng, đổi mới quy trình xúc tiến thương mại cho phù hợp với tình hình mới

Câu 2: Năm 2020 Chính phủ tung gói kích cầu kinh tế 280.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó đảm bảo an sinh xã hội ứng phó với dịch bệnh Covid 19 Hãy cho biết tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có những thay đổi tích cực nào sau khi thực hiện gói kích cầu đó.

Bối cảnh dịch bệnh

Trang 3

- Kinh tế Việt Nam năm 2020 diễn ra trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát mạnh và diễn biến khó lường trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh

tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

Nội dung gói hỗ trợ

Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 11 về giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh ứng phó dịch COVID-19; trong đó có hai gói hỗ trợ quan trọng gồm gói tín dụng 250.000 tỷ đồng và gói hỗ trợ tài khoá 30.000

tỷ đồng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp (DN), người dân chịu ảnh hưởng của dịch bệnh

Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020

Nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện khả năng chống chịu tốt trong bối cảnh đại dịch COVID-19 Tăng trưởng kinh tế đạt 2,9% trong năm 2020 và nằm trong mức cao nhất trên thế giới, phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ trong ngành chế biến chế tạo và xuất khẩu, sự mở rộng mạnh mẽ các hoạt động đầu tư của Chính phủ, cùng khả năng phục hồi của tiêu dùng cá nhân, bất chấp những căng thẳng trong thị trường lao động

Tuy nhiên, một số lĩnh vực đã bị ảnh hưởng nặng nề, bao gồm nhà hàng, khách sạn, bán

lẻ, vận tải cùng các ngành sản xuất như may mặc, giầy dép Thật không may là nhiều công nhân của Việt Nam đã bị tác động tiêu cực bởi đại dịch COVID-19, mặc dù thị trường lao động đang dần phục hồi

Kết quả chung đáng ghi nhận của Việt Nam trong năm 2020 đã phản ánh các biện pháp

mà các cơ quan quản lý của Việt Nam thực hiện trước và kể từ sau khi bùng phát COVID-19 Trước đại dịch, Việt Nam đã giảm thâm hụt ngân sách và tỷ lệ nợ công trên GDP và tăng dự trữ ngoại hối Sức khỏe tài chính của hệ thống ngân hàng cũng được cải thiện Khi đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát, việc nhanh chóng áp dụng các biện pháp ngăn chặn, kết hợp với truy vết quyết liệt, xét nghiệm có mục tiêu và cách ly các trường hợp nghi nhiễm đã giúp ngăn chặn các ca nhiễm mới Việc ngăn chặn thành công COVID-19 ở Việt Nam đã cho phép nền kinh tế trong nước phục hồi nhanh hơn so với nhiều quốc gia khác Các chính sách thận trọng trước khi COVID-19 bùng phát cho phép Việt Nam hỗ trợ nền kinh tế trong bối cảnh đại dịch Chính sách tài khóa được đưa ra để

hỗ trợ các hộ gia đình dễ bị tổn thương và các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi

COVID-19 Các biện pháp từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép giảm chi phí đi vay, tạo điều kiện tiếp tục thúc đẩy dòng chảy tín dụng Nhìn chung, các biện pháp này đã giúp hạn chế thiệt hại về kinh tế do đại dịch COVID-19

Đưa ra đề xuất

(1) Trong mọi trường hợp Việt Nam cần phải đảm an ninh lương thực, thực phẩm và các hàng hóa thiết yếu cho người dân Mặc dù đây là những ngành ít chịu ảnh hưởng nhất nhưng các doanh nghiệp cung ứng các hàng hóa này cần phải được giám sát chặt chẽ và

Trang 4

có biện pháp hỗ trợ cần thiết nếu cần để tránh không xảy ra đứt gãy trong sản xuất và cung ứng Đây cần được coi là giải pháp cấp bách tại thời điểm này

Bên cạnh đó, việc gia tăng sản xuất và cung ứng các thiết bị y tế như khẩu trang, máy trợ thở, thuốc men hay giường bệnh cũng cần được ưu tiên trong công tác phòng chống dịch bệnh

(2) Việt Nam cần chủ động xây dựng các kịch bản chính sách kinh tế ứng phó khác nhau tùy theo thời gian kéo dài và mức độ nghiêm trọng của bệnh dịch Các giải pháp chính sách đưa ra cần tính đến độ trễ trong quá trình ban hành và triển khai để đảm bảo tính kịp thời và hiệu quả

Những chính sách hỗ trợ:

+ Đối với những người lao động mất việc kéo dài, có thể tạm thời kéo dài thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp Các hộ gia đình mất thu nhập lâu dài không có khả năng thích 21 ứng cần được trợ cấp đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu Cần đặc biệt quan tâm đến đối tượng lao động tư do không thuộc diện bao phủ của bảo hiểm

+ Đối với doanh nghiệp trực tiếp chịu ảnh hưởng:

i) Tiền tệ: nới lỏng các điều kiện tín dụng, hoãn chi trả nợ, miễn lãi, giảm lãi,

cho phép tái cơ cấu lại nợ để cải thiện tính thanh khoản và khả năng chịu đựng của doanh nghiệp cho tới khi qua được khó khăn;

ii) Tài khóa: hoãn thuế phí, miễn giảm thuế phí, hoãn hoặc miễn đóng BHXH,

v.v Giai đoạn này nên ưu tiên các DNNVV bởi khả năng chống chịu kém của loại hình DN này

+ Có những hỗ trợ pháp lý trong tranh chấp đối với hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp

và người lao động Tranh chấp hợp đồng giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp đối tác trong xuất nhập khẩu hàng hóa

Những chính sách giải cứu:

+ Tập trung không chỉ vào khả năng thanh khoản mà còn là khả năng thanh toán (tồn tại hay phá sản) của các doanh nghiệp Ngân hàng Nhà nước cần sẵn sàng bơm thêm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Lãi suất có thể cắt giảm thêm 1 – 2 điểm phần trăm + Khi các chính sách tiền tệ hay tài khóa truyền thống không đủ hỗ trợ khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì cần có các can thiệp tài khóa trực tiếp từ chính phủ như mua lại

nợ, tăng sở hữu vốn nhà nước… ở một số lĩnh vực đặc biệt quan trọng Cần tránh tối đa

sự đổ vỡ của các tập đoàn lớn

+ Cầu chi tiêu từ khu vực doanh nghiệp và người dân giảm mạnh, Nhà nước cần đóng vai trò là đối tượng chi tiêu chính Do vậy, đầu tư công đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Đầu tư công phải đúng mục đích, tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng đã được

Trang 5

phê duyệt và cần đúng thời điểm mà nền kinh tế cần Cần có sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội để tránh xảy ra những hệ lụy tiêu cực

+ Bất kể bệnh dịch kéo dài bao lâu, nhiều doanh nghiệp có thể sẽ phá sản, Việt Nam cần đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô Cần giữ lạm phát và lãi suất ở mức thấp, tỷ giá ổn định, đầu tư công được thực hiện đúng mục đích và giám sát tốt, môi trường đầu tư được cải thiện, thì sau bệnh dịch, nền kinh tế sẽ hồi phục nhanh chóng Ngược lại sẽ mất nhiều năm tiếp theo để giải quyết các vấn đề không phải bệnh dịch, nền kinh tế sẽ đình trệ trong thời gian dài như giai đoạn hậu khủng hoảng 2007 – 2008

Câu 3: Trong giai đoạn 2008-2012 tăng trưởng kinh tế liên tục giảm Chính phủ đã làm gì và có những chính sách nào để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này

Tăng trưởng GDP

GDP 2008: năm 2008 là năm kinh tế-xã hội nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là khủng hoảng tài chính toàn cầu, lạm phát tăng cao, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra trong nước Tuy nhiên, Đảng, Chính phủ đã kịp thời đề ra 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội

và tăng trưởng bền vững; đồng thời chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện nghiêm và đồng bộ các nhóm giải pháp đó

GDP 2009: các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc Mức thâm hụt ngân sách đã được khống chế, nhưng đã lên tới 7% GDP; nhập siêu hàng hóa năm 2009 tuy đã giảm 32,1% so với năm 2008, nhưng vẫn bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa; nhập siêu dịch vụ bằng 18,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tăng 17% so với năm

2008 Lạm phát trong năm tuy được khống chế ở mức hợp lý, nhưng nhìn chung giá cả ngày càng tăng và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây tái lạm phát cao

GDP 2010: mặc dù đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhưng trong quý I/2010 nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục đà phục hồi của những quý cuối năm 2009 với tốc

độ tăng tổng sản phẩm trong nước đạt 5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009 Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn vừa có tính trước mắt vừa

có tính lâu dài

GDP 2011: kinh tế - xã hội nước ta năm 2011 đối mặt với một loạt khó khăn và thách thức: Lạm phát tăng trở lại; kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn; lãi suất tăng cao; doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh do tín dụng thu hẹp; tỷ giá có những thời điểm biến động phức tạp Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, chưa tập trung quan tâm đến chiều sâu, đặc biệt là chưa coi trọng chất lượng và sự bền vững

Trang 6

trong phát triển của từng ngành, lĩnh vực nói riêng và của tăng trưởng toàn nền kinh tế nói chung

GDP 2012: kinh tế-xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng từ diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu cùng với việc thắt chặt tài khoá và tiền tệ trong nước để kiềm chế lạm phát nên gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước nên kinh tế – xã hội có những chuyển biến tích cực và đúng hướng Kinh tế vĩ mô nhìn chung ổn định Tăng trưởng ở mức hợp lý Lạm phát được kiềm chế Sản xuất công nghiệp phát triển với những dấu hiệu phục hồi, hàng tồn kho có xu hướng giảm Sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh doanh của khu vực dịch vụ giữ ổn định

Chính sách tiền tệ

Tái cấp vốn:

- Trong thời gian qua, công cụ tái cấp vốn của NHNN đã phát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho các NHTM tuy nhiên vẫn còn một số điểm hạn chế như chưa đủ tiềm lực vốn và điều kiện để cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các Tổ chức tín dụng, chưa tác động được nhiều đến cung cầu vốn và các loại lãi suất trên thị trường

- Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn cho vay hạn hẹp, NHNN chỉ được cho vay tái cấp vốn trong một giới hạn nhất định, nằm trong hạn mức đã được Chính phủ duyệt hàng năm; nhiều Tổ chức tín dụng cần vay nhưng không đủ điều kiện được vay tái cấp vốn; một số Tổ chức Tín dụng đủ điều kiện vay vốn nhưng không có nhu cầu vay Do đó, doanh số cho vay và dư nợ tái cấp vốn đối với các Tổ chức tín dụng không lớn; mức độ tác động tới lãi suất và cung cầu vốn trên thị trường hạn chế

Nghiệp vụ thị trường mở:

Nghiệp vụ thị trường mở phát triển nhanh, quy mô ngày càng được mở rộng, góp phần giải quyết khó khăn về nguồn vốn thanh toán và kinh doanh cho các Tổ chức tín dụng, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tổng lượng tiền cung ứng (M2) trong nền kinh tế, theo mục tiêu của chính sách tiền tệ

- Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHNN tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng tiền tệ cung ứng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục tiêu giảm lãi suất huy động và cho vay của tổ chức tín dụng, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp

Mở rộng cung tiền:

Ở Việt Nam, tốc độ tăng cung tiền và tín dụng ñược biết ñến là có ảnh hưởng đến

tỷ lệ lạm phát Chính sách tiền tệ mở rộng cùng với kỳ vọng lạm phát thường dẫn đến

Trang 7

lạm phát thực tế trong kỳ tiếp theo của chu kỳ kinh doanh Nhiều chuyên gia đã nhận định rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây dưa chủ yếu vào việc mở rộng cung tiền và tín dụng chứ không phải dựa trên sự gia tăng thực tế về cung

và năng suất lao động Do vậy, bất kỳ dấu hiệu tăng trưởng nóng nào cũng chuyển thành lạm phát ngay lập tức Nói cách khác, do thu nhập/sản lượng cũng như tốc độ lưu thông tiền tệ thay đổi chậm hầu hết các biến động trong cung tiền sẽ chuyển thành giá cả cao hơn Đồng thời, sự gia tăng của sản lượng về nguyên tắc sẽ làm giảm áp lực về cầu trong nền kinh tế và do đó giảm lạm phát Nhưng do dựa vào chính sách nới lỏng để tăng trưởng, lạm phát ở Việt Nam thường không giảm khi tăng trưởng tăng và chỉ giảm khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái (như trong năm 2009)

Giảm lãi suất:

Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà Nước đã liên tiếp thực hiện giảm mặt bằng lãi suất, điều chỉnh giảm 4 lần đối với lãi suất tái cấp vốn từ 15% xuống 9%, lãi suất chiết khấu từ 13% xuống 8% Lãi suất trên thị trường mở giảm 6 lần Điều chỉnh giảm 4 lần trần lãi suất tiền gửi tối đa bằng VNĐ, từ 14%/năm xuống 9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng đến 12 tháng; từ 6%/năm xuống 2% năm đối với tiền gửi không kỳ hạn Đồng thời, áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với bốn lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngành công nghiệp hỗ trợ), lãi suất điều chỉnh giảm từ 15% xuống còn 13%, cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 14 - 17%/năm

Câu 4: Hãy cho biết tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2008-2011 Cho biết nguyên nhân và giải pháp mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong giai đoạn này

để kiềm chế lạm phát

Thực trạng

- Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạm phát

ở Việt Nam CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI tính theo năm của năm 2008 đã lên đến 30% Kết thúc 2008, CPI tăng 19.89%, tính theo trung bình năm tăng 22.97%

- Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế CPI năm

2009 tăng 6.52% thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây

- Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kì khoảng 7% Mục tiêu này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%

Trang 8

Khoảng thời gian trở lại đây, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam duy trì ở mức dưới 5%.

Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan:

- Suy thoái nền kinh tế

- Giảm cầu thừa cung

Nguyên nhân chủ quan:

Không cập nhật mới về yêu cầu của thị trường

- Yếu về kỹ năng hỗ trợ công việc

- Không cập nhật kiến thức & kỹ năng mới theo nhu cầu thị trường

- Thiếu sự chủ động (mở rộng quan hệ, tự giác làm việc, tự tìm tòi học hỏi)

Không chấp nhận thất bại và thiếu nỗ lực

Biện pháp

1 Hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp theo lý thuyết

 Đối với loại thất nghiệp tự nguyện

- Cấu tạo ra nhiều công ăn việc làm và có mức tiền lương tốt hơn để thu hút được nhiều lao động hơn

- Tăng cường hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại, tổ chức tốt thị trường lao động

 Đối với loại thất nghiệp chu kỳ

- Cần áp dụng chính sách tài khóa, tiền tệ để gia tăng tổng cầu nhằm kích

thích các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, theo đó thu hút được nhiều lao động

- Để xảy ra một tình trạng thất nghiệp tràn lan sẽ ảnh hưởng rất nặng đến

phát triển kinh tế xã hội Nền kinh tế sẽ phải từ bỏ những sản phẩm, dịch vụ

mà những người công nhân thất nghiệp làm ra Do đó, cần phải có những chính sách, kế hoạch bài bản hơn để ngăn ngừa nguy cơ lạm phát thất nghiệp tiếp tục lan rộng

2 Kích cầu

- Kích cầu nhắm vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ là trọng tâm đã được xác

định Việc “bơm vốn” và áp dụng các chính sách ưu đãi cho khu vực doanh nghiệp này trước hết là nhằm kích thích sản xuất, từ đó tạo ra việc làm

- Kích cầu bằng việc đầu tư vào phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng đang

được đánh giá là giải pháp tối ưu hơn cả Đây cũng là giải pháp mà các quốc gia đã từng áp dụng trước đây Một khi vấn đề yếu kém của cơ sở hạ tầng được giải quyết, cộng hưởng các chính sách kinh tế vĩ mô khác thì việc

Trang 9

thu hút nhà đầu tư nước ngoài sẽ trở nên khả quan hơn khi nền kinh tế thế giới hồi phục trở lại

3 Tạo mọi điều kiện cho lao động mất việc.

Lao động bị mất việc cũng có tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội Trước tình hình lao động của quý I/2009, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam

đã đưa ra ba giải pháp chủ yếu để hỗ trợ lao động mất việc làm

Thứ nhất, Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành phố giúp đỡ người lao động

sớm tìm được việc làm mới Theo báo cáo của Tổng liên đoàn lao động các tỉnh, thành thì đã có 80% lao động mất việc tìm được việc làm trở lại

Thứ hai, các trường dạy nghề của tổ chức công đoàn có nhiệm vụ nâng cao tay

nghề cho người lao động hoặc thu hút người lao động vào học nghề, tranh thủ lúc không có việc

Thứ ba, cho vay vốn từ quỹ quốc gia của Tổng liên đoàn Những người lao

động mất việc do suy thoái kinh tế sẽ được vay vốn để họ có thu nhập giải quyết khó khăn trước mắt Ngoài ra, ở một số tình, thành phố con có thêm quỹ trợ vốn cho lao động nghèo Quỹ này cũng cho người lao động mất việc làm vay vốn để tạo công việc Điều này đã mang lại hiệu quả tương đối tốt, giúp người lao động ổn định cuộc sống

4 Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp.

- Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho

người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc

- Bảo hiểm thất nghiệp còn giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và

doanh nghiệp

5 Những biện pháp khác

- Trợ cấp một tỷ lệ nhất định trong quỹ lương ở các doanh nghiệp

- Cắt giảm thuế tiêu thụ

- Đào tạo nghề cho bà con ở nông thôn đặc biệt là con cái của họ

- Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động

- Chú trọng đầu tư cho giáo dục và đào tạo.

- Hạn chế tăng dân số.

- Khuyến khích sử dụng lao động nữ

- Tập trung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi xuất ưu đãi

Câu 5: Nêu lý do tại sao Việt Nam là một điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế năm

2020 Phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng đó.

*) Tăng trưởng kinh tế 2020 của VN

Trang 10

- Nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện khả năng chống chịu tốt trong bối cảnh đại dịch COVID-19 Tăng trưởng kinh tế đạt 2,9% trong năm 2020 và nằm trong mức cao nhất trên thế giới Phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ trong ngành chế biến chế tạo và xuất khẩu, sự mở rộng mạnh mẽ các hoạt động đầu tư của Chính phủ, cùng khả năng phục hồi của tiêu dùng cá nhân, bất chấp những căng thẳng trong thị trường lao động

- Việc ngăn chặn thành công COVID-19 ở Việt Nam đã cho phép nền kinh tế trong nước phục hồi nhanh hơn so với nhiều quốc gia khác Các chính sách thận trọng trước khi COVID-19 bùng phát cho phép Việt Nam hỗ trợ nền kinh tế trong bối cảnh đại dịch Chính sách tài khóa được đưa ra để hỗ trợ các hộ gia đình dễ bị tổn thương và các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19 Các biện pháp từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép giảm chi phí đi vay, tạo điều kiện tiếp tục thúc đẩy dòng chảy tín dụng Nhìn chung, các biện pháp này đã giúp hạn chế thiệt hại về kinh tế do đại dịch COVID-19

*) Ổn định KTVM và cân đối lớn

− Điều hành chủ động , linh hoạt , thận trọng chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa

− nâng cao hiệu quả phân tích, dự báo và ứng phó kịp thời với những biến động trong nước và quốc tế để bảo đảm ổn định vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh

tế, nhất là về lao động, việc làm, ngân sách nhà nước, vốn đầu tư phát triển, xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán, an ninh lương thực và năng lượng

− Giảm mặt bằng lãi suất , đảm bảo vốn tín dụng cho nền kinh tế

− Quản lý hiệu quả thị trường ngoại tệ, vàng, tăng dự trữ ngoại hối

− Quản lý, giám sát chặt chẽ đầu tư công, tăng cường đấu thầu qua mạng …

*) Văn hóa xã hội

− Thực hiện chỉ thị số 14 của ban bí thư , tiếp tục rà soát chế độ , thực hiện hiệu quả chính sách người có công với cách mạng

− Đổi mới quản lý , nâng cao chất lượng , hiệu quả công tác giáo dục nghề nghiệp, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động

− Khẩn trường ban hành chương trình hành động triển khai các Nghị quyết TW 6 về công tác bảo vệ , chăm sóc , nâng cao sức khỏe và dân số trong tình hình mới

− Khẩn trương hoàn thành khung chương trình và SGK phổ thông Rà soát, sắp xếp, quy định hoạch mạng lưới nâng cao chất lượng nghề nghiệp

− Bảo tồn phát huy các giá trị, di sản văn hóa dân tộc, truyền thống tốt đẹp

*) Công tác phòng chống tham nhũng lãng phí

− Thể chế quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng ngày càng hoàn thiện, góp phần hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ

− Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán được tiến hành thường xuyên, liên tục

và kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nhiều hành vi tham nhũng, lãng phí

Ngày đăng: 06/01/2022, 21:13

w