Trước tình hình đó, bài viết này xin đi vào tìm hiểu một số văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm để phân tích, đánh giá, nhằm tìm ra nội
Trang 1TỪ ĐIỂN HỌC & BÁCH KHOA THƯ, SỐ 2 (46), 3-2017 3
1 Tiểu dẫn
Trong số các dân tộc ít người đang cư trú
trên địa bàn vùng núi phía Bắc Việt Nam, dân
tộc Tày không chỉ sớm biết sáng tạo ra chữ viết
riêng mà còn biết sáng tạo ra nhiều loại hình
văn hoá đặc sắc, trong đó có loại hình hát Then
Hát Then, có thể được xem là một loại hình văn
hoá vừa mang tính sinh hoạt văn nghệ quần
chúng lại vừa mang tính sinh hoạt văn hoá tín
ngưỡng Do có tính đặc thù đó, nên ngay từ rất
sớm Then đã gắn bó sâu sắc với tâm tư, tình
cảm của đồng bào Tày, là một phần văn hoá
tinh thần không thể thiếu của cộng đồng dân tộc
Tày Theo các phương tiện thông tin đại chúng
cho biết, vừa qua Bộ Văn hoá Thể thao và Du
lịch đã ban hành kế hoạch tổng thể xây dựng hồ
sơ đề cử “Then Tày, Nùng, Thái” đề nghị
UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hoá phi
vật thể đại diện của nhân loại Đây là dịp thuận lợi để giới thiệu cho bạn bè quốc tế hiểu thêm
về loại hình Then Tày, Nùng, Thái trong cộng đồng người Việt
Thế nhưng, lâu nay thuật ngữ “Then” vẫn tồn tại nhiều ý kiến giải thích khác nhau, chưa được thực sự sáng tỏ Trước tình hình đó, bài viết này xin đi vào tìm hiểu một số văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm để phân tích, đánh giá, nhằm tìm ra nội dung chính chứa đựng trong thuật ngữ “Then” của người Tày
2 Những cách hiểu về thuật ngữ “Then” đã được đề xuất
Trước hết, chúng tôi xin điểm lại một số cách giải thích về khái niệm “Then” của các nhà nghiên cứu đi trước như sau:
NGUYỄN TUẤN CƯỜNG*, NGUYỄN VĂN TUÂN**
* TS Ngữ văn, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, email: cuonghannom@gmail.com;
** ThS, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, email: tuanhannom@gmail.com
TÌM HIỂU THUẬT NGỮ THEN TỪ GÓC ĐỘ
Trang 24 NHỮNG VẤN ĐỀ TỪ ĐIỂN HỌC
(1) Dương Kim Bội trong Lời hát Then,
quan niệm về Then: “Cho dù chưa có cách
định nghĩa, giải thích một cách thoả đáng, cứ
coi nó như một danh từ riêng để chỉ một loại
hình mê tín”
(2) Nông Văn Hoàn bài Bước đầu nghiên
cứu về Then Việt Bắc trong Mấy vấn đề về
Then Việt Bắc, cho rằng: “Then là Tiên 仙 (có
nơi gọi sliên), là người của trời Họ là người
giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc
hoàng và Long vương Khi họ làm Then là họ
đại diện cho người của trời giúp cho người
trần gian cầu mong được sự tốt lành, được tai
qua nạn khỏi v.v tức là Then chỉ làm điều
thiện cứu giúp người trần gian
(3) Triều Ân trong Then Tày những khúc
hát, lại cho rằng: “Then là những khúc hát
thuộc về thờ cúng (chant cultuel) do những
Then làm nghề (chan-teuse cultuelle) hát trong
nghi lễ” [Dương Kim Bội 1975: 14]
(4) Nhóm tác giả Hoàng Văn Ma, Lục Văn
Pảo, Hoàng Chí trong Từ điển Tày Nùng – Việt,
giải thích: Then tức hết Pụt hết Then (làm Bụt
làm Then) [Hoàng Văn Ma 1974: 423]
(5) Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ
biên, định nghĩa từ Then có ba nét nghĩa: “1/
Lực lượng siêu tự nhiên sáng tạo ra thế giới,
theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số
miền Bắc Việt Nam 2/ Người làm nghề cúng
bái (thường là nữ) ở vùng các dân tộc thiểu số
nói trên Bà Then, làm mo, làm Then 3/ Loại
hình nghệ thuật tổng hợp gồm đàn, hát, múa
gắn liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu
số nói trên Hát Then, múa Then” [Hoàng Phê
(cb) 2001: 931]
(6) Từ điển Bách khoa Việt Nam, giải thích:
Then tên chung chỉ một loại hình sinh hoạt văn
hoá - văn nghệ dân gian của các dân tộc Tày,
Thái Tuỳ theo mục đích của từng kì lễ Then
có tên gọi và kiểu cách trình diễn khác nhau
như Then kì yên, Then cầu hoa, Then nối số,
Đầy đủ nhất là Then cấp sắc hay còn gọi là lẩu Then [Từ điển Bách khoa VN, t.4 2005: 198] Như trên ta thấy có sáu cách giải thích khác nhau về khái niệm “Then” Câu hỏi đặt ra là, cách giải thích nào sát hợp nhất với thực tế?
3 Mô tả một số văn bản Nôm Tày có xuất hiện chữ “Then”
Để trả lời câu hỏi vừa đặt ra trên đây, chúng tôi tiến hành khảo sát chín văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày hiện đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với mong muốn tìm
ra được những yếu tố xác đáng để xác định khái niệm “Then” Tày một cách thích hợp Đó là các sách mang kí hiệu: VNv.606, VNv.667, VNv.669, VNv.670, VNv.671, VNv.677, VNv.679, VNv.691, và ST.2156
Nhìn chung, các văn bản Nôm Tày đều tồn tại ở dạng viết tay trên chất liệu giấy bổn (hoặc vải lụa đối với loại hình Phong slư) Về tác giả
và niên đại cũng có nét đặc thù, hầu hết các tác phẩm hiện còn đều khuyết danh, không có
niên đại Riêng chỉ có hai tác phẩm Lượn tam nguyên và Lượn tứ quý thì được Bế Viết Đẳng,
Lục Văn Pảo, Hoàng Bé và Hoàng Triều Ân thống nhất cho là của Bế Văn Phụng và Nông Quỳnh Vân soạn vào thế kỉ XVII thời Lê - Mạc Có thể nói, đây là một nhận định rất đáng quan tâm và cần tiếp tục tìm kiếm thêm những chứng cứ thật sự xác tín Ngoài ra, do hoàn cảnh vùng núi xa xôi không có điều kiện bảo quản tốt, nên hầu hết các văn bản sưu tầm được đều ở tình trạng rách nát mất phần đầu hoặc phần cuối Thế nhưng, ở đây chúng tôi không lạm bàn đến, mà chỉ nêu ra tình trạng của chín văn bản đã nêu ở trên như sau:
(1) Bản VNv.606: Hiện rách mất một số trang đầu, còn lại 58 trang, kích thước 13 x 24
cm, chất liệu giấy dó, mực Tàu Toàn văn chữ Nôm Tày, viết chân phương, không ghi tên người sao chép và niên đại sao chép Nội dung
chép lại một chương Then bách nộc (Then về
Trang 3TỪ ĐIỂN HỌC & BÁCH KHOA THƯ, SỐ 2 (46), 3-2017 5
trăm loài chim)
(2) Bản VNv.667: Hiện rách mất tên tác
phẩm, chỉ còn lại dòng 廣文堂藏版 Quảng
Văn đường tàng bản Văn bản gồm 214 trang,
kích thước 14x26 cm, chất liệu giấy dó, mực
Tàu Toàn văn chữ Nôm Tày, viết chân
phương, không ghi tên người sao chép và niên
đại sao chép Nội dung chép lại các bài Then
dùng trong lễ giải hạn, lễ cầu tự, như: Vọng
nguyệt then (Then cảnh trăng), Then cống sứ
tiểu nhi (Then cống sứ để cầu tự), v.v
(3) Bản VNv.669: Văn bản này còn tương
đối lành lặn, còn nguyên cả tiêu đề của tác
phẩm là 卷 之一 Quyển Then chi nhất Toàn
bộ văn bản gồm 282 trang, kích thước 12,5 x
25,5 cm, chất liệu giấy dó, mực Tàu Toàn văn
chữ Nôm Tày, viết chân phương, do Hoàng
Văn Tồn chép vào năm Duy Tân 7 (1913) Nội
dung của tác phẩm là tập hợp lại một số chương
hát Then, như: Then cống sứ (Then làm sứ tiến
cống lễ vật), Then lỉn chay (Then đến vùng
Tiên cảnh), Tu Thổ công (Trình cửa Thổ công),
Tàng lồng Long Vương au khoăn (Đường
xuống Long Vương gọi hồn về), v.v
(4) Bản VNv.670: Hiện rách mất một số
trang đầu, chỉ còn lại 302 trang, kích thước 12
x 24 cm, chất liệu giấy dó, mực Tàu Toàn văn
chữ Nôm Tày, viết chân phương, không ghi
tên người sao chép và niên đại sao chép Nội
dung của tác phẩm là chép lại một số chương
Then, như: Mởi tân xuân (mời xuân mới),
Bách thú (trăm loài thú), Văn phong sắc cấp
quyền (quyền văn phong cấp sắc), v.v
(5) Bản VNv.671: Văn bản này còn tương
đối lành lặn và đầy đủ cả tiêu đề là 唐酒須
𤤰吒 Tàng lẩu mừa tu vua cha (Đường tải
rượu về cửa vua cha) Toàn bộ văn bản gồm
266 trang, kích thước 15,5x27,5 cm, chất liệu
giấy dó, mực Tàu Toàn văn chữ Nôm Tày,
viết chân phương, do Ma Phúc Huấn sao chép
vào năm Bảo Đại 5 (1930) Nội dung chép các
chương đoạn hát Then, như Khảu tu Pụt ké (vào cửa Bụt), Khái bách va (qua vùng trăm hoa), Khảu tu Ngọc Hoáng (vào cửa Ngọc Hoàng), Tức pja chương (chương đánh cá),
(6) Bản VNv.677: Hiện rách mất một số trang đầu, còn lại 106 trang, kích thước 12,5 x
25 cm, chất liệu giấy dó, mực Tàu Toàn văn chữ Nôm Tày, viết chân phương, không ghi tên người sao chép và niên đại sao chép Nội dung
chép các chương Then, như: Lập tạm then (lập trạm then), Then chúc (then chúc bề trên), v.v
(7) Bản VNv.679: Văn bản này có tiêu đề
là 崔香酒章 Xoi hương lẩu chương (Chương
mời hương và rượu) Hiện văn bị rách mất một
số trang cuối của tác phẩm, còn lại 80 trang, kích thước 13 x 25,5 cm, chất liệu giấy dó, mực Tàu Toàn văn chữ Nôm Tày, viết chân phương, không ghi tên người sao chép và niên đại sao chép Nội dung chép lại một số chương
Then, như: Xoi hương lẩu chương (Chương mời hương và rượu), Đệ lẩu (dâng rượu), Vọng nguyệt chương (chương ngắm trăng), Dự chỉa chương (chương mua giấy), v.v
(8) Bản VNv.691: Văn bản này còn tương
đối lành lặn, có tiêu đề là 扒夫 Then pắt phu (Then bắt các phu phen) Toàn bộ văn bản
gồm 234 trang, kích thước 16 x 29 cm, chất liệu giấy dó, mực Tàu, viết bằng chữ Nôm Tày chân phương, do Hoàng Văn Đá sao chép vào năm Khải Định 5 (1920) Nội dung của tác phẩm là chép lại các cung trong hát Then, như:
Then pắt phu (then bắt các phu phen), Dự phít mường bân (mua lụa mường trời), Khảu tu Đế Thích (vào cửa Đế Thích), v.v
(9) Bản ST.2156: Hiện bị rách mất một số trang đầu, còn lại 25 trang, kích thước 12 x 25
cm, chất liệu giấy dó, mực Tàu Toàn văn chữ Nôm Tày, chân phương, không ghi tên người sao chép và niên đại sao chép Nội dung của
văn bản chỉ ghi lại hai chương Then bách thú (then về trăm loài thú) và Then bách va (then
Trang 46 NHỮNG VẤN ĐỀ TỪ ĐIỂN HỌC
về trăm loài hoa)
Như vậy, nhìn lại tình trạng chín văn bản
vừa nêu trên, chúng ta thấy có ba văn bản còn
được lưu giữ lành lặn, bốn văn bản còn tên tác
phẩm, ba văn bản có ghi tên người sao chép,
ba văn bản có ghi năm sao chép tác phẩm
Điều này cho thấy, thực trạng các văn bản
Nôm Tày tồn tại cho đến ngày nay ít nhiều có
những mặt hạn chế, như không lành lặn, không
có bản khác để đối chiếu Nhưng dù sao các
văn bản này chí ít vẫn cung cấp cho chúng ta
một số thông tin hữu ích giúp cho việc xác
định khái niệm “Then” của người Tày
4 Khảo sát về chữ “Then” xuất hiện trong
các văn bản Nôm Tày
Ở đây chúng tôi chỉ khảo sát về tần số xuất
hiện các chữ “Then” và ý nghĩa của nó trong
bối cảnh của từng câu trong văn bản cụ thể
Qua khảo sát, chúng tôi thấy xuất hiện 69
lần chữ “Then” có kết cấu: Bộ 口 (khẩu) + chữ
天 (thiên) = (Then) Xét về mục đích sử
dụng, chữ “Then” này có thể dùngđể đặt tên
tác phẩm, tên đề mục; hoặc là dùng để ghi yếu
tố nội dung của ngôn từ cần truyền tải Sau
đây chúng tôi sẽ lần lượt phân tích sự xuất
hiện của chữ “Then” ở trong hai mục đích sử
dụng này
4.1 Dùng chữ “Then” để đặt tên tác
phẩm, tên đề mục
Tên tác phẩm hay tên đề mục là một trong
những yếu tố quyết định nội dung của toàn bộ
vấn đề chủ ý của tác giả Qua khảo sát chín
văn bản như đã nêu ở trên, chúng tôi thấy xuất
hiện 12 trường hợp ở 5 văn bản dùng chữ
“Then” để đặt tên đề mục cho đoạn văn hoặc
tác phẩm, cụ thể như sau:
- Bản VNv.691, xuất hiện 1 chữ trong tên đề
mục và đây cũng chính là tên của tác phẩm
扒夫 Then pắt phu (Then bắt phu) Then bắt
phu là một thể Then tả lại cảnh bắt các phu
phen để gánh vác vận chuyển những lễ vật lên
tiến cống Ngọc Hoàng
- Bản VNv.677, xuất hiện 2 chữ ở trang 5 và 99:
Trang 5, dòng 1 viết: 立暫 Lập tạm then (Lập trạm then) Đây là một chương của
Then lập trạm để dừng chân nghỉ ngơi sau những chặng đường dài vận chuyển lễ vật lên Ngọc Hoàng
Trang 99, dòng 6 viết: 祝 Then chúc (Then chúc tụng) Đây là một chương của Then dùng để chúc tụng lên đấng bề trên là Ngọc Hoàng
- Bản VNv.671, xuất hiện 2 chữ ở trang 152 và 160:
Trang 152, dòng 6 viết: 棋 Then Pú
Cáy (Then Pú Cáy) Pú Cáy là một xứ sở
người khổng lồ Đoàn quân Then muốn lên được cửa Ngọc Hoàng thì bắt buộc phải qua
xứ này
Trang 160, dòng 2 viết 翁 物 媄
Ông Then vật mẻ Dả (Ông Then vật mẹ Dả
Dỉn) Dả Dỉn là một nhân vật nữ yêu tinh, mụ
có chiếc gậy thần mà hễ cứ chỉ đằng gốc thì chết, chỉ đằng ngọn thì sống lại Do đó, nhà Then muốn mượn chiếc gậy này để phục vụ cho cuộc hành trình của mình, thế nhưng mụ bắt nhà Then phải đánh cuộc bằng trận đấu vật, nếu thắng được mụ thì mụ sẽ cho mượn chiếc gậy, và tất nhiên nhà Then đã chiến thắng
- Bản VNv.669, xuất hiện 3 chữ ở các trang
1, 174 và 275 Trong đó, một trường hợp xuất hiện ngay ở trang đầu là tên của tác phẩm 卷
之一 Quyển Then chi nhất (Một quyển Then)
Trang 174, dòng 3 viết: 吝齋 Then lỉn
chay (Then đến vùng Tiên cảnh) Tiên cảnh là
nơi có cuộc sống nhẹ nhàng thanh thoát, nơi đây có đến ba mươi con đường đi các ngả, ngả lên cửa Ngọc Hoàng, ngả về hạ giới, ngả xuống Long Vương, v.v
Trang 5TỪ ĐIỂN HỌC & BÁCH KHOA THƯ, SỐ 2 (46), 3-2017 7
Trang 275, dòng 2 viết: 項馬 Then
hạng mạ (Then khao binh khao tướng) Người
làm Then nếu trong 3 năm hoặc 5 năm mà
chưa làm đại lễ nâng bậc thì phải làm Then
này để khất đến dịp năm sau
- Bản VNv.667, xuất hiện 4 chữ ở trang 47,
58 và 150, như sau:
Trang 47, dòng 1 viết: 望月 V ọ n g
nguyệt then (Then ngắm trăng) Đây là một
trong những chương của Then giải hạn, tả
vềđoàn quân Then gặp cảnh trăng sáng, sơn
thuỷ hữu tình, khiến đoàn quân nhớ tới người
thân ở nơi quê nhà mà chân không buồn bước
Trang 58, dòng 6 viết:發唐 Phát tàng
then (Then mở đường) Đây là một đường
Then khai quang mở đường để cho đoàn quân
Then nhìn thấy rõ đường đi mà vận chuyển lễ
vật tiến cống lên Ngọc Hoàng
Trang 150, dòng 2, viết: 貢使小兒 Then
cống sứ tiểu nhi (Then cống sứ tiểu nhi) Cống
sứ tiểu nhi là một thể then hát dâng lễ vật lên
Mẹ Hoa (Mẻ Bjoóc) để cầu xin con trai hoặc
con gái đối với gia đình hiếm muộn
Trang 193, dòng 2 viết: 眉 大
Then mì đại lẩu (Then có cuộc rượu lớn) Đây
là một chương vào cửa Thập điện của đoàn
quân Then khi đi tiến cống lễ vật lên Ngọc
Hoàng Tại đây nhà Then sau khi bàn giao các
lễ vật, sau đó sẽ được hưởng cuộc thết đãi yến
tiệc của Ngọc Hoàng
Như vậy, trên đây cho thấy chữ “Then” đã
được xác lập không những dùng để đặt cho tên
tác phẩm mà còn dùng để đặt cho đề mục
trong tác phẩm
4.2 Dùng chữ “Then” để ghi yếu tố
nội dung
Ở phần nội dung của chín văn bản như đã
nêu ở phần trên, chúng tôi thấy xuất hiện 57
chữ “Then” dùng trong các câu văn để ghi yếu
tố nội dung, cụ thể như sau:
- Bản ST.2156, xuất hiện 2 lần ở trang 7 và 14, là:
Trang 7, dòng 5 chép: 諸將逐軍 呌洗
Chư tướng dục quân Then kẻo tẩy
(Chư tướng dục quân của Then kéo đi) Trang 14, dòng 4 chép: 四請 國 色分
Slí xỉnh Then khoắc phạ slắc phân
(Bốn, thỉnh Then mường trời chút nào)
- Bản VNv.679, xuất hiện 3 lần ở trang 41 và
69, là:
Trang 41, dòng 5 chép: 帖能催各主 官
Thiếp nâng xoi các chúa Then quan
(Một lụa mời các chúa quan Then)
Trang 69, dòng 3 chép: 奸心卢位𤂬法
Chan slim lo lội vị phép Then
(Lòng gian lo mắc lỗi phép Then)
Trang 69, dòng 4 chép: 朱 主別台戶𢚸
Cho Then chúa biết thay hộ lòng
(Cho chúa Then biết thay hộ lòng)
- Bản VNv.691, xuất hiện 5 lần ở các trang 1,
48, 62, 164 Trong đó, 1 lần xuất hiện ở phần
đề mục, còn lại 4 lần xuất hiện ở phần nội dung, ví dụ:
Trang 48, dòng 5 chép: 麻許軍齐可
Au mà hẩư quân Then tẻ khả
(Đem vềđể quân Thengiết mổ)
Trang 62, dòng 2 chép: 边各將軍 坛
Pền các tướng quân Then rườn Tản
(Thành các tướng quân Then nhà Tản) Trang 164, dòng 2 chép: 命边 边庄度
Mệnh pền Then pền Pụt chắng tổ
(Mệnh thành Then thành Pụt mới thôi)
- Bản VNv.667, xuất hiện 6 lần ở các trang 7,
47, 58, 150, 193 Trong đó, 4 lần xuất hiện ở
Trang 68 NHỮNG VẤN ĐỀ TỪ ĐIỂN HỌC
phần đề mục, 2 lần xuất hiện ở phần nội dung,
là:
Trang 7, dòng 1 chép: 𦖑些引諭仕𨖲
Nghe Then ta dận dụ sẹ lên
(Nghe Then ta dẫn dụ sẽ lên)
Trang 193, dòng 6 chép: 奔𡊰仍戶衛 官
Bân đin nhằng hộ vệ Then quan
(Trời đất còn phù giúp quan Then)
- Bản VNv.606, xuất hiện 7 lần ở các trang 3,
10, 13, 14 và 16, ví dụ:
Trang 10, dòng 5 chép: 塊齐秋呈 对
Khỏi tẻ xo chiềng cạ đuổi Then
(Tôi lại xin trình bày với Then)
Trang 13, dòng 6 chép: 主 連封許聀獸
Chúa Then liền phong hẩư chức thú
(Chúa Then liền phong cho thú chức)
Trang 14, dòng 2 chép: 𥛉各主皮 奔
Lạy mừa các chúa pỉ Then bân
(Lạy về các chúa anh Then trời)
- Bản VNv.669, xuất hiện 8 lần ở các trang 1,
7, 35, 43, 45, 79, 174, 175, 275 Trong đó, 3
lần xuất hiện ở phần đề mục, còn lại 5 lần xuất
hiện ở phần nội dung, ví dụ như:
Trang 7, dòng 1 chép: 軍 那免參侵
Quân Then toọng ná mẻn xảm xâm
(Quân Then lòng chẳng chịu thảm sầu)
Trang 35, dòng 4 chép: 軍 呌習妙鄰
Quân Then kẻo rặp riều dân ra
(Quân Then kéo dồn dập xôn xao)
Trang 45, dòng 3 chép: 罡 將 才 智 坤
頑
Then Cương tướng tài tí khôn ngoan
(Tướng Then Cương tài trí khôn ngoan)
Trang 79, dòng 4 chép: 主 美討庄看
Chúa Then toọng mì thảo chắng khan
(Chúa Then lòng thơm thảo bèn thưa)
- Bản VNv.670, xuất hiện 8 lần ở các trang 62,
103, 104, 105, 110, 112, 115, ví dụ như: Trang 62, dòng 4 chép: 即時連 罡
Tức thí liền khửn cạ Then Cương
(Lập tức liền lên giọng với Then Cương) Trang 103, dòng 4 chép: 許夸立柴
參
Hẩư khoả mừa rặp sláy Then xam
(Cho Khoả về gặp hỏi thầy Then)
Trang 104, dòng 6 chép: 朴 許双主 官
Phác cằm hẩư soong chủa Then quan
(Gửi lời về hai chúa quan Then)
Trang 110, dòng 6 chép: 幔乃許 罡 麻
隊
Mản nẩy hẩư Then quan mà tội
(Màn này trao quan Then dùng tạm)
- Bản VNv.677, xuất hiện 8 lần ở các trang 5,
10, 25, 35, 36, 49, 50, 99 Trong đó, 2 lần xuất hiện ở tên đề mục, còn lại 6 lần xuất hiện ở phần nội dung, ví dụ như:
Trang 25, dòng 4 chép: 祥須麻对 对
Táng tua mà đuổi pác đuổi Then
(Con khác về trình kể với Then)
Trang 35, dòng 1 chép: 盆身悲國 吝
Puồn thân pây khoắc phạ lỉn Then
(Buồn thân đi mường trời với Then) Trang 36, dòng 5 chép: 盆固各軍 淰啟
Puồn có các quân Then nặm khái
(Buồn có các quân Then dạt xuống) Trang 49, dòng 3 chép: 𡲤沒𣈗得道共
Vả một ngày được rạo cụng Then
Trang 7TỪ ĐIỂN HỌC & BÁCH KHOA THƯ, SỐ 2 (46), 3-2017 9
(Vả một ngày được rạo cùng Then)
Trang 50, dòng 6 chép: 𢖖𣈜𠓁𩈘 𨷶殿
Sau ngày rạng mặt Then cửa điện
(Sau ngày rạng mặt Then cửa điện)
- Bản VNv.671, xuất hiện 22 lần ở các trang 8,
32, 45, 74, 85, 87, 88, 89, 91, 108, 110, 119,
152, 160, 161, 164, 169, 170, 178, 184, 187
Trong đó, 2 lần xuất hiện ở đề mục, còn lại 20
lần xuất hiện ở phần nội dung, ví dụ như:
Trang 8, dòng 5 chép: 媄 連倍𥛉 主
Mẻ nhỏi liền vội lạy chúa Then
(Mẹ ve liền vội lạy chúa Then)
Trang 45, dòng 2 chép: 準乃準上堂
Chốn nẩy chốn thượng đáng mường Then
(Chốn này chốn thượng giới mường Then)
Trang 85, dòng 3 chép: 主 連变法神仙
Chúa Then liền piến phép thần tiên
(Chúa Then liền biến phép thần tiên)
Trang 87, dòng 2 chép: 主 連即時哰軍
Chúa Then liền tức thí rao quân
(Chúa Then liền lập tức hô quân)
Trang 91, dòng 4 chép: 達麻混
混爻
Đát mà toọng Then bân hộ háo
(Đau đến lòng Then trời xốn xang)
Trang 119, dòng 3 chép: 行能仙口沃吝
Hàng nâng Tiên khảu oóc lỉn Then
(Một hàng Tiên ra vào lượn Then)
Trang 161, dòng 5 chép: 罡𠦳祖祥庄看
Then Cương nghìn tỏ tường chắng khan
(Then Cương nghe tỏ tường bèn thưa)
Trang 164, dòng 2 chép: 罡將才智坤頑
Then Cương tướng tài tí khôn khoan
(Tướng Then Cương tài trí khôn ngoan) Trang 170, dòng 5 chép: 倍鐄呈主 丙那
Vội váng chiềng chúa Then bưởng nả
(Vội vàng trình trước mặt chúa Then)
Trang 187, dòng 3 chép: 𡦂付沃許各主
Chử phó oóc hẩư các chúa Then
(Chữ phó trao cho các chúa Then)
Trên đây là kết quả khảo sát chín văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày Qua đó cho thấy, tất cả số lượng các chữ “Then” xuất hiện trong các văn bản đều thống nhất nhau không chỉ về mặt cấu tạo chữ mà còn thống nhất cả
về mặt ý nghĩa của nó cho dù nó nằm trong nhiều văn cảnh khác nhau
5 Một số nhận xét
Qua việc khảo sát chín văn bản như đã nêu
ở trên, chúng tôi thấy nổi bật lên nhiều vấn đề rất đáng quan tâm nghiên cứu, nhưng ở đây chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu, khai thác những yếu tố liên quan đến chữ “Then”, cụ thể như sau:
Xét về mặt cấu tạo chữ “Then”, qua khảo sát thấy tất cả chín văn bản đều xuất hiện cùng
một chữ Then (khẩu 口 + thiên 天) Đây
là loại hình chữ Nôm tự tạo của người Tày Với chữ này, có thể có ba cách giải thích Cách (1): Đây là chữ “hình thanh chính phụ”, trong đó bộ “khẩu” 口 là thành tố biểu ý (hình), chữ “thiên” 天 là thành tố biểu âm (thanh) đóng vai trò chính trong chữ Nôm đang xét Cách (2): đây là chữ có kí hiệu phụ
“khẩu” 口 báo hiệu việc điều chỉnh âm đọc từ
“thiên” 天 thành “Then” Cách (3) là một giả thiết mà chúng tôi tạm đề xuất: bộ “khẩu” 口 (mồm miệng, lời nói) ở đây dùng để biểu ý
(tức là người đại diện thay lời cho nhà trời);
còn chữ “thiên” 天 vừa dùng để biểu âm
“Then”, nhưng lại vừa dùng để biểu ý, là người có tài trí, có phép thuật cao siêu, người
Trang 810 NHỮNG VẤN ĐỀ TỪ ĐIỂN HỌC
của nhà trời Nếu với cách hiểu thứ ba,chữ này
có công thức “biểu ý + biểu âm + biểu ý”,
trong đó, một thành tố “thiên” vừa đóng vai
trò biểu âm, vừa đóng vai trò biểu ý Đây
thuộc loại chữ ghép hỗn hợp, trong đó bộ phận
biểu âm thể hiện gần đúng với âm đọc của ngữ
tố, đồng thời lại mang thêm chức năng biểu ý,
có tác dụng hỗ trợ hướng tới ý nghĩa đúng cho
chữ đang xét Trong chữ Nôm Việt (Nôm
Kinh) cũng có hiện tượng tương tự khi trong
một chữ ghép hai thành tố có một trong hai
thành tố vừa biểu âm vừa biểu ý (thành tố còn
lại có thể biểu âm hoặc biểu ý), như chúng tôi
từng trình bày trong một bài viết trước đây, và
định danh là hiện tượng “song quan” (duality)
[Nguyễn Tuấn Cường 2006: 52]
Xét về mặt ý nghĩa của chữ “Then”, qua
việc khảo sát chín văn bản nêu trên đều thấy,
tất cả các chữ “Then” cho dù xuất hiện ở tên
tác phẩm, tiêu đề, nội dung của tác phẩm thì
vẫn đều thống nhất chung cùng một ý nghĩa,
tức là: Then là người có tài trí, có uy quyền
với những phép thuật cao siêu, có thể đại diện
thay lời cho nhà trời Ví như: Then Cương
tướng tài tí khôn ngoan (Tướng Then Cương
tài trí khôn ngoan); hoặc là: Chúa Then liền
piến phép thần tiên (Chúa Then liền biến phép
thần tiên); v.v
Xét về chữ 仙 (Tiên/Sliên) để chỉ Then
như đã có ý kiến đưa ra trước đây Qua khảo
sát chín văn bản nêu trên, chúng tôi thấy tất cả
các chữ 仙 (Tiên/Sliên) đều được dùng để chỉ
“nàng tiên”, hoặc “nơi tiên cảnh” Ví dụ, bản
VNv.691, trang 41, có câu: 每事小神仙安閒
Mọi slự tiểu thần tiên an nhản (Mọi sự việc trở
thành nhỏ bé nên các vị thần tiên ở đây rất
được an nhàn); hoặc như bản VNv.669, trang
78, có câu: 初子房仍職尋仙 So Tử Phòng
nhằng chắc tím tiên (Xưa Tử Phòng còn biết
tìm tiên); lại như bản VNv.677, trang 50 cũng
có câu: 各主嵬如仙上界 Các chúa ngòi như
tiên thượng giới (Nhìn các chúa giống như tiên
ở trên thượng giới); v.v… Như vậy, trường
hợp Sliên/Tiên được dùng ở đây với ý nghĩa
khác chứ không dùng để chỉ Then Về chữ
Sliên/Tiên, có ý kiến cho rằng: Sliên tức Tiên,
là tên gọi những người đàn bà Tày, Nùng có căn đồng có thể tự phát nhập được hồn các nàng tiên để hành nghề cúng bái mà không cần phả học Cách hành nghề của bà Sliên tương
tự như bà Pụt là dùng chùm nhạc xóc, vừa hát vừa xóc nhạc Do tính tự phát mà so với Then
và Pụt thì Sliên giàu tính bản địa hơn [Nguyễn Thị Yên 2006: 52]
Như vậy, căn cứ vào ý kiến vừa nêu với
những chữ Tiênđược dùng ở trong các văn bản
cho thấy chúng có mối liên hệ đan xen với nhau Điều đó cho thấy, ý kiến về Sliên là hợp
lí và có cơ sở Do vậy, đến đây chúng ta có thể phân biệt được sự khác biệt giữa Then và Sliên như sau:
T h e n và Sliên (仙) đều là tên gọi
những người đứng ra làm hình thức cúng bái
Thế nhưng, người nào để trở thành Then thì
phải trải qua quá trình theo học thầy có bài bản Nếu là người đã biết chữ Hán thì cứ học dần bài bản rồi đi theo thầy, vừa nghe thầy dạy bảo vừa
va chạm với thực tế trong cuộc cúng Nếu người không biết chữ Hán thì cứ đi theo thầy học truyền khẩu từng câu ngay trong các dịp làm lễ, dần dần trò có thể đỡ thầy làm từng chương đoạn của Then Còn với trường hợp
được gọi Sliên, là người có căn đồng mang tính
tự phát, không qua con đường học thầy Người này vì một lí do hoàn cảnh nào đó như bị ốm, bị xúc động mạnh, nên phát ra những động thái, những ngôn từ cúng bái rất điêu luyện mà trước
đó họ không hềđược học Điều này cũng tương
tự như ở dưới miền xuôi, người Kinh gọi trường hợp Sliên là “Bà đồng” vậy
Đến đây chúng ta có thể rút ra được một cách khái quát về khái niệm thuật ngữ “Then” của người Tày như sau
( )
Trang 9TỪ ĐIỂN HỌC & BÁCH KHOA THƯ, SỐ 2 (46), 3-2017 11
T h e n là: (1) Người có tài trí, có uy
quyền với những phép thuật cao siêu, là người
giữ mối liên hệ bằng lời giữa người trần gian
với một thế giới tâm linh khác như Ngọc
Hoàng, Long Vương (Tức là, lực lượng siêu
tự nhiên sáng tạo ra thế giới tâm linh khác)
(2) Người làm nghề cúng bái, khi họ làm Then
là họ vừa đại diện cho người của trời lại vừa
đại diện cho người trần gian để chuyển lời lên
Ngọc Hoàng, nhằm giúp cho người trần gian
cầu mong được sự tốt lành (3) Loại hình nghệ
thuật tổng hợp gồm đàn, hát, múa và đa phần
gắn liền với tín ngưỡng
Trên đây chúng tôi vừa đưa ra khái niệm về
thuật ngữ “Then” Tày Vậy, với Then của
người Thái liệu có gì giống và khác lạ so với
Then của người Tày? Theo được biết, người
Thái Trắng gọi những người hành nghề cúng
bái là Then, người Thái Đen thì gọi là Một
Vấn đề này tác giả Cầm Trọng giải thích: Đây
là ngành cúng nam nữ đều có thể làm, gồm hai
đường Một Người vừa biết hát xướng theo bài
bản vừa biết thủ pháp ma thuật chữa bệnh thì
gọi là Một Láo (Pui) chủ yếu là nam giới, khi
hát xướng có người thổi sáo đệm gọi là mo pí
Ở người Thái Đen nữ giới hành nghề bằng
cách đọc bài bản theo làn điệu xướng hát
mang tên Ái Ní thì gọi là Một Nhính (Một
Nữ), hát không có nhạc cụ đệm Ở người Thái
Trắng thì gọi là làm Then, tuy khác làn điệu
nhưng cơ bản giống với người Tày ở chỗ khi
hát có gõ chùm nhạc và gẩy tính tẩu [Cầm
Trọng 2004: 478]
Như vậy, theo tác giả Cầm Trọng thì Một
của người Thái Đen giống Then của người Tày
ở chỗ cùng loại hình, nhưng khác làn điệu,
khác nhạc cụ nhạc khí Còn Then của người
Thái Trắng, về cơ bản là giống Then của
người Tày, chỉ khác ở việc sử dụng làn điệu
Tóm lại, xét về mặt hình thức, Then là một
loại hình nghệ thuật dân gian mang tính tổng
hợp của nhiều mặt (lịch sử xã hội, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn học, âm nhạc, múa, hội hoạ, v.v.) và có phần tôn giáo tín ngưỡng Nhưng xét về mặt nội dung, Then lại là chủ đềphản ánh nhiều vấn đề liên quan đến đời sống xã hội của người dân miền núi trong quá khứ thời phong kiến Song xét về mặt nghệ thuật, Then có sự kết hợp hài hoà giữa âm nhạc, múa, hội hoạ và lời ca trong một môi trường diễn xướng mang đậm mầu sắc văn hoá dân tộc
6 Tiểu kết
Về mặt tư liệu, trên đây chúng tôi đã phân tích nguồn tư liệu được viết bằng chữ Nôm Tày rất đáng tin cậy, không những có giá trị về mặt phân tích tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng, dân tộc học, văn học nghệ thuật , mà còn góp phần vào việc khẳng định về mặt văn tự đối với một số thuật ngữ, trong đó có “Then”
Về mặt văn tự, qua khảo sát chín văn bản như đã nêu ở phần trên, chúng tôi thấy việc dùng chữ (Then) rất thống nhất, không thấy xuất hiện kí tự nào khác dùng để trỏ “Then”
Về ý nghĩa của chữ “Then”, Then là người
có tài trí, có uy quyền với những phép thuật cao siêu, là người giữ mối liên hệ bằng lời giữa người trần gian với một thế giới tâm linh khác như Ngọc Hoàng, Long Vương , nhằm giúp cho người trần gian cầu mong được sự tốt lành Bài viết này tự giới hạn phương pháp nghiên
cứu từ bình diện ngữ văn học (philology), tức là
xem xét mối quan hệ giữa văn tự với ngôn ngữ
mà nó biểu đạt Để hiểu thấu đáo hơn về nội hàm thuật ngữ “Then”, ngoài phương pháp ngữ văn, cũng cần triển khai các phương pháp hỗ chứng như dân tộc học, văn hoá dân gian - điều
⇒ Xem tiếp trang 22 ( )
Trang 1022 NHỮNG VẤN ĐỀ TỪ ĐIỂN HỌC
10 TTTN II: Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt
giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Tập II, NXB Hội
Nhà văn, 1988
11 TrHV: Trại hoa vàng, Nguyễn Nhật Ánh, NXB
Trẻ, 2008
12 VNQĐ: Tạp chí Văn nghệ Quân đội
13 Quán ngữ là kiểu đơn vị ngôn ngữ được sử dụng
một cách thường xuyên cả trong khẩu ngữ và văn bản
viết Trong Việt ngữ học, đây là đối tượng đã được
nghiên cứu từ rất sớm trong nhiều địa hạt khác nhau
Tuy nhiên, do bản chất phức tạp và biến động của nó
mà xung quanh kiểu đơn vị ngôn ngữ này vẫn còn một
số vấn đề vẫn chưa được khai thác hoặc cần được
nghiên cứu sâu hơn nữa mới mong đi đến những kết
luận thoả đáng Từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
về cấu trúc hình thức của ngôn ngữ, bài viết đặt vấn đề
tìm hiểu đặc điểm chất liệu ngôn ngữ hợp thành quán ngữ tiếng Việt, điều mà cho đến nay gần như vẫn là một khoảng trống trong nghiên cứu quán ngữ
ABSTRACT
Vietnamese formulaic expressions are used with a high frequency in both oral and written communication In Vietnamese linguistics, they are studied quite early in such different domains as lexicology, sytactics and pragmatics Still, due to their subtle and flexible features of this liguistic entity, more research is needed so that there can be more findings From the view of the cognitive approach
to the language form, this article focuses on examining the characteristics of composite items to form Vietnamese formulaic expressions
⇒ Tiếp theo trang 11 ( TÌM HIỂU THUẬT NGỮ THEN TỪ GÓC ĐỘ NGỮ VĂN )
mà chúng tôi chưa thể thực hiện trong khuôn
khổ bài viết này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cầm Trọng, Phi Một - Một phương pháp chữa
bệnh của người Thái ở Việt Nam // In trong: Đạo
Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở
Việt Nam và châu Á (Ngô Đức Thịnh cb), NXB Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 2004
[2] Dương Kim Bội, Lời hát Then, Sở Văn hoá
Thông tin Khu Tự trị Việt Bắc, 1975
[3] Hoàng Phê chủ biên, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà
Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng, 2001
[4] Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí, Từ
điển Tày-Nùng-Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1974
[5] Nguyễn Thị Yên, Then Tày, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 2006
[6] Nguyễn Tuấn Cường, Khảo sát tác động của các
tạo tố ngoại lai tới cấu trúc loại chữ Nôm mượn âm
Phi Hán Việt // In trong: Nghiên cứu chữ Nôm, NXB
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006
[7] Nhiều tác giả, Mấy vấn đề về Then Việt Bắc, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1978
[8] Nhiều tác giả, Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập
4, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005
[9] Triều Ân, Then Tày những khúc hát, NXB Văn
hoá Dân tộc, Hà Nội, 2000
ABSTRACT
In terms of philology, the paper discusses the term
“Then” used in Nôm-Tày texts After a analysis of language form and meaning of that term in 9 specific texts, the paper gives a conclusion that in language
f o r m , t h e w o r d “Then” (khẩu/mouth + thiên/sky) is consistently used in the texts, for both work titles and word content of the works In meaning, “Then” means a talented and powerful person with magics and also means a person who can keep a contact between world humans and sacred persons including Ngọc Hoàng (God), Long Vương (sea/dragon-king), in order to help world humans to pray for good things