1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Vũ Diệu Linh- 72DCKT20198-72DCKT24

9 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 24,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung quy luật từ những thay đổi dần về lượng dấn đến sự thay đổi về chấ t và ngược lại + Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội cũng như sự phát triển nh

Trang 1

Câu 1: Phân tích nội dung quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến

những sự thay đổi về chất và ngược lại? và vận dụng quy luật này vào phân tích tiến trình cách mạng ở Việt Nam? (Hoặc vận dụng quy luật phân tích một vấn

đề trong thực tiễn đời sống và liên hệ với bản thân?)

Bài làm

Phạm trù về Chất: Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định

khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thông nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật, hiện hượng là nó chứ không phải cái khác

Phạm trù về Lượng : Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui định

khách quan vốn có của sự vật và mặt số lượng, qui mô, trình độ, nhịp độ,…của các quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

Khái niệm về nút: Điểm nút là một phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm

mà tại đó sự thay đổi về lượng làm thay đổi căn bản về chất của sự vật

Khái niệm về độ:Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự

thay đổi về lượng đã làm thay đổi căn bản chất của sự vật

Khái niệm về bước nhảy: Nhảy vọt là phạm trù triết học dùng để chỉ sự

chuyển hoá sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật vượt quá độ tới điểm nút gây ra

Các hình thức bước nhảy:

+ Bước nhảy đốt biến: là bước nhảy được thực hiện trong mét thời gian rất ngắn làm thay đổi về chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật

+ Bước nhảy dần dần: là bước nhảy được thực hiện từ từ , từng bước bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất di

+ Bước nhảy toàn bộ: là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật

+ Bước nhảy cục bộ: là bươc nhảy lam thay đổi chất của những mặt , những yếu tố riêng lẻ của sự vật

Trang 2

Nội dung quy luật từ những thay đổi dần về lượng dấn đến sự thay đổi về chấ

t và ngược lại

+ Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội cũng như

sự phát triển nhận thức tư duy con người đều đi từ sự thay đổi dần về lượng được tích luỹ lại khi vượt quá giới hạn độ tới điểm nút thì thì gây nên sự thay đổi căn bản về chất Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế

+ Sở dĩ như vậy là vì chất và lượng là hai mặt đối lập vốn có của sự vật hiện tượng Lượng thì thường xuyên biến đổi, còn chất tương đối ổn định Do đó sự phát triển của lượng tới một lúc nào đó thì mâu thuẫn với chất cũ Khi chất cũ kìm hãm thì qua đó nảy sinh yêu cầu tất yếu phải phá vỡ chất cũ, mở ra một độ mới để mở đường cho lượng phát triển Sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi vê chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên,

xã hội và tư duy

+ Quy luật này còn có chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời do sự biến đổi về lượng gây nên thì chất đó lại quy định sự biến đổi về lượng, ảnh hưởng của chất mới đến lượng thể hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển mới

Vận dụng quy luật phân tích một vấn đề trong thực tiễn đời sống và liên hệ với bản thân

+ Trong thực tiễn đời sống hầu như ai trong chúng ta cũng đã phải trải qua quá trình 12 năm học từ học tiểu học đến trung học cơ sở đến hết trung học phổ thông Sau 12 năm học đó, mỗi người học sinh đều đã thu lại cho mình một lượng kiến thức nhất định từ hai lĩnh vực: khoan học tự nhiên và khoa học xã hội Bên cạnh đó, sau những giờ học văn hóa trên lớp, mỗi học sinh chúng em cũng tự trang bị cho mình kỹ năng sống, những hiểu biết riêng của bản thân về

xã hội Qua đó, thấy được học sinh, sinh viên phải rèn luyện để phát triển toàn diện về nhiều mặt, nhiều chất như: thể chất ( chiều cao, sức khỏe, cân nặng…); học tập ( kiến thức, kĩ năng, thái độ,…)

Trang 3

+ Trong quá trình đó, ta thấy rõ đượng rằng:

*Quá trình tích lũy về lượng: học sinh tích lũy tri thức hằng ngày, gộp thành một quá trình dài không phải ngày một ngày hai Là sự nỗ lực ý chí từ bản thân mỗi học sinh và cả phía nhà trường và gia đình

*Quy luật lượng-chất thể hiện ở chỗ: Mỗi học sinh dần dần tích lũy cho mình tri thức trong một quá trình dài qua các bài học trên lớp kết hợp với việc tự học tại nhà Việc tích lũy tri thức được đánh giá qua các kì thi cuối kì, cuối cấp, tốt nghiệp, kiểm tra

+ quá trình học tập, tích lũy kiến thức là: Độ

+ các kì kiểm tra, kì thi là: Nút

+ việc vượt qua các kì thi là bước nhảy cho sự tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất

+ trải qua 12 năm học, học sinh có những bước nhảy qua nhiều điểm nút khác nhau nhưng điểm nút quan trọng nhất đời học sinh là kì thi THPTQG Việc vượt qua điểm nút này đánh dấu sự tích lũy đầy đủ về lượng và sự thay đổi về chất từ học sinh chuyển thành sinh viên Từ đó, mở ra một quá trinhf phát triển

về chất và lượng mới

Câu 2: Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất? và anh ( chị ) cho biết Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này trong tiến trình lãnh đạo cách mạng ( xây dựng đất nước) Việt Nam như thế nào?

Bài làm

Sản xuất:Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất

định Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người Phương thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

Trang 4

Lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là mối quan hệ của con người với tự

nhiên hình thành trong quá trình sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ khống chế tự nhiên của con người Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người

Quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa

người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan

hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ về phân phối các sản phẩm làm ra… Quan

hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng sự hình thành và phát triển một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người Quan hệ sản xuất có 3 mặt: + quan hệ sở hữu

+ quan hệ tổ chức, quản lý

+ quan hệ phân phối lưu thông

Phân tích nội dung quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển

xã hội

Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động

Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm

và kĩ năng lao động của con người , trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

Trang 5

Gắn liền với trình độ lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa

Sự vận động, phát triển quá trình sản xuẩt quyết định và làm thay đổi quan

hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi

đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động và tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở nên không phù hợp Khi đó quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kiềm hãm lực lượng sản xuất phát triển

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất, tác động đến thái độ con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phản công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ,… và do đó tác đọng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình ðộ phát triển của lực lýợng sản xuất là quy luật phổ biến tác Động trong toàn bộ quá trình lịch sử nhân loại Sự thay thế phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế

Trang 6

độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

là quy luật cơ bản nhất

Anh ( chị ) cho biết Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng quy luật này trong tiến trình lãnh đạo cách mạng ( xây dựng đất nước) Việt Nam như thế nào?

Thời kì trước đổi mới ( trước năm 1986): Lúc này, nước ta có nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp và sự thẻ hiện quy luật quan hệ xã hội phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có biểu hiện sau:

+ Nước ta đã thiết lập một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách ồ ạt Trong khi đó, đang tạo địa bàn cho sự phát triển lực lượng sản xuất cho thấy đã

vi phạm tính lịch sử cụ thể

+ Đồng thời, trong quá trình cải tạo nền sản xuất chỉ tập trung cải tạo quan hệ sản xuất, chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Cho thấy đã đi ngược lại với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với phát triển của lực lượng sản xuất

+ Thực tế vận dụng quy luật này cho thấy chúng ta đã quá coi trọng vai trò của quan hệ sản xuất và cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở đường cho lực lượng sản xuất phất triển Việc áp dụng quan điểm ấy là hoàn toàn sai; minh chứng cho điều đó là lực lượng sản xuất trong thời gian đó thấp kém mà quan hệ sản xuất được duy trì ở trình độ cao Từ đó, gây nên mâu thuẫn giưuax yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với hình thức kinh tế- xã hội được áp đặt một cách chủ quan ở nước ta Mâu thuẫn này đã gây ra hậu quả nặng nề với nền kinh tế nước ta: kinh tế chậm phát triển, sản xuất trì trệ, thiếu lương thực, nhập khẩu chiếm tới 4-5 phần xuất khẩu,nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế

… Từ đó cho thấy làm trái với qui luật gây nên hậu quả nặng nề cho nền kinh tế đất nước, làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng Như vậy, quan hệ

Trang 7

sản xuất không phù hợp với trình độ lượng lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Vận dụng qui luật vào thời kì đất nước hiện nay:

Mặc dù chất lượng nguồn lao động ngày càng được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển của đất nước.So với yêu cầu hiện nay lực lượng lao động có trình độ vẫn còn mỏng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản

lý, công nhân kỹ thuật lành nghề còn thiếu nhiều, 75% lao động nước ta vẫn là lao động chưa qua đào tạo

Các loại máy móc, trang thiết bị được sử dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Tuy nhiên nhìn chung công cụ lao động của nước ta vẫn còn lạc hậu so với thế giới Máy móc phục vụ cho sản xuất vẫn còn chậm cải tiến, chủng loại máy móc nhìn chung khá nghèo nàn Như vậy, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển song ở các trình độ không đều khiến cho nền kinh tế ước ta mặc dù đã phát triển theo hướng tích cực hơn trước nhưng vẫn chưa ổn định và còn nhiều hạn chế

Thực trạng các quan hệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay:Trước hết cần khẳng định: quan hệ sản xuất chúng ta thiết lập và xây dựng là quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường và theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chính xác hơn là quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì chúng ta chưa thực sự có chủ nghĩa xã hội mà mới đang trên đường xây dựng nó

Sự sở hữu tư liệu sản xuất còn chưa đồng đều trong nhân dân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo càng trở nên sâu sắc, tạo nên sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế trong đó tầng lớp trên chiếm tỉ trọng lớn tài sản và các ưu thế kinh tế và tầng lớp dưới chiếm một tỉ trọng nhỏ các tài sản và một phần nhỏ các ưu thế kinh tế Nước ta xây dựng nền kinh tế có cơ cấu đa dạng Trong đó, nền kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Các thành phần kinh tế là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng pháp triển lâu dài

Trang 8

dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí cuả Nhà nước nhằm tạo ra sự tăng trưởng mạnh mẽ về nên kinh tế và giữ được sự ổn định về chính trị gắn với công bằng xã hội

Như vậy, việc xây dựng và hoàn hiện các quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lao động sản xuất mở đường cho sự phát triển kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp của đất nước Những thành tựu đạt được là kết quả của con đường đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Nó là kết quả của nhận thức đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để giúp kinh tế đất nước phát triển hiện nay

Ngày đăng: 03/01/2022, 14:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w