1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa? Liên hệ với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa? Liên hệ với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Ngô Thị Bảo Anh
Người hướng dẫn Lê Thị Huyền
Trường học Học Viện Giao Thông Vận Tải Chính Trị - Quân Đội Nhân Dân - Thông Tin Tuyến Đầu
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại Tiểu luận học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 348,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới đây là phân tích và làm rõ sự đột phá về lý luận này dựa trên các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được thể hiện trong các Văn

Trang 1

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI

KHOA CHÍNH TRỊ-QPAN-QDTC

TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

Đề 1 “Phân tích điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa? Liên hệ với việc phát triển nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam hiện nay?”

HÀ NỘI – 2022

Sinh viên thực hiện : Ngô Thị Bảo Anh

Mã sinh viên : 72DCKT20094

Khóa : 72 (2021-2025) Giáo viên hướng dẫn : Lê Thị Huyền

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I Lý luận chung về sản xuất hàng hóa 2

1 Khái niệm sản xuất hàng hóa 2

2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa 2

3 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa 3

4 Ưu thế của sản xuất hàng hóa 3

II Liên hệ với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 4

1 Đặc trưng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam 5

2 Những ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường ở nước ta 9

3 Một số giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường 10

KẾT LUẬN 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

MỞ ĐẦU

Khi nước ta đã hoàn toàn thống nhất vào năm 1976, nước ta đã từng bước xây dựng Chủ nghĩa Xã hội Thời kỳ đó, nền kinh tế nước ta bên cạnh gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng thì còn gặp phải nhiều khó khăn thách thức Vào đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã có quyết định quan trọng trong việc đổi mới nền kinh tế, thay thế nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa Và từ đó sản xuất hàng hóa đã trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước quá trình quá độ của chủ nghĩa cùng với công nghệ háo vượt bậc Công nghệ sản xuất hàng hóa với chất lượng và số lượng không ngừng thay đổi Sản xuất hàng hóa là quá trình tạo ra hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu, thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Chính

vì vậy em đã chọn đề tài: “Phân tích điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa” để nghiên cứu Từ đó liên hệ với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Ngày nay vấn đề “Nền sản xuất hàng hóa ở nước ta”

đã trở thành đề tài không còn mới với nhiều người, nhưng nó vẫn thu hút được nhiều người khai thác, tìm hiều, nghiên cứu và trình bày Trong quá trình nghiên cứu còn nhiều sai sót do thời gian và kiến thức của bản thân còn hạn chế Vậy kính mong được sự góp ý của thầy cô giáo

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

NỘI DUNG

I Lý luận chung về sản xuất hàng hóa

1 Khái niệm sản xuất hàng hóa

Lịch sử của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tỏ chức kinh tế

là sản xuất hàng hóa và sản xuất tự cung tự cấp Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu

tổ chức nền kinh tế mà ở đó sản phẩm do lao động tạo ra nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế với mục đich sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, mua bán Sản xuất hàng hóa là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của loài người Cả hai kiểu tổ chức kinh tế

đó, quá trình sản xuất đều là quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm Nhưng với sản phẩm tự cung tự cấp, sản xuất để tiêu dùng làm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất, với lực lượng sản xuất ở trình độ thấp (tồn tại ở chế độ công xã nguyên thủy), sản xuất tiêu dùng nên không cần hạch toán kinh tế, mang hình thái hiện vật Còn đối với nền sản xuất hàng hóa, sản xuất với mục đích thỏa mãn nhu cầu của người khác, của xã hội thông qua trao đổi và mua bán; ở đây trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển hơn Sản xuất

để trao đổi mua bán nên cần phải hạch toán kinh tế, mang hình thái giá trị, hàng hóa tiền tệ Mục đích của sản xuất hàng hóa là giá trị, là lợi nhuận chứ không phải

là giá trị sử dụng

2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa

Thứ nhất, phân công lao động xã hội (điều kiện cần)

Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa lao động, phân bổ lao động trong

xã hội vào các ngành nghề sản xuất khác nhau

Khi có sự phân công lao động xã hội, mỗi người sản xuất chỉ sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm nhất định nhưng nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loại sản phẩm để thỏa mãn, vì thế để thỏa mãn nhu cầu tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau Họ phụ thuộc vào nhau, làm cho lao động của

họ trở thành một bộ phận của lao động xã hội, sản xuất của họ mang tính xã hội Thứ hai, sự tách biệt tương đối về kinh tế của các chủ thể sản xuất (điều kiện đủ)

Trang 5

Điều kiện này làm cho người sản xuất độc lập với nhau, có sự tách biệt về lợi ích và làm cho người sản xuất chi phối được sản phẩm của mình, trong điều kiện đó người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi mua bán, tức là làm cho việc trao đổi sản phẩm tồn tại dưới hình thức hàng hóa Trong sự phát triển của sản xuất, điều kiện này xuất hiện và tồn tại trên cơ

sở sự khác biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất càng phong phú và đa dạng Điều kiện này làm cho lao động và sản xuất của người sản xuất mang tính tư nhân

3 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa

Sản xuất có những đặc trưng cơ bản:

Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là để trao đổi, mua bán

Thứ hai, lao động của sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang

tính xã hội Lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất xã hội vì sản xuất làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Nhưng với sự khác biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất tư nhân vì việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập mỗi người Tính chất đó vừa phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội

4 Ưu thế của sản xuất hàng hóa

Thứ nhất, sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của sự phân công lao động xã

hội, chuyên môn hóa sản xuất Do đó nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên,

xã hội, kỹ thuật của mỗi người, từng cơ sở sản xuất, từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sự phát triển hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho trình độ chuyên môn của lực lượng lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành càng ngày được mở rộng Từ đó, nó phá vỡ tính tự cung tự cấp, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia trên thì nó còn khai thác được các lợi thế của quốc gia với nhau

Trang 6

Thứ hai, trong nền sản xuất hàng hóa quy mô sản xuất không còn bị giới hạn

bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính chất hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi

cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương mà nó còn mở rộng dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực xã hội

Thứ ba, trong nền sản xuất hàng hóa sự tác động của quy luật vốn có của sản

xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung-cầu, cạnh tranh, …

Thứ tư, trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng

và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước, … không chỉ làm cho đời sống vật chất mà còn cả đời sống văn hóa, tinh thần được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa có những mặt trái của

nó như phân hóa giàu- nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa với nhau, tiềm

ẩn nguy cơ khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, …

II Liên hệ với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Sau cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, chính thức thành lập ra một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sau đó thống nhất đất nước Nước ta đã có những thành tựu kinh tế khắc phục được những hậu quả chiến tranh để lại sau đó Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thành công kể trên là việc chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là kết quả của việc từng bước hiện thực hóa lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sự đột phá về lý luận cúa Đảng cộng sản Việt Nam và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Dưới đây là phân tích và làm rõ sự đột phá về lý luận này dựa trên các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được thể hiện trong các Văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội, đặc biệt là trong bài viết của Tổng bí thư

Nguyễn Phú Trọng đề cập đến: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa

xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng chưa từng có tiền lệ trong

lịch sử Đó là “một kiểu nền kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của

Trang 7

nền kinh tế thị trường”, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới Thực tiễn đã xác nhận những mô hình phát triển kinh tế thị trường mang tính đặc thù, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh phát triển cụ thể của từng quốc gia-dân tộc Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một dạng thức của kinh tế thị trường trên thế giới

Chính vì vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được coi là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội; là một trong những phương thức để đạt được mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Việt Nam xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một nền kinh tế kém phát triển, lại bị tác động nặng nề do hậu quả của chiến tranh để lại Trong điều kiện đó, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ, xét trên hai khía cạnh, tính thị trường và tính xã hội chủ nghĩa, như mức độ hoàn thiện và hiện đại của các thể chế cho phát triển thị trường; khả năng kiến tạo của Nhà nước; trình độ phát triển của thị trường các nhân tố sản xuất; năng suất lao động; hiệu quả lao động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là của doanh nghiệp Nhà nước ; mức độ hợp tác và cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế ; thu nhập của nhân dân, sự bình đẳng trong phát triển giữa các vùng, miền, giữa thành thị với nông thôn; sự phát triển hài hòa với tự nhiên

và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu… Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đây là một quá trình lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, đòi hòi sự bền bỉ, kiên trì, linh hoạt và sáng tạo

1 Đặc trưng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.1 Mục tiêu

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh” Đây

là sự khác biệt cơ bản của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nền

Trang 8

kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Mục đích đó bắt nguồn từ cơ sở kinh tế-xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là sự phản ánh mục tiêu chính

trị-xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu Mặt khác, đi đôi với việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, quá trình phát triển kinh tế thị trường

ở Việt Nam còn gắn với xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp nhằm ngày càng hoàn thiện cơ sở kinh tế-xã hội của chủ nghĩa xã hội

1.2 Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế

Về sở hữu: Sở hữu là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất

và tái sản xuất xã hội trên cơ sở chiếm hữu nguồn lực của quá trình sản xuất và kết quả lao động tương ứng của quá trình sản xuất hay tái sản xuất ấy trong một điều kiện lịch sử nhất định Sở hữu hàm ý trong đó bao gồm có chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu, lợi ích từ đối tượng sở hữu Mục đích của chủ thể sở hữu là nhằm thực hiện những lợi ích từ đối tượng sở hữu Chẳng hạn như ở chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa thì đối tượng sở hữu là tư bản và trí tuệ, chủ thể sở hữu là nhà tư bản, lợi ích có được từ đối tượng sở hữu là giá trị thặng dư (có được

do người có quyền sở hữu có quyền phân phối kết quả lao động)

Khác với việc chiếm hữu các sản phẩm tự nhiên, sở hữu phản ánh việc chiếm hữu trước hết là các nguồn lực sản xuất, tiếp đến là chiếm hữu kết quả lao động Trong sự phát triển của các xã hội khác nhau, đối tượng sở hữu trong các nấc thang phát triển có thể là nô lệ, có thể là ruộng đất, có thể là tư bản, có thể là trí tuệ Sở hữu bao hàm nội dung kinh tế và nội dung pháp lý Về nội dung kinh tế,

sở hữu là điều kiện của sản xuất, là lợi kinh tế mà chủ thể sở hữu được hưởng thụ

Về mặt này, sở hữu là cơ sở để các chủ thể thực hiện lợi ích từ đối tượng sở hữu, không xác lập quan hệ sở hữu sẽ không có cơ sở để thực hiện lợi ích kinh tế Vì vậy, khi có sự thay đổi phạm vi và quy mô các đối tượng sở hữu, địa vị của các chủ thể sở hữu sẽ thay đổi trong đời sống xã hội hiện thực

Về nội dung pháp lý, sở hữu thể hiện những quy định mang tính chất pháp luật về quyền hạn hay nghĩa vụ của chủ thể sở hữu Trong trường hợp này, sở hữu luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu khi xây dựng và hoạch định cơ chế quản lý nhà nước với quá trình phát triển nói chung Vì vậy, về mặt pháp lý, sở hữu định

Trang 9

giá và đòi hỏi sự thừa nhận về mặt luật pháp Khi dó, những lợi ích kinh tế mà chủ thể sở hữu được thụ hưởng sẽ không bị các chủ thể khác phản đối Khi đó việc thụ hưởng được coi là chính đáng và hợp pháp

Kinh tế nhiều thành phần: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế của nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt

để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật Đây không chỉ là điểm khác biệt cơ bản với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà còn phản ánh nhận thức mới về quan hệ sở hữu và thành phẩn kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Để đi lên chủ nghĩa xã hội cần phải phát triển kinh tế nhiều thành phần nhằm tạo động lực cạnh tranh cho nền kinh tế Trích trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân

là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh

tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường”

1.3 Về quan hệ quản lý

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại ở mọi quốc gia trên thế giới, nhà nước đều phải can thiệp (điều tiết) quá trình phát triển kinh tế của đất nước nhằm khắc phục những hạn chế, khuyết tật của kinh tế thị trường và định hướng chúng theo mục tiêu đã định Tuy nhiên, quan hệ quản lý và cơ chế quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có đặc trưng riêng đó là: Nhà nước quản lý và thực hành cơ chế quản lý là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng

Trang 10

sản, sự làm chủ và giám sát của nhân dân với mục tiêu dùng kinh tế thị trường để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua pháp luật, các chiến lược, kế hoạch,

cơ chế chính sách và các công cụ kinh tế trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc của thị trường, khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường và phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.4 Về quan hệ phân phối

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực hiện phân phối công bằng các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội và điều kiện phát triển của mọi chủ thể kinh tế (phân phối đầu vào) để tiến tới xây dựng xã hội mọi người đều giàu có Quan hệ phân phối bị chi phối và quyết định bởi quan hệ

sở hữu quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Nền kinh tế thị trường với sự đa dạng các hình thức sở hữu do vậy thích ứng với nó sẽ có các loại hình phân phối khác nhau: phân phối theo kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh

tế, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội

1.5 Về quan hệ tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải thực hiện gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội; phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa-xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và từng giai đoạn phát triển của kinh

tế thị trường Đây là đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Tiến bộ và công bằng

xã hội vừa là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, vừa

là mục tiêu thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta phải hiện thực hóa từng bước trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong nền kinh tế thị trường đị hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để duy trì sự tăng trưởng ổn định, bền vững mà còn là mục tiêu phải hiện thực hóa Do đó, ở bất cứ giai đoạn nào, mỗi chính sách kinh

Ngày đăng: 15/06/2022, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w