Ưu điểm quan trọng của giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng là:Tính linh hoạt: - XN nào có chi phí biên thấp sẽ giảm phát thải nhiều để bán giấy phép.. Điều kiện để thực hiện tốt g
Trang 1(TRADABLE EMISSIONS PERMITS- TEPs)
Trang 2Giới thiệu
Giấy phép có thể chuyển nhượng là một công
cụ thị trường để kiểm soát ô nhiễm môi trường
và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Trang 3Cơ chế hoạt động
Chính quyền xác định tổng lượng phát thải cần có và
ấn hành số giấy phép phát thải có tổng lượng tương ứng.
Cấp giấy phép ban đầu cho các cơ sở: Có nhiều cách
để quy định cách cấp phát ban đầu của giấy phép
Một cách phân phối ban đầu khá phố biến là dựa trên
mức độ thải chất ô nhiễm từ trước đến nay=>thừa kế
quyền gây ô nhiễm quá khứ
Người gây ô nhiễm đươc tự do mua bán giấy phép
phát thải (quyền ô nhiễm )
Trang 4Ví dụ
Hai xí nghiệp A và B thải sulphur oxide vào khí
quyển mỗi xí nghiệp có chi phí kiểm soát việc thải khí khác nhau:
chi phí để kiểm soát khí thải ở xí nghiêp A là 20 USD/tấn,
xí nghiệp B là 30 USD /tấn
Trang 5 Giả sử toàn bộ khí thải của mỗi xí nghiệp là 5 tấn Tổng phát thải là 10 tấn.
Giả sử chính quyền dùng giải pháp ra lệnh và kiểm soát yêu cầu mỗi xí nghiệp giảm lượng thải một tấn, tổng cộng hai xí nghiệp giảm là hai tấn.
=>Tổng chi phí thực hiện là 50 USD (30+20)
Lượng thải bây giờ là 8 tấn
Trang 6Thay vì dùng phương pháp “ra lệnh và kiểm soát” (CAC), chính quyền cấp giấy phép cho 8 tấn khí thải
sulphur oxide
Vì mỗi xí nghiêp thải ra 5 tấn khí ô nhiễm
do đó, chính phủ quyết định phân phối 8 tấn đều cho
cả A và B: mỗi xí nghiệp được giấy phép cho 4 tấn
sulphur oxide (giải pháp thừa kế)
Giả sử giá thị trường là 24 USD/tấn sulphur oxide.
Trang 7Giá giấy phép
Giá
Trang 8A và B đều có lợi qua việc mua bán giấy phép
Trang 9Bảng – Lợi ích của việc mua bán giấy phép
Xí nghiệp A
Xí nghiệp B Tổng chi phí để cắt giảm 1 tấn khỉ thải: không chuyển nhượng 20
30
Chí phí kiểm soát ô nhiễm thực tế do chuyển nhượng 40
0
Trừ khoản bán giấy phép 24 0
Cộng khoản mua giấy phép 0
24
Chi phí ròng qua mua bán 16 24
Thu lợi qua mua bán 20- 16=4 30-24=6
Lưu ý khoản lợi mua bán 4+6=10, là khoản chênh lệch giữa các chi phí biên tế
Trang 10Ưu điểm quan trọng của giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng là:
Tính linh hoạt:
- XN nào có chi phí biên thấp sẽ giảm phát thải nhiều để bán giấy phép Điều này khuyến khích các
hãng đầu tư công nghệ làm giảm ô nhiễm XN có chi
phí biên cao sẽ mua thêm giấy phép ở thị trường
“Giá” chất phát thải là do thị trường quyết định.
Trang 11Điều kiện để thực hiện tốt giấy phép phát thải trao đổi được
Nhiều người bán & người mua
Các XN có chi phí giảm thải biên khác nhau
Chỉ áp dụng cho một chất ô nhiễm mà thôi
Trang 12Việc mua bán giấy phép trong thực tế: Kinh
nghiệm của Hoa kỳ
Lịch sử của giấy phép phát thải có thể chuyển
nhượng: Khởi đầu nó giống như sự hạn chế phát thải ô nhiễm không khí theo Đạo Luật Không Khí Sạch của Hoa Kỳ vào những năm 1970 và được mở rộng trong Đạo Luật Không Khí Sạch mới năm 1991
Một vài cơ chế được sử dụng như:
nối mạng nội bộ (netting)
bù trừ khu vực (offsets)
chính sách bong bóng (bubbles).
lưu giữ tín chỉ (banking)
nối mạng nội bộ và bù trừ khu vực liên quan đến các nguồn
thải mới
Trang 13 Tất cả cơ chế trên xuất phát từ tín chỉ giảm phát thải (emissions reduction credit- ERC),
có được do giảm phát thải “vượt mức” từ một nguồn thực hiện tự nguyện
Các hãng có thể yêu cầu cơ quan kiểm soát cấp cho giấy chứng nhận tín chỉ giảm phát thải (ERC) Các tín chỉ này được lưu giữ hoặc được sử dụng trong các chương trình đền bù hoặc chính sách bong bóng
Trang 14a) Chính sách đền bù (offsets policy):
Được áp dụng cho trường hợp các vùng chưa đạt
tiêu chuẩn biên chất lượng không khí (mức tiêu
chuẩn được phép phát thải) nhưng muốn tăng quy mô (thêm nhà máy mới hoặc cải tạo mở rộng nhà máy
cũ)
Hãng muốn mở rộng quy mô và muốn phát thải
nhiều hơn phải có sẵn các tín chỉ hoặc mua tín chỉ từ các nhà máy khác, để tổng số phát thải trong vùng
không lớn hơn sau khi mở rộng quy mô so với trước đây
Trang 15b) Chính sách bong bóng (bubbles policy):
Thông qua quy định tổng giới hạn ô nhiễm đối
với các nguồn phát thải hiện tại
Trong phạm vi tổng giới hạn ô nhiễm này, hãng được tự do thay đổi các nguồn gây ô nhiễm miễn
là không vượt tổng giới hạn (hãng có thể giảm
phát thải ở chỗ này, và tăng phát thải ở chỗ khác)
Trang 16c) Chính sách kết mạng lưới (Netting policy):
Chính sách này cho phép hãng tạo ra nguồn thải mới , miễn là
nó bù lại việc ô nhiễm này bằng cách cắt giảm phát thải chỗ nào đó trong cùng một hãng
Kết mạng lưới ô nhiễm luôn luôn liên quan đến việc chuyển nhượng nội bộ, nghĩa là xí nghiệp không được phép mua giấy phép từ bên ngoài.
d) Lưu giữ tín chỉ (banking):
Hãng được phép dự trữ các tín chỉ đã được xác nhận cho sử dụng sau này trong các chương trình nói trên – bong bóng, kết mạng lưới, hoặc đền bù
Tín chỉ lưu giữ có thể sử dụng nội bộ hoặc bán cho các hãng khác
Trang 17Hạn chế : Mức độ chuyển nhượng giấy phép giữa các
XN trong thực tế thấp hơn mức mong muốn:
Các xí nghiệp không muôn chuyển nhượng cho xí nghiệp khác
bởi vì:
- Không chắc chắn về khoản tin dụng gây ô nhiễm: Xí nghiệp A phải
chắc chẳn rằng xí nghiệp B thực sự cắt giảm chất thải để tạo ra khoản tín dụng ô nhiễm có thể chuyển nhượng được
XN không luôn luôn chắc chắn về cách chính quyền xác định mức khí thải cơ bản và khoản tín dụng ô nhiễm
-Lấy thông tin về giá cả chuyển nhượng là tốn kém.
-Triển vọng giá giấy phép gia tăng.
-Giấy phép được tích trữ có thể dùng như một rào cản việc gia nhập
của các xí nghiệp mới
Trang 18Ứng Dụng ở Châu Âu :
Giấy phép chuyển nhượng còn có thể được sử dụng để
kiếm soát việc sử dụng tài nguyên bừa bãi , như việc đánh bắt cá quá mức
Chương Trình Hạn Ngạch Chuyển Nhượng Cá Nhân
(ITQ): được áp dụng
-New Zealand năm 1986
- Australia cho cá ngừ xanh ở phía nam và ngành đánh cá bằng lưới ở phía Đông nam
-Hoa Kỳ mới đây cũng đưa ra một hệ thống cho các
ngành đánh bắt nghêu ở Atlantic
Trang 19Trong hệ thống của New Zealand, mức hạn ngạch ban đầu được cấp theo số lượng đánh bắt trước nay.
Chính phủ sau đó mua lại một số hạn ngạch với giá thị trường hiện hành, vì thế sẽ giảm được tổng lượng đánh bắt cho phép (TAC).
Các ngư dân phải trả tiền tô cho chỉnh phủ để có
giấy phép hạn ngạch va có thể bán lại hạn ngạch cho các ngư dân New Zealand khác.
Những ngư dân mới vào đánh bắt sẽ được phân phối mức hạn ngạch tối thiểu.
Trang 20Kết quả Hạn ngạch đánh cá ở New Zealand.
Hệ thống hạn ngạch đã hoạt động tốt.
Phân phối kế thừa là một hệ thống chấp nhận được về mặt chính trị, tiếp theo sau bằng việc mua lại hay cắt giảm theo tỷ lệ
Việc chuyển nhượng hạn ngạch được thuận tiện nhờ
những người môi giới đóng vai trò trung gian trong Thị Trường Mua Bán Hạn Ngạch
Và tất cả việc mua bán được báo cáo cho những người quản lí hạn ngạch.
Trang 21Kết luận
Thực hiện hệ thống giấy phép chuyển nhượng này
không hy sinh chất lượng môi trường bởi vì mức chất lượng tổng quát được xác định bởi tổng số lượng giấy phép, và được đặt ra bởi cơ quan điều tiết.
Công cụ giấy phép chuyển nhượng này dễ được người
sử dụng tài nguyên và người gây ô nhiễm chấp nhận
Công cụ này không chỉ được ứng dụng trong vấn đề phát thải ô nhiễm mà còn rất thành công trong việc
kiểm soát sự lạm dụng tài nguyên hay trong việc kiểm soát khí CO2.