Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã từng nói :” Học phải đi đôi với hành
Trang 1Phần một: Lời Mở Đầu
Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã từng nói :” Học phải điđôi với hành”.Vâng lời dạy của Người cùng với việc thực hiện chủ trươngđưa sinh viên về thực tập, tìm hiểu thực tế tại địa phương của trường Đại họcLuật Hà Nội, nhằm nâng cao kiến thức, phát huy tính năng động sáng tạocủa sinh viên Trong đợt thực tập của mình tôi đã hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ và đi đến quyết định chọn chuyên đề về : “Hôn nhân và gia đình”
đề tài số 10 “Thực trạng ly hôn và một số giải pháp hạn chế ly hôn tại địaphương nơi thực tập” Qua đó Tôi nhận thấy: gia đình là một trong nhữngnhân tố quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Xây dựnggia đình Việt Nam ít con, no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc là động lựccủa chiến lược phát tiển kinh tế xã hội đất nước ta giai đoạn mới hiện nay Xong “ly hôn” đang là thực trạng “bức xúc” của xã hội bởi các nguyênnhân, lý do như : Mâu thuẫn gia đình, không có con, ngoại tình, nghiện matúy, một bên can án, lý do về kinh tế… Kéo theo nó là biết bao gia đình tannát, chia ly, vợ bỏ chồng, chồng bỏ vợ, con cái bỏ học hư đốn… hậu quả đểlại thật khôn lường, xã hội phải gánh chịu bao gánh nặng
Tôi thực tập tại một Tòa án thuộc tỉnh miền núi nghèo phía bắc của tổquốc -Hà Giang là một tỉnh biên giới nằm ở phía đông bắc, dân số khoảng680.000 người, với 22 dân tộc anh em chủ yếu là thành phần các dân tộcthiểu số Trong những năm gần đây số vụ ly hôn có chiều hướng gia tăngngày càng cao( Năm 1991 khi mới tách tỉnh, chỉ có 90 vụ thì đến năm 2006tăng lên đột biến) Vì vậy tôi xin đưa ra những con số cụ thể, những ví dụđiển hình về thực trạng ly hôn, qúa trình giải quyết của Tòa án nhân dân thị
xã Hà Giang và một số kiến nghị về vấn đề hạn chế ly hôn tại địa phươngnơi tôi thực tập./
Trang 2PHần HAI : NộI DUNG
Chương I: Khái quát về quá trình tìm hiểu, thu thập thông tin và
thực trạng ly hôn tại thị xã Hà Giang.
1.Khái quát về quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin
Với thời gian thực tập khoảng bốn tháng, tôi đã nỗ lực không ngừngnghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin trong những hồ hơ vụ án, tham dự một
số phiên tòa xét xử cũng như học hỏi kinh nghiệm nghiên cứu thực tiễn củanhững người đi trước Bằng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp sosánh, đối chiếu, bình luận, nghiên cứu tài liệu liên quan đến vấn đề hôn nhân
và gia đình Vì vậy qúa trình thực tập tại Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang
đã giúp tôi hiểu được phần nào thực trạng ly hôn tại địa phương nơi tôi sinhsống
Chúng ta đều biết rằng hôn nhân là mong muốn của nhiều người khiđến độ tuổi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đó, quan hệ vợ chồng đượcthiết lập, vợ chồng đều mong muốn được chung sức xây dựng gia đình ấm
no tự do và hạnh phúc đóng góp phần nào đó cho xã hội đúng như theo mộttriết gia nào đó đã nói “gia đình là tế bào của xã hội” Nhưng do nhiều yếu tốkhách quan, chủ quan khác nhau ví như (chồng cờ bạc rượu chè, đánh đập
vũ phu, hoặc vợ chồng một trong hai bên ngoại tình, lý do về kinh tế, mộtbên đi vắng lâu ngày không trở về ) điều đó dẫn tới mâu thuẫn gia đìnhngày càng lớn, không thể giải quyết được tất yếu dẫn tới ly hôn
2 Thực trạng ly hôn tại thị xã Hà Giang.
Tại địa phương nơi thực tập, tôi thấy số lượng án ly hôn rất phổ biến,chiếm tỷ lệ cao từ 42 - 45% tổng số vụ án thụ lý của 1 năm, và liên tục tăng
Trang 3sau mỗi năm, đặc biệt có tới 60% số vụ án ly hôn thuộc về các gia đình trẻ,tuổi của vợ chồng dưới 30 và phần lớn ly hôn khi mới chung sống cùng nhauđược từ 1-7 năm, hầu hết đang có con nhỏ, mỗi năm toàn tỉnh có khoảng 3-
4 ngàn đôi bạn trẻ tổ chức kết hôn, xây dựng tổ ấm gia đình Tuy nhiên doyêu vội, cưới gấp, kết hôn theo trào lưu không chuẩn bị kỹ càng trước khibước vào cuộc sống lứa đôi, nhiều cặp vợ chồng trẻ đã phải “dắt” nhau ratòa sau một thời gian ngắn chung sống, thực trạng này thực sự trở nên báođộng đối với toàn xã hội
Ly hôn là hiện tượng xã hội rất phức tạp bởi hậu quả của nó thật khônlường ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, hạnh phúc của vợ chồng, ảnhhưởng không nhỏ đến sự hình thành nhân cách của con trẻ khi sống thiếu mẹhoặc thiếu cha, ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của gia đình và toàn xã hội.Việc ly hôn là do một trong hai bên vợ chồng yêu cầu hoặc do sự thỏa thuậncủa cả hai bên, kết quả có thể do tòa án sẽ đưa ra một quyết định công nhận
sự thỏa thuận của hai bên hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ, của chồnghoặc của cả hai vợ chồng
Trong những năm gần đây, theo số liệu báo cáo tổng kết năm củanghành Tòa án nhân dân thì Thị xã Hà Giang, tỷ lệ ly hôn có chiều hướngngày một gia tăng Xem xét tình trạng ly hôn tại thị xã Hà Giang một vàinăm trở lại đây ta thấy rõ được điều nay:
Năm 2001 Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang thụ lý 72 vụ, giải quyếtđược 68 vụ, còn tồn 4 vụ, đạt tỷ lệ 94,4%
Năm 2002 Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang thụ lý 85 vụ, tăng 13 vụ
so với năm 2001 Trong đó án cũ chuyển sang là 4 vụ, án mới thụ lý là 81
vụ -Đã giải quyết được 78 vụ đạt tỷ lệ 91,7%
-Hòa giải thành: 16 vụ = 20,5%
-Đình chỉ và tạm đình chỉ: 8 vụ = 10.2%
Trang 4-Công nhận thuận tình ly hôn: 19 vụ= 24,3%
-Xử cho ly hôn: 35 vụ = 44,8%
Đặc biệt năm 2007 vừa qua Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang đã thụ lý số
vụ án ly hôn với lượng án thật kỷ lục là hơn 140 vụ, việc khiến cho côngviệc của những Thẩm phán chủ yếu là giải quyết việc ly hôn giữa các đương
sự , đây thực sự là những con số đáng báo động hiện nay đối với toàn xã hội
Như vậy qua thu thập các số liệu cụ thể án ly hôn của từng năm tạiThị xã Hà giang, chúng ta có thể nhận thấy số lượng án ly hôn tăng từngnăm Và ta cũng thấy rằng số án ly hôn của giới trẻ đặc biệt tăng nhanhchóng Trong vài năm gần đây án ly hôn tăng nhanh chóng, gây nhiều khókhăn cho xã hội và cơ quan xét xử Cụ thể trong vòng 2 năm
án hôn nhân và gia đình năm 2005:
Tổng thụ lý: 115 vụ,việc (110 vụ 5 việc) Trong đó án cũ năm 2004chuyển sang 18 vụ việc (15 vụ 3 việc), thụ lý mới 97 vụ,việc (trong đó 95 vụ
2 việc)
án hôn nhân gia đình toà thụ lý tập trung chủ yếu là án ly hôn 95/115
vụ, việc chiếm tỷ lệ 82,6% Còn lại là yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 02/115
vụ chiếm tỷ lệ 1,7%; Thay đổi thành phần nuôi con chung 02/115 chiếm tỷ
lệ 1,7%; Không công nhận quan hệ vợ chồng 05/115 vụ chiếm tỷ lệ 4,3%;Tranh chấp tài sản sau ly hôn 02/117 vụ chiêm tỷ lệ 1,7%
Nguyên nhân xin ly hôn chủ yếu là do mâu thuẫn vợ chồng 36 vụchiếm tỷ lệ 31,3%; Đánh đập ngược đãi 29 vụ chiếm tỷ lệ 25,2%; Do tínhtình không hợp 18 vụ chiếm tỷ lệ 15,6%; Do ngoại tình 06 vụ chiếm tỷ lệ5,2%; không có con 01 vụ chiếm tỷ lệ 0,86; một bên đi vắng lâu ngày khôngtrở về 03 vụ chiếm tỷ lệ 2,6%; do nghiện rượu 01 vụ chiếm tỷ lệ 0,86%; huỷhôn nhân trái pháp luật 05 vụ chiếm tỷ lệ 4,3%; Một bên mất tích 01 vụchiếm tỷ lệ 0,86% Tòa đã giải quyết được 95 vụ,
Trang 5Và trong tổng số 95 vụ Toà án đã giải quyết thì:
Năm 2006 án hôn nhân gia đình :
Tổng thụ lý: 130 vụ Trong đó án cũ năm 2005 chuyển sang 20 vụ, thụ
lý mới 110 vụ So với cùng kỳ năm trước, án thụ lý mới tăng 28 vụ ( năm
2005 thụ lý 105 vụ, án cũ năm 2004 chuyển sang 23 vụ, thụ lý mới 82 vụ ).Toà đã giải quyết 120/130 vụ, đạt tỷ lệ 92,30%
án hôn nhân gia đình toà thụ lý tập trung chủ yếu là án ly hôn 120/130
vụ chiếm tỷ lệ 92,30%; án xin thay đổi thành phần nuôi con chung 6/130 vụchiếm tỷ lệ 4,61%; án tranh chấp tài sản sau ly hôn 02/130 vụ chiếm tỷ lệ1,53%, xin cấp dưỡng nuôi con 03/130 vụ chiếm tỷ lệ 2,3%, truy nhận chacho con 01/130 vụ chiếm tỷ lệ 0,76%
Nguyên nhân xin ly hôn chủ yếu do mâu thuẫn gia đình, đánh đậpngược đãi 63 vụ chiếm tỷ lệ 48,4%; do tính tình không hợp 30 vụ chiếm tỷ
lệ 23%; do ngoại tình 10 vụ chiếm tỷ lệ 7,69%; không có con 03 vụ chiếm tỷ
lệ 2,3%; một bên đi vắng lâu ngày không trở về 03 vụ chiếm tỷ lệ 2,3%; mộtbên bỏ đi 02 vụ chiếm tỷ lệ 1,53%
Trong tổng số 120 vụ Toà án đã giải quyết trong đó có:
-Hòa giải thành: 20 vụ = 16,%
-Công nhận thuận tình ly hôn: 40 vụ = 33,%
-Đình chỉ(nguyên đơn xin rút đơn, đoàn tụ): 25 vụ = 20,%
-Xét xử cho ly hôn: 20 vụ = 16%
-Tạm đình chỉ( không tìm được bị đơn): 15 vụ = 12%
Trang 6Chương II: Nguyên nhân dẫn đến ly hôn và căn cứ giải quyết ly hôn
1/ Nguyên nhân
Tôi đã đề cập đến một số nguyên nhân nho nhỏ về tình trạng ly hôn ởđịa phương tôi trên đây Nhưng trong phần này tôi muốn đề cập nhữngnguyên nhân cụ thể và phân tích một cách rõ ràng hơn
Trong những năm gần đây, tình trạng ly hôn tăng một cách đáng kể vàđang trở thành vấn đề bức xúc của xã hội Việt nam nói chung và Hà Giangnói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó Có một nhà nghiên cứu đã nóirằng ở Việt Nam cứ ba đôi kết hôn thì có một đôi xin ly hôn
Cụ thể trong năm 2005 Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang xét xử 115
vụ ly hôn gồm nguyên nhân sau: Nguyên nhân xin ly hôn chủ yếu là do mâuthuẫn vợ chồng 36 vụ chiếm tỷ lệ 31,3%; Đánh đập ngược đãi 29 vụ chiếm
tỷ lệ 25,2%; Do tính tình không hợp 18 vụ chiếm tỷ lệ 15,6%; Do ngoại tình
06 vụ chiếm tỷ lệ 5,2%; không có con 01 vụ chiếm tỷ lệ 0,86; một bên đivắng lâu ngày không trở về 03 vụ chiếm tỷ lệ 2,6%; do nghiện rượu 01 vụchiếm tỷ lệ 0,86%; huỷ hôn nhân trái pháp luật 05 vụ chiếm tỷ lệ 4,3%; Mộtbên mất tích 01 vụ chiếm tỷ lệ 0,86%
Năm 2006 trong tổng số 130 vụ ly hôn thì: Nguyên nhân xin ly hônchủ yếu do mâu thuẫn gia đình, đánh đập ngược đãi 63 vụ chiếm tỷ lệ48,4%; do tính tình không hợp 30 vụ chiếm tỷ lệ 23%; do ngoại tình 10 vụchiếm tỷ lệ 7,69%; không có con 03 vụ chiếm tỷ lệ 2,3%; một bên đi vắnglâu ngày không trở về 03 vụ chiếm tỷ lệ 2,3%; một bên bỏ đi 02 vụ chiếm tỷ
lệ 1,53%
Nhìn vào những thông số trên đây chúng ta có thể thấy rằng nguyênnhân chủ yếu dẫn tới việc ly hôn do mâu thuẫn gia đình, ngược đãi là nhữngcon số rất lớn,( năm 2005 là 36 vụ chiếm 31,3% - năm 2006 là 63 vụ chiếm
Trang 748,4% ), số vụ do tính tình không hợp nhau dẫn đến ly hôn cũng là một con
số không nhỏ (năm 2005 là 25 vụ chiếm tỷ lệ 21,3%, năm 2006 là 18 vụchiếm 13,6% , không kể tỷ lệ % ly hôn do những lý do khác mang lại nữa, từnhững điển hình này cho thấy đây là thực trạng vô cùng “bức xúc” của HàGiang hiện nay Dựa trên kết quả này chúng ta đều nhận thấy rằng số vụ án
do đánh đập ngược đãi trong gia đình lại chiếm khá lớn mặc dù xã hội hiệnnay đang có chủ trương không có bạo lực trong gia đình Vậy vì sao có tìnhtrạng số vụ án ly hôn do ngược đãi và do tính tình không hợp nhau cũng như
do những nguyên nhân khác lại có tỷ lệ cao như thế khi mà trong xã hội naynhững người tri thức của ta rất nhiều, tầm nhận thức về quan hệ gia đình của
họ rất lớn? Phải chăng là do ngày nay, khi quan hệ giữa các thành viên tronggia đình như con cái với bố mẹ, vợ chồng với nhau có phần xuống cấp trongmột bộ phận không nhỏ của dân cư, bởi xã hội này mọi người chủ yếu quantâm tới yếu tố kinh tế và quên đi việc chăm lo tới gia đình mình Sự quantâm chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình giờ đây được thay thế bằngviệc tính toán làm ăn kinh tế , đôi khi là chơi bời trụy lạc đã làm cho mốiquan hệ giữa các thành viên trong gia đình không còn chặt chẽ Sự cách biệtgiữa thu nhập của vợ chồng, sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa ngoại lai, sựxâm nhập của những quan hệ không đúng đắn sự nhận thức không đầy đủ vàkhông thấu đáo về hậu quả ly hôn giữa các cặp vợ chồng Đó là một số cácnguyên nhân trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng ly hôn ở ViệtNam nói chung và ở Hà Giang nói riêng gia tăng đáng kể? Còn với lý do lyhôn ta có thể thấy nó là cái cớ mà đương sự dựa vào đó để yêu cầu tòa áncho ly hôn (thường do lỗi của bị đơn) Như vậy lý do ly hôn thường trùngvới nguyên nhân gây mâu thuẫn vợ chồng, mà thực tế cho thấy người đứngđơn cho mỗi vụ ly hôn thường là người phụ nữ, với các lý do như: chồngngoại tình, chồng cờ bạc rượu chè…
Trang 8Những nguyên nhân, lý do dẫn tới ly hôn rất đa dạng và khá phức tạp Vìvậy muốn giải quyết ly hôn chính xác, để vừa đảm bảo quyền tự do ly hônchính đáng của vợ chồng, vừa đảm bảo lợi ích của gia đình và xã hội, cán bộthẩm phán cần nắm rõ quy định của pháp luật, tìm hiểu nguyên nhân dẫn tớimâu thuẫn vợ chồng Đồng thời lưu ý đặc điểm kinh tế - chính trị, xã hội tácđộng vào quan hệ ly hôn trong thời điểm giải quyết vụ án để quyết địnhđúng đắn đường lối chính sách của Đảng & nhà nước đối với việc giải quyếttừng án kiện ly hôn, bởi quyết định này có ảnh hưởng sâu sắc đến thành viêntrong gia đình cũng như xã hội Ví dụ:
Ngày 12 tháng 09 năm 2005 Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang đã thụ lí đơnxin ly hôn của chị Bàng Thị Sơn, sinh năm 1986, dân tộc Cao Lan, thườngtrú tại tổ 12 phường Minh Khai thị xã Hà Giang yêu cầu tòa án giải quyết lyhôn giữa chị và anh Nguyễn Văn Nam, trong khi hai anh chị mới chung sốngcùng nhau được một thời gian ngắn chưa đầy 6 tháng vì anh chị đăng kí kếthôn vào tháng 4 năm 2005
Nguyên nhân dẫn tới việc Chị Sơn xin yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôncủa chị và anh Nam là do anh Nam nghiện ma túy, bản thân anh Nam không
có công ăn việc làm ổn định để lo cho gia đình lại còn có quan hệ bất chínhvới người đàn bà khác đã bị chị Sơn phát giác, khuyên ngăn anh nhiều lầnnhưng anh không chịu nghe còn chung sống bất hợp pháp cùng với ngườiphụ nữ đó Qua nghiên cứu hồ sơ và điều tra vụ án, Tòa án nhân dân Thị xã
đã chấp nhận đơn yêu cầu của chị Sơn và giải quyết đúng theo nguyện vọngcủa chị
2/ Căn cứ giải quyết cho ly hôn
Trước hết cũng như theo quy định của pháp luật thì thủ tục hòa giảiđược áp dụng đối với các vụ kiện ly hôn do TAND tiến hành là thủ tục pháp
lý bắt buộc, bởi vậy Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang rất coi trọng công tác
Trang 9điều tra và hòa giải Mục đích cuối cùng và quan trọng nhất mà cán bộ hòagiải hướng tới giúp cho cuộc hôn nhân có nguy cơ tan vỡ tránh được đổ vỡ,
vợ chồng đoàn tụ Sau mỗi lần hòa giải, tòa án sẽ lập ra biên bản hòa giải,hòa giải thành gia đình trở về đoàn tụ, hòa giải không thành tòa án lập biênbản hòa giải không thành và đưa ra xét xử vụ kiện ly hôn, chỉ khi nào thấyquan hệ vợ chồng thực sự đến mức “tình trạng trầm trọng, đời sống chungkhông thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” thì Tòa án giải quyếtcho ly hôn; Theo Đ89 - LHN & GĐ năm 2000 quy định
Và khi xem xét giải quyết ly hôn Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang thựchiện triệt để theo các quy định về điều kiện hạn chế ly hôn LHN & GĐ năm
2000 ghi nhận “ vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giảiquyết việc ly hôn” Quyền này gắn liền với quyền nhân thân của vợ, chồng,không thể chuyển giao, không ai có thể đệ đơn xin ly hôn thay vợ, chồng.Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi bà mẹ và trẻ em, khoản 2 điều 85 LHN & GĐnăm 2000 đã quy định điều kiện hạn chế ly hôn đối với người chồng “ Trongtrường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồngkhông có quyền yêu cầu xin ly hôn” Người chồng bị hạn chế quyền ly hônkhông phân biệt người vợ có thai với ai Trong trường hợp vợ có thai hoặcnuôi con dưới 12 tháng tuổi, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng,nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không có lợi cho sức khỏe của mình, củathai nhi hoặc đứa bé mới sinh mà người vợ có yêu cầu ly hôn thì tòa án vẫnthụ lý đơn yêu cầu xin ly hôn của người vợ và giải quyết vụ án theo thủ tụcchung
3/ Đường lối giải quyết án ly hôn của Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang
Luật LHN & GĐ năm 2000 quy định rõ: Cơ quan có thẩm quyền xét
xử ly hôn là Tòa án nhân dân Cũng như tòa án nhân dân ở các địa phươngkhác, Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang tiến hành giải quyết vụ việc ly hôn
Trang 10theo đúng trình tự pháp luật Khi nhận được yêu cầu ly hôn của vợ hoặcchồng, hay cả hai vợ chồng tòa án xem xét thấy hợp lý sẽ thụ lý và giảiquyết theo trình tự, thủ tục luật định Theo nguyên tắc chung, tòa án thụ lýđơn yêu cầu ly hôn căn cứ quy định của bộ luật tố tụng dân sự, trường hợpkhông đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì tòa án tuyên bố không côngnhận quan hệ vợ chồng ( khoản 1 điều 11 LHN & GĐ năm 2000 ).
Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang trong những năm qua đã có cố gắng rấtnhiều trong việc thụ lý và giải quyết các vụ án ly hôn theo đúng trình tựpháp luật Theo luật định có 2 trường hợp ly hôn
-Trường hợp cả 2 vợ chồng đều thuận tình ly hôn
-Trường hợp do 1 bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn
Như vậy trong số 40 hồ sơ ly hôn mới thụ lý trong quý I/2007 có tới 22 đơn
vợ đứng tên (chiếm 48%), có 10 đơn do chồng đứng tên (chiếm 22%) và 14đơn chung (chiếm 30%)
Sau đây tôi xin trích dẫn 1 số vụ ly hôn tiêu biểu do Tòa án nhân dân thị
xã Hà Giang thụ lý và giải quyết vào năm 2006
a/ Trường hợp ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu
Điều 91 LHN & GĐ năm 2000 quy định “ khi một bên vợ hoặc chồngyêu cầu ly hôn mà hòa giải tại tòa án không thành thì tòa án xem xét, giảiquyết vụ việc ly hôn”
*Trường hợp vợ có yêu cầu ly hôn, Tôi xin được trích tóm lược một bản án
mà tòa án nhân dân thị xã Hà Giang đã xét xử như sau:
Ngày 17/07/2005, Tòa án nhân dân thị xã đã thụ lý và giải quyết vụ án xin lyhôn giữa nguyên đơn là chị Ngô Thị Dự sinh năm 1975, dân tộc H’Mông và
bị đơn là anh Trần Văn Hiển sinh năm 1971, dân tộc Kinh , cùng trú tại tổ
01 phường Ngọc Hà- Thị xã Hà Giang- Tỉnh Hà Giang
Nhận thấy
Trang 11Chị Ngô Thị Dự và anh Trần Văn Hiển kết hôn năm 2003 có đăng kí kết hôn
do hai bên tự nguyện sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được mộtnăm thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn chị Dự cho rằng: AnhHiển thường xuyên đánh bạc, chửi bới và đánh đập chị mặc dù chị đãkhuyên giải nhiều lần nhưng anh Hiển không thay đổi, xét thấy tình cảm vợchồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhânkhông đạt được chị đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn
Về phía anh Hiển cho rằng: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tìnhkhông hợp, thường xuyên cãi vã lẫn nhau và sống ly thân từ năm 2004 đếnnay
Về con chung: Hai đương sự cùng xác nhận có một con chung là cháu TrầnTuấn Anh sinh ngày 10/09/2003
Ly hôn chị Dự yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu cấpdưỡng
Về tài sản chung: hai đương sự khai không có
Về công nợ chung: Hai đương sự cùng xác nhận vợ chồng không nợ ai,không đề nghị tòa án giải quyết
Tại phiên tòa hôm nay các bên đương sự thuận tình ly hôn và thỏa thuậnđược về con chung
Xét thấy
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiêntòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhậnđịnh những lý do mà anh chị đưa ra là đúng Vì vậy chấp nhận cho được lyhôn
Về con chung: hiện tại cháu Tuấn Anh còn nhỏ và đang ở cùng với mẹ, đểđảm bảo cho cháu có cuộc sống ổn định và sự chăm sóc cần thiết trong cuộcsống nên giao cháu Tuấn anh cho chị Dự trực tiếp nuôi dưỡng