Do đó, ngành thủy sản của Bến Tre hiện tại và trong những năm kế tiếp được xem là quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và cũng là thế mạnh của ngành nông nghiệp khi mà biến đ
Trang 1NGÀNH THỦY SẢN TỈNH BẾN TRE PHÁT TRIỂN
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU BEN TRE FISHERIES DEVELOPE TOWARDS SUSTAINABILITY
AND ADAPTATION TO CLIMATE CHANGE
TS Ngô Văn Thạo
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Trong giai đoạn 2010 - 2015, GDP bình quân của Bến Tre đạt 5,8%; trong đó ngành nông nghiệp tăng trưởng đạt bình quân 3,75%/năm, chiếm tỷ trọng 42,3% trong cơ cấu GDP nên nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh với 89,6% dân số của tỉnh sống ở khu vực nông thôn (số liệu thống kê năm 2015) Tuy nhiên, trong ngành nông nghiệp thì lĩnh vực trồng trọt trong giai đoạn này đã có sự suy giảm về diện tích (bình quân -1,1%/năm) và sản lượng giảm (bình quân -3,1%) nhưng ngành thủy sản có diện tích nuôi trồng tăng bình quân 2%/năm và sản lượng thủy sản nuôi lại tăng bình quân 8,4%/năm, (trong đó tôm nuôi tăng 2,4% diện tích nhưng sản lượng tăng 10,3%; cá tra tăng 0,5% diện tich và đạt 9,1% về sản lượng), cùng với sản lượng đánh bắt tăng bình quân 6,3%/năm Do
đó, ngành thủy sản của Bến Tre hiện tại và trong những năm kế tiếp được xem là quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và cũng là thế mạnh của ngành nông nghiệp khi mà biến đổi khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong những năm gần đây và cũng như những dự báo cho các thời kỳ tiếp theo
Bài viết tập trung phân tích thực trạng phát triển ngành thủy sản của tỉnh Bến Tre từ
2015 trở về trước, làm cơ sở định hướng và phát triển cho những năm tiếp theo và hướng đến
sự bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu và hội nhập hiện nay
Từ khóa: thủy sản; nuôi trồng thủy sản; phát triển bền vững, biến đổi khí hậu
Abstract
In the period of 2010 - 2015, the average GDP of Bentre province is 5.8% Of which the agricultural sector grew at an average of 3.75% per year, contribution to 42.3% of GDP, so that agriculture still plays an important role in the economic structure of the province with 89.6% of the population living in rural areas (Statistics 2015) However, in the agricultural sector, there was a decline in cultivation (-1.1% per year in area and -3.1% per year in production) But Aquaculture increased 2% per year in area and 8.4% per year in output, of which; cultural shrimp increased 2.4% in area but reached 10.3% per year in yield; Pangasius increased by 0.5% per year in area but reached 9.1% per year in yield), along with an average increase in catches of 6.3% per year Therefore, Ben Tre fisheries at present and in the coming years is still play an important role in economic development and the strength of agriculture, in the climate change conditions have a great influence on the
Trang 2The paper focuses on the development of the fisheries sector in Ben Tre province from
2015 onwards as a basis for orientation and development for the coming years and towards sustainability in the climate change conditions
Keyworks: fisheries; aquaculture; stable development; climate change
1 Thực trạng phát triển ngành thủy sản của Bến Tre
Bến Tre là tỉnh thuộc khu vực đồng sông Cửu Long, ở cuối nguồn với 4 cửa sông chảy qua đó là: cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên; tổng chiều dài của 4 con sông này chảy qua tỉnh Bến Tre là 298km Bên cạnh đó là một hệ thống sông rạch chằn chịt, với hệ thống sông nước nên nhiều giống loài thủy sản thích ứng với các loại hình thủy vực như: ngọt, lợ, mặn và sản xuất nông nghiệp của Bến Tre được chia thành nhiều đối tượng ứng với từng vùng sinh thái riêng; vùng nước ngọt chuyên sản xuất cây giống, cây ăn trái, nuôi các giống loài cá nước ngọt, trồng lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm; vùng lợ chuyên trồng lúa mùa mưa và nuôi thủy sản vào mùa khô kết hợp với chăn nuôi bò; vùng mặn thì chuyên nuôi trồng thủy sản
1.1 Tổng quan ngành thủy sản Bến Tre
Do gần các cửa sông nên vào mùa khô hầu hết hệ thống sông ngòi trong tỉnh đều
bị nhiễm mặn, và độ mặn đo được giảm dần theo khoảng cách với cửa biển Ở vùng trong khoảng cách từ 7 - 15km thì nguồn nước hầu như bị nhiểm mặn quanh năm ở
độ mặn dao động từ: 11 - 31‰ tùy vào từng thời điểm (cao vào mùa khô và hạ thấp vào mùa mưa) Riêng ở khu vực cách cửa sông từ 15 - 40km thì trong năm bị nhiểm mặn khoảng (3 - 4) tháng trong mùa khô và độ mặn dao động trong khoảng 3 - 7 ‰; các khu vực nằm sâu cách cửa sông trên 50km thì nước hầu như ngọt quanh năm; tuy nhiên cũng có năm bị nhiểm mặn vào mùa khô với độ mặn trong khoảng 2 - 5‰ như mùa khô năm 2016 vừa qua Với hệ sinh thái nước ngọt, cửa sông, và ven biển nên nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản gần đây phát triển mạnh, được xem là sinh kế của phần lớn người dân ở 3 huyện ven biển là : Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú
Bảng 1 Một số chỉ tiêu sản xuất nông lâm thủy sản của Bến Tre giai đoạn 2010 - 2015
vị tính Năm 2010
Ước TH
2015 2015/2010
Bình quân (2011-2015) a) Trồng trọt 169.703 160.843 1 -1,1%
- Lúa ha 80.228 62.983 0,8 -4,7%
- Mía ha 5.865 2.085 0,4 -18,7%
- Dừa ha 51.560 68.167 1,3 5,7%
- Cây ăn trái ha 32.050 27.608 0,9 -2,9%
Sản lượng 1.565.075 1.335.039 0,9 -3,1%
- Lúa tấn 366.806 279.750 0,8 -5,3%
- Mía tấn 460.056 158.803 0,3 -19,2%
Trang 3- Dừa tấn 420.173 562.110 1,3 6,0%
- Cây ăn trái tấn 318.040 334.376 1,1 1,0%
- Đàn bò " 166.451 164.000 1,0 -0,3%
- Đàn heo " 431.562 490.000 1,1 2,6%
- Đàn gia cầm (gà, vịt, ngan,
ngỗng)
1.000 con 4.962 5.335 1,1 1,5%
- Thịt hơi các loại tấn 88.387 136.168 1,5 9,0%
- Diện tích rừng tập trung ha 3.898 4.376 1,1 2,3%
T.đó: + Trồng mới (5 năm) ha 560 100 0,2 -29,1% + Quản lý và bảo vệ (5
năm) ha 17.047 4.059 0,2 -24,9% + Chăm sóc (5 năm) ha 632 287 0,5 -14,6%
- Tỷ lệ che phủ rừng % 1,65 1,86 1,1 2,4%
* Tổng diện tích nuôi trồng
thuỷ sản ha 42.490 46.800 1,1 2,0%
- Diện tích nuôi tôm ha 32.960 37.100 1,1 2,4% Trong đó: Diện tích nuôi
thâm canh ha 4.827 8.850 1,8 12,9%
- Diện tích nuôi cá ha 4.300 4.400 1,0 0,5% Trong đó: Diện tích cá tra
thâm canh ha 657 730 1,1 2,1%
- DT nuôi thủy sản khác ha 5.230 5.300 1,0 0,3%
* Tổng sản lượng thủy hải sản tấn 290.756 417.599 1,4 7,5%
- Sản lượng thủy sản nuôi tấn 168.148 251.500 1,5 8,4% Trong đó: + Tôm biển tấn 29.031 47.400 1,6 10,3% + Cá tra tấn 110.000 170.000 1,5 9,1%
- Sản lượng đánh bắt tấn 122.608 166.099 1,4 6,3%
Nguồn: Cục Thống Kê tỉnh Bến Tre (2016)
* Nuôi trồng
Với 3 loại hình thủy vực: mặn, lợ, ngọt nên các đối tượng nuôi trồng cũng có sự khác biệt rõ rệt; khu vực nước ngọt thì thích hợp với các loại tôm càng, cá tra, cá điêu hồng, với các hình thức nuôi kết hợp như tôm dừa, tôm lúa, nuôi cá lồng, cá thâm canh; khu vực nước lợ thì có các đối tượng nuôi như: tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cua, tôm càng xanh, với các hình thức nuôi chuyên canh, luân vụ (1 vụ lúa, 1 vụ tôm kết hợp cua); khu vực nước mặn thì nuôi chuyên tôm biển, cua, nghêu, sò dạng nuôi chuyên hay kết hợp
Trang 4Một số đối tượng truyền thống mà ngành thủy sản tỉnh đang khuyến khích các
hộ nông dân nuôi như cá nước ngọt, lợ; tôm càng xanh xen trong mương vườn, tôm càng xanh luân vụ với tôm sú trên ruộng lúa để phát triển ổn định hình thức tổ chức sản xuất quy mô hộ gia đình và nâng cao thu nhập Riêng các đối tượng nuôi chuyên (tôm sú, tôm chân trắng, cá tra) thì mỗi địa phương có ban quản lý vùng nuôi để giúp
bà con quản lý và kiểm soát dịch bệnh; Con nghêu đã hình thành các hợp tác xã theo
mô hình quản lý cộng đồng Đến cuối năm 2015 trên địa bàn tỉnh có 05 cơ sở sản xuất giống cá tra chất lượng cao để cung ứng cho các vùng nuôi của doanh nghiệp, hộ nuôi;
12 khu nuôi cá tra thâm canh của 09 Công ty/doanh nghiệp nuôi cá tra thương phẩm trên địa bàn tỉnh đã được chứng nhận GlobalGAP; 04 khu nuôi đạt chứng nhận ASC;
02 khu nuôi đạt chứng nhận VietGAP và 01 khu nuôi đạt chứng nhận AquaGAP, đã
góp phần phát triển ổn định nghề nuôi cá tra trên địa bàn
+ Diện tích nuôi năm 2015 ước tính 46.800 ha, tăng 4.310 ha so với năm 2010, tốc độ tăng bình quân 1,95%; sản lượng 251.500 tấn tăng 83.353 tấn so với năm 2010, tốc độ tăng bình quân 8,39% Diện tích sản lượng nuôi thủy sản tăng cao hơn năm
2010 và kế hoạch do trong giai đoạn này phong trào nuôi tôm chân trắng có hiệu quả cao, nông dân đẩy mạnh đầu tư nuôi tôm theo hình thức thâm canh - bán thâm canh
+ Đối tượng nuôi trồng thủy sản trên 03 vùng sinh thái cơ bản ngọt, lợ, mặn được phát triển như sau: vùng mặn tập trung chủ yếu nuôi nghêu trên các bãi bồi ven biển, nuôi tôm kết hợp trồng rừng; vùng lợ tập trung nuôi tôm biển (tôm sú, tôm chân trắng) hình thức thâm canh - bán thâm canh và nuôi sò; vùng ngọt tập trung đối tượng
cá tra thâm canh, cá điêu hồng, cá rô phi trong lồng bè và nuôi tôm càng xanh trong mương vườn
+ Trong giai đoạn 2011 - 2015 nhu cầu con giống phục vụ nuôi tôm nước lợ ngày một tăng cao, vì vậy công tác sản xuất giống tôm nước lợ phục vụ cho nuôi thương phẩm cũng tăng liên tục qua các năm Đến năm 2013, sản lượng sản xuất giống tôm nước lợ trong tỉnh đã tăng gần 30% so với năm 2010, trong đó sản lượng sản xuất giống tôm chân trắng chiếm ngày càng nhiều trong tổng số giống tôm biển sản xuất trong tỉnh (năm 2013 chiếm 93,4% tổng sản lượng tôm mặn lợ) Tuy nhiên so với nhu cầu thực tế thì sản xuất giống tôm biển trong tỉnh chỉ cung cấp khoảng 10 - 15% nhu cầu của tỉnh, số còn lại phải nhập chủ yếu từ các tỉnh miền Trung
* Đánh bắt
Đối với khai thác hải sản xa bờ, tổ chức sản xuất theo mô hình tổ/đội khai thác trên biển theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã để giảm thiểu chi phí đầu vào và tổn thất sau thu hoạch nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, tiến đến xây dựng và phát triển
mô hình liên kết giữa ngư dân với các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác để gắn kết chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm Đến tháng 6/2016, đã thành lập được 153 tổ/đội khai thác thủy sản trên biển với 1.363 tàu và 10.442 thuyền viên tham gia; đối với khai thác thủy sản ven bờ, tập trung hướng dẫn ngư dân tổ chức sản
Trang 5xuất, khuyến khích đầu tư tàu khai thác xa bờ, hạn chế các ngư cụ và phương tiện khai thác lạm sát nguồn lợi thủy sản như vận động kéo giảm nghề cào đơn ven bờ, lưới kéo
có kích thước mắt lưới nhỏ, câu mực dùng đèn cao áp, phát triển nghề cào đôi để nâng
cao hiệu quả khai thác
+ Tổng số tàu cá khai thác hải sản năm 2015 ước đạt 3.620 chiếc, giảm 650 chiếc so năm 2010; tổng công suất đã đăng ký 948.440 CV, tăng 323.925 CV so năm
2010 Tàu đánh bắt xa bờ 1.762 chiếc, tăng 213 chiếc so năm 2010, công suất bình quân 465 CV (tăng 136 CV so năm 2010) Sản lượng khai thác thủy sản năm 2015 ước 166.099 tấn, tăng 42.392 tấn so năm 2010, tốc độ tăng bình quân 6,26%
* Chế biến thủy sản
Các sản phẩm đánh bắt, nuôi trồng được tiêu thụ thông qua hình thức bán trực tiếp cho các nhà máy chế biến, hệ thống thu mua tại các địa phương (chành, vựa) và được sơ chế, bảo quản trước khi đưa đến các nhà máy chế biến hay tiêu thụ Hiện tại chỉ có hai nhà máy chế biến tại hai huyện Ba Tri và Bình Đại có vị trị gần cảng cá nên các tàu đánh bắt có thể bán trực tiếp sản phẩm cho nhà máy, còn hầu hết các nhà máy chế biến còn lại thì ở cách xa vùng nguyên liệu nên hoạt động chế biến thủy sản của Bến Tre còn nhiều hạn chế
1.2 Đánh giá thực trạng phát triển
Đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản
Bảng 2 So sánh các chỉ tiêu nuôi trồng thủy sản của tỉnh Bến Tre với đồng bằng
sông Cửu Long và của cả nước giai đoạn (2000 – 2014)
Diện tích nuôi
trồng thủy sản
Đồng bằng SCL(%) 6,6 6,2 5,7 5,9 6,5 5,9 6,2 Lượng thủy sản
nuôi trồng
Đồng bằng SCL(%) 13,8 6,3 8,4 9,2 10,0 10,2 10,1
Sản lượng cá nuôi
Đồng bằng SCL(%) 3,1 3,1 8,0 8,6 9,9 10,2 9,9
Sản lượng tôm nuôi
Đồng bằng SCL(%) 8,4 9,4 8,4 10,4 10,0 12,1 11,0 Giá trị sản xuất/ha
Giá trị sản xuất/ha
đất nuôi thủy sản
cả nước
1,30 - 1,70 1,56 1,46
Nguồn: Cục Thống Kê Việt Nam – GSO; www.gso.gov.vn
Khi so sánh một số chỉ tiêu của nuôi trồng thủy sản của tỉnh Bến Tre với đồng bằng sông Củu Long và cả nước có những nét đặc thù sau:
Trang 6Tỷ lệ diện tích nuôi thủy sản của Bến Tre so với cả nước có xu hướng giảm dần
từ 4,6% năm 2000 xuống còn 3,6% năm 2014 nhưng sản lượng thủy sản nuôi trồng lại chiếm tỷ trọng khá cao và nhất là từ sau năm 2010 chiếm tỷ trọng gấp đôi so với diện tích (thể hiện tỷ trọng cá nuôi và tôm cao gấp 2 - 3 lần so với tỷ lệ diện tích) điều này minh chứng cho lợi thế nuôi trồng thủy sản của Bến Tre so với trung bình chung của
cả nước Trong khi so với khu vực đồng bằng sông Cửu Long thì dù tỷ trọng diện tích chỉ chiếm từ 5,7 - 6,6% so với khu vực nhưng sản lượng thủy sản nuôi (cả cá và tôm) đều cao hơn tỷ trọng diện tích Không những có lợi thế về sản lượng mà giá trị sản xuất/ha đất nuôi trồng thủy sản của tỉnh Bến Tre so với cả nước gấp 1,3 đến 1,7 lần trong khi giá trị sản xuất/ha của đất trồng trọt của Bến Tre chỉ xấp xỉ trung bình của cả nước Điều này khẳng định cho Bến Tre có lợi thế tuyệt đối về nuôi trồng thủy sản so với các địa phương khác trong khu vực và cả nước
Tuy nhiên, nghề nuôi trồng thủy sản của Bến Tre tạo ra giá trị gia tăng không cao do đối tượng nuôi chủ yếu là tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra, và chuỗi giá trị của các đối tượng này đã chuyên hóa rất cao: từ nguồn bố mẹ, tôm cá bột, khâu giống, nuôi thương phẩm nhưng Bến Tre hầu như chỉ thực hiện khâu nuôi thương phẩm còn các khâu giống và bột thì do các tỉnh miền Trung và các tỉnh khác như An Giang, và Đồng Tháp thực hiện Mặc khác, trong quá trình nuôi thâm canh thì chi phí thức ăn và thuốc hóa chất chiếm đến 70% giá thành sản xuất nhưng thức ăn và thuốc hóa chất hiện nay đều do các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chi phối Do đó, phần giá trị tăng thêm của người nuôi trồng thủy sản rất thấp nhưng chi phí cho viêc đầu tư ao hồ,
hệ thống điện và trang thiết bị trung bình 500 triệu/ha mặt nước nên cũng là rào cản cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng chuyên canh Do nuôi thường mật
độ cao, sử dụng thức ăn công nghiệp nên dễ bị nhiễm các chất tăng trọng, và lạm dụng kháng sinh trong phòng, trị bệnh tôm, nhất là bệnh tôm cá chính là mối nguy trong vấn
đề an toàn thực phẩm và cũng là rào cản cho việc gia nhập các thị trường nước ngoài
Tuy vậy, công tác quản lý chất lượng đầu vào và giám sát quá trình sản xuất của các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản còn gặp nhiều khó khăn do hầu hết các
cơ sở chưa tự giác hợp tác và tuân thủ các quy định; hoạt động sản xuất giống tôm sú, tôm chân trắng trong tỉnh còn manh mún, hiệu quả không cao, năng suất chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của nghề nuôi; ngoài ra, công tác quản lý sản xuất thủy sản nước ngọt còn khó khăn, đặc biệt là sản xuất giống tôm càng xanh chỉ thực hiện khai báo kiểm dịch khi có nhu cầu xuất tỉnh và chưa thực hiện việc công bố chất lượng giống của cơ sở; nguồn Chlorine hỗ trợ chống dịch bệnh tôm biển không được hỗ trợ liên tục nên không thực hiện đúng quy trình hướng dẫn xử lý dịch bệnh của ngành; một số hộ tự ý
xả thải ra bên ngoài dẫn đến lây lan, ảnh hưởng đến các hộ nuôi trong vùng và gây nhiều khó khăn trong việc quản lý, xử lý dịch bệnh trên tôm biển nuôi
Dù nuôi chuyên thủy sản có những hạn chế như thế nhưng xuất hiện một hương
đi mới là nuôi xen/luân vụ các loài thủy sản nước lợ này trên nền đất trồng lúa ở vùng
Trang 7nước lợ (trong năm có 4 - 5 tháng nước ngọt hoàn toàn trồng lúa kết hợp nuôi tôm càng xanh), các tháng còn lại nuôi tôm sú, thẻ chân trắng hay nuôi cua thì chi phí thấp, người nuôi chỉ tốn chi phí con giống, và một phần thức ăn tự tìm kiếm nhưng hiệu quả khá cao, phần thưởng này xem như là họ xuất công làm lời và là mô hình canh tác bền vững do thân thiện với môi trường hiện đang phổ biến ở các vùng nước lợ của huyện Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại Do lúa được xem là đối tượng sản xuất phụ vì giá trị thấp nhưng chỉ sản xuất 1 vụ/năm nên ít bị dịch bệnh do hầu như không dùng đến hóa chất và thuốc trừ sâu (vì sẽ gây độc hại tôm cá nuôi xen) Bên cạnh đó, hàng tháng có
2 chu kỳ triều cường, người nuôi tranh thủ thay nước để xả phèn, lấy thêm giống tôm
cá tự nhiên và cũng tạo thêm nguồn dinh dưỡng từ phù sa cho lúa Một số giống loài tôm cá tự nhiên người nuôi có thể thu theo các chu kỳ nước cường trong tháng như: tôm đất, tôm thẻ, cá đối, cua , riêng các đối tượng nuôi xen như cua, tôm thì thường sau 3 - 5 tháng thì bắt đầu thu dần Người dân sẽ có lúa sạch để ăn, rơm rạ để chăn nuôi gia súc, tôm cá thu được theo các kỳ nước cường trong tháng dùng làm nguồn thức ăn và có thể bán để có tiền tiêu vặt hàng ngày; các đối tượng nuôi chủ lực nếu thu hoạch thì xem như là tiền tích lũy và đây là sản phẩm sạch không có chứa chất kháng sinh Chi phí cho mô hình này không nhiều và nó tạo công ăn việc làm ổn định cho hộ
có trung bình 4 nhân khẩu và diện tích canh tác khoảng 1 ha Điểm hạn chế của mô hình này là sản lượng kém tập trung do thu hoạch tùy thuộc vào chế độ thủy triều, và khó kiểm soát được sản lượng vì hoàn toản phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên Với diện tích nuôi thủy sản quảng canh và quảng canh cải tiến của tỉnh là 33.666 ha, nếu giữ được diện tích này ổn định và tận dụng sản xuất 1 vụ lúa + 1 vụ thủy sản sẽ mang tính bền vững cho môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng
Đối với hoạt động đánh bắt thủy sản
Bảng 3 So sánh các chỉ tiêu đánh bắt thủy sản của tỉnh Bến Tre với đồng bằng sông
Cửu Long và của cả nước giai đoạn (2005 - 2014)
Số tàu khai thác xa bờ Cả nước (%) 4,1 5,9 6,4 6,3 5,8 5,5
Đồng bằng SCL(%) 15,3 20,9 21,4 21,9 21,3 20,7
Tổng công suất Cả nước (%) 8,4 11,3 11,5 10,8 9,4 9,0
Đồng bằng SCL(%) 16,8 25,2 23,7 25,6 24,7 25,9
Sản thủy sản đánh bắt Cả nước (%) 37,2 5,0 5,3 5,8 5,8 5,5
Đồng bằng SCL(%) 87,8 11,9 12,7 13,9 13,8 13,1
Nguồn: Dữ liệu thu thập từ Cục Thống Kê Việt Nam - GSO; www.gso.gov.vn
Khi so sánh một số chỉ tiêu đánh bắt thủy sản của tỉnh Bến Tre với đồng bằng sông Cửu Long và cả nước có kết luận sau:
Tỷ lệ số tàu đánh bắt xa bờ và tổng công suất của Bến Tre so với cả nước và
Trang 8tàu thuyền so với cả nước, và chỉ gần bằng 50% tỷ trọng công suất và số tàu thuyền của khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thể hiện Bến Tre không có lợi thế về đánh bắt thủy sản
Hoạt động khai thác thủy sản trên biển thời gian qua đã được quản lý và kiểm soát thông qua công tác cấp giấy phép khai thác thủy sản Tuy nhiên ở khu vực ven bờ
và nội địa công tác quản lý phương tiện và hoạt động khai thác còn nhiều hạn chế, đặc biệt đối với phương tiện nhỏ không đăng ký, đăng kiểm
Hoạt động khai thác thủy sản được thành lập theo tổ nhóm sản xuất như phân công luân phiên đánh bắt thăm dò tìm kiếm ngư trường (chỉ cần 01 tàu đánh bắt thăm
dò, các tàu còn lại neo nghỉ, tiết kiệm được nhiên liệu); luân phiên tải cá vào bờ, các tàu còn lại tiếp tục bám biển, vừa tiết kiệm được nhiên liệu vào bờ vừa tăng thời gian đánh bắt; đồng thời, cá được tải vào bờ sớm hơn thời gian chuyến biển nên cải thiện được chất lượng, cá tươi hơn, giá bán cao hơn; ngoài ra, còn tạo được sự gắn kết giữa các tàu đánh bắt với nhau thông qua việc trao đổi thông tin hàng ngày, tạo tâm lý an tâm khi hoạt động đánh bắt trên các vùng biển khơi xa đất liền nhiều ngày
Đối với hoạt động chế biến thủy sản
Tính đến đầu năm 2017, toàn tỉnh có 10 nhà máy chế biến thủy sản nhưng chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành nên khá xa vùng cung ứng nguyên liệu Tuy nhiên, các sản phẩm chế biến của các nhà máy này chỉ tập trung vào hai nhóm sản phẩm là con nghêu và cá tra và các nhà máy này hầu như đã tự xây dựng hoặc ký hợp đồng liên kết với các hộ nuôi xây dựng nguồn cung nguyên liệu để đảm bảo các tiêu chuẩn GolbalGAP, ASC Dù Bến Tre thuộc nhóm 5 tỉnh dẫn đầu đồng bằng sông Cửu Long
về diện tích và sản lượng tôm biển nhưng lại không có nhà máy chế biến tôm nên hầu như sản lượng tôm nguyên liệu của Bến Tre được các nhà máy chế biến ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh tiêu thụ, đây là một tổn thất rất lớn cho ngân sách địa phương và khả năng tạo việc làm tại chỗ cho cộng đồng
2 Dự báo các biến động khí hậu và nước biển dâng - khả năng thích ứng với với biến đổi khí hậu và gia nhập nền kinh tế thế giới của ngành thủy sản Bến Tre
Bến Tre được nhận định là một trong những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề của nước biển dâng và biến đổi khí hậu Theo dự báo, vào năm 2020 nước biển dâng 12
cm, tỉnh Bến Tre với diện tích bị ngập là 272 km2, chiếm 12,24% diện tích, có khoảng 97.890 người sống trong vùng bị ngập, khi ranh giới mặn 4‰ tiến sâu vào nội đồng sẽ tác động trực tiếp đến tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân Bên cạnh đó tác động của biến đổi khí hậu ngày càng thể hiện rõ, thời tiết có xu hướng diễn biến phức tạp, nguy cơ dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro
Đối với 03 huyện ven biển có nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phát triển, thì theo kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2020, tổng diện tích đất có nguy cơ bị ngập
Trang 9là 12.511 ha, chiếm 11,5% tổng diện tích đất tự nhiên 03 huyện Trong đó, huyện Thạnh Phú có nguy cơ bị ảnh hưởng nhiều nhất với diện tích 5.782 ha so với 02 huyện Bình Đại, Ba Tri và các huyện khác trong tỉnh Ngoài ra, việc xâm nhập mặn sâu vào đất liền đã ảnh hưởng đến hệ sinh thái vùng nước ngọt của một số nơi bị nhiễm mặn
mà cụ thể là khu vực ngoài đê 02 huyện Giồng Trôm và Mỏ Cày Nam
- Biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ gây ra hậu quả: Nhiệt độ trung bình tăng, sự chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm lớn, mưa kéo dài, gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, và đặc biệt là mặn xâm nhập sâu vào đất liền, gây ảnh hưởng lớn đến nghề nuôi thủy sản của tỉnh trong thời gian tới, đặc biệt là nghề nuôi cá tra, nuôi cá lồng/bè ở các huyện nước ngọt Tuy nhiên nếu nước mặn ngập sâu vào phần vùng ngọt hóa thì cơ cấu sản xuất bị thay đổi, các vườn cây ăn trái sẽ suy kiệt, đất đai nhiễm mặn chỉ thích hợp cho việc nuôi thủy sản nước lợ Do đó, diện tích nuôi thủy sản nước lợ sẽ gia tăng và một thực tế là trong vài năm gần đây diện tích nuôi tôm nước lợ đã lấn sâu vào phần diện tích qui hoạch vườn cây ăn trái; một số hộ sau vài vụ nuôi cũng có những thành công khích lệ, lợi nhuận cao gấp nhiều lần so với vườn cây ăn trái nhưng dịch bệnh gan tụy trên tôm nuôi là rào cản các hộ dân chuyển đổi đối tượng sản xuất
3 Giải pháp phát triển và hội nhập ngành thủy sản của tỉnh Bến Tre
Nuôi trồng Thủy sản:
- Ổn định diện tích nâng cao hiệu quả vùng nuôi theo hướng an toàn, bền vững, diện tích khoảng 47.000 ha;
- Tiếp tục đa dạng hóa đối tượng (nghêu, sò, tôm biển, cua, hàu, ở vùng lợ mặn ven biển; tôm càng xanh, cá tra, cá rô, cá điêu hồng, cá rô phi, ở vùng ngọt) với phương pháp nuôi bán thâm canh và thâm canh để khai thác tiềm năng sản xuất và cơ hội thị trường
- Xây dựng và nhân rộng mô hình nông ngư kết hợp trên đất lúa kém hiệu quả, qua mô hình nuôi xen “lúa - thủy sản”
- Tiếp tục mở rộng diện tích nuôi tôm biển thâm canh, bán thâm canh phía ngoài đê thuộc các huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú và Mỏ Cày Nam theo quy hoạch được duyệt
- Tập trung xây dựng vùng nuôi thủy sản an toàn dịch bệnh theo mô hình liên kết bốn nhà: nhà nông - doanh nghiệp - nhà khoa học - Nhà nước; thí điểm và nhân rộng mô hình nuôi ứng dụng công nghệ cao đối với tôm biển, cá tra và một số đối tượng nuôi có giá trị kinh tế; nhân rộng mô hình áp dụng quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp quy chuẩn quốc tế
- Ưu tiên và tập trung triển khai thực hiện các dự án về giống; quan trắc, giám sát môi trường; quản lý dịch bệnh, thú y thủy sản và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ
Trang 10nuôi trồng thủy sản chuyên cho 3 huyện ven biển; thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới phục vụ cho nuôi trồng thủy sản
- Tổ chức lại sản xuất và hoàn thiện cơ chế quản lý theo chuỗi giá trị sản phẩm đối với một số đối tượng nuôi chủ lực như tôm biển, nghêu ở vùng nước lợ mặn và cá tra ở vùng nước ngọt; giữ vững, củng cố chứng nhận MSC con nghêu Bến Tre
- Phối hợp địa phương quản lý, theo dõi, chỉ đạo phát triển sản xuất và triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nuôi thủy sản; quản lý chất lượng giống thủy sản, kiểm tra, giám sát việc khảo nghiệm các giống thủy sản mới, áp dụng công nghệ mới trong sinh sản nhân tạo và lựa chọn các đối tượng có giá trị kinh tế giới thiệu
và quảng bá cho người dân
- Tập trung triển khai công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản hàng năm nhằm giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh gây ra; chủ động phòng chống thiên tai và các tác động xấu của biến đổi khí hậu đến nghề nuôi thủy sản
- Tăng cường tổ chức tập huấn cho người nuôi nắm bắt các kỹ thuật nuôi trồng trong điều kiện tác động và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để hạn chế thiệt hại
- Triển khai, hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn môi trường, an toàn dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản; tiếp tục củng cố, thành lập mới và nâng cao hiệu quả họat động của các ban quản lý vùng nuôi thủy sản
- Tập trung hướng dẫn kỹ thuật, các biện pháp quản lý, tổ chức sản xuất đối với nghề nuôi các đối tượng thủy sản truyền thống như cá nước ngọt, lợ; tôm càng xanh xen trong mương vườn, tôm càng xanh luân vụ với tôm sú trên ruộng lúa
- Phát triển hình thức sản xuất theo mô hình trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã và các mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ theo hướng liên kết 4 nhà các đối tượng chủ lực như tôm sú, tôm chân trắng, cá tra gắn với hoạt động của ban quản lý vùng nuôi Đồng thời, nghiên cứu chuyển giao ứng dụng công nghệ vi sinh vật để xử lý nước thải và bùn đáy ao nuôi thủy sản thâm canh, bán thâm canh để sớm giải quyết vấn đề gây ô nhiễm môi trường hiện nay
- Rà soát, bổ sung quy hoạch chi tiết nuôi cá da trơn để ổn định diện tích nuôi
cá tra thâm canh; thực hiện cấp mã số nhận diện ao nuôi, mã số ao nuôi cá tra; tổ chức đăng ký diện tích, sản lượng nuôi cá tra thương phẩm; hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu xây dựng vùng nguyên liệu để ổn định sản xuất
- Hỗ trợ nông dân sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, bãi bồi ven biển, nguồn nước và đảm bảo vệ sinh môi trường trên cả 03 vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn; chú trọng vùng nuôi tôm chân trắng mới đưa vào quy hoạch và các vùng đệm giữa ngọt, lợ, mặn; đề xuất các biện pháp kỹ thuật hoặc biện pháp công trình phù hợp giúp nông dân luân canh, xen canh hợp lý các đối tượng cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản để ổn định sản xuất và nâng cao thu nhập