Tuy vậy các thách thức đặt ra đối với Việt Nam cũng không nhỏ, đó là: Cạnh tranh từ các nước trong khu vực; Suy thoái kinh tế toàn cầu; Thách thức từ các cam kết hội nhập trong lĩnh vực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Giải pháp phát triển ngành công
nghiệp tỉnh Bến Tre” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi và chưa
từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Trang 4Tác giả chân thành cảm ơn các cá nhân và lãnh đạo một số Sở, ban, ngành của tỉnh Bến Tre đã giúp đỡ tác giả có được những số liệu thống kê mới nhất, chính xác nhất, giúp cho luận văn được hoàn thiện với sự trung thực nhất
Tác giả mong muốn nhận được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy cô trong khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học và các thầy cô của Trường Đại học Nha Trang
để hoàn thiện luận văn và rút kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 13
1.1 Công nghiệp và phát triển công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 13
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm 13
1.1.2 Phân loại công nghiệp 15
1.1.3 Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 15
1.1.4 Quan điểm phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam 16
1.2 Phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh 22
1.2.1 Nguyên tắc phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh 22
1.2.2 Các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh 23
1.3 Vai trò và vị trí của công nghiệp đối với sự phát triển của địa phương 27
1.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả phát triển ngành công nghiệp địa phương 27 1.3.2 Vai trò, vị trí của công nghiệp 29
1.4 Những chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển ngành công nghiệp địa phương 31
1.4.1 Phát triển số lượng và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh 31
1.4.2 Về giá trị sản xuất công nghiệp 32
Trang 61.4.3 Về các nguồn lực của công nghiệp 33
1.4.4 Về các cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) 33
1.4.5 Về phát triển thị trường 34
1.4.6 Về quản lý nhà nước đối với công nghiệp 34
1.5 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp 34
1.5.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở nước ngoài 34
1.5.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp ở một số tỉnh trong nước 36
1.5.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Bến Tre 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE 39
2.1 Đánh giá các yếu tố tác động đến sự phát triển công nghiệp bến tre 39
2.1.1 Đánh giá các yếu tố điều kiện phát triển công nghiệp của tỉnh 39
2.1.2 Nhóm nhân tố quản lý nhà nước cấp tỉnh 48
2.1.3 Nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp công nghiệp 53
2.2 Thực trạng phát triển công nghiệp ở Bến Tre giai đọan 2010-2016 56
2.2.1 Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất công nghiệp 56
2.2.2 Đánh giá điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Bến Tre 63
2.2.3 Kết quả đạt được về đầu tư và hiệu quả vốn đầu tư 70
2.2.4 Trình độ khoa học công nghệ ngành công nghiệp 72
2.2.5 Hiện trạng các khu, cụm công nghiệp 73
2.2.6 Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển công nghiệp 74
2.3 Đánh giá chung 78
2.3.1 Kết quả đạt được 78
2.3.2 Hạn chế trong phát triển công nghiệp 79
2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế 80
Trang 7CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE ĐẾN NĂM 2020 81
3.1 Định hướng chung 81
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020 81
3.1.2 Định hướng và mục tiêu phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến 2020 82
3.2 Giải pháp chủ yếu 86
3.2.1 Giải pháp về quy hoạch và kế hoạch phát triển công nghiệp 86
3.2.2 Giải pháp về vốn và thu hút đầu tư 90
3.2.3 Giải pháp về hoàn thiện chính sách 91
3.2.4 Giải pháp về xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển công nghiệp 93
3.2.5 Giải pháp về nguồn nhân lực 94
3.2.6 Giải pháp về phát triển kỹ thuật - công nghệ 95
3.2.7 Giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước và tổ chức thực thi của các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh 95
3.3 Kiến nghị 100
3.3.1 Đối với Trung ương 100
3.3.2 Đối với tỉnh 100
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dân số và mật độ dân số tỉnh Bến Tre năm 2015 so với vùng ĐBSCL 44 Bảng 2.2: Giá trị sản xuất toàn ngành Công nghiệp tỉnh Bến Tre, năm 2000 - 2011 49 Bảng 2.3: Diện tích các khu công nghiệp tại Bến Tre 51 Bảng 2.4: Số doanh nghiệp hoạt động theo ngành kinh tế tại tỉnh Bến Tre năm 2014 - 2016 53 Bảng 2.5: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân năm của các doanh nghiệp Công nghiệp tại tỉnh Bến Tre, năm 2014 - 2016 54 Bảng 2.6: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân năm của doanh nghiệp theo ngành kinh
tế trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2014 – 2016 55 Bảng 2.7: Số lượng lao động trong các loại hình doanh nghiệp tại Bến Tre 55 Bảng 2.8: Giá trị sản xuất công nghiệp khối ngành chủ đạo trong Tỉnh, giai đoạn
2014 – 2016 56 Bảng 2.9: Giá trị sản xuất theo thành phần kinh tế trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2014 – 2015 58 Bảng 2.10: Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế trong Tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2011 – 2016 59 Bảng 2.11: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành công nghiệp trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 – 2016 60 Bảng 2.12: Sản phẩm công nghiệp trong Tỉnh giai đoạn 2014 – 2016 62 Bảng 2.13: Tốc độ tăng trưởng GDP cả tỉnh và trên đầu người của tỉnh Bến Tre thời kỳ
2011 – 2015 63 Bảng 2.14: chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành (giá HH) trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 – 2015 64 Bảng 2.15: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế (giá HH) trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 – 2015 64 Bảng 2.16: Tình hình thu, chi ngân sách trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 – 2015 65 Bảng 2.17: Kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu hàng hóa XK trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn
2011 – 2015 66
Trang 10Bảng 2.18: Các chỉ tiêu ngành thông tin liên lạc trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 – 2016 68 Bảng 2.19: Vốn đầu tư trong Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 – 2015 69 Bảng 2.20: Khu và cụm công nghiệp trong Tỉnh Bến Tre 73 Bảng 2.21: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành công nghiệp so với mục tiêu đặt ra của Tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 – 2015 74 Bảng 2.22: Giá trị xuất khẩu công nghiệp tại tỉnh Bến Tre, Năm 2009 - 2016 78
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 39 _Toc485228019Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp trong Tỉnh giai đoạn
2010 – 2016 78
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Giới thiệu về chủ đề nghiên cứu
Bến Tre là một tỉnh đang chuyển mình trong việc phát triển ngành công nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn
đề tạo việc làm, nâng cao thu nhập, thu hẹp và tiến tới xóa đói giảm nghèo, chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ Tận dụng những lợi thế sẵn có để phát triển công nghiệp như điều kiện thiên nhiên, sản lượng dừa, lợi thế biển, cây trồng,… tỉnh Bến Tre đã ít nhiều tạo nên thế mạnh trong việc phát triển, tuy nhiên chưa tạo được bước phát triển mạnh
mẽ, đột phá
Vì vậy, đề tài luận văn “Giải pháp phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre”
được hình thành với lý do nhằm đóng góp những giải pháp thiết thực, hiệu quả; cũng như những kiến nghị giúp cho việc phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre ngày càng lớn mạnh
2 Mục tiêu của nghiên cứu
Đề tài tập trung vào các mục tiêu sau:
- Phân tích các yếu tố chủ yếu tác động đến phát triển công nghiệp và tình hình phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre
- Nêu ra điểm xuất phát của nền công nghiệp, các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và thách thức đối với triển vọng phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre
- Kiến nghị các giải pháp phát triển công nghiệp phù hợp với tỉnh Bến Tre hiện nay
3 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Ngoài những phương pháp truyền thống mang tính phương pháp luận, trong luận văn này sử dụng phương pháp phân tích thực chứng, so sánh tổng hợp, thống kê
- Phương pháp thu thập thông tin Phương pháp thống kê Phương pháp so sánh
- Bên cạnh đó sử dụng các mô hình thích ứng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp
4 Tóm lược các kết quả nghiên cứu đã đạt được
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hoạt động công nghiệp của tỉnh Bến Tre: Tập trung nghiên cứu quá trình phát triển công nghiệp, các nhân tố tác động bên trong đến phát triển công nghiệp trên địa bản tỉnh Bến Tre 2010-2016, trong đó nhân
Trang 13tố quản lý nhà nước của chính quyền địa phương là chủ yếu Phần định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp chủ yếu tập trung đến năm 2020
* Kết quả nghiên cứu của đề tài về mặt khoa học và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài giai đoạn 2010 -
2016 được thu thập từ các nguồn dữ liệu minh bạch, làm phong phú hơn lý luận về công nghiệp và phát triển công nghiệp, khả năng áp dụng trong thực tiễn để đánh giá thực trạng, kết quả hoạt động sản xuất công nghiệp Đồng thời làm cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách và bổ sung
các giải pháp để phát triển công nghiệp
- Về mặt thực tiễn: Luận văn nêu bật được thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre, đồng thời rút ra những nguyên nhân để làm cơ sở khoa học tìm ra các giải pháp, các đề xuất và kiến nghị cho việc phát triển công nghiệp của tỉnh đến năm 2020
5 Kết luận và kiến nghị
* Những kiến nghị đối với Chính phủ
Đề nghị Chính phủ tăng cường bố trí vốn hàng năm để giúp tỉnh đẩy nhanh phát triển cơ sở hạ tầng; đồng thời cân đối phân bổ các nguồn ODA, NGOs và lựa chọn một số tập đoàn, tổng công ty tham gia đầu tư trên địa bàn Bộ Công Thương cần hỗ trợ và phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020; đồng thời cân đối nguồn vốn hỗ trợ Tỉnh triển khai quy hoạch
* Những kiến nghị đối UBND tỉnh Bến Tre
Đề nghị UBND tỉnh sớm hoàn thiện quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và quy hoạch các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020; và
tổ chức triển khai 2 quy hoạch này Đồng thời cho tiến hành tổng kiểm tra, rà soát các quy hoạch, kế hoạch, chính sách để có sự bổ sung, điều chỉnh
Tỉnh nên có kế hoạch và xúc tiến ngay việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán
bộ kỹ thuật có trình độ phục vụ yêu cầu QLNN về công nghiệp trên địa bàn
6 Từ khóa
Phát triển, công nghiệp, Bến Tre
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới, như đường lối đổi mới kinh tế của Đảng đã xác định: đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp Muốn trở thành một nước công nghiệp, chúng ta cần phải có những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, dự báo được mức tăng trưởng của nước ta mười, hai mươi năm sau và theo đúng yêu cầu của thời kỳ đổi mới là đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần có những chiến lược phát triển lâu dài, chú trọng vào đẩy mạnh phát triển công nghiệp
Việc đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề tạo việc làm, nâng cao thu nhập, thu hẹp và tiến tới xóa đói giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đề ra chủ trương đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước Đại hội IX tiếp tục đề ra mục tiêu đưa nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Bến Tre là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông cửu long, rất có tiềm năng phát triển nông nghiệp và công nghiệp (như điều kiện thiên nhiên ưu đãi, sản lượng dừa, thủy sản, cây ăn quả, nguồn lao động dồi dào… ) Thực tiễn cho thấy, hơn 20 năm tập trung phát triển nông nghiệp, Bến Tre cũng chỉ “đủ ăn” và bước đầu xóa được đói nghèo; thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 1.600 USD/năm (2015); chưa tạo được
sự phát triển mạnh mẽ, đột phá Bài học ban đầu là muốn phát triển kinh tế phải quan tâm nhiều hơn cho phát triển công nghiệp trên cơ sở tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh
Vì thế, từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (2000-2005), tỉnh đã xác định hai lợi thế là kinh tế vườn (với trọng tâm là cây dừa và cây ăn trái) và kinh tế biển (trọng tâm là đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản), và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (2005-2010) đã xác định tập trung phát triển công nghiệp trên cơ sở hai lợi thế nêu trên để đẩy mạnh phát triển kinh tế của tỉnh ngang bằng với các tỉnh trong khu vực và cả nước
Để thực hiện quyết tâm trên, công nghiệp Bến Tre cần phát triển theo hướng nào? Với những ngành công nghiệp chủ lực gì? Cần có bước đi, chính sách và giải
Trang 15pháp như thế nào? Đó là vấn đề bức thiết và là câu hỏi lớn đối với những nhà lãnh đạo, quản lý của tỉnh
Với mong muốn góp một phần vào việc tìm ra lời giải cho câu hỏi trên, tác giả
quyết định chọn đề tài “Giải pháp phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre” làm
luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Ở cấp quốc gia, đã có những công trình, đề tài liên quan như
- Kenichi Ohno - Viện Quốc gia sau đại học về Nghiên cứu chính ở Tokyo (Nhật Bản) trong "Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam", trích lược: Việt Nam là nơi ông gắn bó phần lớn thời gian và nhận thấy rằng mình nên sống ở đây Sau một thời gian dài nghiên cứu kinh tế Việt Nam, ông đưa ra kết luận rằng "đất nước các bạn mới chỉ huy động được một phần nhỏ trong tiềm năng lớn lao của mình
Vì vậy, đổi mới chính sách là cần thiết để giải phóng sức phát triển của Việt Nam"
- Phạm Xuân Nam (chủ biên): “Công nghiệp hóa hiện đại - bước chuyển quan trọng đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp” Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nghề nông, đến nay đã xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng được cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển toàn bộ mọi hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền kinh tế có tư duy công nghiệp Quy mô của nền kinh tế tăng nhanh, thu nhập đầu người vượt khỏi ngưỡng thu nhập thấp, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có mức thu nhập trung bình Kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới Những thành tựu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đưa đất nước ngày càng phát triển, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân và góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng
Những năm qua, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng bước đầu đạt được một số kết quả nhất định Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả đã đem lại nhiều nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta Đồng thời, làm cho hệ thống chính sách, pháp luật, thể chế và quá trình thực thi có bước tiến quan trọng và ngày càng hiệu quả Với những thành quả đạt được đã tạo ra cho nước ta thế và lực lớn hơn nhiều so với trước Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên Đây chính là những tiền đề quan
Trang 16trọng để đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp
Tuy nhiên, đất nước còn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen lẫn nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây đã bị suy giảm, cho thấy mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta có những điểm không còn phù hợp; công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang chững lại; hiệu quả sử dụng nguồn lực còn nhiều hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực thấp so với yêu cầu; một số vấn đề xã hội phát sinh chậm được giải quyết Trong khi
đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm, tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài
“dân chủ”, “nhân quyền”, hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta Tất cả những vấn đề đó ảnh hưởng không nhỏ tới công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngoài ra, các nghị quyết thường bao hàm quá nhiều nội dung nhưng lại thiếu những giải pháp có tính khả thi và cụ thể, nên dẫn tới tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả; các định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong từng thời kỳ chưa có trọng tâm, trọng điểm; giải pháp thiếu đồng bộ, nhất là trong mối quan hệ hoàn thiện thể chế, xây dựng chính sách đi đôi với giải pháp, cân đối các nguồn lực
- Bộ Công nghiệp (1999), “Chiến lược phát triển công nghiệp đến năm 2010”,
Hà Nội: Chính sách công nghiệp phù hợp sẽ giúp các nước đang phát triển tăng trưởng kinh tế, tăng cường khả năng hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế quốc tế Ngay từ những năm 60 Việt nam đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Để thực hiện được chủ trương chiến lược đó Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách công nghiệp Đặc biệt, trong những năm đổi mới, nhiều chính sách công nghiệp mới đã được đưa ra nhằm đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng và phát triển kinh tế phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và sự hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam
Trang 17Tuy nhiên hệ thống chính sách này chưa đồng bộ, việc hoạch định các chính sách này còn nhiều bất cập, việc triển khai và thực thi chính sách còn nhiều hạn chế
Vì vậy, hiệu quả kinh tế của chính sách công nghiệp còn chưa cao, chưa tương xứng với tìm năng phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập và yêu cầu phát triển công nghiệp trong điều kiện mới
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996), Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng thời kỳ 1996-2010, Hà Nội: Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam phát động từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước đến nay đã thu được kết quả
to lớn và toàn diện Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước tiến vững chắc, nhịp độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, an ninh xã hội được đảm bảo, tỉ lệ đói nghèo cũng đã giảm rõ rệt, Việt Nam đã được thế giới thừa nhận là một trong những nước đang phát triển và thực hiện xoá đói giảm nghèo có hiệu quả nhất Quy mô giáo dục cũng tăng khá nhanh, năm 2000 cả nước đã hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học và đang phấn đấu thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục Trung học cơ sở vào năm 2010
Tuy nhiên, trong quá trình đạt được những thành tựu trên thì chúng ta còn phải đối mặt với những vấn đề xã hội như: khắc phục sự phát triển không đều giữa các vùng, giảm dần khoảng cách giữa giàu và nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp, chống các tệ nạn xã hội, tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái, Vì vậy, chất lượng giáo dục- đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực luôn là đề tài muôn thuở của dư luận xã hội cũng như các phương tiện thông tin đại chúng Vì: “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển, muốn trở thành cường quốc đều phải có nguồn nhân lực được đào tạo và đáp ứng được yêu cầu trong môi trường cạnh tranh khốc liệt Có thể nói, đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo là nhiêm vụ của toàn xã hội Trong những năm gần đây, Việt Nam dần hội nhập vào đời sống kinh tế toàn cầu, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao là rất cấp thiết, trên chặng đường hoàn thiện đội ngũ nhân lực mới, chúng ta cũng vấp phải không ít những khó khăn thách thức, và còn nhiều bất cập trong hệ thống giáo dục, đòi hỏi cần có những biện pháp thiết thực và những hành động thực tế
- Mô hình phát triển song trùng hai khu vực của Nhà kinh tế học người Anh W
A Lewis (1954): Diễn tả sinh động sự liên quan giữa nông nghiệp và công nghiệp, vai trò của nông nghiệp là cung cấp lao động, hàng nông sản nguyên liệu và thị trường
Trang 18tiêu thụ hàng hóa cho công nghiệp, ngược lại, công nghiệp phát triển sẽ thu hút lao động dư thừa ở nông thôn và cung cấp các sản phẩm (máy gặt, máy bơm nước, thuốc trừ sâu, phân bón ) cho nông nghiệp, góp phần tăng năng suất lao động và hiệu suất đất canh tác
- Quá trình chuyển đổi công nghiệp khu vực nông thôn ở Đông Á; phát triển công nghiệp theo cụm - nhìn từ khu vực Đông Á của Keijiro Otsuka, Cơ quan nghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế, Tokyo (2006): Tập trung vào sự chuyển đổi công nghiệp ở khu vực nông thôn và sự phát triển cụm công nghiệp gắn với phát triển công nghiệp nông thôn ở các nước Đông Á
Các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng chú trọng đầu tư phát triển công nghiệp thành ngành kinh tế mũi nhọn Ngày 23/12/2013, Lê Dương Quang đã chủ trì Hội nghị Tham tán thương mại 2013 chuyên đề về Chiến lược phát triển công nghiệp đến năm
2020 Các Tham tán Thương mại và đại diện các đơn vị chức năng thuộc Bộ Công Thương đã tham dự và thảo luận tại Hội nghị
Tại Hội nghị, các đại biểu đã theo dõi phần trình bày của ông Dương Đình Giám, nhận định tổng quan về tình hình phát triển, theo ông Giám, công nghiệp năm
2013 của nước ta đã đạt được những thành tựu nổi bật Công nghiệp đã đạt được mức tăng trưởng cao trong một thời gian khá dài, bình quân đạt trên 15%; Công nghiệp đã đạt được mức tăng trưởng ở cả 3 khu vực: Nhà nước, ngoài Nhà nước và đầu tư nước ngoài; Vị thế của ngành công nghiệp nước ta ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế quốc dân, sản phẩm công nghiệp ngày càng phong phú và đa dạng, đảm bảo cung ứng các sản phẩm và nguyên liệu thiết yếu cho cả tiêu dùng và sản xuất; Xuất khẩu chiếm trên 80% kim ngạch
Tuy nhiên, báo cáo của ông Dương Đình Giám cũng chỉ rõ những hạn chế của ngành công nghiệp nước ta trong năm qua Theo đó, giá trị gia tăng (VA) thấp và có
xu hướng giảm; Hiệu quả đầu tư và trình độ công nghệ còn thấp; Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy tác dụng; Phân bố không gian công nghiệp còn thiếu hợp lý;
Sự hợp tác, liên kết trong phát triển công nghiệp còn yếu; Công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên, phụ liệu; Công tác xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch còn yếu, v.v…
Từ thực tế này, các ngành công nghiệp Việt Nam cần rút ra nhiều bài học: Đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu; Không đầu tư dàn trải, có trọng
Trang 19tâm cho từng giai đoạn; Điều chỉnh phân bố không gian công nghiệp hợp lý; Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, ưu tiên các nhà đầu tư chiến lược; Nâng cao chất lượng các chiến lược, quy hoạch; Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn nền kinh tế
Bên cạnh đó, Dương Đình Giám cũng phân tích những cơ hội cùng thách thức đối với ngành công nghiệp Việt Nam Về cơ hội, Việt Nam đang đón đầu được làn sóng đầu tư ra nước ngoài mạnh mẽ, đặc biệt là từ Nhật Bản và Hàn Quốc Biến động
về địa chính trị của khu vực thời gian gần đây đã tạo ra xu hướng dịch chuyển của các dòng đầu tư Các FTA giữa Việt Nam, ASEAN và các nước đối tác (TPP, VN-EU, ASEAN+6…) đã mở ra cơ hội thị trường rộng lớn cho nước ta Tuy vậy các thách thức đặt ra đối với Việt Nam cũng không nhỏ, đó là: Cạnh tranh từ các nước trong khu vực; Suy thoái kinh tế toàn cầu; Thách thức từ các cam kết hội nhập trong lĩnh vực công nghiệp trong khuôn khổ các FTA; Biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường, an ninh năng lượng ngày càng trở nên nghiêm trọng, v.v…
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng công nghiệp Việt Nam, việc đề xuất chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam thời gian tới cần dựa trên các quan điểm: Khai thác triệt để lợi thế trong nước và cơ hội quốc tế; Tham gia chủ động
và hiệu quả vào mạng lưới sản xuất công nghiệp khu vực và quốc tế; Thu hút đầu tư có chọn lọc; Huy động tối ta mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế; Phát triển các ngành, sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giá trị xuất khẩu lớn, quy trình công nghệ hiện đại; Làm nền tảng quan trọng cho hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo các yêu cầu về quốc phòng, an ninh quốc gia; Gắn với tăng trưởng xanh, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Trên quan điểm chiến lược đó, nội dung chiến lược và các định hướng ưu tiên của công nghiệp Việt Nam trong thời gian tới bao gồm: Điều chỉnh mô hình tăng trưởng công nghiệp; Phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên; Phân bố không gian công nghiệp Về vấn đề điều chỉnh mô hình tăng trưởng công nghiệp, cần từng bước điều chỉnh từ chủ yếu dựa trên số lượng sang chất lượng, dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả Điều chỉnh gắn với nâng cao hiệu quả huy động các nguồn lực, nhằm tăng khả năng cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam Tăng trưởng gắn với nâng cao trình độ công nghệ, năng suất lao động Tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp Đối với việc phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, cần khai thác một cách hiệu quả do nguồn lực này là
Trang 20có hạn Việt Nam cần lựa chọn hợp lý để tạo động lực cho phát triển Các lĩnh vực công nghiệp ưu tiên bao gồm: Công nghiệp chế biến, chế tạo; điện tử và viễn thông; năng lượng mới và năng lượng tái tạo Về vấn đề điều chỉnh phân bố không gian công nghiệp, mục tiêu cần đảm bảo phù hợp giữa các vùng; làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cân đối giữa các địa phương, vùng, miền; giải quyết tình trạng mật độ công nghiệp ở một vài khu vực quá cao; Đảm bảo mỗi ngành công nghiệp có thể khai thác tối đa lợi thế tại chỗ và tận dụng tốt nhất các đặc điểm về hạ tầng, vị trí địa lý của từng khu vực; thực hiện liên kết hiệu quả giữa các địa phương, vùng, miền; Tạo động lực cho quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn; đảm bảo phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và các nguồn lực cho phát triển công nghiệp và an ninh quốc phòng; đẩy nhanh nâng cấp hạ tầng và điện khí hóa nông thôn miền núi
Các đại biểu đã cùng nhau phân tích về những giải pháp phát triển cho ngành công nghiệp của Việt Nam Theo đó, về giải pháp trước mắt, nhiều đại biểu cho rằng cần phải đổi mới thể chế phát triển công nghiệp kết hợp với việc phát triển hệ thống dịch vụ công nghiệp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Bên cạnh đó, về giải pháp dài hạn, chúng ta cần lựa chọn đối tác chiến lược cho các ngành công nghiệp ưu tiên; Điều chỉnh chất lượng tăng trưởng công nghiệp; Đẩy mạnh hoạt động khoa học công nghệ; Phát triển công nghiệp hỗ trợ; Điều chỉnh cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ; Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Liên quan đến việc lựa chọn đối tác chiến lược, các đại biểu đề xuất Chính phủ cần có nhiều chính sách ưu đãi hơn đối với các nhà đầu tư để nâng cao khả năng thu hút các doanh nghiệp này Bên cạnh đó, cần chuẩn bị kỹ một số dự án đầu tư quan trọng, chọn và mời trực tiếp một số tập đoàn lớn Một số các ý kiến khác cũng cho rằng, chúng ta phải đẩy mạnh đầu tư cho công nghiệp sản xuất nguyên, phụ liệu để giảm thiểu việc nhập khẩu vấn đề này từ nước ngoài, giúp tăng cường khả năng chủ động sản xuất
Kết luận tại Hội nghị, Lê Dương Quang cho rằng, chiến lược phát triển công nghiệp từ nay đến năm 2020 là một chính sách trọng tâm được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chú trọng đầu tư Để thực hiện thành công chiến lược này đòi hỏi chúng
ta phải vận dụng tất cả mọi nguồn lực, trí tuệ và sáng tạo của các Bộ, ngành, doanh nghiệp, địa phương Trong đó vai trò thông tin, tham mưu và kết nối thị trường của các Thương vụ là vô cùng quan trọng
Trang 21Đối với một số ngành công nghiệp mũi nhọn, chúng ta đã có chủ trương để tập trung phát triển, tuy nhiên cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh đồng
bộ Thời gian tới Bộ sẽ trình Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, đồng thời tập trung chỉ đạo, ưu tiên xây dựng cơ chế chính sách, môi trường đầu tư, kinh doanh cho các ngành công nghiệp mũi nhọn Thứ trưởng nhấn mạnh thêm, chỉ có làm tốt các công tác này chúng ta mới đạt được mục tiêu đến năm 2020
cơ bản trở thành nước công nghiệp
2.2 Ở các tỉnh, thành phố trong nước
Đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Thanh Hóa… và các quy hoạch phát triển công nghiệp, các ngành công nghiệp chủ lực trên địa bàn từng tỉnh, thành phố như:
- Trần Thị Mỹ Ái với luận văn “Phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi”; đã chỉ ra được mặt mạnh, yếu kém trong phát triển công nghiệp của tỉnh, xác định được tiềm năng, thế mạnh và các nguồn lực phát triển công nghiệp và đề xuất các giải pháp phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi, cùng với xu hướng phát triển chung của đất nước, kinh tế Quảng Ngãi với những lợi thế và thách thức cho một thời kỳ phát triển
để đến năm 2020 trở thành một tỉnh công nghiệp, là nền tảng cơ bản để thực hiện mục tiêu xã hội công bằng dân chủ văn minh Tận dụng những lợi thế, vượt qua những khó khăn, đưa công nghiệp Quảng Ngãi phát triển ổn định, bền vững, từ đó tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu giảm nghèo, giải quyết việc và bảo đảm an sinh xã hội, nhưng vẫn chưa tìm ra được ngành công nghiệp nào là chủ lực để nâng cao hiệu quả phát triển ngành công nghiệp
- Nguyễn Thị Hải Hà luận văn thạc sĩ với đề tài “Phát triển công nghiệp ở Hải Phòng”; trên cơ sở nghiên cứu lý luận về phát triển công nghiệp, tình hình phát triển công nghiệp của Việt Nam, luận văn phân tích đặc điểm, vai trò và thực trạng phát triển ngành công nghiệp Hải Phòng từ năm 1996 đến nay, nêu bật những thành tựu, những vấn đề còn tồn tại, đề xuất quan điểm, định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp Hải Phòng trong bối cảnh mới của Việt Nam và thế giới, nhưng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển nên những giải pháp đó không còn phù hợp với hiện nay
Trang 22- Tô Hiến Thà với luận án tiến sĩ về đề tài “Phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Việt Nam theo hướng bền vững”; Luận án được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho những giải pháp phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Việt Nam theo hướng bền vững, hạn chế luận án nghiên cứu phát triển công nghiệp nói chung, không đi sâu nghiên cứu chi tiết ở các phân ngành công nghiệp cụ thể, luận án không chú trọng nghiên cứu, đề xuất các giải pháp mang tính kỹ thuật, mà chủ yếu là các quan điểm và các giải pháp mang tính định hướng, tính phương pháp luận của kinh tế chính trị nhằm phát triển công nghiệp theo hướng bền vững
Trong bài báo "Sustainable development and local industry" được trích trong tạp chí "Principles Of Sustainable development – Vol I", tác giả Johannes Cornelis van Weenen đã đề cập đến một số giải pháp nhằm phát triển bền vững công nghiệp tại địa phương Ngoài ra, các doanh nghiệp bền vững mới cũng có thể được thiết lập, dựa trên các giá trị, sứ mệnh hoặc tầm nhìn rõ ràng cho thấy sự lựa chọn để đáp ứng các nhu cầu cơ bản và sử dụng các nguồn lực bền vững vốn có Với bài báo trên cũng giúp ích cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và đề ra giải pháp phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre
Hầu như các đề tài đều nghiên cứu về quá trình phát triển công nghiệp của từng địa phương; chỉ ra được vai trò của phát triển công nghiệp đối với phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương; những nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp; chỉ ra được các thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế và đưa ra các giải pháp phát triển công nghiệp cho từng địa phương nhất định
Ở trong tỉnh, tính tới thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu, đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre Thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành liên quan
có đề ra một số chính sách như: Chính sách phát triển ngành chế biến dừa, Chính sách
ưu đãi đầu tư, Quy hoạch đất phát triển công nghiệp Hiện tại, Ủy ban nhân dân tỉnh đang chỉ đạo xây dựng Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm
2020, chương trình phát triển sản phẩm chủ lực của tỉnh
Trong luận văn, tác giả đã phân tích được các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp và tình hình phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre để chỉ ra điểm xuất phát của nền công nghiệp, các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với triển vọng phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre, trên cơ sở đó kiến nghị các giải
Trang 23pháp phát triển công nghiệp phù hợp với tỉnh Bến Tre hiện nay Ngoài ra, luận văn đã phân tích thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh giai đoạn 2010 - 2016, chỉ ra những mặt thành công, các vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất định hướng, giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020
Thông qua đó phân tích các yếu tố chủ yếu tác động đến phát triển công nghiệp
và tình hình phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre để chỉ ra điểm xuất phát của nền công nghiệp, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp phát triển công nghiệp phù hợp với tỉnh Bến Tre hiện nay
Phân tích thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh giai đoạn 2010 - 2016, chỉ ra những mặt thành công, các vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn ở tỉnh Bến Tre đến năm 2020
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về công nghiệp và phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre
từ năm 2010-2016
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết để làm rõ các nhân tố tác động đến phát triển công nghiệp của tỉnh, dựa vào thực trạng đề ra chiến lược phát triển thiết thực nhất cho ngành công nghiệp tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu quá trình phát triển công nghiệp, các nhân tố tác động bên trong tỉnh đến phát triển công nghiệp trên địa bản tỉnh Bến Tre 2010-2016, trong đó nhân tố quản lý nhà nước của chính quyền địa phương là chủ yếu Phần định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp chủ yếu tập trung đến năm 2020
Trang 245 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Vai trò và vị trí của công nghiệp đối với sự phát triển của địa phương
Kinh nghiệm phát triển công nghiệp trong và ngoài nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài những phương pháp truyền thống mang tính phương pháp luận, trong luận văn này sử dụng phương pháp phân tích thực chứng, so sánh tổng hợp, thống kê
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin thứ cấp (thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn): Thông qua các tài liệu văn bản, sách báo, tạp chí, sổ sách, báo cáo, website và tư liệu do các ngành có liên quan cung cấp
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp tổng hợp các số liệu của các hiện tượng để tiến hành phân tích, so sánh nhằm làm rõ những vấn đề thuộc bản chất của hiện tượng nghiên cứu Qua các số liệu thống kê, ta có thể thấy được tính quy luật của các hiện tượng và rút ra được những nhận xét và kết luận đúng đắn
- Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh các yếu tố định lượng hoặc định tính
So sánh phân tích các yếu tố, chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng nội dung, tính chất tương tự để xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu
- Bên cạnh đó sử dụng các mô hình thích ứng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Xem xét một cách tổng hợp những yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp
và tình hình phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre để chỉ ra điểm xuất phát của nền công nghiệp, các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với triển vọng phát triển ngành công nghiệp tỉnh Bến Tre
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển khu công nghiệp của tỉnh thực tế và trung thực nhất
Trang 25Luận văn đã đề ra các giải pháp là nhằm góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách phát triển công nghiệp của Tỉnh đến năm 2020 Ngoài ra, luận văn còn là một tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế
- Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre
- Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020
Trang 26CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP
1.1 Công nghiệp và phát triển công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1 Khái niệm công nghiệp
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế,
là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật
Theo Từ điển tiếng Việt, công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm
Từ hai khái niệm trên cho thấy, công nghiệp bao gồm những hoạt động sản xuất, bắt đầu từ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, tách đối tượng lao động ra khỏi thiên nhiên và hoạt động chế biến các tài nguyên có được từ khai thác, làm thay đổi hoàn toàn về chất các nguyên liệu ban đầu để biến chúng thành những sản phẩm tương ứng hoặc nguồn nguồn nguyên liệu tiếp theo để sản xuất ra các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu đa dạng của con người Ở đây, chúng ta chưa thấy đề cập đến ngành công nghiệp sửa chữa, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt; đây là hoạt động không thể thiếu khi đề cập đến công nghiệp, nó xuất hiện sau công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến Chính vì vậy, tác giả đồng quan điểm với các tác giả cuốn “Kinh tế và quản lý công nghiệp” (1997), công nghiệp gồm ba loại hoạt động chủ yếu: khai thác tài nguyên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy (khoáng sản, động thực vật); sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội; các ngành sửa chữa, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt (Nguyễn Đình Phan, 1997)
Trang 27Trong ba loại hoạt động trên, hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp, tác động của quá trình này là tách đối tượng lao động ra khỏi môi trường tự nhiên, hoạt động chế biến là hoạt động thứ hai có đặc điểm làm thay đổi hoàn toàn về chất các nguyên liệu nguyên thủy và có thể tạo ra sản phẩm tương ứng hoặc có thể từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau để sản xuất ra một sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt hoặc trong sản xuất, hoạt động sửa chữa là hoạt động thứ ba, không thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài thời gian
sử dụng các thiết bị, máy móc, tư liệu phục vụ cho lao động sản xuất và các sản phẩm dùng trong sinh hoạt; công nghiệp sửa chữa là hoạt động có sau công nghiệp khai thác
và công nghiệp chế biến
1.1.1.2 Đặc điểm
Công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, là một
hệ thống bao gồm nhiều ngành sản xuất chuyên môn hóa hợp thành từ những đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình tổ chức sản xuất khác nhau.Với tư cách là ngành sản xuất vật chất, công nghiệp khác các ngành sản xuất vật chất khác ở các đặc điểm về mặt kỹ thuật - sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất
Mặt kỹ thuật - sản xuất của công nghiệp được thể hiện ở những khía cạnh sau: đặc trưng về công nghệ sản xuất, về sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất, là hoạt động sản xuất chủ yếu tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu sản xuất và tư liệu lao động trong các ngành kinh tế (đặc trưng này quy định vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân), đặc trưng về mặt
kỹ thuật - sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức quá trình sản xuất và chế biến, ứng dụng khoa học - công nghệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguyên liệu
Mặt kinh tế - xã hội của công nghiệp thể hiện là ngành có điều kiện phát triển về tổ chức, lực lượng sản xuất trong công nghiệp có thể phát triển nhanh ở trình độ cao, nhờ đó quan hệ sản xuất có tính tiên tiến hơn Trong quá trình sản xuất công nghiệp, hình thành nên đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao; công nghiệp phát triển, phân công lao động ngày càng sâu, tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa ở trình độ cao, đặc trưng này có ý nghĩa thiết thực trong việc tổ chức sản xuất, trong việc phát huy vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với các ngành kinh tế quốc dân
Trang 281.1.2 Phân loại công nghiệp
- Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: người ta có thể chia công nghiệp
thành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất;
và theo đó có 2 nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Đối với các nước đang phát triển, việc phân chia này rất có ý nghĩa đối với việc tính tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sản xuất so với tư liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu, đặc biệt đối với các nền kinh tế theo đuổi chiến lược thay thế hàng nhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu
- Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: người ta chia công nghiệp
thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến, việc phân loại này có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
- Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật – công nghệ sản xuất: người ta chia công
nghiệp thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật – công nghệ, hoặc cùng phương pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có công dụng cụ thể tương tự nhau, cách phân chia này
có ý nghĩa đối với việc quy hoạch các ngành công nghiệp dưa trên cân đối liên ngành
- Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: người ta chia công
nghiệp thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc phân chia này có ý nghĩa cho việc xây dựng chính sách để phát triển các thành phần kinh tế phù hợp với chiến lược chung của mỗi quốc gia
- Dựa vào quy mô doanh nghiệp: người ta chia công nghiệp thành công nghiệp
lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ, việc phân chia này là cơ sở cho việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ
1.1.3 Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Công nghiệp đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế: công
nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân, vừa tạo ra tư liệu tiêu dùng, vừa tạo ra tư liệu sản xuất; trình độ phát triển công nghiệp là một trong những tiêu chí để đánh trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia Công nghiệp là ngành có năng suất lao động cao, có giá trị gia tăng lớn do có kỷ luật lao động chặt chẽ
Trang 29và có điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ phổ biến nên nó có vai trò dẫn dắt cả về kinh tế lẫn kỹ thuật đối với các ngành khác trong nền kinh tế
- Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo hướng HĐH: công nghiệp tạo đầu ra và điều kiện cho nông nghiệp phát triển, đồng thời thu
CNH-hút lao động từ khu vực nông thôn, góp phần cơ cấu lại lao động, nâng thu nhập và trình độ cho lao động nông thôn Khi thu nhập từ nông nghiệp, công nghiệp tăng lên sẽ khuyến khích tiêu dùng, là điều kiện để công nghiệp và dịch vụ phát triển
- Quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa:
Trong quá trình công nghiệp hóa đất nước, công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của nền kinh tế và có vai trò quyết định đối với quá trình tăng trưởng kinh
tế, công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, giúp giải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội, tạo tiền đề và môi trường đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa nền kinh tế theo hướng hiện đại
- Góp phần phát triển lực lượng sản xuất: công nghiệp là ngành có lực lượng
sản xuất phát triển ở trình độ cao hơn các ngành khác; đội ngũ lao động có tính kỷ luật cao, trình độ tiên tiến và với phẩm chất sáng tạo không ngừng của mình lực lượng này luôn tiếp cận với những tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại, chế tạo ra các công cụ lao động mới làm cho quá trình sản xuất công nghiệp - sản xuất của cải vật chất xã hội không ngừng phát triển
- Đảm bảo tăng cường tiềm lực quốc phòng: với đặc điểm kỹ thuật của mình,
công nghiệp trực tiếp sản xuất ra các khí tài, phương tiện phục vụ công tác đảm bảo an ninh quốc phòng, công nghiệp với tư cách là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế
sẽ tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế, giúp mỗi quốc gia có thêm nguồn lực để tăng cường tiềm lực quốc phòng, công nghiệp cũng góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa lĩnh vực an ninh quốc phòng (TS Đỗ Đức Định, 1999)
1.1.4 Quan điểm phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
1.1.4.1 Nhận thức về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp Quốc (UNIDO), CNH là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước
Trang 30với kỹ thuật hiện đại, đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế -
xã hội [22]
Quan niệm này cho thấy quá trình CNH bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự phát triển kinh tế mà cả sự tiến bộ về mặt xã hội.Ở nước ta, qua các thời kỳ khác nhau cũng có những quan điểm khác nhau về CNH Đối với nước ta là nước nông nghiệp kém phát triển, nếu không tập trung phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng mọi năng lực sản xuất thì không thể nói đến việc xây dựng một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại.Vì vậy, CNH được xem là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội xuyên suốt các nghị quyết Đại hội Đảng Từ Đại hội III đến Đại hội X, Đảng ta luôn xác định CNH là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ Tuy nhiên, qua các thời kỳ phát triển kinh tế, quan đểm về CNH có những thay đổi cơ bản
Trước Đại hội VII, quan niệm phổ biến về CNH ở nước ta là quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích lũy XHCN để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng; đường lối CNH được xác định là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Tuy nhiên, từ Đại hội giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã có quan niệm mới về CNH, gắn với HĐH CNH thực chất là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của XHCN, là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới cơ bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nghị quyết Hội nghị IX của Đảng nêu rõ: “Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCH” [9]
Từ những định hướng trên, có thể hiểu CNH hiện nay là một quá trình chuyển nền sản xuất từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động có kỹ thuật cùng với công nghệ tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội ngày càng cao;
là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp và khai thác tài nguyên là chủ
Trang 31yếu sang cơ cấu mới có công nghiệp đóng vai trò chủ đạo, tỷ trọng công nghiệp trong GDP ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn trên cơ sở khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi thế các mặt của quốc gia cũng như của từng vùng, miền của quốc gia
Trong khi đó, theo Phạm Kim Ích (1994), HĐH là một quá trình mà nhờ đó các
nước đang phát triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng cố cơ cấu xã hội của họ, nhằm tiến tới một hệ thống kinh tế
- xã hội và chính trị giống hệ thống của những nước phát triển (Phạm Kim Ích, 1994)
CNH phải gắn với HĐH, xem HĐH là cái đích cần vươn tới trong quá trình CNH Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII chỉ rõ: CNH - HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao, đó là một quá trình lâu dài [11]
CNH gắn với HĐH là phương hướng chủ đạo của các nước đang phát triển hiện nay Điểm then chốt nhất là phải CNH, HĐH thì các nước đang phát triển mới đuổi kịp các nước phát triển, tránh được nguy cơ tụt hậu
Ở đây, cần nhận thức rằng CNH không đồng nhất với quá trình phát triển công nghiệp CNH là quá trình rộng lớn và phức tạp, không chỉ là quá trình trang bị và trang
bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân mà còn là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội đạt mức nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội của đất nước với các nước phát triển
1.1.4.2 Quan điểm phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Từ những kinh nghiệm thực tiễn của quá trình xây dựng và phát triển đất nước
và những bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng ta đã quan tâm và ngày càng sang tỏ hơn về đường lối, quan điểm, chủ trương phát triển công nghiệp theo hướng CNH - HĐH, phù hợp với mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội
Trang 32của đất nước trong giai đoạn mới Đại hội IX của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI “Chiến lược đẩy mạnh CNH - HĐH theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp” [9]
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược 10 năm là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [9] Như vậy, đến năm 2020, được chia thành 2 chặng:
Từ 2000 - 2010: đẩy nhanh quá trình CNH, đưa đất nước vượt qua giai đoạn trung bình của quá trình CNH; là giai đoạn chuẩn bị cất cánh GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1000 USD vào năm 2010 (theo giá 1990) Hoàn chỉnh đồng bộ một bước cơ bản các kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt và chuẩn bị tiền đề cho bước sau – xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp
Hình thành một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn, cơ cấu kinh tế theo ngành và lĩnh vực tạo được hiệu quả cao và bền vững; cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hài hòa giữa vùng phát triển động lực và các vùng khác, tiếp tục thực hiện bước quan trọng trong việc hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Từ 2010 - 2020: đẩy nhanh HĐH, là giai đoạn đã hội đủ điều kiện mang tính tiền đề về kết cấu hạ tầng, khung thể chế, nguồn nhân lực, năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế… để đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Việc phát triển công nghiệp cần quán triệt những quan điểm sau:
+ Tăng tốc độ phát triển công nghiệp với tốc độ cao, nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế, phát triển nhanh các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, tự động hóa, đồng thời phát triển rộng khắp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng, vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nội bộ công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp chế tạo, chủ yếu là các ngành chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
Trang 33+ Về cơ cấu thành phần, các thành phần sở hữu trong công nghiệp được khuyến khích phát triển bình đẳng, các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp quốc doanh… đều có sân chơi bình đẳng Tuy nhiên, ở một số ngành trọng điểm có vai trò quyết định đến cơ cấu kinh tế, đòi hỏi vốn nhiều, thời gian thu hồi vốn lâu, hiệu quả kinh tế ngắn hạn không cao, khó thu hồi vốn thì kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo
+ Trong phát triển công nghiệp, cơ cấu ngành cần kết hợp với cơ cấu vùng và
cơ cấu thành phần để thực hiện các mục tiêu phát triển Kết hợp hướng ngoại với hướng nội, trong đó hướng ngoại là chủ yếu, chú ý hiệu quả kinh tế - xã hội, định hướng và tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn phát triển
Khi nghiên cứu CNH - HĐH ở Việt Nam, cần chú ý ba nội dung sau:
Một là, cần rút ngắn thời gian và đẩy mạnh CNH, các chuyên gia Ngân hàng
Phát triển Châu Á (ADB) tính rằng: nếu Việt Nam và các nước ASEAN giữ được tốc
độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1991-1998 thì Việt Nam muốn đuổi kịp Indonesia phải mất 19 năm, 22 năm đối với Philipinnes, 91 năm với Thái Lan và 108 năm với Malaysia Do vậy, muốn đuổi kịp các nước thì Việt Nam chỉ có con đường là phải tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao Muốn vậy, bên cạnh việc phát triển tuần
tự phải có bước đột phá, đi tắt đón đầu, đi ngay vào các ngành, lĩnh vực khoa học – công nghệ hiện đại, tiên tiến, đầu tư vào những ngành công nghiệp trọng điểm có sức thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh Để làm được việc đó, Việt Nam phải thực hiện con đường CNH rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Đại hội IX của Đảng khẳng định: con đường CNH - HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức [9]
Bài toán tốc độ CNH đối với các nước CNH muộn là vấn đề không mới Nếu trước đây Anh, Mỹ, Nhật Bản… mất hàng trăm năm để hoàn thành CNH thì các nước công nghiệp mới (NICs) chỉ cần vài chục năm đã hoàn thành quá trình đó, càng về sau thì thời gian CNH càng rút ngắn và điều đó có tính quy luật, khoa học - công nghệ là
Trang 34nền tảng của sự rút ngắn đó; các nước đi sau như Việt Nam có điều kiện tận dụng những thành tựu khoa học - công nghệ cho quá trình CNH, việc rút ngắn thời gian CNH nhắm tới mục tiêu chung là sớm đạt tới trình độ cao trong phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu bức xúc về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân Đối với nước ta, điều quan trọng nhất là có chiến lược, chính sách đúng đắn trong việc lựa chọn các ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn để phát triển, có khả năng lan tỏa và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển
Hai là, phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN Khác với các nước XHCN trước đây và nước ta ở những năm 60 - 70, quá trình CNH - HĐH ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo, nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi
để giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy mọi nguồn lực xã hội; nó thật sự tạo ra động lực, phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy được nội lực, thu hút ngoại lực cho công cuộc phát triển, tạo ra động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững Trong 10 năm tới, chúng ta cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ các loại thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học – công nghệ… để hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, bên cạnh việc phát huy mặt tích cực của kinh tế thị trường, cần chú ý hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực bằng sự quản lý của nhà nước
Ba là, quá trình CNH - HĐH ở nước ta phải là quá trình xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ gắn với hội nhập kinh tế quốc tế, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng gia tăng khiến cho các nước càng coi trọng hơn lợi ích quốc gia, dân tộc, bản sắc văn hóa và càng chú ý hơn đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đảm bảo vị thế và lợi ích quốc gia, dân tộc trong cuộc cạnh tranh gay gắt, khẳng định địa vị chính trị trên trường quốc tế, không bị lệ thuộc vào quốc gia khác, độc lập tự chủ trong điều kiện hiện nay phải được hiểu là trong các quan hệ kinh tế, chính trị không bị lệ thuộc vào sự áp đặt của người khác làm tổn hại đến chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc; hoặc trước tác động của khủng hoảng, chấn động bên ngoài hay bao vây cấm vận thì vẫn giữ được sự
ổn định, không bị sụp đổ về kinh tế và chế độ chính trị Do vậy, phát triển công nghiệp phải gắn với xây dựng và nâng cao tiềm lực quốc phòng an ninh
Trang 35Trong điều kiện ngày nay, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải gắn với mở cửa hội nhập thị trường khu vực và quốc tế vì chỉ có phát triển ngoại thương, hướng mạnh xuất khẩu thì mới đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững
1.2 Phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh
1.2.1 Nguyên tắc phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh
Phát triển công nghiệp của một địa phương là quá trình thực hiện phân công lao động xã hội giữa các vùng lãnh thổ của một nước, tổ chức mối liên hệ sản xuất giữa một địa phương, vùng lãnh thổ với liên vùng và việc lựa chọn địa điểm, phân bố các doanh nghiệp công nghiệp đáp ứng các yêu cầu giảm tối đa chi phí đầu vào, chi phí tiêu thụ sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, phát triển công nghiệp của địa phương được thực hiện gắn liền với quá trình phân bố lực lượng sản xuất, tăng cường tích tụ, tập trung sản xuất theo lãnh thổ, hình thành các khu công nghiệp tập trung của một lãnh thổ, làm cơ sở cho quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ giúp cho việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực, lợi thế của mỗi vùng lãnh thổ, đảm bảo sự phát triển cân bằng, hợp lý các vùng lãnh thổ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
Phát triển công nghiệp của một địa phương phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất: đảm bảo kết hợp giữa sử dụng tài nguyên với bảo vệ môi trường tự
nhiên, tài nguyên thiên nhiên và sản xuất công nghiệp có mối quan hệ hữu cơ với nhau, sản xuất công nghiệp là một quá trình liên tục tác động vào tài nguyên thiên nhiên để tạo ra của cải cho xã hội; tài nguyên phong phú, phân bổ không đều giữa các địa phương có ảnh hưởng đến việc bố trí các cơ sở khai thác và chế biến, tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại cho phép sử dụng đầy đủ, tiết kiệm và hợp lý nhất nguồn tài nguyên của đất nước cũng như từng vùng, nhờ vậy các cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ giảm dần sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, từ đó việc bố trí các cơ sở công nghiệp
sẽ thuận lợi và hợp lý hơn
Thứ hai: tổ chức sản xuất các ngành công nghiệp phải theo hướng kết hợp phát
triển chuyên môn hóa với tổng hợp trên nền tảng hợp tác quy mô lãnh thổ, bên cạnh mối liên hệ sản xuất chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành công nghiệp chuyên môn hóa, công nghiệp còn có mối liên hệ với các ngành kinh tế khác Do đó, việc tổ chức sản xuất công nghiệp trên lãnh thổ dẫn tới hình thành những phức hợp gồm nhiều ngành công nghiệp tạo thành cơ cấu kinh tế ở từng vùng lãnh thổ cụ thể
Trang 36Thứ ba: sự phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật của mỗi địa phương, bao gồm hệ
thống giao thông vận tải, cung ứng điện năng, cấp thoát nước, thông tin liên lạc… là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, có hiệu quả của công nghiệp nói chung và tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ nói riêng, sự hình thành và phát triển công nghiệp của mỗi vùng sẽ tác động thúc đẩy sự phát triển
và đồng bộ hóa hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật Trong mối quan hệ này, thường kết cấu hạ tầng phải đi trước một bước; việc nâng cấp và phát triển mới hệ thống kết cấu
hạ tầng được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công cuộc CNH - HĐH
1.2.2 Các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp của một địa phương cấp tỉnh 1.2.2.1 Các yếu tố bên trong
* Nhóm yếu tố về điều kiện phát triển công nghiệp
Điều kiện tự nhiên:
Địa lý kinh tế: điều kiện địa lý, vị trí địa lý của một địa phương hay quốc gia ảnh
hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, vùng nguyên liệu cho công nghiệp, cũng như mối liên hệ của địa phương, quốc gia đó đối với các trung tâm kinh tế khu vực và quốc tế
Khí hậu, thời tiết: là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển nguồn nguyên
liệu công nghiệp, đến các hoạt động khai thác, tổ chức sản xuất và phân phối
Tài nguyên thiên nhiên: là cơ sở của nguồn đầu vào có thể khai thác được để phát triển
công nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của các ngành, địa phương hay quốc gia
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Tình hình phát triển kinh tế: bao gồm tốc độ phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế và
đóng góp của từng ngành vào tăng trưởng kinh tế, thu – chi ngân sách, độ mở của nền kinh tế… Tình hình phát triển kinh tế vừa phản ánh sự đóng góp của công nghiệp vào nền kinh tế, vừa phản ánh môi trường để phát triển công nghiệp
Hiện trạng kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp: cơ sở hạ tầng là yếu tố
có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp, nó bao gồm hệ thống giao thông (đường, cầu, bến bãi…), cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc Cơ sở hạ tầng được đầu
tư và phát triển đồng bộ sẽ là điều kiện thuận lợi thúc đẩy công nghiệp phát triển
Nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp: gồm nhân lực quản lý, cán bộ kỹ
thuật và công nhân lao động với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động phù hợp, tác phong lao động và ý thức tổ chức kỷ luật tốt, nếu địa phương hay quốc
Trang 37gia nào có nguồn nhân lực dồi dào về số lượng, chất lượng cao sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp
* Nhóm các nhân tố về QLNN của chính quyền địa phương
Quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp: là nội dung rất quan trọng định
hướng cho toàn bộ quá trình phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế của một quốc gia, một địa phương, cũng như quyết định quá trình quản lý nhà nước đối với công nghiệp Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp phải dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, địa phương, quy hoạch phát triển ngành, trên cơ sở tiềm năng và các điều kiện khác của từng quốc gia, địa phương nhằm đạt đến mục tiêu khai thác hợp lý tiềm năng phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống dân cư và đảm bảo an ninh quốc phòng
Vai trò định hướng của quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp được thực hiện thông qua các chiến lược, quy hoạch, chính sách quốc gia, vùng, ngành hay các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch của từng địa phương, các hình thức này được chọn lựa triển khai một cách hợp lý ở cấp độ quốc gia, ngành hay địa phương; chúng có mối liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau, trong đó chiến lược và chính sách có vị trí quan trọng nhất, chiến lược có tính ổn định tương đối, chính sách là bộ phận năng động hơn
Thực thi pháp luật, xây dựng cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp: là nội
dung quan trọng nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho công nghiệp phát triển, nhà nước hay chính quyền địa phương phải tổ chức thực hiện pháp luật có liên quan và vận dụng pháp luật để ban hành những cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp cho phù một với từng ngành, địa phương nhằm khuyến khích sự phát triển công nghiệp trong ngành, địa phương đó, các chính sách có thể bao gồm những ưu đãi về thuế, đất đai, nhân lực hay các ưu tiên trong giải quyết thủ tục hành chính cũng như các khoản đóng góp khác
Xây dựng kết cấu hạ tầng cho phát triển công nghiệp: là điều kiện cần thiết để
phát triển công nghiệp, bao gồm việc quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, bến bãi, hệ thống cấp điện, nước, thông tin liên lạc, đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp
Tổ chức thực thi của cơ quan quản lý nhà nước: là việc xác định bộ máy tổ
chức đủ sức thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch đã được
Trang 38ban hành nhằm biến chúng trở nên hiện thực, tạo ra sự phát triển của công nghiệp nói riêng và phát triển chung của nền kinh tế
* Nhóm nhân tố về doanh nghiệp công nghiệp
Vốn đầu tư của doanh nghiệp công nghiệp: bao gồm vốn cố định và vốn lưu
động đảm bảo cho các doanh nghiệp đầu tư thiết bị công nghệ phù hợp và đảm bảo các nguồn đầu vào hợp lý nhằm duy trì sản xuất theo kế hoạch và nhu cầu thị trường
Trình độ kỹ thuật - công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp: là sự đầu tư trang
thiết bị, công nghệ phù hợp với ngành nghề nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm Trình
độ kỹ thuật – công nghệ quy định năng suất lao động trong doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp đó
Trình độ nhân lực của doanh nghiệp công nghiệp: phản ánh trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, trình độ quản lý của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân lao động Trình độ nhân lực là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tiếp cận với các chuẩn quản lý tiên tiến, các thiết bị - công nghệ hiện đại
Trình độ tổ chức, quản lý của của doanh nghiệp công nghiệp: phản ánh hình
thức và mức độ khoa học, hiệu quả trong tổ chức quản lý doanh nghiệp; trình độ này cũng được thể hiện qua các mô hình tổ chức và các chuẩn quản lý tiên tiến được doanh nghiệp áp dụng
1.2.2.2 Các yếu tố bên ngoài
* Môi trường thể chế và sự điều tiết của Nhà nước: bên cạnh sự ổn định về chính trị - xã hội tạo thành môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, động viên đầu
tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp, yếu tố môi trường thể chế (hệ thống các chủ trương, chính sách ) thuận lợi, ổn định sẽ có tác dụng khuyến khích, động viên và là nhân tố tác động mạnh mẽ đến thu hút đầu tư phát triển các ngành kinh tế nói chung, phát triển công nghiệp nói riêng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mô, trong quá trình quản lý, Nhà nước tiến hành quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm, các khu, cụm công nghiệp và sử dụng những biện pháp, chính sách để can thiệp vào quá trình sản xuất và trao đổi, các biện pháp chính sách công nghiệp thường được sử dụng là: thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, tỷ giá hối đoái; các chương trình đầu tư kết cấu hạ tầng, xúc tiến thị
Trang 39trường Việc thực hiện một cách đúng đắn và hợp lý những biện pháp chính sách này
sẽ góp phần đắc lực vào việc phát huy được lợi thế so sánh, đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của các công ty, xí nghiệp trên thị trường thế giới, tác động đến phát triển công nghiệp của cả nước
* Hệ thống pháp luật: Môi trường chính trị - pháp luật được tạo lập từ hệ thống các luật lệ, các cơ quan quyền lực nhà nước và tác động mạnh mẽ đến hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội Thực tế có rất nhiều cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp Một số cơ chế, chính sách cơ bản và có tác động trực tiếp đến sự phát triển công nghiệp vùng bao gồm: Cơ chế tạo môi trường pháp lý, cơ chế đăng ký kinh doanh, cơ chế kiểm soát trong lĩnh vực công nghiệp; chính sách thuế, tài chính, tín dụng; chính sách đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh; chính sách khuyến công; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách thu hút đầu tư cho phát triển công nghiệp; chính sách khoa học - công nghệ [44]
* Nhu cầu thị trường: sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp chịu sự tác động trực tiếp của các loại thị trường, thị trường ở đây được hiểu không chỉ gồm các thị trường hàng hoá (dịch vụ), mà còn bao hàm các loại thị trường yếu tố sản xuất (thị trường lao động, thị trường đất đai, thị trường vốn )
Thị trường tác động đến cả đầu vào và đầu ra của sản xuất, các ngành công nghiệp của một địa phương cũng phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ của thị trường để hoạch định kế hoạch phát triển, chương trình kinh doanh của mình, doanh nghiệp công nghiệp là hạt nhân cơ bản của nền công nghiệp, mỗi doanh nghiệp công nghiệp phải hướng ra thị trường, xuất phát từ cái thị trường cần, từ yêu cầu của thị trường để hoạch định chương trình, kế hoạch kinh doanh của mình Nói cách khác, thị trường tác động đến cả đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp làm biến đổi nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp, tổng hợp lại tạo thành sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của đất nước
* Tiến bộ khoa học - công nghệ: phát triển công nghiệp vừa phải phản ánh xu thế phát triển khoa học - công nghệ, vừa phải có khả năng ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ Nói cách khác, tiến bộ khoa học - công nghệ ảnh hưởng đến việc hình thành, phát triển công nghiệp và ngược lại công nghiệp phát triển
là nhân tố thúc đẩy khoa học - công nghệ phát triển
Trang 40Trình độ tiến bộ khoa học - công nghệ càng cao, thì trình độ chuyên môn hoá càng sâu Cuối cùng, muốn đạt được mục tiêu CNH, HĐH phải phát triển công nghiệp, nhưng nếu không đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ thì không thể nói đến phát triển công nghiệp và thực hiện thành công chiến lược CNH, HĐH
Tiến bộ khoa học - công nghệ thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội phát sinh yêu cầu phải phát triển mạnh một số ngành công nghiệp Nói cách khác, tập trung đầu tư để phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm là điều kiện vật chất thiết yếu, là tiền đề quan trọng để thực hiện có hiệu quả các nội dung của tiến bộ khoa học - công nghệ, tiến bộ khoa học - công nghệ không những tạo ra những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, mà còn tạo ra những nhu cầu mới và chính những nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời và phát triển mạnh một số ngành công nghiệp trọng điểm, những ngành được coi là đại diện của công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, có hàm lượng chất xám cao, tạo ra giá trị gia tăng cao, tuy là những ngành non trẻ, nhưng là sự khởi đầu của kỷ nguyên (hoặc thế hệ) công nghệ mới, nên có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai
1.3 Vai trò và vị trí của công nghiệp đối với sự phát triển của địa phương
1.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả phát triển ngành công nghiệp địa phương
Sự phát triển của công nghiệp là một đòi hỏi khách quan, là một quá trình có tính quy luật để phát triển kinh tế - xã hội , sự cần thiết phải phát triển công nghiệp ngoài vai trò của nó đối với kinh tế - xã hội còn bắt nguồn từ những lý do sau đây:
Nền kinh tế nước ta đang chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, trong đó bản thân nền sản xuất nông nghiệp cũng phải được công nghiệp hoá, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện CNH, HĐH phát triển công nghiệp là một bước đi tuần tự có thể được thực hiện một cách đơn giản, dễ dàng hơn
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta đang gặp những khó khăn về vốn, về thị trường, về cơ sở hạ tầng… Phát triển công nghiệp là một giải pháp cho phép tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đó một cách mau chóng Mặc dù với từng địa phương, từng vùng lãnh thổ, đó chỉ là bước đi ban đầu, nhưng nó vẫn có tác dụng lâu dài với vùng lãnh thổ đó Trên phạm vi cả nước, quá trình này có thể kéo dài nhiều chục năm
Nhìn chung, ở nước ta, tuy trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp nhưng
đã có sự chênh lệch khá lớn giữa thành thị và nông thôn, cơ sở hạ tầng ở các đô thị