1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Th tim hiu ting vit 1 sai gon

12 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 264,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thử tìm hiểu tiếng Việt 1: Sài Gịn Nguyên Nguyên Một trong những ứng dụng thực tiễn nhất của tiến bộ về tin học và mạng điện tử cũng như điện thoại thơng minh chính là việc cĩ thể kiểm

Trang 1

Thử tìm hiểu tiếng Việt (1): Sài Gịn

Nguyên Nguyên

Một trong những ứng dụng thực tiễn nhất của tiến bộ về tin học và mạng điện

tử cũng như điện thoại thơng minh chính là việc cĩ thể kiểm chứng lại rất nhiều tiền đề và luận cứ hay lí thuyết khoa học, dựa trên hằng ngàn thứ tin liệu hoặc sách vở bài viết tìm được trên mạng khá dễ dàng Song song với việc này là chuyện cĩ thể giải mã, cũng như phỏng đốn lại, một số hiện tượng hay vấn đề hĩc búa mà ngày trước chỉ dành riêng cho các nhà khoa học hay nghiên cứu chuyên nghiệp

Thử xem lại việc giải mã từ nguyên của hai chữ Sài-gịn Giả thuyết xưa nhất

về từ nguyên của Sàigịn cĩ lẻ do các học giả Tây Phương từng làm việc tại trường Viễn Đơng Bác Cổ (École française d'Extrême-Orient, thường viết tắt là EFEO) đề ra vào thời “tiền chiến”, đã được tĩm tắt khá đầy đủ trong quyển

Sài-Gịn Năm Xưa.(SGNX) của Vương Hồng Sển Gần như tất cả các giả thuyết về từ nguyên của các từ hay cụm từ tiếng Việt đều dựa vào một số tiền

đề cố hữu về bản chất ngữ học của tiếng Việt và chữ Việt Những tiền đề này, một phần noi theo hiểu biết về Hán Nơm của thành phần ê-lít xưa, và phần lớn lại dựa vào kiến thức sẵn cĩ về ngữ học Tây Phương, phát triễn rầm rộ vào thế

kỷ 20, song song với chủ nghĩa dân tộc và tinh thần quốc gia Trong đĩ quan

trọng nhất là tiền đề về ngơn ngữ mang tính định để, cĩ cấu trúc ngơi thứ giống

như cây và cành Tuy vậy khác với etymology tức từ nguyên học của các ngơn ngữ Tây Phương, ngành từ nguyên học về tiếng Việt cĩ vẻ rất khĩ phát triển, hay phát triển khá chậm, chung qui cĩ lẻ bắt nguồn từ những tính chất cơ bản

hết sức phức tạp của Việt ngữ, kiểu coi vậy nhưng khơng phải vậy, hy vọng sẽ được lần lượt trình bày trong loạt bài này Kiểu nĩi bình dân “coi vậy nhưng khơng phải vậy” vẫn cĩ thể chuyển ngữ thành lối nĩi mang tính triết và hàn

lâm: “Cĩ phải A thật sự là A khơng?”, mà tiền đề đối ngược “A là A” chính là

tiền đề cố hữu nằm chính giữa các mơ-pháp khoa học, nhất là tốn học

Được biết đến nhiều nhất trong chuyện từ nguyên của Sàigịn là giả thuyết cho

rằng Sạgon do chữ Prei-Kor tiếng Khmer mà ra Giả thuyết này cho Sài Gịn

mang nghĩa chính là Rừng Gịn bằng cách gộp hai chữ Sài (rừng – [Prei]) và

Gịn (gịn – [Kor]), một “Hán-Việt” (Sài), một Nơm (Gịn) Thật ra [sài] cũng

khơng hẳn mang nghĩa là rừng mà là củi hay bĩ củi, viết柴,mang một âm tiếng

Quan thoại là [chai] và tiếng Quảng Đơng [caai] (rất gần [sài]) (Chữ sài cũng thường dùng thay cho chữ củi, như trong bản dịch thơ La Fontaine (La Mort et

le bûcheron - Thần chết và lão tiều phu) của Nguyễn Văn Vĩnh, cĩ trong Quốc

Văn Giáo Khoa Thư: Tủi thân phận kỳ khu khĩ nhọc // Đặt bĩ sài ở dọc lối đi)

Trong khi củi mang gốc nhĩm ngữ Mon-Khmer (thí dụ: [ku:r]), như các tiếng

Riang, Rục và Cua (xem: SEAlang Mon-Khmer Languages Project)) Một giả

thuyết tương tợ như [Prei-Kor] là [Prei-Nokor], với [Prei] mang nghĩa rừng

Trang 2

như cũ, và [nokor] từ tiếng Khmer, tương đương với nước hay xứ (quốc) trong tiếng Việt Tức có thể dịch kiểu hàn lâm là Lâm Quốc (xứ rừng) cho Prei-Nokor

Hai giả thuyết Prei-Kor và Prei-Nokor hoàn toàn đựa trên phiên dịch và sao phỏng trên âm gần đúng, nhất là nối [Kor] hay [Nokor] với chữ Gòn trong Sài Gòn Tức có thể nói nôm na đó là phiên dịch âm và nghĩa chữ Sài-Gòn trở ra

tiếng Khmer hay Cao-Miên, gọi theo kiểu xưa Để ý Miên trong Cao-Miên chính là gòn (kapok), tức bông-gòn hay bông-gạo, trong tiếng Hoa (棉 [mian]) Cao-Miên trong tiếng Hoa thời xa xưa có lẻ chỉ nhóm sắc tộc Qiang (Khương tộc), theo truy cứu trên mạng, sống bằng nghề trồng và dệt vải trên núi cao (Gao-Mian高棉) Ngoài ra, các tác giả giả thuyết này hoàn toàn không có dẫn chứng từ văn bản Khmer về vùng đất đó khi xưa từng được người Cam-Bốt gọi chính xác đúng với vị trí Sài Gòn là Prei-Kor hay Prei-Nokor Riêng Prey-Nokor theo quyển SGNX có thể trùng hợp với một khu định cư của người Khmer ở vùng Phú Lâm gần Chợ Lớn, có nhiều di tích khai quật thời người Pháp mới tới Đông Dương Còn Prei-Kor (rừng gòn) thì không thấy đề cập đến trong những chuyện khai quật Rất có khả năng vùng đất đó xưa là một khu

rừng, nhưng không thấy có dẫn giải nào nói đó là một khu rừng gòn, và rừng

gòn thật ra cũng không phải dịch đúng nghĩa nôm na của từ Sài-gòn Theo quyển tự điển tiếng Cam-Bốt của M.Moura xuất bản năm 1878 thì người Khmer ở thế kỷ 19 gọi Sàigòn bằng [bänh-ngê], rất có khả năng phiên âm từ

Bến Nghé Âm [bänh-ngê] tiếng Khmer cũng giống như chữ Pingeh do George Finlayson viết trong tờ phúc trình sau chuyến đi tháp tùng phài đoàn John Crawfurd đến Đông Dương vào năm 1821 (xem SGNX) Trong khi người Chăm thời đó vẫn gọi Sài-gòn là [bay-gaur] hay [bay-gol], với [bay] mang âm

gần với [pay] mang nghĩa Tây (West), và [gaur] có thể phiên âm của cống trong

Tây-Cống Âm [gol] trong [bay-gol] chính là chữ gòn theo tiếng Chàm, nhưng [bay] không phải là củi, bởi củi người Chăm gọi là [‘jūh]

Tên gọi “thị trấn” Sàigòn thường lẫn lộn với Chợ-lớn, xin tạm lướt qua ở đây,

và phát âm của Sài gòn qua một số phương ngữ tiếng Hoa, đọc theo kiểu quốc ngữ, có thể là Đề Ngạn, Tây Cống, hay Thầy-Gòn Theo âm tiếng Quảng Đông, hai tiếng Sài-gòn mang âm rất gần với [sai][ngon] 西岸, mang nghĩa Bờ (岸) phía Tây (西) (Nhớ người Quảng Đông chiếm khoảng 40 phần trăm số người

gốc Hoa di tản sang định cư tại phía Nam vào thời đó, theo quyển Người Hoa tại Việt Nam (NHTVN) của Nguyễn Văn Huy (1993)) Âm Quảng Đông [ngon]

岸tương đương với [ngan] tiếng Phúc Kiến và [ngạn], tiếng “Hán-Việt” Để ý

chữ Sài trong Sài-Gòn thường mang âm tương đương với Tây hoặc Thầy viết

theo quốc ngữ Viết lại theo chữ Hán dựa trên đồng âm mà thôi thì có thể viết

堤岸 [tai ngon] phát âm tiếng Quảng Đông, tương ứng với [di an] (Quan

Thoại), mang nghĩa bờ đất, đập đất hay đồn đất (embankment), tức Đề Ngạn

Chữ 堤 [di] (Quan Thoại) có âm Mân Việt (Phúc Kiến) là [te] (~ đề, tiếng Việt), hoặc âm Weitou (Vi-Đầu) tức khu Hongkong và lân cận là [täi] (~ thầy, tiếng Việt) Các tên Đề Ngạn hay Thầy Gòn do đó có thể viết theo Hán tự là

[di an] mang nghĩa trần là bờ đất, tức Đề Ngạn Theo kiến thức phổ thông

Trang 3

rất khó có thể địa danh một thị trấn, hay một vùng đất mới trực thuộc nhà Nguyễn, lại dựa vào một danh từ chung không liên hệ đến lịch sử hay địa lý Tức nếu so sánh bằng Hán tự, 西岸 (Tây ngạn) mang nhiều ý nghĩa hơn堤岸 (Đề ngạn – bờ đất), bởi thành phố Sài-Gòn ngày trước nằm ở bờ phía Tây của sông Sàigòn

Nếu tạm nhận Sài-gòn tương đương với Tây-ngạn tức bờ-phía-Tây, sẽ thấy ngay vị trí đáng để ý của các âm như Tây-cống, Sài-Côn, Saigun (học giả người Anh John Crawfurd đã dùng kiểu đánh vần này), và Saikun Cống hay [kun] trong trường hợp đi đôi với [sai] (Tây), cho Sài-gòn mang nghĩa bờ phía Tây,

do đó có thể cùng gốc với âm [kheuuan] trong tiếng Thái (và có thể Tai-cổ)

mang nghĩa đập nước hay bờ sông Âm [kun] trong tiếng Hán lại liên hệ đến quẻ Khôn (坤 [kun]) trong Bát-Quái mang nghĩa hướng Tây-Nam, tức vị trí của Sài-Gòn so với kinh đô Huế Sẽ trở lại âm [kun] này sánh với một âm [sai] khác trong âm kép [saikun] ở phía sau Để hiểu thêm phần nào việc giải mã các từ-vựng tương đương với Sàigòn qua các âm như Tây Cống, Sài-côn, Bến Thành, Bến Nghé, thiết tưởng cần phải định vị lại tiếng nói của cư dân vùng đất mới này vào khoảng thế kỷ 18-19, và một số ngộ nhận khi dùng chữ quốc ngữ

ở cuối thế kỷ 20, và nhất là tiếng “Hán-Việt”, để giải mã từ nguyên của các địa danh quen thuộc như: Biên Hòa, Đồng Nai, Sài Gòn, Bà Chiểu, Thị Nghè, Đà Nẵng, Hội An (Faifo), Mô Xoài, Đề Ngạn, Bến Thành, Bến Nghé, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, Gò Công, Bà Điểm, v.v Vấn đề xác định lại khung hình lý thuyết

và thực trạng lại bắt buộc phải dựa vào triết lý về khoa học và về các phương pháp thường được khoa học dùng đến, ngoài việc phải quan sát những phương pháp của ngữ học, cũng như phải tham khảo hàng chục quyển tự điển khác nhau về các thứ tiếng trong khu vực hay ngoài khu vực Phương cách nầy rất có thể sẽ biến một câu chuyện thường nhật thành một đề tài khoa bảng hàn lâm thật rộng và sâu, có thể đưa cả người đọc và người viết vào mê hồn trận dẫn đến tẩu hỏa nhập ma như chơi Thử nhìn lại tình hình ngôn ngữ của khu vực và thời đại thế kỷ 18-19, qua một vài thí dụ thực tiễn

Thí dụ đầu tiên là khu vực Lăng Ông Bà Chiểu Nhiều nhà văn đã viết, dựa theo “tương truyền”, rằng Bà Chiểu là tên của một bà tên Chiểu đã bỏ tiền ra lập chợ ở đó nên có tên là Chợ Bà Chiểu, còn Lăng Ông là lăng của ông (tả quân) Lê Văn Duyệt (1763-1832), tổng trấn Gia Định Kiểu giải thích này rất hay và lãng mạn, nên thơ, nhưng thiếu chứng liệu lịch sử, và nhất là “qua mặt” tên tuổi của các vị quan quân trong khu vực vào thời đó, và cả triều đình Huế

Nếu viết lại Lăng Ông Bà Chiều thành Lăng của Ông Bà-Chiểu sẽ thấy ngay

Bà-Chiểu là phiên âm viết theo quốc ngữ của một chức tước hay phẩm hàm

vua ban cho ông Lê Tức Bà Chiểu không phải là Bà Chiểu theo ngữ nghĩa dựa

theo kiểu đánh vần của quốc ngữ Do đó Bà-Chiểu viết theo tiếng Hán rất có thể là州伯, mang nghĩa tổng trấn một khu vực hay tỉnh trưởng, đọc [zhou bo] theo phiên âm (pinyin) Quan thoại, hay [zau baa] Quảng Đông, [ziu bêh] Triều Châu, hay [ziu bak] Hẹ (Hakka) Âm Hẹ [ziu bak] gần với Chiểu Bà (Bà Chiểu

Trang 4

viết ngược lại theo Hán tự) nhất, trong khi âm “Hán Việt” là Châu Bá hay Châu Bách, gần với tiếng Quảng Đông [zau baa] hay [zau baak], tức tương đương

với Chiểu Bà Bà Chiểu hay Chiểu Bà chỉ là việc đọc ngược hay đọc xuôi mà thôi, như tin tường có nơi đọc là tưởng tin, yêu dấu / dấu yêu, nội thành / thành nội, giàu sang / sang giàu, công thành / thành công, khổ đau / đau khổ, lí luận / luận lí, hữu ái / ái hữu (Để ý, một số từ khi đọc ngược đọc xuôi có thể mang

ngữ nghĩa hơi khác nhau.) Tóm tắt là Lăng Ông Bà Chiểu mang nghĩa Lăng Ông Tổng Trấn Ngữ từ Bà Chiểu mang ngữ nghĩa là Tổng Trấn chứ không phải một bà tên Chiểu

Nên để ý một định luật rất hữu dụng khi nghiên cứu tiếng Việt và các phương ngữ bên Trung Hoa xưa, hoặc một ngôn ngữ khác Đó là tương đương giữa âm [au] và [iu] Thí dụ [hiu-hiu] trong tiếng Việt có nghĩa là gió thoảng (breeze) tương đương với [hau-hau] trong tiếng đảo Rapa Nui tức Easter Island Tiếng

Việt yêu cầu (Quảng: [yiu kau] 要求) tương ứng với [iâu kiu] tiếng Tiều (Triều Châu hay [Chaozhou]), và [yâu kiu] Hẹ Ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Andy Lau (Lau Tak-Wah) có tên gọi theo quan thoại là Liu De Hua, và âm [Lau] hay

[Liu] tương ứng với kí âm a-b-c tiếng Việt là Lưu có âm nằm ở giữa [liu] và [lau], đọc đàng nào người nghe cũng hiểu Tiếng Nôm yêu (love) mang nghĩa

gần nhất với âm [you] Quan thoại cho chữ 友 (hữu) trong 友爱 (hữu ái, ưu ái) Nhưng 友 [you] mang phát âm [iu], tức yêu, trong các tiếng Triều Châu / Phúc

Kiến và [yäu] tiếng Quảng Đông phía nam Nhập hai lối phát âm này, [iu] và

[yäu], thành từ kép sẽ có yêu dấu hay dấu yêu trong tiếng Việt Biến chuyển [au]-[iu] cũng giải lý được hai chữ sương siu âm quốc ngữ phiên thiết từ chữ Nôm có thể biến thành [sương sâu] hay [thương sâu], tức sầu thương Rất

nhiều từ viết ra chữ quốc ngữ mang một thinh (tức âm các dấu hỏi, ngã, sắc, huyền, nặng, bằng) nhưng lại tương đương với những thinh trái ngược nhau trong tiếng khu vực khác, hay giữa các phương ngữ khác, trong một xứ, hoặc

giữa các xứ khác nhau Thí dụ như từ yêu trong yêu cầu có thể đọc yếu ngay

trong tiếng Việt và 3 thinh khác nhau trong quan-thoại ([yào], [yāo] và [yǎo],

要)

Quan điểm về ngôn ngữ xác thực nhất là trong suốt hằng nghìn năm tại rất nhiều vùng trên quả đất loài người đều có tiếng nói, và có bộ tộc có thể dùng huýt sáo thay cho tiếng nói Nhưng chữ viết là một chuyện hoàn toàn khác, mà

đa phần tiếng nói và chữ viết chỉ nhập lại với nhau trong vòng vài thế kỷ gần đây Tại rất nhiều quốc gia, kể cả Nhật và Trung quốc, vấn đề xem lại chữ viết với tiếng nói chỉ tích cực xảy ra trong vòng nửa thế kỉ trở lại đây Quan niệm về ngôn ngữ trước và sau khi nhập tiếng nói và chữ viết lại với nhau thường khác nhau theo từng ngôn ngữ, nhưng đa phần lại dựa vào cấu trúc cây và cành, và

nguyên tắc định để, ở đây được dịch thoát và khác với chữ arbitrary của tiếng

Anh Thử đọc một vài quyển tự điển tiếng Quảng Đông hay Triều Châu, sẽ thấy ngoài nhận xét là nếu kí âm dùng mẩu tự La-Tinh a-b-c, thì mỗi tác giả hay soạn giả sẽ có một thứ kí âm đánh vần khác nhau, luôn luôn có một số từ mà

Trang 5

nhà soạn tự điển phải bỏ trống bời họ không đủ thẩm quyền để cho kí âm bằng tiếng Hán, vì âm tiếng nói có thể không trùng hợp với số âm từ chữ Hán, đọc theo kiểu quan-thoại hay tiếng địa phương Nhiều cuộc giải mã những cụm từ

thông thường như dầu chá quảy (gọi tắt là quẩy), hoành thánh (mằn thắn),

thường cũng đưa ra nhiều giả thuyết, y hệt như giải mã tiếng Nôm theo chữ quốc ngữ

Tra chữ wonton (hoành thánh) trên mạng, sẽ thấy âm [wonton] tiếng Anh tương

đương với rất nhiều lý giải khác nhau mà hai cụm từ chính là馄饨 [hun tun] gọi

theo kiều Hán quốc ngữ là hồn đồn, hay云吞 [yun tun], tức vân thôn Cả hai hồn đồn và vân thôn đều có vẻ tách xa với hoành thánh, wonton hay vằn thắn

Âm [hun tun] chỉ là tiếng nói chỉ đến món hoành thánh chứ không mang nghĩa nào đặc biệt, tức rất có khả năng [hunt un] chỉ là lối phiên âm một ngoại

(phương) ngữ Còn [tun] trong [yun tun] mang nghĩa nuốt (thôn), tức hoành thánh hay vằn thắn có nghĩa là nuốt mây Âm quan thoại [yun] tương đương

với Quảng [wan] và [tun] với [tan] (云吞 [yun tun], [wan tan], [vân thôn]) đọc nôm na là hoành thánh, vằn thắn hay mằn thắn Nếu nhìn kỹ bát súp hoành thánh và dẹp hết các hiểu biết tiền kiến về chữ nghĩa có thể thấy các viên hoành thánh trôi nổi trong bát súp nước trong, giống như những cụm mây trôi, Từ đó

có thế đưa thêm một giả thuyết về ngữ nghĩa là [wonton] có âm vận giống như miêu tả về một loại súp giống mây trôi [wonton] => âm Quảng Đông là [wan tong] 云汤, [yun tang] quan-thoại, với âm [wan] 云 tiếng Quảng Đông mang

nghĩa mây (vân), và [tong] 汤: súp (thang/sương/thãng viết theo lối

“Hán-Việt”) (Có thể giải mã chữ hỏi trong bánh hỏi hay ngay cả món Phở theo kiểu thức này.) Có thể thấy âm quốc ngữ vân mang nghĩa Nôm mây chỉ là

tương ứng với một trong những dạng chữ viết theo a-b-c có khả năng kí âm

một âm của tiếng nước khác có nhiều biến chuyển khác nhau: vân/ hoành/ vằn/

mằn , nhất là theo kiểu phát âm bình dân Trong các “phương ngữ” ở nước

Trung, âm [wan] (vân) 云 tiếng Quảng lại tương đương với [hun] hay [un] Phúc Kiến, [hung] hay [ung] tiếng Tiều (để ý [hung] và [ung] có [g] so với [hun]

và [un] Phúc Kiến, không có [g] ở cuối trong kí âm dùng a-b-c) Từ quan thoại [yun] 云 tương ứng với âm [wäng] tiếng Weitou nói ở khu Hongkong/Thẩm Quyến (Shenzhen), rất gần âm [vân] tiếng Việt, và quan trọng nhất âm [hun] 汤

Phúc Kiến (tức Mân Việt theo kiểu gọi thời nhà Trần) ráp với [tun] 吞, sẽ cho trở lại âm [hun tun] 馄饨 (hồn đồn), tức một thứ viết và phát âm khác cho món

wonton Âm [hun tun] dùng để chỉ món wonton do đó có thể chỉ là kí âm, chứ không mang theo ngữ nghĩa gì đặc biệt ngoài tính định để, Để ý thêm âm tiếng

Thượng Hải [wen] 无 hợp với âm tiếng Wuxi ở Giang Tô [then] 锡, [wen][then], rất gần với hoành thánh hay vằn thắn trong tiếng Việt, mặc dù kí

âm theo Hán Việt là [hồn đồn] Biến chuyển trong tiếng Quảng giữa [wan] 云

[hoành/vằn/vân] và [mằn] (mằn thắn) lại nằm trong tương đương giữa âm đầu

[w] và [m] Thí dụ: tên của sư phụ Ip Man của phái võ Vĩnh Xuân còn gọi là

Diệp Vấn, chữ vạn (10000) tương đương với muôn / mặc (万), tức hai âm Quan Thoại [wan] / [mo] (万), ứng với [maan] / [mak] tiếng Quảng Đông, âm MV

Trang 6

(hay W)

Một trong nhiều tiền đề trong tiếng Việt rất cần được mỗ xẻ tận tường là phân loại tiếng Việt và tiếng Hán Việt, trong đó có tiền đề cho rằng âm tiếng Hán Việt là âm do giới ê-lít tiền nhân biến đổi lại từ âm của tiếng Trung Tiền đề này bao gồm luôn tiền đề mang tính giả định, về âm quốc ngữ là âm trung thực tiếng Nôm có từ ngàn xưa Câu hỏi trực tiếp đối với tiền đề này chính là tiếng Trung nào, hoặc những thứ tiếng Trung nào, đã góp phần vào việc đó, nếu nhớ

là trong nhiều thế kỷ xưa Trung Hoa có thể xem như một Âu Châu với nhiều tiếng nói, văn hóa, nghệ thuật, thức ăn khác nhau

Thử áp dụng lý thuyết Cây và đất về ngôn ngữ để xem lại vấn đề giải mã các từ xưa được dùng đến vào thời chữ quốc ngữ chưa xuất hiện Thuyết cây và đất thật ra không có tương phản nhiều với thuyết dựa trên mô hình cây và cành Tuy vậy cây và đất không dính sát với sơ đồ về quyền lực hay quản lý hành chánh và ngay cả thuyết di truyền của Darwin Tức so với cây và cành, mô hình cây và đất tách khỏi được liên hệ giữa giên di truyền hay DNA với ngôn ngữ Mô hình cây và đất cũng có vẻ không bị ảnh hưởng của những hệ luận chung quanh đối tượng quan trọng của ngữ học là tiếng mẹ đẻ, so với đối tượng ngôn ngữ thời nay là bao gồm tiếng nơi sinh hay tiếng nơi sinh trưởng, hoặc

môi trường sinh sống, diễn tiến trong vòng gần 80 năm trở lại đây do ở chuyện

di cư di tản và chuyện xin nhận nơi đây làm quê hương Thử dùng thí dụ sau

đây để giới thiệu lí thuyết cây và đất Câu hỏi tiếng Nhật viết theo romaji: Nan

desu ka? (Cái gì đó?) có [ka] rất giống với tiếng Việt [cà]: Sao vậy cà? Hoặc

[kah] trong tiếng Mã-Lai: Awak ada rumahkah? (Anh có nhà hay không?) Tức

có thể xem âm [ka] như chất bồi dưỡng chạy từ lòng đất vào rễ các cây biểu hiệu cho ngôn ngữ Nhật, Việt và Mã Lai Âm [ka] trong 3 thứ tiếng này có thể

được liên kết với chữ tượng hình [KA], giống như hai cánh tay giơ lên , trong chữ Ai Cập cổ tiêu biểu cho linh hồn, tức phần kia hay phần thứ hai của con người, tức số 2 hay số thứ 2 Và [KA] biểu diễn cho số 2 có thể xem như

mang ý nghĩa của thể nghi vấn so với thể xác định là thể số 1 Mô hình cây và

đất có thể xem như mang thêm tính chất hữu cơ, tức mang chất sinh sống (Xem

phía dưới.)

Xin quan sát tiếp chữ dù hay ô dùng để chỉ đồ vật che mưa Thử giải thích theo kiểu hoàn cảnh ngôn ngữ thời ban đầu khi cây dù hoặc chiếc ô được đầu tiên giới thiệu hay nhập khẩu từ nước ngoài hay một vùng khác Bắt buộc cây dù

phải được giới thiệu bằng ngôn ngữ ban đầu (ngữ từ, tức signifier theo lối gọi của nhà ngữ học Ferdinand de Saussure) dính liền với ý niệm hay ý nghĩa món hàng đó (ngữ nghĩa, signified), tức雨伞 [yu san], với [yu] (yũ / vũ) mang nghĩa mưa, và [san] (tản) có lối viết như vẽ hình cái ô, 伞, mang nghĩa là vật che, tức

vũ tản mang nghĩa đồ che mưa (cây dù) Dù do đó chính là biến âm của vũ hay [yũ] (mưa), trong khi [ô] là âm quốc ngữ tương đương với âm [ho] hay [u] trong tiếng Phúc Kiến hay Triều Châu, tức tương ứng với vũ (hay yũ) cho cùng

Trang 7

một từ chỉ mưa (vũ), tức đồng nghĩa mưa y như dù Ô hay dù do đó đều mang nghĩa mưa, chứ không phải đồ vật che mưa Chữ che tiếng Việt lại ứng

với [ze] 遮, tiếng Quảng dùng chỉ cây dù Cả ba từ dù, ô, [ze] đều không phải

là ngữ-từ (signifier) thực thụ tương ứng với ngữ nghĩa trọn vẹn (signified) để

chỉ vật che mưa tức parapluie tiếng Pháp Tiếng Nhật miêu tả cây dù đọc theo romaji là amagasa cũng có thể viết theo Kanji là 雨傘 [ama] mưa, [gasa]: tản,

còn mang nghĩa là che nắng (parasol) Chuyện thu gọn dù-tản hay ô-tản thành

dù hay ô cũng giống như quẩy từ dầu chá quảy, hay chữ ô tô gọi tắt cho

automobile, dùng để chỉ xe hơi (汽車 [hei ce], tức hơi xe, tiếng Quảng) Kiểu

gọi tắt này cũng có vẻ không liên hệ đến việc phân loại đơn âm đa âm cho ngôn ngữ Vấn đề phân xếp loại ngôn ngữ theo thiển ý liên hệ mật thiết đến các

nguyên lý song-thể (dualism) hay độc-thể (monism) trong nhiều triết thuyết về

khoa học và sinh tồn, Đông cũng như Tây, nhưng dễ tìm từ văn minh Tây

phương hơn, khác với phi-song-thể (non-dualism) bao gồm song-thể, độc-thể

và luôn cả chính phi-song-thể Điểm quan trọng là phân xếp loại rất khó dựa

vào các tính chất cốt lõi của sự vật, tạm hiểu theo lối gọi noumenon của triết

gia Immanuel Kant (1724-1804), do ở nghịch lý muôn thuở vẫn hiện hữu trên mọi đối tượng nghiên cứu và học hỏi Đó là người ta phân xếp loại thường để hiểu biết thêm về sự vật chứ một khi đã biết về tính cốt lõi của sự vật, sự phân loại sẽ không còn cần thiết như lúc chưa thấu đáo tường tận về sự vật

Thử xem chữ chừ mang nghĩa bây giờ tương đương với兹 tiếng Trung, nghĩa

now, this, có phiên âm pinyin quan thoại là [zī] hay [cī], và Hán Việt là 2 âm [từ] và [tư] Từ 兹 có âm Phúc Kiến [zy], Quan thoại [cī], Quảng [ci] hay

Thượng Hài [zy], phát ra rất gần với chừ, kí âm theo dạng quốc ngữ Theo kiểu dáng có thể thấy biến chuyển giữa chừ (bây giờ) với từ hay tư (Hán Việt) rất giống với biến chuyển giữa chữ và từ hay tự (word) Chữ rứa (như vậy/ giống)

rất giống một âm quan thoại [ruo] (ngoài các âm [rě], [ré], [rè]) cho từ若 (như,

giống như, vậy) mà Hán Việt ghi là nhược (gần âm Quảng hay Hẹ [yoek]) hay

nhã (giống âm Guangyun [niäx] tức âm cổ thời truy lại từ ráp vần chữ viết) Một âm Nôm của nhã lại là nhỡ mang nghĩa nếu như Còn răng (thế nào, tại

sao) rất có khả năng liên quan đến 怎样 [zen yang] (how/why), với怎 [zen] có phát âm Thượng Hải [tzen] gần với [răng] và các âm thuộc nhóm ngữ Quảng Đông [zam] rất gần với âm Hán Việt [chẩm], trong khi từ 样 [yang] có âm Guangyun, tức âm thời Trung Cổ do phiên thiết là [tzang], rất khó phân biệt với

răng tiếng Việt

Thử quan sát mô tê đi đôi với nhau Thời xa xưa mô tê rất có khả năng tương đương với ất giáp tức tiêu biểu số 1 và 2: Nó không biết mô tê (ất giáp) chi hết

Mô tê cũng có nghĩa đâu đó Mô (đâu) dùng trong câu hỏi tương đương với 么, phát âm y hệt trong tiếng Quảng [mo] và Quan thoại [mo] hay [me], [mǒ], hoặc

[ma] (Hán Việt: ma) Nhưng tiếng Chàm [taw] mang âm và nghĩa rất giống đâu (mô) Còn tê có vẻ tương đương với 它, phát âm quan thoại là [te], [tuo] hay

[ta] (Việt: [tha] hay [đà]), nghĩa nó, đó, đây Xem chữ chướng mang nghĩa

Trang 8

cứng đầu Chướng phát âm rất gần với [jiang] tiếng Phổ thông (quan thoại) hay

[chian] tiếng Ngô (Wu), hay [köng] (cứng/ cứng đầu) ứng với từ 强 ( [qiáng], [qiǎng], [jiàng]), với hai âm Hán Việt là cường và cưỡng, có thể liên

hệ đến hai thinh khác nhau của kí âm tiếng Quảng Đông là [koeng] 强 (stubborn, cứng đầu, chướng)

Vấn đề âm vận của tiếng nói vào thời trước và sau quốc ngữ có thể hiểu thêm

qua thí dụ của câu chơi chữ Da trắng vỗ bì bạch mà “tương truyền” do một tác

giả nữ thách thố một ông trạng tìm cách đối lại cho vui Ngày nay người ta có thể thấy câu đối này mang nhiều tầng lớp che phủ những ý niệm cốt lõi về ngôn ngữ mà quan trọng nhất là câu đối này chỉ được phổ biến sau thời quốc ngữ ra

đời Xét về mặt tiếng nói hai chữ bì bạch thường gọi theo kiểu hàn lâm là ô-nô-ma tức kí âm thu gọn cho chữ onomatopoeia dùng để chỉ loại từ nhại

thanh, tức phỏng theo phát âm hay tiếng động của thú vật hay sự vật Thí dụ:

súng bắn đùng đùng, có đùng đùng là từ nhại thanh (ô-nô-ma) tiếng súng bắn Tiếng Việt cẩu là chó có âm gần là tiếng sủa gấu-gấu rất gần với phát âm nhiều

nơi ở Trung quốc là [gau] hay [gao] (viết 狗 [gǒu]) Phát âm [cẩu] gần với phát âm phía nam Quảng Đông nhất [kẩu] Từ nhại thanh có đặc điểm là mỗi nơi loài người nhại phỏng một kiểu Không ai bắt chước ai Nhưng khám phá

hoặc đề nghị ở đây, mang nhiếu tính hữu cơ, là ô-nô-ma của tiếng xứ này có thể trở thành danh từ tiếng xứ kia, mang cùng một thứ ngữ nghĩa cốt lõi tức

noumenon theo triết gia Kant Tiếng chó sủa tiếng Spanish [guau guau] rất giống [gấu gấu], gọi tắt là [cẩu] 狗 tức con chó Người Bahnar có tiếng nhại

[kuh kuh] chỉ chó sủa Từ đó họ có từ dùng chỉ chó là [kɔʔ] Cũng giống như từ [kuli] dùng để chỉ dog (chó) tại một số hải đảo ở Thái Bình Dương Con gà

mang tiếng gọi kiểu Quảng Đông là [cấy] hay [gấy], và [gấy] rất giống âm [gáy]

tiếng Việt – tiếng gà gáy Gáy là danh từ tiếng này nhưng lại là động từ tiếng kia Con dê có tiếng ô-nô-ma là [be-he] (dê kêu be-he) nhưng trong tiếng quan

thoại ghi là [miē] 咩 tức [myê] sinh ra [yê] hay [dê] rất dễ (Để ý dê tiếng Hoa

là [yang] viết羊 so với tiếng dê-kêu là [mie] 咩.) Tra tự điển Alexandre de Rhodes xuất bản khoảng giữa thế kỷ 17, sẽ thấy âm [my] như trong [myê] hay [Myanmar] chính là âm ưa biến đổi với [ml]: [mlầm] ưa biến chuyển qua lại với [mnhầm] (tức [myầm], bởi âm [nh], thay cho kí âm [ny], là âm đầu thuộc tiếng nước Bồ, tương đương với [gn] tiếng Pháp hoặc [ñ] tiếng Tây Ban Nha) Hai dạng [mlầm] và [mnhầm] được/bị Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine tức Cha Cả) và Taberd thu gọn cho giống chữ Tây thành [lầm] và [nhầm] vào đầu thế

kỷ 19 Hai chữ bì bạch được gọi là ô-nô-ma, nhưng lại không thể thấy trong

một bản văn nào khác, hay được nghe từ những người xài tiếng Việt (thông

thường hơn: bì bõm, lõm bõm, lạch bạch, bành bạch, bạch bạch), và rất có khả

năng đó là một từ nhại thanh được sáng tác bởi tác giả chỉ để dùng trong câu đố Với nhận xét đó, câu đố đó có thể được đối dễ dàng hơn bởi có thể đối luôn cái

cấu trúc của bì bạch Thí dụ: Chó đen rú cẩu-u (hay cẩu-ô) có thể dùng để đối

Da trắng vỗ bì bạch Do ở chó đen được thay bằng cẩu-ô (cẩu 狗 là chó, ô 乌,

đen), và cẩu-u hay cẩu-ô được xem như từ nhại tiếng chó hú Câu đối này chỉ

Trang 9

đưa ra để giải lý về tính cách sáng tác của hai chữ bì-bạch

Cũng xin để ý và nhấn mạnh lại từ nguyên học dựa trên ô-nô-ma thật ra khá phức tạp bởi nó không dựa vào nguyên lý song-thể hay độc thể của truyền thống khoa học về ngôn ngữ, mà trong đó tiếng xứ nào phải dính trước tiên với

số từ vựng của tiếng xứ ấy Âm ô-nô-ma [mie] 咩được xem ở đây như là từ

nguyên “chính” của từ dê chỉ con dê, xuất phát từ lối nhại tiếng kêu của con dê,

viết ngược lại gồm chữ [kou] 口, tức miệng hay tiếng kêu, viết chung với [yang] 羊 tức con dê: 口+羊 = 咩 [mie] Âm [mie] là ô-nô-ma tiếng con dê rất

có khả năng là từ nguyên etymon (ê-ty) của từ dê trong tiếng Việt (Để ý trong việc giới thiệu từ mới, ô-nô-ma hay từ nhại thanh đều khó nhớ và khó trôi như

nhau bời cả hai sẽ bao gồm giới thiệu ý niệm mới bằng tiếng ngoại ngữ So

sánh với quẩy và dầu chá quảy, mằn thắn với hồn đồn Nhớ thời thập niên 50

và 60 ở thế kỷ trước muốn học Anh Văn phải học thêm phiên âm quốc tế, tức

phải học một lượt hai ngoại ngữ khác So với nhiều người chỉ xem phim tập Hongkong vào thời 80 là biết nói và nghe tiếng Quảng.) Âm pinyin [mie] có phát âm [me] tiếng Mân (Phúc Kiến, PK) và tiếng Quảng (QĐ), [mêh] tiếng Tiều (T) và [mhie] Thượng Hải (TH) Những âm này rất gần với các âm tương ứng với chữ 未 [me] PK, [mei] QĐ, [bhi/buêh] T, [mij/vij] TH, tức mùi hay vị

tiếng Việt Âm Hẹ [mvui] cho chữ 未, rất gần với mùi và âm Thượng Hải [vij] rất sát với vị tiếng Việt Chữ 未 Mùi chính là chữ dùng để chỉ tuổi Mùi tức tuổi con Dê Tính hữu cơ của từ nguyên học dựa trên ô-nô-ma đã tạo được một gạch nối giữa chữ Mùi (tuổi Mùi) với con Dê và âm be-he của con dê Cũng có thể

để ý cụm từ gió hiu-hiu có thể mang tính cấu tạo từ chính tiếng gió hiu-hiu tức

có cấu trúc ô-nô-ma Tương tự, cả huýt sáo và whistle đều mang âm rất giống ô-nô-ma

Thử xem lại Ngọ trong tuổi Ngọ (chỉ con ngựa) Âm gần tiếng Ngựa nhất là

tiếng Hindi [ghur-daur] (rất giống ngựa đua hay ngựa đấu) घुड़दौड़ (xem

hindi-english.org) tức đua ngựa Từ chính tiếng Hindi dùng để chỉ Ngựa là

[ghoraa] घोड़ा, rất giống Ngọ trong tuổi Ngọ tức tuổi con ngựa Ngọ và Ngựa,

do đó, có vẻ mang biến chuyển song hành trong tiếng Hindi là [ghor] và [ghur],

cả hai mang nghĩa ngựa Nhưng [ghoraa] cũng có vẻ phảng phất ô-nô-ma của

tiếng vó ngựa là [gup-gap gup-gap] hay [gon-gon] trong tiếng Thai, hay ngay

cả [ghoraa ghoraa] Trường hợp này cho thấy Ngọ/Ngựa có thể dính líu với

tiếng Ấn nhiều hơn tiếng Tàu là午 [wu], có phát âm Phúc Kiến và Triều Châu

[ngo] rất giống ngọ hay ngầu, theo quốc ngữ Tương tự, có thể thấy đau khổ (pain and suffering) trong tiếng Việt gần gũi với từ tiếng Phạn dukkha hơn là

những từ phiên dịch từ tiếng Hoa

Nếu nhìn lại chuyện ê-ty hay từ nguyên học tiếng Việt dùng để giải mã các từ còn ghi lại trong các địa danh xưa, có thể thấy có nhiều tầng lớp ngôn ngữ và văn hóa thường che kín chất cốt lõi của ngôn ngữ và tiếng nói của cư dân địa phương vào thời xưa, lúc chưa có chữ viết Thông thường nhất là các thứ phân

Trang 10

xếp loại từ, theo tinh thần song-thể và độc thể, như đơn âm với đa âm (thí dụ:

ô-nô-ma úi-cha, hay cà rịch cà tang, kí ca kí cóp, làm ăn, ăn nên làm ra, nhí

nhảnh, sạch sẻ, phương án, lên khung, đói khổ, nghèo đói, giàu sang), hay Hán

Việt với Nôm Thử xem các chữ như sương siu hay kỳ khu (xem ở trên, Tủi

than phận kỳ khu khó nhọc) thì sẽ thấy quốc ngữ thời mới kí âm có thể đã khác

với thời xử dụng sau đó vài mươi năm Chữ kỳ khu có thể giải mã nhanh chóng

bằng kiểu trực tuyến, thay đồi từ vựng: khu = khổ => kỳ khổ // kỳ = cơ => cơ

khổ (cũng có từ khác dùng với cơ là cơ hàn (nghèo đói)) // cơ = đói => kỳ khu

= đói khổ Tiếng Hán Việt của kỳ khu vào cuối thế kỷ 20, có lẻ là cơ khổ (飢苦),

nhưng cơ khổ cũng rất ít dùng, so với cơ hàn (nghèo đói) Cơ khổ (飢苦) có飢

tương đương với quanthoại [jī], Hán Việt cơ, ki, kì, và 苦 [kǔ] hay [gǔ] có phát

âm Hán Việt là khổ hoặc cổ Hai từ飢苦 [kì khu] có phát âm rất sát tiếng Hẹ [gi

khu], và ngày nay tiếng Việt chỉ biết đói khổ chứ không rõ kì khu

Việt (Nôm) Âm giống Nôm Âm giống Hán-Việt Ghi Chú

tai 1 (ear) 耳仔 [ji zai]QĐ [ji] nhỉ ~nhị (2) Hakka: [gni zai], [gni] => nhỉ (V) cậu 舅仔 [kau zai]QĐ [kiu]H // cữu2 Cậu 舅: maternal uncle (Nôm: 舅 舅 舅)

oan 冤 [uan]PK [uêng]T: oan uổng uổng => [uêng]T Nôm: 寃 寃

ngang (ngạnh) 硬 [ngæng] W [ngan]TH ~ ngạnh cứng đầu (stubborn)

hên 幸 [hêng]TC [hang]QĐ ~ hạnh may/ vận may => hạnh vận 幸運

cũng 共 [gong]QT [kun]TH ~ cung cộng,cung,củng (HV)//cùng/cũng (N)

bờ 畔 [boe]TôC [pan]QT - bạn [buan]PK /[beu]TH / Nôm: 坡 坡 bãi 畔 [bhai]T [mei]QT - mi bãi ᔣ ᔣ ᔣ: water edge, beach

bắt chước 則[zet]H[tzek]G [zak]QĐ – tắc bắt~Thai [dtaam baaep]:bắt chước3

binh (protect) 屏 [ping]T [bing]QT – bính Also: bênh ~ [bëng]G (兵 兵 ) sai (order) 使 [sai]T [sy]PK, [shi]QT sử sử / sứ - Nôm: 差 [*} 差

bãi 罷 [bǎi] QT [pí]QT - bì Nôm: 罷 罷 bãi trường

bừa / rake 耙 [bê]QT,[pa]W [ba]QT - bá Nôm: 耙

bừa/disorderly 悖 [bue]PK [bois]G – bội bừa bãi (bãi ~ [be]TH), 耙 耙

khoan (chưa) 完 [guan]G [wan]QT - hoàn (not yet) 未完 [müeis guan]G / 寛 khoan 宽 [kuan]QT [khuan]G -khoan chậm lại/ từ từ 寛

CHÚ THÍCH: 1 Tai ~ tay 2 Chữ viết nghiêng là âm Hán Việt rất giống kí âm địa

phương 3 則 [ze] có thể mang nghĩa đi theo, bắt chước Chữ Nôm 斫 [chước] có

phiên âm quan thoại (pinyin) [zhuo], tương ứng với 捉 [zhuo] (tróc)/ [zok] Hakka

(Hẹ), và phát âm [zuk] khu vực Thẩm Quyến (Vi-Đầu Weitou) rất giống chước, mang

nghĩa bắt, chộp (catch) trong từ kép bắt chước Các chữ viết tắt: QĐ= Quảng Đông,

QT= Quan Thoại, T=Tiều (Triều Châu), PK= Phúc Kiến, TH= Thượng Hải (Ngô), H=

Hẹ, TôC= Tô Châu, W= Weitou (Vi-Đầu / Thẩm Quyến, G= Guangyun (tức âm phiên

thiết, dựng lại âm cổ thời), N= Nôm, QN= quốc ngữ Các kí âm phương ngữ viết theo

a-b-c dựa trên trang mạng cn.voicedic.com

Bảng so sánh một số từ Nôm với Hán Việt đính kèm sẽ cho thấy ranh giới hết

sức mơ hồ giữa tiếng Hán Việt và Nôm Thí dụ ngang ngạnh thường tưởng là

Ngày đăng: 28/12/2021, 09:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh một số từ Nôm với Hán Việt đính kèm sẽ cho thấy ranh giới hết sức mơ hồ giữa tiếng Hán Việt và Nôm - Th tim hiu ting vit 1 sai gon
Bảng so sánh một số từ Nôm với Hán Việt đính kèm sẽ cho thấy ranh giới hết sức mơ hồ giữa tiếng Hán Việt và Nôm (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w