CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN Từ đầu thế kỷ XIX, khi nước Anh và phần lục địa Tây Âu, rồi khu vực Bắc Mỹ, lần lượt bước vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa, t
Trang 1VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NAM BỘ
Bùi Thế Cường
Góp phần tìm hiểu biến đổi
xã hội ở Việt Nam hiện nay
Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Trang 2VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NAM BỘ Bùi Thế Cường
Góp phần tìm hiểu biến đổi
xã hội ở Việt Nam hiện nay
Kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.02.10
(2001-2005)
Nhà xuất bản Khoa học xã hội 2010
Trang 3NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TRONG ĐỀ TÀI KX.02.10 (PHẦN XÃ HỘI)
1 PGS.TSKH Bùi Quang Dũng Viện Xã hội học
2 TS Dương Chí Thiện Viện Xã hội học
3 ThS Đặng Ngọc Quang Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn
4 PGS.TS Đặng Nguyên Anh Viện Khoa học xã hội Việt Nam
5 ThS Đặng Việt Phương Viện Xã hội học
6 ThS Đỗ Minh Khuê Viện Xã hội học
7 TS Đỗ Thiên Kính Viện Xã hội học
8 ThS Lê Hải Hà Đại học Y tế công cộng
9 ThS Lê Mạnh Năm Viện Xã hội học
10 TS Lê Thanh Sang Viện Phát triển bền vững Vùng Nam Bộ
11 TS Lưu Hồng Minh Học viện Chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
12 PGS.TS Mai Quỳnh Nam Viện Nghiên cứu con người
13 PGS.TS Mai Văn Hai Viện Xã hội học
14 ThS Nguyễn Đức Chiện Viện Xã hội học
15 TS Nguyễn Đức Truyến Viện Xã hội học
16 ThS Nguyễn Hồng Quang Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn về phát triển
17 TS Nguyễn Hữu Dũng Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội
18 Nguyễn Phan Lâm Viện Xã hội học
19 ThS Phạm Liên Kết Viện Xã hội học
20 PGS.TS Phạm Văn Bích Viện Xã hội học
21 Phạm Xuân Đại Viện Xã hội học
22 GS.TS Tô Duy Hợp Viện Xã hội học
23 PGS.TS Trần Hữu Quang Viện Phát triển bền vững Vùng Nam Bộ
24 TS Trịnh Hòa Bình Viện Xã hội học
25 Trịnh Huy Hóa Nhà nghiên cứu tự do
26 TS Trương Xuân Trường Viện Xã hội học
27 TS Võ Công Nguyện Viện Phát triển bền vững Vùng Nam Bộ
28 PGS.TS Vũ Tuấn Huy Viện Xã hội học
Trang 4CHƯƠNG MỘT CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1 Xã hội học về công nghiệp hoá hiện đại hoá
1.2 Những quan điểm xã hội học cơ bản
1.3 Hiện đại hóa nhìn từ khái niệm phát triển
1.4 Từ lý luận đến định hướng tư tưởng và triển khai chính sách
1.5 Lý luận phát triển quốc tế: Tóm tắt và kiến nghị
CHƯƠNG HAI KHUNG PHÂN TÍCH HIỆN THỰC XÃ HỘI VIỆT NAM
2.1 Khuôn mẫu văn hoá-xã hội
2.2 Tương tác của ba khuôn mẫu: Một khung lý thuyết để nhìn thực tế Việt Nam
2.3 Toàn cầu là xuất phát điểm
2.4 Kết hợp chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội
2.5 Bản đồ tác động xã hội
2.6 Đi tìm một diễn giải lý luận: Tóm tắt và kiến nghị
CHƯƠNG BA ĐỘNG THÁI DÂN SỐ VÀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI
3.1 Kỷ nguyên dân số vàng
3.2 Di dân
3.3 Già hoá dân số
3.4 Động lực dân số: Tóm tắt và kiến nghị
CHƯƠNG BỐN VĂN HÓA
4.1 Văn hóa nhìn từ quan điểm hiện đại hóa
4.2 Những vấn đề văn hóa hiện nay
4.3 Hiện đại hóa văn hóa: Tóm tắt và kiến nghị
CHƯƠNG NĂM BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ KẾT CẤU XÃ HỘI
5.1 Khái niệm
5.2 Một tóm lược về kết cấu xã hội Việt Nam
5.3 Kết cấu xã hội: Nhìn từ phân tích định lượng
5.4 Kết cấu xã hội: Một phân tích định tính
5.5 Điều chỉnh kết cấu xã hội: Tóm tắt và kiến nghị
CHƯƠNG SÁU PHÚC LỢI XÃ HỘI
Trang 56.1 Khái niệm phúc lợi xã hội
6.2 Phúc lợi xã hội trong xã hội công nghiệp
6.3 Mô hình phúc lợi xã hội ở Việt Nam
6.4 Phúc lợi xã hội: Nhìn từ phân tích định lượng
6.5 Những chủ đề chính của phúc lợi xã hội hiện nay
6.6 Trở lại với lý tưởng phúc lợi toàn dân: Một kiến nghị khả thi?
CHƯƠNG BẢY MÔ HÌNH XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
7.1 Mô hình đã hình thành
7.2 Mười vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến phát triển: quản lý biến đổi xã hội
7.3 Các nhân tố bất ổn định: quản lý khủng hoảng
7.4 Những giải pháp nhìn từ tiếp cận xã hội học
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
FDI Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài
HDI Chỉ số Phát triển Con người
ODA Viện trợ Phát triển Chính thức
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc
VLSS Khảo sát Mức sống Việt Nam
VNHS Điều tra Sức khỏe Quốc gia
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lý luận, định hướng tư tưởng và triển khai vào định hướng chính sách
Bảng 2.1 Khuôn mẫu văn hoá-xã hội
Bảng 2.2 Ba khuôn mẫu văn hoá-xã hội trong thực tế xã hội Việt Nam hiện nay
Bảng 2.3 Cấu trúc của Đổi Mới và những tác động xã hội
Bảng 3.1 Tổng tỷ suất phụ thuộc của 9 nước trong khu vực (1950-2050), %
Bảng 3.2 Năm bắt đầu và độ dài của "kỷ nguyên dân số vàng" 9 nước trong khu
vực
Bảng 3.3 Di dân nội địa theo vùng địa lý, 1994-1999
Bảng 3.4 Phân bố các loại hình di dân theo giới, 1994-1999
Bảng 3.5 Dự báo dân số người cao tuổi Việt Nam dựa trên Tổng điều tra dân số
1999, 2000-2020
Bảng 3.6 Dân số người cao tuổi Việt Nam, số liệu 2005-2006
Bảng 3.7 Học vấn, hoạt động kinh tế, hôn nhân và nơi cư trú của người cao tuổi
Việt Nam (60+) theo giới và tuổi, 1999
Bảng 3.8 Yếu tố tác động và định hướng chính sách trong kỷ nguyên dân số vàng
Bảng 3.9 Động lực di dân và định hướng chính sách
Bảng 3.10 Yếu tố tác động và định hướng chính sách người cao tuổi
Bảng 4.1 Khác biệt giữa kiểu xã hội cổ truyền và xã hội hiện đại
Bảng 4.2 Những mặt mạnh về văn hoá của xã hội/con người Việt Nam
Bảng 5.1 Chi tiêu thực tế đầu người và mức nghèo
Bảng 5.2 Tỷ trọng chi tiêu của mỗi nhóm 20% (ngũ phân vị)
Bảng 5.3 Phân bố lao động làm công, làm thuê theo 5 nhóm mức sống phân nhóm
trên cơ sở mức chi tiêu trong từng khu vực kinh tế-chính trị, 1998
Bảng 5.4 Phân bố lao động làm công, làm thuê theo khu vực kinh tế-chính trị
trong từng nhóm mức sống phân nhóm trên cơ sở mức chi tiêu, 1998
Bảng 5.5 Phân bố lao động của 5 nhóm mức sống theo kết cấu kinh tế chính trị,
1998
Bảng 5.6 Phân bố thu nhập tiền công tháng theo kết cấu kinh tế chính trị, 2002
Bảng 5.7 Phân bố thu nhập tiền công tháng theo khu vực giai tầng, 2002
Bảng 5.8 Phân bố thu nhập tiền công tháng theo phân loại nghề nghiệp của Tổng
cục Thống kê, 2002
Bảng 6.1 Sơ đồ khái niệm hóa loại hình rủi ro xã hội và cơ chế quản lý rủi ro xã hội
Bảng 6.2 Ba mô hình phúc lợi xã hội ở Việt Nam
Bảng 6.3 Tỷ lệ % người nhận thu nhập từ phúc lợi xã hội theo đô thị/nông thôn
Bảng 6.4 Tỷ lệ % người nhận thu nhập từ phúc lợi xã hội theo 5 nhóm chi tiêu
Bảng 6.5 Thu nhập từ phúc lợi xã hội theo đô thị/nông thôn
Bảng 7.1 Một sơ đồ khái niệm hoá các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển xã hội
hiện nay
Trang 8DANH MỤC HỘP VÀ HÌNH
Hộp 2.1 Vai trò của thể chế trong cải cách: Phỏng vấn của VietnamNet với ông
Grzegorz Kolodko, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Ba Lan
Hình 3.1.Tỷ suất dân số phụ thuộc, Việt Nam 1950-2050
Hộp 4.1 Định hướng giá trị “sự giàu có” trong người lãnh đạo và người dân: Phỏng vấn
của VietnamNet với ông Grzegorz Kolodko, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Ba Lan
Hộp 4.2 Thanh niên Việt Nam đang "tụt hậu từ A đến Z" so với thanh niên trong khu
vực và thế giới: Lo lắng được đặt ra trong Hội thảo "Hội nhập quốc tế thanh
niên" do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức sáng
5/6/2004
Hộp 4.3 Cần và có thể tạo nên một khí thế công nghiệp hóa hiện đại hóa không?
Hộp 4.4 Nhiều cách nghĩ và cách làm, khi xem xét kỹ, hóa ra là biểu hiện của “hệ văn
hóa người Kinh”
Hộp 4.5 Văn hóa là một lối làm việc nảy sinh từ một hệ tri thức, bao gồm thế giới quan: Hiện đại hóa có một lối làm việc chung không?
Hộp 5.1 Những “câu chuyện” mới trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: Người giàu
Hộp 5.2 Những “câu chuyện” mới trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: Người công
nhân di cư
Hộp 5.3 Những “câu chuyện” mới trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: Người
nông dân ở một làng cách Hà Nội 20 km
Hộp 6.1 Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam: Một cố gắng bền bỉ trong nhiều thập niên của
Nhà nước phúc lợi kiểu Việt Nam
Hộp 6.2 Phúc lợi doanh nghiệp ngày càng trở thành một điểm “nóng” xã hội
Trang 9Trong cuốn sách, trước hết tác giả thử xây dựng một vài quan điểm mang tính xã hội học để lý giải khía cạnh xã hội quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam trên cấp độ vĩ mô Bản thân quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề xã hội cơ bản, bao trùm nhất Tiếp theo, tác giả phân tích hiện trạng và những vấn đề đặt ra trong 4 chủ đề liên quan mật thiết đến khía cạnh xã hội của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay Đó là: dân số, văn hóa, kết cấu xã hội, và phúc lợi xã hội Đây là bốn lĩnh vực xã hội then chốt tạo nên những cột trụ của quá trình hiện đại hóa một xã hội Chúng cũng tạo nên những động lực xã hội của quá trình này Cuối cùng, cuốn sách đề cập đến những đặc điểm của mô hình xã hội hiện tại, những vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển hiện nay và các nhân tố bất ổn định Trên
cơ sở đó kiến nghị giải pháp liên quan đến 3 cấp độ quản lý xã hội: quản lý chiến lược, quản lý biến đổi xã hội và quản lý khủng hoảng
Tác giả chân thành cảm ơn GS.TS Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Giám đốc Chương trình KX.02 đã tạo điều kiện cho tác giả có cơ hội thực hiện Đề tài KX.02.10, chân thành cảm ơn nhiều đồng nghiệp đã tham gia vào viết các chuyên đề nghiên cứu của Đề tài
Bùi Thế Cường
Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ
cuongbuithe@yahoo.com
Trang 10CHƯƠNG MỘT CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Từ đầu thế kỷ XIX, khi nước Anh và phần lục địa Tây Âu, rồi khu vực Bắc Mỹ, lần lượt bước vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa, thì giới lãnh đạo, giới nghiên cứu
và công luận đã luôn luôn tranh luận về bản chất và các hệ quả của quá trình xã hội to lớn đó, một hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử loài người Vào thời ấy, đây được xem là vấn đề xã hội cơ bản nhất, bao trùm nhất, nó chi phối mọi quá trình và hiện tượng xã hội khác Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, một loạt nước không thuộc phần đất Tây-Bắc Âu và Bắc Mỹ cũng bước vào quá trình này với những hoàn cảnh và kinh nghiệm mới Trong suốt vài thập niên ở những nước đó, quá trình này cũng được xem là vấn đề xã hội trung tâm của quốc gia, đòi hỏi toàn bộ thời gian và nỗ lực của giới làm chính sách cũng như học thuật
1.1 XÃ HỘI HỌC VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ
Trên thế giới và trong lịch sử, có nhiều tên gọi cho quá trình xã hội tương tự như quá trình đang diễn ra hiện nay ở Việt Nam Cùng với thuật ngữ là những quan niệm và lý thuyết Nói chung,
có ba thuật ngữ thông dụng: công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển Ba tên gọi nói trên có những hàm nghĩa và nội dung khác nhau, xuất hiện trong những bối cảnh lịch sử khác nhau Nhưng mặt khác, chúng đều ít nhiều nói đến một quá trình xã hội vĩ mô và dài hạn chung, từ một trạng thái xã hội này đến một trạng thái xã hội khác
Chẳng hạn, industrialism là một thuật ngữ bao hàm rộng hơn lĩnh vực công nghệ và kinh tế Từ điển bách khoa Anh định nghĩa hiện đại hoá là "sự chuyển biến (transformation) từ một xã hội truyền thống, nông thôn, nông nghiệp sang một xã hội thế tục (secular), đô thị, công nghiệp Xã hội hiện đại là xã hội công nghiệp Để hiện đại hoá một xã hội thì trước hết phải công nghiệp hoá nó Về mặt lịch sử, sự nổi lên của xã hội hiện đại gắn liền với sự nổi lên của xã hội công nghiệp Mọi đặc điểm liên quan đến tính hiện đại (modernity) đều gắn với những biến đổi, trong không đầy hai thế kỷ, đưa đến kiểu xã hội công nghiệp Điều này gợi ý rằng thuật ngữ chủ nghĩa công nghiệp (industrialism) và xã hội công nghiệp hàm ý nhiều hơn là tính kinh tế và công nghệ, cho dù đó là những cốt lõi Chủ nghĩa công nghiệp là một lối sống (way of life) bao gồm những biến đổi kinh tế, xã hội, chính trị, và văn hoá Thông qua sự chuyển biến tổng thể của công nghiệp hoá mà xã hội trở thành hiện đại" (Dẫn lại theo Wischermann, 2001)
Khi bước vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay (được xác định từ Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996), Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm của các nước cũng như của chính bản thân mình Thế giới đã biết đến những mô hình công nghiệp hóa hiện đại hóa được gọi là cổ điển (tức là mô hình mà những nước tiên tiến đã đi trong thế kỷ XIX) như Anh,
Mỹ, Pháp, Đức; mô hình bán cổ điển như Thuỵ Điển, Nhật ở thế kỷ XX Bản thân các nước được gọi là phát triển cao ngày nay cũng đã có những phiên bản khác nhau và có nhiều tiến triển nội tại Nói chung, người ta cho rằng có hai phiên bản: phiên bản Anglo-saxon nghiêng nhiều hơn về kinh tế thị trường tự do và phiên bản châu Âu lục địa nghiêng nhiều hơn theo đặc tính dân chủ xã hội Có thể xem Mỹ là một cực còn Thụy Điển là một cực đối lại, các nước khác nằm ở khoảng đâu đó giữa hai cực điển hình này, thể hiện những sự kết hợp khác nhau của hai mô hình điển hình đó
Nhưng ngay cả trong một nước thì trong tiến trình lịch sử của mình cũng đi theo một con đường ziczac Chẳng hạn, nước Anh đã chuyển từ một hình thái chủ nghĩa tư bản tự do trong thế kỷ XIX, để rồi phát triển rất nhiều theo hướng dân chủ xã hội trong thế kỷ XX, đặc biệt giai đoạn
Trang 11sau 1945 đến cuối thập niên 1970 Nhưng đến thập niên 1980 lại chuyển hướng theo mô hình tân tự do (đầu những năm 1980 ở Anh và Mỹ chứng kiến sự thống trị của chủ nghĩa Thatcher
và chủ nghĩa Reagan, còn được gọi là hai cuộc cách mạng bảo thủ)
Khu vực Đông Á và Đông Nam Á đã cống hiến cho nhân loại một kiểu công nghiệp hóa hiện đại hóa khá thành công như ở Hàn Quốc, lãnh thổ Đài Loan, đặc khu Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan Với một vài đặc tính tương đối giống nhau, người ta gộp chung những cách làm này trong thuật ngữ “mô hình Đông Á”
Nhìn chung, từ thập niên 1950 các nước Mỹ Latin đi theo con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa kiểu Mỹ, nhưng trong nhiều năm sa lầy vào một sự phát triển sai và bế tắc, ngoại trừ sự thành công muộn hơn ở Chi Lê trong hai thập niên phát triển 1980-1990
Thế kỷ XX chứng kiến sự nổi lên của mô hình công nghiệp hóa hiện đại hóa mang tính xã hội chủ nghĩa trước hết ở Nga và sau đó lần lượt ở một loạt nước Trung Á, Đông Âu, châu Á Phần lớn các nước này gộp thành mô hình công nghiệp hóa hiện đại hóa mang tính xô viết Người ta cũng còn thấy có mô hình bán xã hội chủ nghĩa như ở Ấn Độ và Algerie, mô hình xã hội chủ nghĩa châu Phi Khu vực Mỹ Latin từ vài năm gần đây xuất hiện mô hình xã hội chủ nghĩa cánh
tả mới, được gọi là chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI
Sau vài thập niên thực hiện mô hình công nghiệp hóa hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa mang tính
xô viết và mang đặc tính riêng của mình, từ 1978 Trung Quốc đang thử nghiệm khá thành công việc chuyển từ mô hình xã hội chủ nghĩa chính thống sang mô hình công nghiệp hóa hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa mang tính cải cách
Một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam có vẻ như vẫn quan niệm rằng Việt Nam đang ở trong bước
đi ban đầu của quá trình hiện đại hóa, rằng về cơ bản xã hội Việt Nam vẫn nặng tính truyền thống Theo chúng tôi, bản thân Việt Nam đã bị cuốn vào quá trình hiện đại hóa toàn cầu từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt từ đầu thế kỷ XX, dưới áp lực của chủ nghĩa thực dân Pháp Tuy cho đến nay Việt Nam vẫn còn ở vị trí thấp trong bảng xếp hạng phát triển quốc tế, song thực ra xã hội Việt Nam đã biến đổi rất nhiều trong suốt thế kỷ XX, nếu so với chính nó
Trong vài thập niên đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã hình thành cả một mạng lưới đường sắt
và đường bộ trên cả nước mà cho đến nay về cơ bản vẫn còn sử dụng trên cơ sở mở rộng và nâng cấp Nhiều cơ sở công nghiệp đã xuất hiện trong thời Pháp trước 1945, trong thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật ở miền Bắc (1955-1975), trong thời kỳ 1954-1975 ở miền Nam Chỉ trong 1-2 thế hệ, người Việt Nam đã chứng kiến hàng loạt biến đổi: chữ quốc ngữ, thơ mới, văn học mới, nhạc mới, sân khấu, điện ảnh, báo chí, y phục, thể thao, v.v Hàng loạt định chế xã hội kiểu hiện đại cũng đã ra đời: chính quyền, đảng phái, quốc hội, hiệp hội, công đoàn, tư pháp, hệ thống giáo dục phổ thông, bệnh viện và hệ thống y tế, khoa học và giới trí thức Sản xuất và tiêu dùng bắt đầu dựa trên công nghệ Nảy sinh những giá trị và chuẩn mực trong lối sống khác xa với cổ truyền
Vào thập niên 1910, Việt Nam vẫn còn cần một phong trào Đông Kinh nghĩa thục để áp dụng một số "lối sống mới" (áo ngắn, bỏ tóc dài búi tó, chẳng hạn) Và rồi đến đầu Cách mạng tháng Tám 1945, Hồ Chủ tịch vẫn còn phải kêu gọi xây dựng "đời sống mới", bởi còn có quá nhiều
hủ tục Cho đến tận đầu những năm 1960, nông thôn miền Bắc vẫn còn sống trong tình trạng rất mất vệ sinh về mặt nước sinh hoạt và hố xí Vào khoảng thời gian này (cuối thập niên 1950 đầu
Trang 121960), Việt Nam ở trong tình trạng xấp xỉ các nước trong khu vực về mức sống và trình độ phát triển công nghiệp, giáo dục
Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã đặt đất nước vào một xuất phát điểm hiện đại hóa mới Từ cuối thập niên 1950, miền Bắc Việt Nam đã bước vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa mang tính xã hội chủ nghĩa, nhưng quá trình này đã bị chiến tranh làm chậm lại, để rồi lại được khởi động mạnh mẽ trở lại sau 1975 Trong một phương hướng sai lầm chung của cả khối xã hội chủ nghĩa hiện thực, Việt Nam đã phải đặt lại vấn đề công nghiệp hóa hiện đại hóa bằng một đường lối mới mà ta gọi là Đổi Mới Giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa mới này đã diễn ra được gần 25 năm, trong đó mười năm đầu tập trung vào việc khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội (1986-1996), mười năm tiếp theo đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa trên cơ sở bước đầu tham gia vào toàn cầu hóa (1996 đến khoảng giữa những năm 2000), những năm gần đây đánh dấu bước phát triển mới ngày càng hội nhập vào đời sống quốc tế (từ
2006 đến nay, sau khi Việt Nam gia nhập WTO)
Tóm lại, dù nói thế nào thì xã hội Việt Nam cũng đã được công nghiệp hoá hiện đại hoá mãnh liệt trong suốt thế kỷ XX Ngay các cuộc chiến tranh cũng không làm giảm, thậm chí theo nhiều nghĩa, còn thúc đẩy hiện đại hoá, mặc dù chiến tranh đã làm méo mó quá trình này
Quan niệm về biến đổi xã hội gắn với thực tế lịch sử nêu trên giúp ta nhìn toàn cảnh xã hội rõ hơn Nó cho thấy quá trình kiến tạo xã hội hiện đại ở Việt Nam diễn ra với nhiều éo le lịch sử, nhiều dở dang, phần lớn chịu sự áp đặt của các thế lực ngoại bang Chỉ đến thời kỳ Đổi Mới hiện nay, người Việt Nam mới có điều kiện thúc đẩy hiện đại hóa xã hội trong điều kiện có chủ quyền đầy đủ, mặc dù dưới những áp lực rất lớn của môi trường kinh tế-chính trị quốc tế 1.2 NHỮNG QUAN ĐIỂM XÃ HỘI HỌC CƠ BẢN
Để nhìn vào một quá trình biến đổi xã hội mang tính vĩ mô và lịch sử như quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, người ta cần phải dựa trên một nền tảng lý luận nhất định Mục này trình bày một vài quan điểm xã hội học cơ bản, chúng giúp cho nhà nghiên cứu và nhà quản lý quá trình biến đổi xã hội hiện nay ở Việt Nam dùng làm công cụ để nhìn vào thực tế, hiểu và tác động vào thực tế
1.2.1 QUAN ĐIỂM HÌNH THÁI XÃ HỘI
Chủ nghĩa Mác là một hệ thống tư tưởng phức thể, bao gồm nhiều lý thuyết khác nhau Một trong những lý luận then chốt của chủ nghĩa Mác là lý luận hình thái xã hội Theo Mác, xã hội loài người có thể được hiểu dưới khái niệm hình thái xã hội, bao gồm mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành phương thức sản xuất Phương thức sản xuất tạo nên cơ sở hạ tầng xã hội mà trên đó là kiến trúc thượng tầng xã hội Lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất thích ứng với nhau, lực lượng sản xuất là yếu tố động, biến đổi trước, và sẽ biến đổi đến khi không còn thích hợp với quan hệ sản xuất nữa thì khi đó một thời đại cách mạng xuất hiện Sở dĩ như thế là vì loài người không muốn bị mất hết lực lượng sản xuất, nên sẽ từ bỏ quan hệ sản xuất hiện tồn để giữ lấy những gì đã đạt được về mặt lực lượng sản xuất Tương tự,
từ cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra một xã hội dân sự, các giai cấp, từ đó có một nhà nước và các hình thái hệ tư tưởng tương ứng Luận điểm cơ bản này mô tả cấu trúc của một xã hội tổng thể và
“trật tự” của logic và cơ chế của sự biến đổi xã hội
Trang 13Toàn bộ văn bản của Mác cũng cho ta cơ sở để hiểu các động lực của biến đổi xã hội Trong mô hình lý luận chung của Mác, động lực biến đổi xã hội trước hết là lực lượng sản xuất trong sơ
đồ cơ chế quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; là phương thức sản xuất trong
sơ đồ hình thái xã hội; là đấu tranh giai cấp trong sơ đồ phân tích chính trị như là biểu hiện tập trung của kinh tế Và cuối cùng là vai trò tích cực của hệ tư tưởng và con người như là chủ thể của lịch sử
Sau này nhiều trào lưu mác-xít khác nhau, nhiều nhà mác-xít khác nhau đã “sửa đổi”, “phát biểu lại”, “hiểu khác đi” những luận điểm trên của Mác theo những cách khác nhau (bản thân đoạn trên cũng chỉ là một cách diễn giải lại Mác theo cách hiểu chủ quan của tác giả cuốn sách này) Những sửa đổi và biến thể như vậy là không thể tránh khỏi đối với một lý thuyết hay học thuyết lớn như của Mác khi trở thành di sản chung của lịch sử và nhân loại
Những cách hiểu và vận dụng chủ nghĩa Mác một cách khác nhau là do tác động của bối cảnh
xã hội, do các mục đích xã hội cụ thể, v.v Người ta thường nhắc đến một số cách hiểu phát triển mới như: quan hệ sản xuất có thể đi trước, tạo điều kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất; cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra trước ở những nước không phải là tiên tiến nhất Bản thân cách hiểu này có thể không sai nếu được hiểu trong những giới hạn nhất định, song cái mức độ đẩy lên trong cách làm trong thực tế có thể làm cho những bổ sung, sửa đổi như vậy trở nên nguồn gốc của hành động sai lầm và thất bại Đây đã là hiện tượng chung của hầu như mọi nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa
Mặt khác, như chính Mác và Engels đã nhấn mạnh, học thuyết của các ông chủ yếu chỉ là kim chỉ nam chứ không phải là cẩm nang sẵn có cho mọi vấn đề Hai ông nhấn mạnh rằng không thể lấy những công thức lý luận của hai ông để thay thế cho sự phân tích cụ thể Trong thực tế, không ít người tự nhận là mác-xít đã tự bằng lòng với việc nhắc đi nhắc lại lý luận hình thái xã hội nói trên theo một kiểu cách mang tính công thức, dùng nó để diễn giải một cách võ đoán và thô thiển hiện thực xã hội cụ thể mà họ phải đối mặt Điều này cũng giống như là dùng một cái bản đồ thế giới để tìm đường đi trong một thành phố cụ thể như Paris, Moskow, Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh vậy
1.2.2 QUAN ĐIỂM CHỨC NĂNG-CẤU TRÚC-TIẾN HÓA
Trong thực tế khoa học xã hội, người ta thấy có ba quan điểm lý thuyết khác biệt nhau: chức năng, cấu trúc và tiến hóa Có thể xem chúng cùng tạo nên một hệ quy chiếu (paradigm) để nhìn vào quá trình hiện đại hóa, một hệ quy chiếu tạm gọi là tiếp cận chức năng-cấu trúc-tiến hóa
Tiếp cận này nhìn hiện đại hoá như là biến đổi xã hội dài hạn, chú ý đến khu biệt hoá xã hội, hình thành và sắp xếp lại các định chế, phân công lao động, liên kết xã hội Nó cũng tạo ra tiền
đề lý luận cho thuyết hiện đại hoá theo nghĩa xem hiện đại hoá như là quá trình tất yếu lịch sử khách quan, không thể tránh khỏi, mang tính hội tụ, về tổng thể dài hạn là tuyến tính (ngày càng đi lên)
Có thể tóm tắt tư tưởng cơ bản của tiếp cận này như sau Xã hội có thể được nhìn như là một hệ thống có cấu trúc bên trong và tiến hóa theo quy luật Hệ thống xã hội bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau theo một cấu trúc (các quan hệ xã hội bền vững) nhất định, cấu trúc này vận hành theo những cách thức nhất định (cơ chế hoạt động) để tạo nên cái toàn bộ
Trang 14của hệ thống Sự vận hành này tạo nên (hay là tuân theo) một sự tiến hóa: hệ thống xã hội đi từ mức độ đơn giản đến phức tạp về mặt chức năng-cấu trúc Cấu trúc của hệ thống xã hội ngày càng bao gồm các định chế được khác biệt hóa sâu hơn về mặt chức năng Sự đóng góp vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng
Từ ý tưởng cơ bản trên, tiếp cận chức năng-cấu trúc-tiến hóa tiến đến một khái niệm then chốt trong thao tác phân tích Đó là khái niệm định chế hay thiết chế (institution) Định chế bao hàm một loạt hiện tượng xã hội phong phú thuộc những lĩnh vực xã hội rất khác nhau, chẳng hạn trong lĩnh vực giao tiếp (định chế chào hỏi, xã giao, thảo luận), trong sản xuất kinh doanh (công
ty, giao dịch thương mại), trong dịch vụ xã hội (bệnh viện, nhà dưỡng lão), tư pháp (xử án, nhà tù), giáo dục (nhà trẻ, trường phổ thông, đại học), tôn giáo (nhà thờ, giáo hội), thể thao (câu lạc
bộ bóng đá, liên đoàn thể thao), v.v Tất cả những cái đó đều là các định chế, chúng là những bộ phận hợp thành của thực tế đời sống của con người, là yếu tố cơ bản trong nền văn hoá đang sống của họ E Durkheim cho rằng xã hội học là môn khoa học về các định chế, theo ông vì các định chế làm nên cái cốt lõi của hiện thực xã hội
Định chế là sự hợp tác được quy tắc hoá của con người, nhằm đáp ứng, thoả mãn một hay một vài nhu cầu xã hội cơ bản nào đó B Malinowski cho rằng định chế là một tập hợp thống nhất của bốn thành tố Thứ nhất, một ý tưởng hay định luận nào đó (charter, idée diréctrice, Leitidee) được các thành viên của một xã hội hay một nhóm thừa nhận và củng cố Thứ hai, một tập hợp người đảm nhiệm những vai trò nhất định Thứ ba, một tập hợp văn hoá hướng dẫn và điều chỉnh ứng xử của các thành viên (bao gồm các ý nghĩa, giá trị, chuẩn mực, biểu trưng, nghi thức) Và cuối cùng, một tập hợp các thể nền vật chất gắn với định chế Quan hệ của bốn thành
tố này tạo nên cấu trúc của một định chế, tương tác qua lại của chúng tạo nên sự vận hành của cấu trúc (dynamics hoặc cơ chế - mechanism) Phân tích định chế tức là mô tả và giải thích cấu trúc cũng như sự vận hành của cấu trúc của một định chế
Vào nửa sau thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu theo hệ quy chiếu chức năng-cấu trúc-tiến hóa
đã xây dựng lý luận và tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề "biến đổi xã hội" Lý thuyết khác biệt hoá (differentiation) là một trong các sản phẩm của những nỗ lực như vậy Theo P.B Colomy (1986), lý thuyết khác biệt hoá có ba ý tưởng chính Thứ nhất, nó cho rằng
có một "xu hướng chủ đạo" của biến đổi xã hội hiện đại: đó là sự thay thế các định chế và các vai trò đa chức năng (multi-functional) bằng các đơn vị chuyên môn hoá hơn
Người ta thường thấy nghiên cứu xã hội học vĩ mô về biến đổi xã hội đòi hỏi phải đưa ra một
xu hướng chủ đạo, kèm theo đó là một khái niệm mang tính chỉ đạo cho việc xây dựng lý thuyết
và nghiên cứu Chẳng hạn, trong thời kỳ xã hội học cổ điển, Mác đề xuất khái niệm hình thái xã hội (bao gồm trong đó khái niệm phương thức sản xuất) làm công cụ phân tích chính M Weber thì lấy "hợp lý hoá" (rationalization) làm khái niệm trung tâm Durkheim phân tích sự chuyển đổi từ gắn kết cơ giới sang gắn kết hữu cơ (mechanic, organic solidarity) Trong thời kỳ
xã hội học hiện đại, xuất hiện lý thuyết hội tụ nhấn mạnh vào xu hướng ngày càng tương đồng, quy tụ của các xã hội hiện đại hoá, lý thuyết các hệ thống thế giới xây dựng trên trục cơ bản là mối quan hệ trung tâm-ngoại vi Tương tự, các nhà lý luận khác biệt hoá xem xu hướng chủ đạo của biến đổi xã hội là việc thay thế các định chế và vai trò đa chức năng bằng các đơn vị được chuyên môn hoá hơn
Thứ hai, lý thuyết khác biệt hóa nêu lên một khung giải thích về nhu cầu xã hội cho việc quá độ
từ đơn vị đa chức năng sang cấu trúc chuyên môn hoá hơn Khi các yêu cầu chức năng không
Trang 15được thoả mãn một cách hiệu quả, sẽ nổi lên những căng thẳng và mâu thuẫn, chúng sẽ lại thúc đẩy việc tạo ra những giải pháp khác biệt hoá có hiệu quả hơn Có thể gọi đây là khung phân tích "căng thẳng sản sinh ra khác biệt hoá" Sự khác biệt hoá sẽ được thúc đẩy do một cấu trúc đang vận hành một cách không thích đáng, cấu trúc này là nguyên nhân tạo nên sự không hài lòng lan rộng Một biến đổi sẽ kết thúc với việc thiết chế hoá một đơn vị được khác biệt hoá nhiều hơn và một đơn vị có hiệu quả hơn Như vậy, việc thực hiện có hiệu quả hơn một chức năng đã cho sẽ là động lực để tạo ra những cấu trúc khác biệt hoá hơn
Thứ ba, lý thuyết khác biệt hoá cho rằng việc thiết chế hoá các đơn vị chuyên môn hoá hơn sẽ làm tăng kết quả và hiệu quả của hệ thống xã hội hoặc của các tiểu hệ thống Mức độ khác biệt hoá cao trong toàn bộ hệ thống sẽ đi liền với sự phổ quát hoá giá trị và tăng mức độ bao gồm, kết dính (inclusion), điều này lại đóng góp vào việc tái liên kết hệ thống đang trở nên phức thể hơn do khác biệt hoá
Trong thực tế, biến đổi cấu trúc diễn ra phức tạp hơn nhiều, bao gồm nhiều xu thế chồng lấn nhau mà không chỉ đơn giản chỉ có xu hướng khác biệt hoá Nhiều nghiên cứu thực nghiệm dựa trên lý thuyết khác biệt hoá phát hiện rằng, bên cạnh xu hướng khác biệt hoá chủ đạo còn có hàng loạt biểu hiện cụ thể khác: sự phi khác biệt hoá, khác biệt hoá không đều (unequal), khác biệt hoá không đồng bộ (uneven), khác biệt hoá không đầy đủ, khác biệt hoá hỗn độn
Phi khác biệt hoá diễn ra là do những bất mãn đối với quá trình hiện đại hoá, thể hiện ở một loạt hội chứng và phong trào chống lại khác biệt hoá Mức độ và phạm vi khác biệt hoá cũng diễn ra khác nhau ở các lĩnh vực xã hội khác nhau, điều này dẫn đến những căng thẳng cấu trúc và văn hoá, kết quả là xuất hiện sự khác biệt hoá không đều Khác biệt hoá không đồng bộ liên quan đến sự khác nhau về mức độ và phạm vi khác biệt hoá trong một khu vực thiết chế hay cấu trúc vai trò Khác biệt hoá không đầy đủ liên quan đến tình huống trong đó các bước khác biệt hoá cần thiết không được hoàn thành, khiến hai hay nhiều cấu trúc cùng chia sẻ hoặc cạnh tranh nhau một chức năng Khác biệt hoá hỗn độn diễn ra khi nhiều động lực xã hội tác động móc xích vào nhau khiến cho quá trình khác biệt hoá bị lôi kéo theo những hướng đối nghịch Những thực tế trên khiến cho quá trình khác biệt hoá chủ đạo đứng trước những lựa chọn, kết quả sẽ là những kết hợp pha trộn của các lựa chọn: hệ thống có thể tăng tỷ lệ, tạo ra những cấu trúc khác tương tự, thay đổi mức nhấn mạnh tương đối vào những chức năng khác nhau, bổ sung chức năng mới vào các cấu trúc đã có và ngược lại,
Như vậy, dựa trên hệ quy chiếu chức năng-cấu trúc-tiến hóa, các nhà tân chức năng luận đã cố gắng đưa ra một quan niệm về biến đổi xã hội, chủ yếu dựa trên khái niệm chủ đạo "khác biệt hoá" Lý thuyết này tập trung vào hai hệ quả trực tiếp: hiệu quả và sự tái liên kết tăng lên Việc tăng sự chuyên môn hoá cấu trúc thúc đẩy hiệu quả, nâng cao khả năng của hệ thống thích nghi linh hoạt với môi trường Yêu cầu về việc hệ thống nâng cao hiệu quả là động lực hàng đầu dẫn đến sự khác biệt hoá cấu trúc Xu hướng chủ đạo này làm cho liên kết xã hội trở thành vấn đề
Do đó, phải xuất hiện những mã văn hoá chung hơn và những thiết chế chuyên môn hoá phục
vụ cho sự liên kết xã hội Tuy nhiên, điều này diễn ra không tự động Các thiết chế khác biệt hoá tạo ra những cụm lợi ích mới, có thể đối nghịch với nhau Như vậy, khác biệt hoá tạo ra cả liên kết lẫn xung đột
Cho rằng các thời kỳ khác biệt hoá xã hội diễn ra nhanh dễ dẫn đến những phân cực và khủng hoảng xã hội, J Alexander, một nhà tân chức năng chủ chốt, cho rằng cần có năm điều kiện để đối phó thành công với biến động xã hội Thứ nhất, có sự đồng thuận xã hội ở mức đủ để bất kỳ
Trang 16một vi phạm chuẩn mực nào cũng sẽ bị xem là lệch chuẩn Thứ hai, có một số lượng đáng kể nhóm xã hội chia sẻ cảm nhận rằng sự vi phạm nói trên đe doạ cốt lõi của xã hội Thứ ba, hiệu quả tích cực của các thiết chế kiểm soát xã hội Thứ tư, sự huy động và đấu tranh giữa giới tinh hoa và công luận Thứ năm, có những giải thích biểu trưng hiệu quả
1.2.3 QUAN ĐIỂM HÀNH ĐỘNG XÃ HỘI
Một trong những song đề then chốt của khoa học xã hội là sự đối lập giữa việc nhấn mạnh vào cấu trúc xã hội hay nhấn mạnh vào hành động xã hội Thậm chí người ta còn nói rằng có hai xã hội học: một ưu tiên đặt cấu trúc xã hội lên trên (cấu trúc luận), một xem các hệ thống xã hội là
sự sáng tạo, là sản phẩm của con người (các lý thuyết hành động hoặc tương tác luận) Bên cạnh tiếp cận chức năng-cấu trúc-tiến hóa nêu trên, người ta thấy xuất hiện một tiếp cận khác, nhấn mạnh đến chiều cạnh ngược lại
Mác thường được xem là nhà cấu trúc luận và thực chứng luận, vì nghiên cứu của ông chủ yếu
ở cấp độ vĩ mô, ông đặt cho mình nhiệm vụ khám phá những cấu trúc xã hội khách quan, ẩn ngầm bên dưới chi phối đời sống xã hội, và ông xem sự phát triển xã hội như là một tiến trình lịch sử-tự nhiên Hiểu Mác như thế là chưa đầy đủ mặc dù không sai Mác rất chú trọng đến cái
mà ta có thể gọi là tiếp cận hành động xã hội, cả ở những luận điểm cũng như ở những công trình nghiên cứu cụ thể mà Mác đã làm
Mác có một định nghĩa về xã hội như sau: "Xã hội - bất cứ dưới hình thái nào - là gì? Nó là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người" (Marx, 1976: tr 7) Khi phân tích về diễn biến của Công xã Pari, Mác đề cập: " nếu những 'sự ngẫu nhiên' không có tác dụng gì cả thì
sự sáng tạo ra lịch sử sẽ mang một tính chất rất thần bí Đương nhiên, những sự ngẫu nhiên này
là một bộ phận trong quá trình phát triển chung và được những sự ngẫu nhiên khác bù trừ lại Nhưng phát triển nhanh hay chậm, là phụ thuộc rất nhiều vào những 'sự ngẫu nhiên' như vậy, kể
cả 'sự ngẫu nhiên' như tính cách của những người lúc đầu lãnh đạo phong trào" (Marx, 1976: tr 50)
Trong một bức thư viết năm 1890, F Engels nói rõ: "Chúng ta tự sáng tạo ra lịch sử của chúng
ta, nhưng một là sáng tạo với những tiền đề và những điều kiện hết sức rõ ràng Hai là lịch sử
đã diễn ra theo cái hướng là kết quả cuối cùng luôn luôn phát sinh từ những sự xung đột giữa nhiều ý chí cá nhân, mỗi ý chí cá nhân này lại do vô số những điều kiện sinh sống đặc biệt tạo ra" (Marx, 1976: tr 96 và 97) Ông cũng nhấn mạnh sự khác nhau giữa sự phát triển của tự nhiên và của xã hội ở một điểm căn bản: "Trái lại, trong lịch sử của xã hội, những nhân tố hoạt động là những con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay có ham mê, và theo đuổi những mục đích nhất định; không có gì xảy ra mà lại không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn" (Marx, 1963: tr 357-358)
Mặc dù, ngay từ đầu lịch sử xã hội học đã xuất hiện song đề cấu trúc đối lập hành động, phản ánh hai khuynh hướng tương phản nhau trong xã hội học, song thuật ngữ hành động luận (actionalism) chỉ xuất hiện trong thập niên 1960 gắn với tên tuổi của A Touraine, một nhà xã hội học Pháp Ông muốn thay thế một xã hội học về xã hội bằng một xã hội học về chủ thể hành động Hành động luận của Touraine chủ trương đặt tác nhân vào vị trí trung tâm của xã hội học: tác nhân không phải là bộ phận hợp thành mà là chủ thể của hệ thống xã hội Các phong trào xã hội có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc khắc phục tình trạng trên Nói cách
Trang 17khác: những hành động xã hội tích cực "làm nên lịch sử" phải là trung tâm của đời sống xã hội hôm nay, và do đó của nghiên cứu xã hội học
A Giddens cố gắng khắc phục sự khác biệt giữa tiếp cận cấu trúc và tiếp cận hành động xã hội Ông cho rằng thông thường các nhà lý luận hoặc đặt mình vào cấu trúc và tính chất câu thúc của chúng, hoặc vào hành động và ý nghĩa Giddens chủ trương vùng nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội chẳng phải là kinh nghiệm của các chủ thể, cũng chẳng phải là sự tồn tại của một hình thái tổng thể xã hội nào, mà là các thực tiễn xã hội được xếp đặt qua không gian và thời gian (Giddens, 1984)
Luận điểm cơ bản của ông rất đơn giản: cấu trúc và hành động là hai mặt của một đồng xu Cả cấu trúc lẫn hành động không thể tồn tại một cách độc lập, chúng liên quan với nhau một cách sâu sắc Hành động xã hội tạo nên cấu trúc, thông qua hành động mà cấu trúc được sản xuất và tái sản xuất Cấu trúc vừa hạn chế vừa là nguồn lực của hành động Từ đó, Giddens đề xuất thuật ngữ "cấu trúc hoá" (structuration) Để giải thích luận điểm của mình, Giddens lấy ví dụ về
sự liên hệ và khác nhau giữa ngôn ngữ và lời nói Ngôn ngữ thể hiện một cấu trúc các quy tắc phải tuân theo để có thể hiểu được nhau Nhưng lời nói là thực tế các hành động trong ngôn ngữ, các quy tắc ngôn ngữ quy định lời nói nhưng cũng là nguồn lực cho lời nói, lời nói lại tạo
ra và tái tạo ra ngôn ngữ
Trong môn xã hội học hoặc một vài môn học gần với xã hội học ở Việt Nam hiện nay vẫn còn quan sát thấy sự tồn tại của một số mặc định tư tưởng và lối tư duy đã bị vượt qua trên thế giới
từ vài thập niên trước (quá nhấn mạnh vào quy luật, cấu trúc, tính tất yếu, ) Về mặt học thuật, chỉ nói đến khía cạnh cấu trúc-quy luật-tất yếu thì hoàn toàn không phản ánh đầy đủ diện mạo
tư tưởng xã hội hiện đại nửa sau thế kỷ XX, cũng như không phản ánh đầy đủ tính phong phú của chủ nghĩa Mác Quan trọng nữa là về mặt thực tiễn, thông điệp hàm ý (hoặc ẩn ngầm hoặc không có ý thức) của nó có xu hướng khích lệ người ta chỉ thấy một chiều những câu thúc, chấp nhận những "tính tất yếu", "cái xã hội khách quan" Kết quả phụ kèm theo là nó không trang bị cho người ta tính sẵn sàng thay đổi, đón nhận vai trò "chủ thể hành động" Sự nhấn mạnh thái quá và một chiều nói trên thể hiện khuynh hướng có thể gọi là "bái cấu trúc giáo" (vận dụng khái niệm bái vật giáo của Mác trong bộ Tư bản)
Xã hội học hành động xã hội giúp ta chú ý và nhấn mạnh đến một chiều cạnh khác của hiện thực xã hội đối lập với hệ tri thức chức năng-cấu trúc-tiến hoá; trong hiện thực xã hội của xã hội học hành động, có một không gian rộng lớn dành cho chủ thể sáng tạo Điều này rất quan trọng cho những con người đang sống trong những xã hội biến đổi nhanh: nó chỉ cho họ thấy rằng người ta có thể tạo nên tương đối nhanh chóng những cấu trúc xã hội hoàn toàn mới bằng hiểu biết và hành động xã hội Không phải con người bị giam hãm trong những cấu trúc, thụ động chờ đợi cấu trúc "tự tiến hoá", mà cấu trúc là sản phẩm của hành động con người, hoàn toàn có thể và chỉ có thể "bị" thay đổi duy nhất bởi chính hành động con người
Điều nói trên cũng rất quan trọng đối với những quốc gia đang vươn mình đuổi theo thời đại, như Việt Nam Xã hội Việt Nam đang ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ Nếu so sánh với khu vực và thế giới, khó có thể dự đoán rằng, với nhiều cách thức mà ta làm trong 15 năm qua, thì có thể khắc phục được sự tụt hậu của mình hay không Do đó, việc nhấn mạnh vào chủ thể hành động như trong xã hội học hành động là rất quan trọng đối với người Việt Nam, từ người lãnh đạo quốc gia, người lãnh đạo ở cấp ngành, cấp tỉnh và cấp tổ chức, đến dân thường Bởi vì ta đang cần thoát khỏi sự câu thúc của
Trang 18các "định luật" cấu trúc-tiến hoá, gồm cả sự câu thúc của những tri thức phụ thuộc vào chúng, thay vào đó là việc chủ động tổ chức nên những cấu trúc-chức năng hiện tại của thời đại, thông qua chủ thuyết nhấn mạnh vào hành động xã hội Như Mác đã nói: con người là chủ thể sáng tạo nên lịch sử, và như xã hội học hành động hiện đại nói: cấu trúc và thiết chế là do con người tạo ra mà thôi
1.2.4 QUAN ĐIỂM BIẾN ĐỔI XÃ HỘI
Trong xã hội học, biến đổi xã hội là một trong những mối quan tâm chủ yếu Xã hội học nhìn biến đổi như là một quá trình được cấu trúc trong đó diễn ra một xu hướng thay đổi nhất định
Vào giữa thế kỷ XIX, những nỗ lực đầu tiên trong phân tích xã hội học được thúc đẩy bởi nhu cầu giải thích hai làn sóng biến đổi lớn đang tràn khắp châu Âu: công nghiệp hóa và sự nổi lên của lý tưởng và tổ chức nhà nước dân chủ theo mô hình Cách mạng Mỹ và Pháp Một số nhà xã hội học cổ điển, trong đó có Mác, tìm cách xây dựng những lý thuyết nhằm giải thích hai hiện tượng biến đổi xã hội lịch sử nói trên Trong thế kỷ XX, các lý thuyết về biến đổi xã hội xuất hiện rất nhiều và ngày càng phức tạp hơn, dù không lý thuyết nào hoàn toàn vượt qua được những gì mà các nhà cổ điển đã nêu lên
Biến đổi xã hội có thể khởi xướng từ phía chính phủ thông qua hoạt động lập pháp hay hành pháp; từ phía công dân khi họ tổ chức lại thành các phong trào xã hội; hay từ việc truyền bá nền văn hóa này sang nền văn hoá khác; hay do các hệ quả có hoặc không có chủ định của công nghệ Biến đổi cũng có thể diễn ra do tác động của những yếu tố môi trường, và những chuyển dịch trong cán cân kinh tế và chính trị toàn cầu
Quan điểm chức năng luận về biến đổi xã hội cho rằng, nếu xã hội được xem như một khuôn mẫu các chức năng phức tạp và tương liên, thì biến đổi có thể được giải thích như một hiện tượng phụ trong cuộc tìm kiếm thường xuyên sự cân bằng Những biến đổi xã hội có thể được hiểu như những điều chỉnh xã hội trước những gãy vỡ hay “rối loạn chức năng” bên trong cơ thể xã hội
Lý thuyết của Mác về biến đổi xã hội nhấn mạnh khía cạnh xung đột, trước hết là xung đột giai cấp và các nhóm lợi ích; đồng thời ủng hộ hành động tích cực, tập trung vào khả năng mà con người có thể thay đổi số phận của mình thông qua hành động chính trị Các lý thuyết xung đột trong thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng của Mác, đều giải thích biến đổi xã hội là kết quả của cuộc đấu tranh giành lợi ích giữa các giai cấp, các sắc tộc hay nhóm xã hội
Khoa học xã hội thế kỷ XIX thường có xu hướng phân tích vĩ mô và dài hạn, nhìn biến đổi xã hội như một quá trình tổng thể thuần nhất, các lĩnh vực của đời sống xã hội sớm hay muộn sẽ theo nhau thay đổi Khoa học xã hội nửa sau thế kỷ XX thường chú trọng hơn đến tình trạng không đồng bộ trong sự biến đổi của cấu trúc xã hội, nó quan niệm rằng biến đổi thường là cục
bộ và không đồng đều Chẳng hạn, Daniel Bell trong cuốn sách “Cultural Contradictions of Capitalism” (Những tương phản văn hóa của chủ nghĩa tư bản) viết năm 1976 cho rằng biến đổi trong thế giới hiện đại nảy sinh từ sự căng thẳng giữa ba “lĩnh vực” của thực tiễn xã hội, mỗi
“lĩnh vực” vận hành theo những nguyên lý khác nhau và hướng tới những mục tiêu khác nhau
Đó là: cấu trúc công nghệ-kinh tế (khoa học, công nghiệp và kinh tế), hệ thống chính trị, và văn hóa
Trang 191.3 HIỆN ĐẠI HÓA NHÌN TỪ KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN
Trong phần trên đã đề cập đến một thực tế là có sự khác biệt nhưng liên quan mật thiết với nhau giữa ba thuật ngữ hay khái niệm: công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển Sự liên quan ấy mật thiết đến mức người ta có thể dùng ba thuật ngữ này thay thế cho nhau Thuật ngữ công nghiệp hóa đã xuất hiện trước từ thế kỷ XIX, tiếp theo là “hiện đại hóa” trong nửa đầu thế kỷ
XX, rồi đến “phát triển” trở thành khái niệm then chốt trong lý luận và chính sách quốc tế sau
1945 “Phát triển” trở thành một thuật ngữ phổ biến hơn, vì nó có hàm nghĩa rộng hơn, phản ánh được nhiều khuynh hướng và hàm nghĩa rộng rãi, thoát khỏi hàm nghĩa là một lý thuyết đậm khuynh hướng phương Tây như thuật ngữ “hiện đại hóa”
Mục này trình bày quá trình hiện đại hóa nhìn từ góc độ của khái niệm phát triển Khái niệm phát triển ra đời sau 1945 và sau này trở thành một thuật ngữ quốc tế “chính thống” để nói về quá trình hiện đại hóa xã hội toàn cầu Nhưng bên dưới thuật ngữ khung này đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về phát triển, chúng lần lượt thay thế nhau và phản bác nhau, nhưng cũng
kế thừa và bổ sung nhau Chúng cùng góp phần làm rõ hơn quan niệm phát triển Trong thư trả lời L Cughenman năm 1868, Mác nói: “lịch sử của lý luận chắc chắn chỉ rõ rằng quan niệm về quan hệ giá trị bao giờ cũng là một, chỉ có cái là quan niệm đó rõ hơn hay mờ hơn, bị những ảo tưởng bao phủ nhiều hơn hay được xác định một cách khoa học hơn Vì chính bản thân quá trình tư duy lớn lên từ những quan hệ nhất định, chính bản thân nó là một quá trình tự nhiên, nên tư duy hiểu được một cách hiện thực, bao giờ cũng chỉ là một, và chỉ có thể biến đổi dần dần khác đi, theo trình độ chín muồi của sự phát triển, và đặc biệt là của sự phát triển của khí quan tư duy.” (C Mác, 1962)
Suốt nửa sau thế kỷ XX đến nay, đã xuất hiện nhiều dòng quan niệm mang tính lý luận về phát triển Những quan niệm này đã có ảnh hưởng rất mạnh đến thực tiễn công tác phát triển Có nhiều cách chia về tiến trình lịch sử của nghiên cứu lý luận phát triển Khi theo dõi lĩnh vực này, chúng tôi thấy có một cách phân chia là nhìn tiến trình này gồm hai giai đoạn: những năm 1940-1970 và 1980 đến nay Trong giai đoạn trước, các lý thuyết gia và chính trị gia chú ý hơn đến kinh tế, chính trị, tính đồng nhất với các nước đi trước Từ 1980 người ta nhấn mạnh hơn đến con người, phúc lợi, cộng đồng và nền văn hóa cụ thể
Trong một thời gian dài, nhất là trong những năm 1950 nhưng cũng kéo dài cả sau đó, dòng tư tưởng chủ lưu coi các vấn đề cơ bản của các nước đang phát triển là có tính kinh tế Người ta thường chỉ cho rằng các nước đang phát triển là nghèo theo nghĩa nghèo về kinh tế; nếu những nước ấy thành công trong tăng trưởng kinh tế thì các khía cạnh khác của đời sống xã hội sẽ tự động biến đổi theo Điều này không chỉ thấy trong khoa học xã hội phương Tây mà cả trong khoa học xã hội các nước xã hội chủ nghĩa trước kia Nhiều lý thuyết ban đầu về phát triển trước hết là các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và biến đổi kinh tế (economic transformation), rất ít chú ý đến khía cạnh chính trị và xã hội Chúng tập trung vào những điều kiện mà các nhà nghiên cứu cho là sẽ thúc đẩy hay gây trở ngại cho tiến bộ kinh tế, trong khi họ rất ít hoặc không chú ý gì đến khía cạnh xã hội Hậu quả khi ứng dụng vào thực tế, tức là vào việc hoạch định chiến lược phát triển thì cũng chỉ là chiến lược kinh tế Từ đó ảnh hưởng vào trọng tâm của hoạt động hợp tác quốc tế và viện trợ phát triển cũng là vào lĩnh vực kinh tế
Các chiến lược dựa trên lý thuyết kinh tế mà Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đề xuất, từ đó, cũng bỏ qua yếu tố chính trị và văn hoá, ít tính đến các tiền đề chính trị cho cải cách kinh tế Ngay phần lớn các nhà quản lý ở các nước đang phát triển cũng xem nhẹ
Trang 20yếu tố phi kinh tế Nguyên do một phần cho quan niệm thô thiển này là vì các nước phát triển hồi đó đang bắt đầu một quá trình tiến bộ kinh tế rất mạnh, kéo dài đến tận cuối những năm
1970, đặc biệt trong những năm 1960 Do đó, dẫn đến ý tưởng lạc quan rằng tiến bộ kinh tế sẽ
tự nó dẫn đến tiến bộ trong mọi mặt khác của đời sống xã hội Thêm nữa, từ đó lại thịnh hành một quan điểm rằng các nước đã phát triển là mô hình lý tưởng cho các nước đi sau, và các nước đang phát triển có thể áp dụng kinh nghiệm thành công của các nước đã phát triển Người
ta cũng quan sát thấy một logic lập luận tương tự trong khối các nước xã hội chủ nghĩa, khi các nước Đông Âu đi theo mô hình xô-viết và đã ít nhiều thành công, đặc biệt trong những nước phát triển hơn như Tiệp Khắc, Đông Đức, so với các nước Ba Lan, Bulgaria, Hungaria, Romania
Dĩ nhiên, ngay trong thời kỳ mà tư tưởng nói trên đóng vai trò chính thống, vẫn có những quan điểm ngược lại, cung cấp những bằng chứng thực nghiệm và các luận điểm về một thực tế khác trong các nước đang phát triển, mang tính toàn diện hơn Sự đấu tranh giữa các luận thuyết cộng với thực tiễn phát triển cả thành công lẫn thất bại đã ngày càng làm biến đổi tình hình trong công tác lý luận phát triển Các nhà nghiên cứu phát triển và hoạch định chính sách phát triển trở nên cởi mở và nghiêm túc hơn với việc phân tích quá trình phát triển như là một tổng thể bao gồm cả kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, con người và môi trường Hai mươi năm qua,
có sự quan tâm mạnh mẽ hơn đến các hoàn cảnh đặc thù trong từng nước, ý thức nhiều hơn đến các điều kiện địa phương riêng, về tầm quan trọng của biến đổi qua thời gian, chú ý nhiều hơn đến những khác biệt xã hội và văn hóa, bao gồm khác biệt giới Cuối cùng là tương tác xã hội
và môi trường đã được đưa vào mối quan tâm của nghiên cứu phát triển và chiến lược phát triển
1.3.1 PHÁT TRIỂN NGHĨA LÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Mặc dù J Schumpeter đã nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, song có thể do những lý do về nhận thức và bối cảnh xã hội mà nhiều nhà kinh tế học phát triển của những năm 1950 đã xem nhẹ sự phân biệt quan trọng này Họ có xu hướng coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu tối hậu tự thân, và cho rằng đó chính là cái mà các nước chậm phát triển cần Nhưng công bằng mà nói, khái niệm tăng trưởng kinh tế theo cách hiểu của các nhà kinh tế học thập niên 1950 thực ra có tính bao quát, gồm cả nâng cao sản xuất và tiêu dùng, tăng việc làm và nâng cao mức sống, giảm mức tăng dân số Nói cách khác, các lý thuyết phát triển dựa trên tăng trưởng kinh tế cũng tính đến một số khía cạnh xã hội của quá trình Như vậy
có thể nói, về mặt học thuật, các học giả thập niên 1950 đã không sai sót nhiều lắm trong việc hình thành và sử dụng khái niệm tăng trưởng kinh tế như là một khái niệm then chốt trong phương pháp luận nghiên cứu Tuy nhiên, trong thực tiễn chính sách và hành động, lý luận của
họ đã tạo điều kiện cho việc hiểu sai hẹp đi: các nhà hoạch định chính sách thực tiễn có xu hướng hiểu tăng trưởng kinh tế trước hết là chỉ tiêu tăng GDP (ngay hiện nay ở một số nước, kể
cả ở Việt Nam, vẫn tồn tại xu hướng này)
Trong những năm 1960, các nhà kinh tế học phát triển cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề phân phối và quan hệ của nó đến tăng trưởng kinh tế, bởi vì có nhiều bằng chứng cho thấy tăng trưởng kinh tế trong các nước đang phát triển đã diễn ra kèm theo sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa các nhóm xã hội, vùng địa lý và thành phần kinh tế Trong bối cảnh ấy, người ta quay trở lại với di sản của Schumpeter: nhấn mạnh vào phát triển kinh tế hơn là chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế Các nhà nghiên cứu và làm chính sách nhất trí hơn với nhau rằng phát triển kinh tế có nghĩa là một quá trình trong đó thu nhập đầu người thực tế của một nước tăng lên
Trang 21trong một giai đoạn dài, trong khi mức độ nghèo khổ giảm xuống và bất bình đẳng nói chung là được thu hẹp hoặc ít nhất là cũng không tăng lên
1.3.2 PHÁT TRIỂN VÀ PHỤ THUỘC
Đầu những năm 1960, xuất hiện một số giải thích về phát triển của các nhà khoa học được coi
là mác-xít ở một số nước xã hội chủ nghĩa và ở phương Tây Dòng lý thuyết này bao gồm hai khuynh hướng, một tập trung vào mối quan hệ của các nước đang phát triển với các nước phương Tây, khuynh hướng kia tập trung xem xét các điều kiện bên trong các nước đang phát triển
Lý luận của một số nhà nghiên cứu mác-xít xem phát triển là nhằm đạt được độc lập quốc gia thực sự và tiến bộ kinh tế tự thân (self-centred) Họ cho rằng chủ nghĩa đế quốc và các quyền lực thuộc địa kiềm chế Thế giới thứ ba trong sự chậm phát triển và phụ thuộc Phi thực dân hoá
về mặt chính trị mới chỉ là bước khởi đầu, chưa thay đổi được gì nhiều về bản chất tình trạng này Để phát triển các nước đó cần tiếp tục tách khỏi các nước công nghiệp hoá chính quốc Việc tách khỏi này không phải là mục tiêu tự nó, mà chỉ là công cụ để đạt được sự độc lập quốc gia thực sự Cũng cần nói rằng, không phải mọi nhà lý thuyết theo khuynh hướng này đều cho rằng việc tách ra khỏi thị trường thế giới là cách tốt nhất để đạt được sự độc lập
Khuynh hướng thứ hai, xem xét các điều kiện bên trong, chủ trương hai quan điểm Thứ nhất, các nước đó phải đi lên trên căn bản dựa vào các tiền đề và nguồn lực riêng của mình Thứ hai, con đường xã hội chủ nghĩa là có tính ưu việt hơn Về điểm này, trong các nhà khoa học mác-xít cũng có ý kiến khác nhau về cách đi lên chủ nghĩa xã hội Một cực ý kiến cho rằng phải sử dụng chủ nghĩa tư bản để phát triển những tiền đề vật chất cần thiết cho chủ nghĩa xã hội Chú ý rằng ý kiến này có một hàm ý tương tự lý luận hiện đại hoá: xem các nước đã công nghiệp hoá cao là hình ảnh mà các nước đi sau tất yếu phải theo Điều khác nhau chỉ là ở chỗ, với các nhà
lý luận hiện đại hoá thì đó là mục tiêu cuối cùng, còn với các nhà mác-xít theo quan điểm đó thì đây là mục tiêu trung hạn nhằm tạo ra một trạng thái mới để đi lên chủ nghĩa xã hội Một cực ý kiến khác lại cho rằng các nước đang phát triển cần tách ra khỏi thị trường thế giới, xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung dưới sự chỉ đạo của nhà nước, bỏ qua con đường tư bản chủ nghĩa
Có một hướng chủ đề trong dòng lý thuyết này tập trung vào những phân tích lịch sử và thực nghiệm về các giai cấp và nhà nước trong các nước đang phát triển Hàm ý của hướng chủ đề này là vẫn thừa nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, song cho rằng các nước đang phát triển chưa đủ tiền đề cho điều ấy trong tương lai trước mắt Do đó, cần tập trung vào những phương
án phát triển hiện thực hơn cho các nước chậm phát triển, như dân chủ hoá đời sống kinh tế và chính trị Họ cũng tán thành một nhà nước mạnh tập trung và một khu vực công cộng chủ đạo, đồng thời nhấn mạnh đến tăng quyền lực cho người dân, tự quản địa phương, hợp tác xã 1.3.3 PHÁT TRIỂN NGHĨA LÀ HIỆN ĐẠI HOÁ
Hiện đại hóa được xem như là một quá trình mà cốt lõi là công nghiệp hóa và những quá trình biến đổi tương thích trong chính trị, văn hóa và xã hội Những đặc trưng của nó là sự hợp lý hóa, khu biệt hóa, hiện đại hóa văn hóa, dân chủ
Trang 22Trong những năm 1940-1950 xuất hiện một hướng lý luận xem sự phát triển như là một quá trình hiện đại hoá, đó là một sự biến đổi cấu trúc trong đó các xã hội truyền thống và lạc hậu ở các nước Thế giới thứ ba phát triển theo hướng ngày càng giống hơn với các nước phương Tây Những đặc trưng của xã hội hiện đại đáng được bắt chước bao gồm: phân công và chuyên môn hoá rộng rãi lao động, năng suất lao động cao, tăng trưởng kinh tế ổn định (self-sustaining), mức sống cao, phân phối tương đối đồng đều, nhà nước dân chủ và điều hành hiệu quả
Lý thuyết hiện đại hóa cổ điển được bổ sung bởi lý thuyết hiện đại hóa như là một quá trình biện chứng Lý thuyết hiện đại hóa biện chứng cũng chấp nhận ý tưởng cơ bản: phát triển là quá trình mà xã hội ngày càng chấp nhận nhiều hơn các yếu tố hiện đại Nhưng nó cho rằng đây là một quá trình biện chứng Theo đó, truyền thống không nhất thiết cản trở sự phát triển, ngược lại các định chế hiện đại có thể trong những thời điểm và bối cảnh nhất định lại cản trở phát triển, không vận hành một cách suôn sẻ, vì không tương thích với các truyền thống của xã hội Thêm nữa, tiếp cận này còn cho rằng trong thực tế các định chế xã hội truyền thống là năng động, đa dạng và có khả năng sống sót trong tiến trình hiện đại hoá Từ đó đi đến một ý tưởng chính của lý thuyết này rằng cái truyền thống và cái hiện đại là những hiện tượng xã hội tương tác một cách biện chứng, trong đó cả hai hiện tượng đều trong quá trình biến đổi, và kết quả là mang tính hỗn hợp, lai ghép
Tiếp cận này có một hàm ý quan trọng: nó bác bỏ quan niệm phát triển là một cái gì đó mang tính phổ quát, với mục tiêu tối hậu là tương đồng một cách tối đa với các xã hội Âu-Mỹ đã công nghiệp hóa Thay vào đó là một quan niệm mở: phát triển là tương thích với hoàn cảnh đặc thù của mỗi xã hội và phù hợp với ý nguyện của người dân sống trong xã hội đó Tiếp cận này cũng nhấn mạnh đến các điều kiện phi kinh tế như là những yếu tố trong các quá trình kinh tế và như
là những động lực có ý nghĩa và mang tính tự thân trong đời sống xã hội
1.3.4 PHÚC LỢI VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI LÀ MỤC TIÊU CỦA HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ PHÁT TRIỂN
Sự tiến triển của quan niệm phát triển đã diễn ra ngay trong lòng dòng lý thuyết gọi là tăng trưởng kinh tế Mặc dù trong cái gọi là "kinh tế", các nhà kinh tế học phát triển đã bao gồm nhiều khía cạnh xã hội (việc làm, nâng cao mức sống, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng), song mục tiêu cơ bản cũng như cách đo lường phát triển vẫn chủ yếu xoay quanh việc tăng thu nhập
Một quan niệm lý luận mới nảy sinh với tham vọng đưa ra một quan niệm đối lập (alternative)
đã đặt ra vấn đề quan hệ giữa nâng thu nhập và phúc lợi con người, theo đó cái thứ nhất phải được xem chỉ là phương tiện cho cái thứ hai, còn cái sau mới chính là mục tiêu tối cao và bản chất của phát triển Tăng trưởng kinh tế quốc gia là điều kiện cải thiện đời sống dân cư, song không phải là điều kiện duy nhất Chẳng hạn, nhiều nghiên cứu thực nghiệm quốc tế đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế không trực tiếp và tự động dẫn đến tiến bộ trong giáo dục và sức khoẻ
Chấp nhận lý luận như thế, UNDP đã tạo điều kiện để một số tác giả của dòng lý thuyết trên, chẳng hạn Mahbub ul Haq, xây dựng một khung tiếp cận mới cho UNDP Kết quả thể hiện ở Báo cáo Phát triển Con người đầu tiên của UNDP năm 1990 Có thể xem đây là điểm mốc quan trọng đối với UNDP: tổ chức này chính thức nêu lên một học thuyết mới, dựa trên một lý luận phát triển lấy phúc lợi và con người làm trung tâm
Trang 23Nhóm công tác dưới sự lãnh đạo của Haq đã đưa ra khái niệm "phát triển con người" được hiểu
là quá trình mở rộng những cơ hội cho sự lựa chọn của người dân trên ba lĩnh vực chủ yếu: cơ hội có một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh, cơ hội tiếp cận tri thức, cơ hội tiếp cận các nguồn lực cần thiết để có một mức sống thích đáng
Xa hơn nữa, không chỉ dừng lại ở cấp độ khái niệm, các tác giả còn đề xuất chỉ báo định lượng tổng hợp để biểu hiện mức độ phát triển con người về mặt thống kê có thể so sánh được qua thời gian hoặc giữa các nước, ngày nay đã trở thành nổi tiếng và phổ biến: chỉ số phát triển con người (human development index, HDI) Sau này, với thời gian, nhiều nội dung khác đã được
bổ sung như: quyền con người, phát triển con người nhìn từ góc độ giới (qua biểu hiện của GDI, chỉ số phát triển giới), bền vững môi trường, tham gia của người dân, Người ta cho rằng dòng lý luận này đã đưa ra một hệ quan niệm mới cho phát triển, trở thành một khuôn khổ
lý thuyết mới cho nghiên cứu và chiến lược phát triển
1.3.5 PHÁT TRIỂN CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
Trong thực tế, mối quan hệ giữa nhà nước với người dân, giữa các giai tầng bên trên với đông đảo dân chúng, là một trong những nội dung cơ bản phân biệt các quan niệm và lý luận khác nhau về phát triển Đến thập niên 1970 đã nổi lên một hướng nghiên cứu mới về mối quan hệ trên, xoay quanh một số quan niệm như “phát triển có sự tham gia của người dân”, “phát triển dựa trên nhu cầu cơ bản”, “phát triển dựa trên tăng cường năng lực”, v.v
Quan điểm hiện đại hóa cổ điển Trong những năm 1950-1960, một số lý thuyết gia theo quan
điểm hiện đại hoá cho rằng tham gia và dân chủ không tương thích với tăng trưởng kinh tế nhanh Họ cho rằng lôi cuốn người dân quá nhiều vào việc ra quyết định có thể cản trở tăng trưởng, vì người dân thường chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, thiếu tầm nhìn Nhưng một số tác giả lại cho rằng sự tham gia rộng rãi vào đời sống chính trị có thể hoà hợp với tăng trưởng kinh tế và hiện đại hoá, nếu thiết lập được những kênh tổ chức và kiểm soát có hiệu quả Chẳng hạn, S Huntington nêu lên một luận thuyết khá quan trọng về mối tương quan giữa mức độ tham gia và tiến trình định chế hoá Ông cho rằng điểm mấu chốt là giữ cho mức độ tham gia công cộng không vượt quá mức định chế hoá; mức độ tham gia cần được chuyển vào những kênh định chế vận hành nhất trí với chính sách chung của nhà nước Trong thực tế, một số nhà nước trong các nước đang phát triển đã chấp nhận quan điểm này và áp dụng vào thực tế quản
lý của họ
Mô hình Đông Á Một số nhà nước Đông Á, nơi đã có sự thành công kinh tế vang dội, lại đề
cao "các giá trị châu Á" với hàm nghĩa là phải thực hiện chính sách kiểm soát mức độ dân chủ
và tham gia trong tiến trình phát triển nếu muốn đạt được mục tiêu Quả thực các nhà lãnh đạo tán thành quan điểm trên đã có thành tích lớn trong việc đưa đất nước họ đạt được mục tiêu phát triển Mặc dù vậy, vẫn có nhiều người trong những nước đó cũng như ở bên phương Tây phê phán về mức độ đúng đắn của các thực tế phát triển ấy, nêu lên nhiều bằng chứng về các hậu quả của sự thiếu dân chủ trong tiến trình phát triển
Quyền lực tham gia không cân xứng trong phát triển Trong thập niên 1950-1960, một số nhà
nghiên cứu được coi là mác-xít đã có những công trình về giai cấp và nhà nước trong các nước đang phát triển Họ cho rằng hình thái phát triển kinh tế sẽ bị định hình bởi khuôn mẫu và mức
độ tham gia của dân chúng Họ nhấn mạnh đến sự tham gia không cân xứng: các giai tầng xã hội có cơ hội rất khác nhau trong việc tiếp cận và ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của
Trang 24nhà nước Chính sách kinh tế và ảnh hưởng của nó lên khuôn mẫu phát triển thường bị định hình bởi các giai tầng có quyền lực, có cơ sở hạ tầng tổ chức mạnh, có cơ hội dễ dàng tiếp cận đến nhà nước Thông thường đây cũng là những giai tầng thống trị về mặt kinh tế trong sản xuất và thị trường Nhà nước không phải là một tổ chức trung tính, mà nó tổ chức và xúc tác cho sự tham gia chính trị của giai tầng có quyền lực, đồng thời giảm bớt tính tổ chức của các giai tầng khác
Phát triển có sự tham gia của người dân Giữa những năm 1970 nổi lên dòng lý luận mới về sự
tham gia của người dân trong phát triển Khác với lý thuyết hiện đại hoá, dòng quan niệm này cho rằng sự tham gia là cần thiết cho tăng trưởng kinh tế; người nghèo phải nhận được phần công bằng trong thành quả của phát triển Nhưng khác với lý thuyết mác-xít những năm 1950-
1960, quan niệm này lại nhìn thấy ở nhà nước một vai trò tích cực: nó cho rằng có thể động viên và tổ chức người dân, nhất là người nghèo, tham gia vào phát triển với sự trợ giúp tích cực của nhà nước Mặc dù sẽ có nhiều trở ngại từ phía các giai tầng nắm quyền lực, song sự tham gia của người nghèo là có thể thực hiện được và điều này có lợi cho phát triển quốc gia Lý thuyết này không công nhận quan niệm về mâu thuẫn đối kháng và những lợi ích loại trừ nhau trong đấu tranh của các giai cấp, nó cho rằng mọi giai tầng về cơ bản đều có lợi trong sự tham gia của người dân
Phát triển dựa trên nhu cầu cơ bản Các tìm tòi và tranh luận về lý thuyết đã dẫn đến sự hình
thành dòng quan niệm tạm thể hiện theo công thức “phát triển=nhu cầu cơ bản", một quan niệm
mà một số nước Bắc Âu và các tổ chức phát triển quốc tế đã có tiếng nói tích cực (ILO, WB, UNDP) Quan niệm này gắn với ý tưởng rằng nhu cầu cơ bản của con người là xuất phát điểm của mọi chiến lược phát triển, việc thoả mãn nhu cầu cơ bản của hàng triệu người nghèo trong Thế giới thứ ba phải là ưu tiên trước hết trong mọi nỗ lực phát triển Nó cũng dựa trên một ý tưởng rằng người nghèo không tự động được hưởng lợi từ những kết quả của tăng trưởng trong giai đoạn thịnh vượng, nhưng lại là nạn nhân đầu tiên trong giai đoạn đình trệ và suy thoái Vì vậy, cần phải có những giải pháp đặc thù để cải thiện đời sống cho người nghèo, tức là cần có chương trình mục tiêu cho những nhu cầu cơ bản của người nghèo Quan niệm này đối ngược lại với một quan niệm chính thống trước kia cho rằng thành quả của phát triển có xu hướng sẽ
tự động chuyển dần từ trên xuống (trick down)
Phát triển là tăng cường năng lực cho người dân Cùng với thời gian, khái niệm phát triển đã
chuyển từ một sự copy đơn giản mô hình của các nước công nghiệp hoá và nhấn mạnh một chiều đến các yếu tố kinh tế sang tiếp cận phức thể hơn Một số nghiên cứu đề xướng dòng quan niệm mới: gắn phát triển với năng lực ra và thực hiện quyết định Theo quan niệm này, một xã hội là phát triển trước hết khi nó biểu lộ khả năng (ability) và năng lực (capacity) tốt hơn trong việc ra các quyết định và thực hiện chúng một cách hiệu quả Dòng quan niệm này đôi khi được gọi là tiếp cận “tăng cường năng lực cho phát triển” (capacity-building) và có những điểm tương đồng với lý luận hiện đại hoá biện chứng Nó nhấn mạnh đến hoàn cảnh đặc thù của các xã hội khác nhau và nhấn mạnh đến những ưu tiên của người dân, nhấn mạnh sự tham gia có hiệu quả của người dân vào quá trình ra quyết định như là một yếu tố không thể thiếu của toàn bộ quá trình phát triển
Ở đây cần cảnh giác với một cái “bẫy” lý luận cũng như hành động Cũng đề cao sự tham gia của người dân, song trong quan niệm và hành động thực tiễn người ta có thể rơi vào hai thái độ rất khác nhau, làm ảnh hưởng đến bản chất và hệ quả của sự tham gia Thái độ thứ nhất xem sự tham gia là phương tiện hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu phát triển, mà những mục tiêu
Trang 25này thì đã xác định trước từ bên trên hoặc từ bên ngoài quần chúng nhân dân nói chung hoặc bên ngoài một cộng đồng mà các “nhà phát triển” muốn giúp đỡ Thái độ thứ hai xem tham gia của người dân là mục đích tự thân, là chính bản thân nội dung phát triển Thái độ thứ nhất dẫn đến cách làm theo đó các nhà ra quyết định ở trung ương thay mặt (nhân danh) người nghèo xây dựng các chiến lược để rồi sau đó lôi kéo người dân tham gia vào quá trình thực hiện Như vậy thì những nhu cầu cơ bản của người nghèo là do người khác xác định chứ không phải do chính bản thân họ Thái độ thứ hai, được gọi là tiếp cận có sự tham gia của người dân, xem sự tham gia của dân chúng là mục tiêu tự thân và là quá trình thông qua đó các mục tiêu khác của phát triển được xác định Trong quan niệm này, năng lực phải ngày càng được chuyển từ cấp quốc gia xuống cấp địa phương và cơ sở, từ cấp độ chính quyền xuống cấp độ ngưòi dân Người nghèo về kinh tế thì cũng sẽ yếu về chính trị, do đó không có khả năng tác động vào việc hình thành các mục tiêu quốc gia Để thay đổi tình trạng này và bảo đảm cho họ có thể tham gia vào quá trình ra quyết định và xác định các nhu cầu thực sự của họ, người dân cần được trao quyền sao cho họ có thể tiếp cận được đến nhà nước và những người ra quyết định ở cấp trung ương
Trong chiến lược sự tham gia của người dân mà các tổ chức quốc tế khởi xướng có xu hướng xem sự tham gia như là một phương tiện chứ không phải là mục tiêu tự thân Trong quá trình tiến hành các dự án phát triển, các tổ chức này nhấn mạnh đến việc lôi cuốn sự tham gia của các nhóm hưởng lợi Thế nhưng sự tham gia được nhấn mạnh ở đây có vẻ như là để ủng hộ cho những mục tiêu và ưu tiên đã được xác định trước bởi các cơ quan chức năng, mặc dù cũng đã
có những quy chế yêu cầu tạo điều kiện cho người dân tham gia ngay cả trong giai đoạn này Như vậy là các chiến lược ấy đã thực hiện theo quan niệm của S Huntington - sự tham gia không vượt quá tiến trình định chế hoá, bằng cách kết hợp giữa nâng cao sự tham gia với việc tăng cường năng lực của các định chế chính phủ địa phương Người ta đã chú trọng đến tái sắp xếp định chế để nó thích nghi hơn với sự tham gia ngày càng tăng lên của người dân Lập luận
ở đây là các cơ quan nhà nước địa phương mong muốn theo đuổi chiến lược giảm nghèo và dân chủ, chúng cần phải tái cấu trúc để có thể phân phối các nguồn lực đáp ứng với yêu cầu của người dân
1.3.6 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Báo cáo của Uỷ ban Brundtland công bố năm 1987 đã trở thành một điểm mốc khi nó đưa ra khái niệm “phát triển bền vững” Phát triển bền vững được hiểu như là một quá trình thoả mãn những nhu cầu con người hiện tại mà không gây thiệt hại cho những cơ hội của các thế hệ sau trong việc thoả mãn nhu cầu của họ Báo cáo nêu trên cho rằng việc thoả mãn các nhu cầu và nguyện vọng của con người là mục tiêu quan trọng nhất của mọi nỗ lực phát triển trên toàn thế giới Hàng trăm triệu người nghèo chưa có quyền công bằng đối với việc thoả mãn những nhu cầu cơ bản và khát vọng có một cuộc sống tốt hơn Các nhu cầu và mong muốn được quy định
về mặt xã hội và văn hoá về một cuộc sống xa xỉ cần phải bị từ chối như là những điều trái ngược với nguyên tắc phát triển bền vững trên quan điểm toàn cầu Báo cáo này cho rằng phát triển bền vững đòi hỏi khuyến khích một tiêu chuẩn tiêu dùng có tính đến các giớí hạn sinh thái
và tính đến mức độ mà toàn thể nhân loại trên thế giới có thể mong muốn một cách hiện thực Lập luận về giới hạn và tiêu chuẩn tiêu dùng dựa trên nhu cầu cơ bản cho đến nay vẫn còn gây nên tranh cãi Nhưng lập luận về tính bền vững môi trường thì ngay lập tức đã có được sự nhất trí rộng rãi Quan niệm phát triển bền vững ngày nay đã trở thành tiêu chuẩn căn bản cho mọi hoạch định mục tiêu và chiến lược phát triển
Trang 261.3.7 PHÁT TRIỂN LÀ MỘT LỊCH SỬ CỤ THỂ VÀ TỪ NHU CẦU BÊN TRONG
Nếu chú ý đến các mặc định nhận thức luận (epistemological assumptions) trong các lý thuyết
về phát triển, ta sẽ thấy nhiều quan niệm phát triển trình bày ở trên có một hàm ý: mọi nền văn hoá khác nhau rồi sẽ đi theo một khuôn mẫu tiến hoá chung Đây là một mặc định phương pháp luận cơ bản thịnh hành trong thế kỷ XIX, và như ta thấy vẫn còn phổ biến trong nửa sau thế kỷ
XX Một biểu hiện rõ rệt là thuyết hội tụ
Phản ứng với quan niệm này, trong nhân học xã hội đã nảy sinh một dòng quan niệm, theo đó phát triển là một lịch sử không phải theo nghĩa phổ quát mà theo nghĩa như là lịch sử riêng của mỗi nền văn hoá Mọi nền văn hoá đều bình đẳng, như nhau, không nền văn hóa nào có thể xác định các mục tiêu của phát triển nhân danh nền văn hóa khác Nhà nghiên cứu phải phát hiện và
mô tả các nền văn hoá cụ thể càng chính xác càng tốt, không phải từ quan điểm thay đổi chúng
mà là để hiểu chúng, hiểu nền tảng riêng của chúng Như vậy, phát triển phải là một quá trình
có nền tảng từ văn hoá bên trong, một quá trình không phải được quyết định từ bên ngoài Phát triển là gì, cần phải là gì, được thực hiện như thế nào, điều này được tự quyết định bên trong mỗi nền văn hoá, chứ không phải từ bất cứ nền văn hoá bên ngoài nào Bằng cách đó những khác biệt trong thế giới mới được tôn trọng thực sự, và lịch sử của mỗi nền văn hoá cụ thể mới được thừa nhận là bình đẳng với lịch sử của mọi nền văn hoá khác Và chỉ như vậy, phát triển mới trở thành tự phát triển (self-development) Có thể đặt tên cho quan niệm này là “phát triển
là một lịch sử cụ thể nội tại” Luận thuyết này có một ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển, nó ngày càng nhận được sự đồng tình rộng rãi
1.4 TỪ LÝ LUẬN ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG VÀ TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH Các quan điểm lý thuyết không phải là những thao tác thuần túy hàn lâm, chỉ được bàn thảo trong khuôn viên cơ sở nghiên cứu Lý luận xã hội không phải là cái gì đó rất xa rời thực tế như một số nhà chính trị, nhà làm chính sách, thậm chí một số nhà nghiên cứu, vẫn nghĩ Lê Nin nói: không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng Trên thực tế, không có phong trào xã hội nào mà lại không có một hệ thống diễn giải lý luận của nó (đi trước hoặc/và kèm theo); không có một chính sách nào, một chuỗi hành động nào mà lại không dựa trên những mặc định lý luận, dù được ý thức rõ ràng hay bị chi phối ngầm mà người hành động không tự ý thức được
Kinh nghiệm lịch sử dẫn đến sự thừa nhận rộng rãi rằng lý thuyết xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xã hội, đặc biệt là hoạt động làm chính sách T.G Buchholz viết “Các vấn đề chính sách kinh tế mà chúng ta tranh luận hôm nay … đã được các nhà kinh tế thảo luận hơn hai thế
kỷ rồi Nhiều chính sách kinh tế hôm nay - cả những chính sách hay lẫn chính sách dở - đều là kết quả tư tưởng của các nhà kinh tế trong quá khứ” (T.G Buchholz, 2007, trang 11) Toàn bộ cuốn sách “Ý tưởng mới từ các kinh tế gia tiền bối” của ông thể hiện rằng giữa lý luận, tư tưởng
và hành động chính sách có một mối liên hệ vô cùng mật thiết
Bảng 1.1 tóm tắt lại 18 quan điểm lý luận trình bày ở trên và thử đưa ra những minh họa về việc
từ những quan điểm đó có thể đề xuất những định hướng tư tưởng như thế nào trong việc hoạch định đường lối, và có thể xây dựng nên những định hướng chính sách như thế nào trong thực tiễn cụ thể
Trang 27Chẳng hạn, quan điểm duy vật lịch sử mà bản thân Mác đã thực sự phát biểu là quan hệ và trật
tự logic biện chứng từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, qua xã hội dân sự, giai cấp, tới nhà nước, hệ tư tưởng Quan điểm lý luận này đáng lẽ phải được đưa vào định hướng tư tưởng
và từ đó triển khai vào các chính sách theo hướng lấy sự phát triển của lực lượng sản xuất làm xuất phát điểm, không được tách rời giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Nhiều nước
xã hội chủ nghĩa đã đi ngược lại logic đó, kết quả lâu dài dẫn đến thất bại Các chính sách cơ bản hiện nay ở các nước xã hội chủ nghĩa cải cách hoặc đổi mới như Trung Quốc và Việt Nam thể hiện việc đảo ngược định hướng tư tưởng và chính sách trước kia
1.5 LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ: TÓM TẮT VÀ KIẾN NGHỊ
Nhiều văn kiện gần đây của Đảng nhắc đến tình trạng công tác lý luận và tư tưởng còn nhiều chậm trễ Thúc đẩy những tìm tòi lý luận mới để diễn giải hiện thực xã hội (quốc tế và trong nước) là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Chương Một cố gắng hệ thống một số quan điểm lý luận đã được chia sẻ trong cộng đồng nghiên cứu quốc tế về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển xét từ cách nhìn xã hội học; từ đó gợi ý cách nhìn vào thực tế đó ở Việt Nam Xin nêu lên một số kiến nghị sau đây
o Thúc đẩy công tác hệ thống hóa những thành tựu lý luận quốc tế, kết hợp với tổng kết thực tiễn Việt Nam để đưa ra những diễn giải lý luận mới Bên cạnh việc thúc đẩy công tác trên theo chiều rộng (mở ra thể chế và nguồn tài trợ rộng rãi để nhiều cá nhân và tổ chức có thể tiếp cận), nên có giải pháp thúc đẩy trọng điểm: hình thành và tài trợ cho một số nhóm nghiên cứu cao cấp cùng nghiên cứu một cách độc lập về những vấn đề lý luận chủ yếu hiện nay của thời đại và của Việt Nam
o Trên cơ sở đó, tổ chức các nhóm/ đề tài nghiên cứu rà soát sự thích ứng và nhất quán giữa diễn giải lý luận với các định hướng tư tưởng và chính sách hiện tại (như được minh họa trong Bảng 1.1) Sự bất tương thích giữa diễn giải lý luận về vấn đề trung tâm hiện nay (công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển) với định hướng tư tưởng và chính sách là nguyên nhân gây ra trạng thái thiếu rõ ràng hiện nay trong công tác tư tưởng và hành động thực tế
o Nhìn toàn bộ quá trình lịch sử thế giới hiện nay như là một quá trình thống nhất của sự phát triển của chủ nghĩa tư bản phát triển đầy đủ, quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, trong đó những nước phát triển cao đã đạt được những bước tiến hơn cả Cần xem những nước này là những biểu hiện cụ thể của một hình mẫu chung của nhân loại mà các nước đi sau trong đó có Việt Nam nên học hỏi Chấp nhận quan điểm này thực chất là tôn trọng tiếp cận
cơ bản của chính bản thân Mác
o Logic với quan điểm nói trên, có thể tạm thời sử dụng các lý luận và phép đo phát triển của UNDP như là một khung quy chiếu chung cho quá trình phát triển xã hội quốc gia Dĩ nhiên, đây không thể là một khung quy chiếu duy nhất, mà chỉ là một trong những khung then chốt,
có độ tin cậy và độ thích ứng tương đối cao với hiện thực quốc tế hiện nay Thực ra trong thực
tế, nhiều cơ quan lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam đã và đang sử dụng khung quy chiếu này trong việc giải thích và điều hành chính sách
Bảng 1.1 Lý luận, định hướng tư tưởng và triển khai vào định hướng chính sách
Lý luận Nội dung lý luận Định hướng tư tưởng và triển khai vào
Trang 28Tuân thủ trật tự logic biện chứng, không tách rời giữa các thành tố và không đi ngược lại logic này
Hiện đại hóa: thiết lập một hệ thống chức năng-cấu trúc hiện đại, gồm các định chế khác biệt hóa ngày càng sâu về mặt chức năng
Ưu tiên việc thiết lập đúng đắn những cơ cấu nền của hệ thống xã hội (chính trị, kinh
tế, pháp lý) như là bộ khung kiến trúc của
xã hội
Xu hướng chủ đạo của biến đổi xã hội hiện đại: thay thế các định chế và các vai trò đa chức năng bằng các đơn vị chuyên môn hoá hơn
o Chủ động chuyên môn hóa, khác biệt hóa sâu rộng các định chế và tổ chức
o Đảm bảo tính độc lập tương đối của các định chế, tổ chức
Định chế là sự hợp tác được quy tắc hoá, nhằm đáp ứng một hay một vài nhu cầu xã hội cơ bản Là một tập hợp của: ý tưởng hay định luận, một tập hợp người đảm nhiệm những vai trò nhất định, một văn hoá hướng dẫn và điều chỉnh ứng xử, thể nền vật chất gắn với định chế
o Ưu tiên xây dựng các định chế hiện đại
cơ bản: hiến pháp và các đạo luật cơ bản, các nhánh quyền lực của nhà nước, thị trường, xã hội dân sự, giáo dục, y tế
o Chú trọng xây dựng đồng bộ cả bốn thành tố của cấu trúc định chế
Khác biệt hóa dẫn đến căng thẳng và xung đột, điều tạo ra yêu cầu tăng cường liên kết
o Đường lối và chính sách cần hướng vào thực tiễn, không phải vào giáo điều
o Có khả năng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhanh chóng
4 Cấu trúc
hóa
o Kết hợp cấu trúc và hành động: cấu trúc vừa là câu thúc vừa là nguồn lực của hành động
o Có một không gian rộng lớn dành cho chủ thể sáng tạo Con người có thể tạo nên nhanh chóng những cấu trúc xã hội hoàn toàn mới bằng hiểu biết và hành động xã hội
o Không phải con người bị giam hãm trong những cấu trúc, thụ động chờ đợi cấu trúc
"tự tiến hoá", mà cấu trúc là sản phẩm của hành động con người, hoàn toàn có thể và chỉ có thể "bị" thay đổi duy nhất bởi chính hành động con người
o Các định chế, tổ chức, quy tắc lỗi thời có thể bãi bỏ nhanh chóng được
o Có khả năng thiết lập ngay những định chế, tổ chức, quy tắc, chính sách cập nhật với thời đại (ví dụ đã thực hiện: nối mạng internet, vào WTO)
o Không gian sáng tạo cho khu vực xã hội dân sự là điều kiện cho hiện đại hóa nhanh
o Chất lượng và sự tự do hành động của nguồn nhân lực là điều kiện cho hiện đại hóa nhanh
5 Biến đổi xã
hội
Là quá trình thay đổi cấu trúc, các chức năng xã hội liên tục tái thích ứng để lập lại cân bằng, đồng thời là quá trình xung đột lợi ích
o Chú trọng biến đổi về chất liên quan đến thay đổi cấu trúc
o Chú trọng kiểm sóat cân bằng và xung đột
o Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm
o Khắc phục định hướng chính sách chỉ nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế, chỉ nhấn mạnh tốc độ tăng GDP
o Phân phối công bằng
o Ưu tiên chiến lược tăng trưởng kinh tế lấy việc làm làm trọng tâm
Trang 29o Mục tiêu lâu dài của các nước đang phát triển là nền kinh tế dân chủ nhân dân
o Tập trung vào những phương án phát triển hiện thực cho các nước chậm phát triển: dân chủ hoá đời sống kinh tế và chính trị, xây dựng một nhà nước mạnh tập trung và một khu vực công cộng chủ đạo, đồng thời tăng quyền lực cho người dân, tự quản địa phương, hợp tác xã
o Sự tham gia của người dân
xã hội
o Là một sự biến đổi cấu trúc trong đó các
xã hội truyền thống và lạc hậu ở các nước Thế giới thứ ba phát triển theo hướng ngày càng giống hơn với các nước phương Tây
o Những nguyên lý mang tính đặc trưng của
xã hội hiện đại: hợp lý hóa, khác biệt hóa, hiện đại hóa văn hóa, dân chủ, pháp trị
o Những đặc trưng của xã hội hiện đại:
phân công và chuyên môn hoá rộng rãi lao động, năng suất lao động cao, tăng trưởng kinh tế ổn định, mức sống cao, phân phối tương đối đồng đều, nhà nước dân chủ và điều hành hiệu quả
o Thừa nhận xu hướng phổ quát của tiến trình phát triển thế giới, chống tư tưởng nhấn mạnh thái quá tính đặc thù
o Chủ động điều chỉnh sự bất tương thích giữa các tốc độ biến đổi trong các lĩnh vực công nghệ, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
o Công tác tư tưởng đề cao các nguyên lý phổ quát, các đặc điểm chung của tổ chức xã hội hiện đại
o Thúc đẩy lối sống công nghiệp
o Triển khai thực sự các nguyên lý phổ quát của xã hội công nghiệp hóa hiện đại hóa vào các chính sách cụ thể
o Truyền thống không nhất thiết cản trở sự phát triển, các định chế hiện đại có thể trong những thời điểm và bối cảnh nhất định lại cản trở phát triển, không vận hành một cách suôn sẻ, vì không tương thích với các truyền thống của xã hội
o Các định chế xã hội truyền thống là năng động, đa dạng và có khả năng sống sót trong tiến trình hiện đại hoá Cái truyền thống và cái hiện đại là những hiện tượng
xã hội tương tác một cách biện chứng
o Hiện đại hóa không phải là phổ quát với mục tiêu tối hậu: tương đồng tối đa với các xã hội Âu-Mỹ đã công nghiệp hóa
Hiện đại hóa phải tương thích với hoàn cảnh đặc thù của mỗi xã hội và phù hợp với ý nguyện của người dân sống trong xã
o Vận dụng có chọn lọc các định chế xã hội hiện đại phù hợp với môi trường và truyền thống bản địa
o Tăng cường bản sắc văn hóa bản địa
o Vận dụng nền văn hóa và các định chế truyền thống phục vụ phát triển
o Xây dựng thực sự các định chế hiện đại, đảm bảo cho chúng có thể vận hành đúng chức năng
o Chống xu hướng truyền thống hóa các định chế hiện đại để phục vụ các lợi ích nhóm (đưa các cấu trúc lạc hậu vào cái
vỏ định chế hiện đại)
o Tôn trọng ý nguyện của nhân dân và các nhóm xã hội khác nhau
Trang 30o Các giai tầng xã hội có cơ hội rất khác nhau trong việc tiếp cận và ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của nhà nước
o Chính sách kinh tế và ảnh hưởng của nó lên mô hình phát triển bị định hình bởi các giai tầng có quyền lực, có cơ sở hạ tầng tổ chức mạnh, nắm quyền lực kinh
tế, có cơ hội dễ dàng tiếp cận đến nhà nước
o Nhà nước không phải là một tổ chức trung tính, mà nó tổ chức và xúc tác cho
sự tham gia chính trị của giai tầng có quyền lực, đồng thời giảm bớt tính tổ chức của các giai tầng khác
o Thừa nhận logic kinh tế-chính trị “quyền lực và sức mạnh kinh tế ảnh hưởng đến cách thức phát triển” để triển khai các chính sách và cơ chế nhằm hạn chế tác động ích kỷ của các nhóm có sức mạnh kinh tế và chính trị đến lợi ích phát triển chung
o Phát triển khu vực xã hội dân sự để cân bằng các lợi ích và ảnh hưởng của các nhóm xã hội khác nhau
o Xây dựng khu vực nhà nước và bộ máy công chức cam kết với lợi ích chung và điều hành có hiệu quả
o Sự tham gia có thể hoà hợp với tăng trưởng kinh tế và hiện đại hoá, nếu thiết lập được những kênh tổ chức và kiểm soát có hiệu quả
o Tham gia của người dân là mục đích tự thân, là chính bản thân nội dung phát triển
o Người nghèo phải nhận được phần công bằng trong thành quả của phát triển
o Nhà nước có khả năng động viên và tổ chức người dân, nhất là người nghèo, tham gia vào phát triển
o Dù sẽ có nhiều trở ngại từ phía các giai tầng nắm quyền lực, sự tham gia của người nghèo là có thể thực hiện được
o Quán triệt tư tưởng sự tham gia của người dân là mục tiêu tự thân, không phải là phương tiện được huy động cho các mục tiêu khác
o Định chế hóa các hoạt động tham gia của người dân
o Mở rộng không gian hoạt động của khu vực xã hội dân sự
o Tăng cường lợi ích và tiếng nói của các nhóm yếu thế
o Xây dựng khu vực nhà nước và bộ máy công chức có cam kết và khả năng với chức năng phục vụ sự tham gia của người dân, nhất là của các tầng lớp yếu thế
15 Quan
điểm phát
triển dựa trên
nhu cầu cơ
cơ bản của người nghèo
o Không phải hệ thống xã hội, các tổ chức
và các giáo điều, mà nhu cầu của con người hiện thực mới là căn cứ xuất phát điểm của chính sách
o Chính sách định hướng vào nhu cầu cơ bản của người dân lao động (ví dụ: chính sách khuyến khích thực phẩm và hàng tiêu dùng cơ bản hay thực phẩm và hàng tiêu dùng cao cấp nhập khẩu, thể dục thể thao toàn dân hay thể dục thể thao đỉnh cao và phục vụ trình diễn)
o Chính sách xã hội có mục tiêu và hiệu quả để giảm nhẹ và thay đổi “logic kinh tế-chính trị của sự nghèo khổ”
Trang 31o Sự tham gia có hiệu quả của người dân vào quá trình ra quyết định là một yếu tố không thể thiếu của toàn bộ quá trình phát triển
o Đảm bảo không gian tự do cho các chọn lựa của con người, của các nhóm xã hội
o Đảm bảo hệ thống giáo dục đi trước, mang tính đột phá trong tiến trình hiện đại hóa
o Quyền công bằng đối với việc thoả mãn những nhu cầu cơ bản và khát vọng có một cuộc sống tốt hơn của đa số dân nghèo
o Các nhu cầu và mong muốn về một cuộc sống xa xỉ cần phải bị từ chối như là những điều trái ngược với nguyên tắc phát triển bền vững trên quan điểm toàn cầu
o Đòi hỏi khuyến khích một tiêu chuẩn tiêu dùng có tính đến các giớí hạn sinh thái và tính đến mức độ mà toàn thể nhân loại trên thế giới có thể mong muốn một cách hiện thực
o Coi phát triển bền vững là nguyên tắc không thể khoan nhượng chỉ đạo mọi hoạt động phát triển
o Cân bằng giữa nhu cầu phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trên nguyên tắc
đề cao nhu cầu và tầm nhìn dài hạn
o Cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường; cảnh giác cao với áp lực của tăng trưởng kinh tế và lợi ích của các nhóm quyền lực kinh tế
o Chính sách hướng về nhu cầu cơ bản và khát vọng của đa số dân lao động
o Chính sách hướng về đáp ứng hợp lý nhu cầu hiện tại nhưng bảo đảm cho tương lai
o Chính sách thân thiện với môi trường
o Mọi nền văn hoá đều bình đẳng, không nền văn hóa nào có thể xác định mục tiêu phát triển nhân danh nền văn hóa khác
o Phát triển là một quá trình có nền tảng từ văn hoá bên trong, một quá trình không phải được quyết định từ bên ngoài
o Độc lập tự chủ trong phát triển, không sao chép giáo điều bên ngoài, không mù quáng chỉ dựa trên lý luận bên ngoài
o Tăng cường sức mạnh văn hóa truyền thống
o Thừa nhận quyền phát triển theo cách riêng của các dân tộc thiểu số trong khuôn khổ luật pháp quốc gia chung
Nguồn: Bùi Thế Cường
Trang 32CHƯƠNG HAI KHUNG PHÂN TÍCH HIỆN THỰC XÃ HỘI
VIỆT NAM 2.1 KHUÔN MẪU VĂN HOÁ-XÃ HỘI
Theo cách nhìn xã hội học, văn hoá và cấu trúc xã hội là hai khái niệm rộng nhất, đồng thời lại gắn chặt với nhau không thể tách rời như là hai mặt của một đồng xu, một tờ giấy, một bánh xe
Cả hai gắn với nhau tạo nên tổ chức xã hội và cơ chế vận hành của xã hội, có thể gộp hai mặt
ấy lại và tạm gọi là khuôn mẫu văn hóa-xã hội Trong quản lý sự phát triển xã hội, người ta phải
tư duy và điều hành chúng một cách đồng thời
Mỗi xã hội cụ thể tại một thời điểm nhất định có một hay một vài khuôn mẫu văn hoá-xã hội cơ bản Có thể định nghĩa một khuôn mẫu văn hoá-xã hội liên quan đến một hệ tri thức, giá trị, chuẩn mực (hợp thành văn hóa) và cấu trúc xã hội (phân bố và tương tác của các vị thế và vai trò giữa và trong các nhóm, thiết chế, tổ chức), (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Khuôn mẫu văn hoá-xã hội
Bánh xe nhìn dọc:
Giá trị > Văn hoá > tạo nên < Cấu trúc xã hội < vị thế & vai trò giữa và trong
xã hội Nguồn: Bùi Thế Cường
2.2 TƯƠNG TÁC CỦA BA KHUÔN MẪU: MỘT KHUNG LÝ THUYẾT ĐỂ NHÌN THỰC
TẾ VIỆT NAM
Công cuộc Đổi Mới từ năm 1986 khởi đầu một biến đổi cơ bản trong văn hoá và cấu trúc của
xã hội Việt Nam Ngay lập tức, đã có những thay đổi to lớn Tuy nhiên, xã hội Việt Nam cho đến nay vẫn còn là một xã hội quá độ và chuyển đổi Nhìn đại thể, có ba khuôn mẫu văn hoá-xã hội cơ bản đang tương tác với nhau ở Việt Nam hiện nay (Bảng 2.2)
Thứ nhất, khuôn mẫu văn hoá-xã hội liên quan đến kiểu tổ chức hành chính tập trung quan liêu bao cấp Sau Đổi Mới một thời gian, có xu hướng cho rằng vấn đề khắc phục cơ chế quan liêu bao cấp đã hoàn thành về cơ bản Thực tế không hoàn toàn như vậy Thực tiễn hành chính tập trung bao cấp của chúng ta là một khuôn mẫu văn hóa-xã hội hỗn hợp của tổ chức làng xã cổ truyền, phương thức sản xuất châu Á và vay mượn mô hình xô-viết Nhiều nguyên lý và giá trị của cấu trúc này hiện nay vẫn còn duy trì, một cách vô hình và hữu hình, vô thức và có ý thức Chẳng hạn, cho đến gần đây báo chí vẫn còn hàng loạt bài nói đến việc khắc phục cơ chế "xin-cho" Cải cách hành chính là một trong những vấn đề chủ yếu được nêu lên từ hơn 15 năm trước song đến nay vẫn còn hoàn toàn dang dở Phải chăng điều này là biểu hiện của thực tế rằng vẫn còn nhiều rào cản của cơ chế cũ, với tên gọi "cách quản lý hành chính quan liêu bao cấp"?
Trang 33Thứ hai, khuôn mẫu văn hoá-xã hội cổ truyền (theo nghĩa chưa công nghiệp hoá, hiện đại hoá) Khuôn mẫu này một phần gia nhập vào cấu trúc nói trên, một phần bị chính cấu trúc này đẩy vào lĩnh vực phi chính thống hay phi hình thức Phần sau này hiện nay đang phục hồi mạnh mẽ (lễ hội, ma chay, cưới xin, định hướng giá trị theo dòng họ, theo đồng hương, v.v.) Trong cấu trúc cổ truyền, phải xem xét những cấp độ (hay yếu tố) cơ bản: cá nhân, gia đình/dòng họ, làng
xã, địa phương (tỉnh, vùng) và nhà nước (quốc gia)
Thứ ba, khuôn mẫu văn hoá-xã hội dựa trên nguyên lý thị trường Hệ giá trị và chuẩn mực này hoàn toàn không phải là đơn trị đối với phát triển (nó cũng có mặt lợi và hại) Thêm nữa, người
ta phải phân biệt hệ giá trị/ chuẩn mực thị trường trong giai đoạn ban đầu khác với trong giai đoạn phát triển đầy đủ
Ba khuôn mẫu nói trên đang tương tác mạnh mẽ trong tiến trình phát triển hiện nay ở Việt Nam Chúng là cấu trúc xã hội, là văn hoá, là quyền lực, là động lực, tác động ở mọi cấp độ từ chiều sâu đến bề mặt đời sống hàng ngày Một số người đôi khi có cái nhìn một chiều về ba khuôn mẫu trên, theo kiểu từng khuôn mẫu hoặc chỉ là tích cực hoặc chỉ là tiêu cực Lý thuyết hiện đại hoá biện chứng đề xuất cách nhìn đan xen hơn về cái cổ truyền cũng như cái hiện đại (Xem Chương Một) Theo đó, không phải cái gì hễ là cổ truyền thì đều không thích hợp với phát triển, cần phải thay thế, còn hễ cái gì là hiện đại thì đều thích hợp với phát triển, cần du nhập Trong thực tế, quá độ từ cổ truyền sang hiện đại phức tạp và đa diện hơn, theo đó cái cổ truyền và cái hiện đại thâm nhập và tương tác lẫn nhau
Trong hiện thực là sự pha trộn của ba khuôn mẫu Ba khuôn mẫu gây trở ngại cho nhau, tác động vào nhau Tương tác giữa chúng tạo ra xung đột, đột phá, phát triển; nhưng cũng tạo ra cân bằng, trì trệ, biến dạng, thụt lùi
Ba khuôn mẫu thể hiện trong mọi lĩnh vực Chẳng hạn, biểu hiện trong kinh tế là ta thấy có một thực thể kinh tế ba tầng, ba chiều: khu vực kinh tế quốc doanh, tư nhân, hộ gia đình Trong lĩnh vực phúc lợi xã hội ta thấy các định chế và hoạt động phúc lợi của Nhà nước tập trung, phúc lợi
xã hội phi chính thức, phúc lợi doanh nghiệp, hoạt động phúc lợi của cá nhân và gia đình Trong lĩnh vực xã hội dân sự ta thấy sự cùng tồn tại của các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội, các NGO, hiệp hội kinh doanh
Sự phát triển quy đến cùng là một tiến trình diễn ra hàng ngày của hàng triệu hành động xã hội của các cá nhân, nhóm, tổ chức, Mặc dù các hành động đó là vô cùng lớn về mặt số lượng, gần như là vô hạn, song chúng có thể quy lại thành một số lượng hạn chế những mô thức ứng
xử, vì chúng bị quy định bởi một tập hợp nhất định các giá trị và chuẩn mực xã hội Nghiên cứu
xã hội cho phát triển cần tìm hiểu xem đang có những giá trị và chuẩn mực xã hội như thế nào chi phối mô thức ứng xử và tư duy của con người, mô tả các mô thức quan trọng có tác động căn bản (theo cả hai chiều) đến phát triển Điều khó khăn là không có một tương quan đơn nhất giữa mỗi giá trị và chuẩn mực với nhu cầu phát triển (bởi phát triển là một tập hợp của các chỉ tiêu khác nhau), không có kết quả đơn trị của mỗi giá trị hay chuẩn mực trong hàm số phát triển
Sự ràng buộc của cá nhân vào gia đình/dòng họ, cộng đồng và nhà nước đem lại những tác dụng trái ngược nhau cho phát triển Chẳng hạn, người ta có thể sử dụng sự ràng buộc của gia đình và làng xã làm cơ chế tín chấp cho vấn đề tín dụng cho nông dân, nhất là nông dân nghèo, một lối thoát cho nơi nào mà cơ chế thế chấp không thể hoạt động Nó cũng là một cơ sở để
Trang 34đương đầu với thách thức phát triển "mất gốc" (tức là hiện đại hoá kèm theo mất bản sắc văn hoá) Nó là một cơ chế của bảo đảm xã hội lấp khoảng trống về nhu cầu phúc lợi mà hệ thống bảo đảm xã hội chính thức chưa đáp ứng được Nó có thể hỗ trợ cho cá nhân phấn đấu và thành đạt (các mối liên hệ họ hàng và đồng hương đã hoạt động và có vai trò rất mạnh trong việc giúp
cá nhân thăng tiến) Tuy nhiên, sự ràng buộc này cũng gây trở ngại cho năng động cá nhân và việc xây dựng một "xã hội công dân" mang tính toàn quốc, vốn là những tiền đề và kết quả của một nền kinh tế thị trường quốc gia hoạt động có hiệu quả
Làng xã đem lại một sự ràng buộc cá nhân, nhưng tạo ra lãnh địa riêng mà nhà nước không thể can thiệp vào ("phép vua thua lệ làng") Nhà nước có vai trò không thể thay thế được, tầm quan trọng sống còn của nó đối với phát triển là không thể chối cãi Song một nhà nước thái quá và lệch lạc về cấu trúc-chức năng như kiểu nhà nước trong phương thức sản xuất châu Á và trong cấu trúc xã hội hành chính tập trung quan liêu bao cấp, sẽ đem lại hại nhiều hơn lợi (nếu không muốn nói là hoàn toàn có hại) cho tiến trình phát triển hiện đại Trong hai kiểu nhà nước đó không có chỗ cho năng động cá nhân, thương mại (thị trường), hiệu suất kinh tế, vốn là các yếu
tố của một xã hội thị trường mang tính chức năng (functioning)
Bảng 2.2 Ba khuôn mẫu văn hoá-xã hội trong thực tế xã hội Việt Nam hiện nay
Khuôn mẫu Thiết chế và tổ chức Đặc điểm cấu trúc và văn hoá
Cổ truyền Nhà nước trung ương tập quyền
Làng xã
Gia đình
Nông nghiệp nhỏ, tự cung tự cấp
Tự trị làng/ văn hoá làng
Logic phân đẳng gia đình/dòng họ/làng/nhà nước
Cộng đồng luận (lợi ích và sự tồn tại của làng và các nhóm trong làng)
Sản xuất và tiêu dùng theo kế hoạch mệnh lệnh
Lợi ích kinh tế nhà nước
Tập trung dân chủ
Nhà nước chủ đạo
Đơn vị sản xuất là đơn vị phúc lợi
Chủ toàn luận (lợi ích và sự phát triển của cái chung, cái toàn thể)
Thị trường Thị trường
Công ty
Tổ chức xã hội dân sự
Sản xuất và tiêu dùng theo tín hiệu thị trường
Lợi nhuận và lợi ích kinh tế cá nhân
Nhà nước hạn chế
Cơ cấu cá nhân/nhóm lợi ích/nhà nước
Tự trị tổ chức
Cá nhân luận (lợi ích và sự phát triển cá nhân)
Nguồn: Bùi Thế Cường
2.3 TOÀN CẦU LÀ XUẤT PHÁT ĐIỂM
Trong thực tế phát triển nhiều thập niên và cho tới tận ngày nay của Việt Nam, người ta thấy 2 chủ đề nổi bật: thị trường và chủ nghĩa xã hội Một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam có xu hướng cho rằng đây là điểm đặc thù của Việt Nam, hoặc chí ít là của một số ít nước xã hội chủ nghĩa Cách nhìn này dễ gây ngộ nhận, rơi vào thuyết “chủ nghĩa đặc thù” (particularism) Thực ra, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội là một khuôn khổ mang tính lịch sử (ít ra là từ thế kỷ XIX đến tận ngày nay) và mang tính toàn cầu (diễn ra ở tất cả các nước) Toàn
bộ sự nghiệp nghiên cứu và thực tiễn của Mác, Engels và Lê Nin đều dựa trên định đề này Trong thập niên 1960, học giả mác-xít E Wallerstein một lần nữa lại nhấn mạnh đặc trưng đó
Trang 35khi đề xuất ý tưởng rằng để hiểu được các hiện tượng xã hội ngày nay phải luôn xuất phát từ cách nhìn thế giới là một hệ thống
Nếu như thế giới là một hệ thống và chỉ có một quá trình lịch sử toàn cầu, thì cần thấy rằng
cũng như mọi quốc gia khác, Việt Nam chỉ là một biểu hiện, một địa điểm cụ thể của quá trình
lịch sử toàn cầu mà thôi Do đó, về mặt phương pháp luận, việc xác định "vấn đề cơ bản" của Việt Nam (hiện tại như đã được xác định chính thức đó là vấn đề "công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn và theo định hướng xã hội chủ nghĩa") cũng như mọi vấn đề cụ thể nảy sinh từ vấn
đề cơ bản này, đều phải xuất phát từ quan điểm lịch sử toàn cầu Nói cách khác, hoàn cảnh toàn cầu định hình Việt Nam chứ không phải ngược lại; tuy rằng mọi quốc gia trong đó có Việt Nam đều tham gia vào “sân khấu” toàn cầu một cách tích cực và sáng tạo
Từ khoảng năm 2000 trở lại đây, nổi lên tiếng nói ngày càng được tán thành rằng Việt Nam chưa chú ý nghiêm túc đúng mức đến vấn đề hội nhập quốc tế (gần đây tình hình đã thay đổi: những khó khăn kinh tế xuất hiện ở Việt Nam năm 2007 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ 2008 đã khiến các nhà vạch chính sách Việt Nam ý thức được hoàn toàn rõ ràng rằng Việt Nam phụ thuộc sâu rộng như thế nào vào thế giới) Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu và nhà làm chính sách có xu hướng nói đến hội nhập quốc tế chỉ thuần tuý về mặt kinh tế Cần thấy rằng hội nhập quốc tế không chỉ là động lực và cơ hội kinh tế Thực ra, hội nhập quốc tế là một quá trình toàn diện, bao quát mọi mặt, trong đó kinh tế chỉ là một khía cạnh Không thừa nhận điều này sẽ dẫn đến sự lúng túng, mâu thuẫn, nửa vời và định hướng chệch trong hành động
Lý thuyết mác-xít về quan hệ quốc tế mà Wallerstein đề xuất trong thập niên 1960 nhìn hệ thống thế giới như là thực thể thống nhất mang tính tư bản chủ nghĩa với ba vùng khác nhau: trung tâm, ngoại vi và bán ngoại vi Trong đó vùng trung tâm bao gồm các nước công nghiệp phát triển nhất, giữ địa vị thống trị, chi phối nguồn vốn toàn cầu, nắm quyền điều hành công việc thế giới Từ đó đến nay, thực tế này vẫn không thay đổi nhiều Thậm chí, điều này còn trở nên đúng hơn nữa, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực sụp đổ Về điều này có thể tham khảo thêm những bài thuyết trình của Samir Amin tại Việt Nam (Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam, 11/2007) Cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra trong hai năm 2008-2009 đã đảo lộn khá mạnh mẽ “cấu trúc” đó Giới học giả và truyền thông quốc tế nói nhiều đến sự xuất hiện của G-20, nhóm BRIC, thậm chí của G-2 (Mỹ và Trung Quốc); tranh luận về những khu vực và thể chế quốc tế mới đang nổi lên; dự đoán về những “tay chơi toàn cầu” mới, đem đến những cân bằng quyền lực mới Mặc dù vậy, có vẻ như chưa có thay đổi thực sự gì nhiều trong cái khuôn khổ cấu trúc quốc tế đã hình thành trong thế kỷ XX
Trong toàn bộ thời kỳ từ đó cho đến nay, Việt Nam là một quốc gia thuộc vùng ngoại vi Do những yếu tố lịch sử khác nhau, mà đất nước thuộc vùng ngoại vi này đã trở thành một tâm điểm nóng của lịch sử thế giới, nơi đối đầu của hai hệ thống Nói cách khác, là một vùng ngoại
vi nhưng lại trở thành một yếu tố lớn trong công việc của các quốc gia thuộc "trung tâm" Sau
1975, thực tế này đã thay đổi Việt Nam dần dần trở lại thành một quốc gia ngoại vi Để có thể thay đổi vị thế này, Việt Nam phải xác định được đúng vị thế của mình trong hệ thống, xử lý được quan hệ của mình với "trung tâm" một cách đúng đắn, bởi vì khu vực "trung tâm" vẫn là nơi "quản lý" công việc thế giới về mọi mặt (tài chính, chính sách phát triển, hệ tư tưởng, văn hoá, ) Điều này cũng giống hệt như tình hình trước 1975: trục cơ bản là xử lý thành công mối quan hệ của mình với "trung tâm" Chỉ có xử lý đúng đắn trục cơ bản này, mới tạo ra được một trong những điều kiện cơ bản cho việc thay đổi vị thế trong hệ thống
Trang 36Nhiều người thường nói rằng phải nỗ lực "để bắt kịp các nước khác" Cách nghĩ và cách nói này cần được làm sáng tỏ hơn, bởi vì nó dễ dẫn đến sự mơ hồ, xem thế giới như là một không gian lỏng lẻo, tự do, phân tán, ở đó một quốc gia có thể tham gia hoặc không tham gia "cuộc chơi" Theo lý thuyết "hệ thống thế giới" (lý thuyết này có manh nha ngay từ trong lý luận của
Lê Nin, cũng như của một số nhà nghiên cứu trước Lê Nin), thế giới không phải như vậy Thế giới là một hệ thống chặt chẽ, có sự thống trị và đấu tranh; trong đó các đơn vị của nó có vị thế
bị xác định; việc thay đổi vị thế là "có khả năng", nhưng hết sức khó khăn Nghiên cứu phát triển quốc tế cho thấy trong vòng nửa thế kỷ phát triển, chỉ có 5% các nước đang phát triển vượt thoát khỏi cái bẫy nước nghèo Báo cáo 2003 của UNDP về phát triển con người nói rằng năm
2000 có 54 nước trở nên nghèo hơn so với 1990, trong thời kỳ 1988-1998 các thông số kinh tế giảm tại 55 nước và trong vòng một thập niên có 34 nước bị tụt hạng trong bảng xếp hạng về chỉ số phát triển (Houtart, 2007) Hệ thống quốc tế với các quốc gia như là các tác nhân hành động chịu sự chi phối của một cấu trúc thế giới cũng chặt chẽ như là một cấu trúc xã hội trong
đó những cá nhân hay hộ gia đình là đơn vị hành động Các cá nhân và hộ gia đình có thể di động trong một cấu trúc xã hội định sẵn, song đây là một khả năng rất gian nan
Theo cách nhìn trên, thì mô hình hay là cấu trúc quan hệ quốc tế toàn cầu là xuất phát điểm để định hình hành vi của Việt Nam, chứ không phải bắt đầu từ việc định hình bản thân trước rồi mới tính đến thế giới như là "một hoàn cảnh" bên ngoài, cần phải "khai thác", "vận dụng" Từ góc độ của tiếp cận xã hội học tiến hoá, các cá thể (con người, tổ chức, nhóm, quốc gia, ) phải thích nghi với môi trường, chứ không phải ngược lại
Gần 25 năm Đổi Mới vừa qua là quá trình Việt Nam từng bước học được "logic tất yếu thép" này, nhưng với cái giá quá cao về thời gian và về nhiều mặt khác Trong khi đó một số nước Đông Á và Đông Nam Á đã thừa nhận bài học này từ lâu, thậm chí từ đầu, và đã vận dụng khá thành công "nguyên lý" này
2.4 KẾT HỢP CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Xét về mặt lịch sử và toàn cầu, thì hệ thống thế giới vận động trong sự đấu tranh giữa chủ nghĩa
tư bản và chủ nghĩa xã hội Điều này đã diễn ra từ gần 200 năm nay trên phạm vi toàn cầu, và
có thể sẽ còn tiếp tục trong một kích thước lịch sử lâu dài Từ "đấu tranh" nói trên trước hết là một thuật ngữ "triết học" Nó cũng là thuật ngữ của thực tiễn, nhưng khi đi vào thực tiễn, phải hiểu thuật ngữ này đầy đủ hơn và vẫn phải hiểu nó là một thuật ngữ học thuật thay vì gán vào
đó một cách hiểu bề mặt đời thường
Trong thực tiễn, người ta thấy một biểu hiện của “sự đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội” là "sự kết hợp" giữa chúng Trong quá trình phát triển thực tiễn ở nước Nga, Lê Nin đã từng có thời điểm nói đến "sự kết hợp" này (Chính sách kinh tế mới, NEP) Điều đáng tiếc là sau đó xu hướng cực đoan hơn trong phong trào cách mạng đã thắng thế, nhấn mạnh vào
"loại bỏ tất cả mọi thứ của chủ nghĩa tư bản, để xây dựng một chủ nghĩa xã hội theo nghĩa tuyệt đối và hoàn toàn khác với chủ nghĩa tư bản"
Bên ngoài khối các nước xã hội chủ nghĩa "chính thống", đã diễn ra một loạt "sự kết hợp" giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội theo nhiều kiểu khác nhau Một phần không nhỏ thì thất bại: ở châu Phi và châu Mỹ Latin Nhưng cũng đã có những "thành công": các nước công nghiệp phát triển cao Âu-Mỹ (đặc biệt là các nước trong mô hình Bắc Âu), Nhật Bản, các nước
Trang 37công nghiệp mới ở Đông và Đông Nam Á Trung Quốc sau cải cách 1978 và Việt Nam sau Đổi Mới 1986 đang được xem là những thử nghiệm mới về sự kết hợp này và đang hứa hẹn có thành công, mặc dù còn tiềm ẩn nhiều rủi ro và nhiều điểm chưa rõ ràng
Xuất phát từ cách nhìn trên, có thể rút ra 2 luận điểm có liên hệ với nhau sau đây Thứ nhất, hệ thống thế giới và quá trình lịch sử toàn cầu là hệ quy chiếu, xuất phát điểm định hình đường lối
và chiến lược phát triển đất nước Thứ hai, các nước "thành công" trong sự kết hợp giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội là cơ sở thực tiễn duy nhất có "thẩm quyền" (bởi vì đã có bằng chứng) để học tập Ngoài ra, không thể căn cứ vào cái gì khác (diễn giải hệ tư tưởng, ) Quá trình phụ thuộc lẫn nhau vào hệ thống kinh tế và chính trị toàn cầu đã tiến nhanh Trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, nền kinh tế Việt Nam ít chịu ảnh hưởng Nhưng
sự ảnh hưởng dù không đáng kể này cũng đã chỉ ra mặt thứ hai của nó: nền kinh tế đất nước đã gắn vào kinh tế thế giới ở mức độ nhất định Kể từ đó, sự phụ thuộc đã tăng lên nhanh chóng Chính sách mở cửa, mở rộng quan hệ đa phương và toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa đang tăng tốc, ba nhân tố này đã làm cho Việt Nam ngày càng chịu tác động của môi trường quốc tế Suốt
từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO cuối năm 2006 đến nay, hàng loạt sự kiện kinh tế trong nước như giá vàng tăng, giá cả mọi hàng hóa tăng, thị trường chứng khoán tụt dốc, đều chứng
tỏ nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc rất mạnh vào thế giới Diễn biến kinh tế những năm 2007-2009, rút cuộc, đã chấm dứt (?) cách tư duy “tách rời” (Việt Nam và thế giới) dai dẳng trong nhiều người Việt Nam khi hoạch định chính sách và nghiên cứu
Thực tế này làm nảy sinh hai luồng quan điểm, luồng thứ nhất cho rằng định hướng xã hội chủ nghĩa tỏ ra ngày càng giảm, khó duy trì hơn, một khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển Luồng quan điểm này dựa trên một khối bằng chứng kinh nghiệm ngày càng lớn, trong đó
có cả những bằng chứng của nghiên cứu xã hội thực nghiệm Bên cạnh đó, vẫn thấy sự tồn tại của một kiểu lập luận giáo điều về định hướng xã hội chủ nghĩa, bằng cách bất chấp những khối tài liệu thực nghiệm mới ngày càng lớn, chỉ dựa trên việc duy trì một "mô hình phân tích kết cấu xã hội" cũ, không còn ăn nhập với thực tế hiện nay
Cần phải tính đến những bằng chứng kinh nghiệm mới, không được bỏ qua chúng như kiểu lập luận giáo điều đang làm Đồng thời, cần nỗ lực tìm kiếm những nền tảng lý thuyết cho phép giải thích sâu sắc hơn thực tế hiện nay, tránh cách giải thích đơn giản hoá theo thực chứng luận của luồng quan điểm thứ nhất Định hướng xã hội chủ nghĩa là một khả năng hiện thực trong bối cảnh kinh tế thị trường, điều này đúng với cả cấp độ toàn cầu cũng như cấp độ Việt Nam Trong các nước phát triển cao, các yếu tố của định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn trở nên rõ ràng, mặc dù xu hướng này không phải là đơn thuần tuyến tính
Trong bối cảnh hình thành kinh tế thị trường ở Việt Nam, định hướng xã hội chủ nghĩa dĩ nhiên gặp nhiều thách thức hơn, song theo phép biện chứng thì chính điều này lại cũng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho việc bộc lộ định hướng xã hội chủ nghĩa Gần 25 năm đẩy mạnh xu hướng thị trường ở Việt Nam cũng là thời kỳ chứng kiến những nỗ lực thành công mang tính xã hội chủ nghĩa: giảm nghèo, tăng thu nhập từ phúc lợi xã hội, phát triển dân chủ, cân bằng giữa các vùng
và khu vực, mở rộng hệ thống y tế và giáo dục cho toàn dân
2.5 BẢN ĐỒ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI
Trang 38Tồn tại và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và quá độ lịch sử thế giới mang tính con lắc giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của những yếu tố trên Kết quả là vào cuối thập niên 1980, Việt Nam chuyển sang nền chính trị Đổi Mới
Có thể nhìn hệ thống chính trị Đổi Mới như là một cấu trúc có mục tiêu và nội dung của mình, với những hệ quả xã hội nhất định
Bảng 2.3 là một sơ đồ khái niệm hóa cấu trúc của Đổi Mới và những tác động xã hội của nó Cấu trúc của Đổi Mới có thể nhìn nhận từ góc độ bao hàm ba thành tố: chủ trương, thể chế1 và chính sách Các chủ trương, thể chế và chính sách lớn này đã mở ra không gian biến đổi xã hội
và văn hoá mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam
Cột 1 đề cập đến 6 chủ trương lớn cấu thành đường lối chính trị Đổi Mới, những chủ trương này vừa phản ánh điểm xuất phát vừa phản ánh mục tiêu của đường lối Đổi Mới Trong diễn tiến thực tế, chủ trương trực tiếp dẫn đến các định hướng chính sách (cột 3), trước khi các thể chế được tái tổ chức Nhưng về mặt lô gích, các chủ trương đi vào thực tiễn phải thông qua thể chế Kinh nghiệm hiện đại hóa ở các nước phương Tây trong 200 năm qua cũng như kinh nghiệm xây dựng lại quốc gia của Nga và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã chỉ ra tương quan vai trò giữa thể chế và chính sách (Xem Hộp 2.1 và xem thêm Chương Bốn, mục 4.2.5) Cột 2 đề cập ba thể chế trụ cột: kinh tế thị trường, nhà nước và xã hội dân sự
Cột 3 trình bày các định hướng chính sách được nhóm lại trong 6 vùng chủ đề chính: khu vực (thành phần) kinh tế, giảm nghèo, nhân lực, hệ thống chính trị, hệ thống phúc lợi xã hội, phát triển bền vững về mặt môi trường Cột 4 nêu lên những tác động của các chủ trương chính sách lớn theo hai chiều (thuận/nghịch, tích cực/tiêu cực, mong muốn/không mong muốn) Nội dung trong các ô liên hệ và tương tác nhân quả với nhau theo cả chiều dọc, ngang và chéo Mỗi phân tích cụ thể được tiến hành bằng cách phát triển các mối liên hệ theo các chiều ngang dọc giữa những nội dung trong các ô
Bảng 2.3 Cấu trúc của Đổi Mới và những tác động xã hội
Cấu trúc của Đổi Mới Tác động xã hội
Mở rộng khu vực kinh tế tư nhân Khuyến khích kinh tế hộ gia đình
Hướng tác động chung: Biến đổi cấu trúc xã hội và văn hoá:
Hình thành một kết cấu giai tầng xã hội mới (biến đổi
vị thế và vai trò của các giai tầng)
Biến đổi hệ giá trị: lợi ích kinh tế, cá nhân và gia đình, liên kết xã hội, hiện đại hoá, trở về truyền thống, dân tộc và quốc gia
Thay đổi quan hệ lao động
Thay đổi kiểu quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và cá nhân
Tái tổ chức và tổ chức mới các định chế xã hội
Những nỗ lực tập thể và phong trào xã hội
Trang 39Hình thành kết cấu phân tầng xã hội mới dựa trên thị trường
Mức sống của đại bộ phận dân cư tăng lên
Liên kết xã hội, dân tộc và quốc gia
Đầu tư nhiều hơn cho giáo dục và mục tiêu dài hạn
Khung thể chế kinh tế và nhà nước trở nên rõ ràng và hiệu quả hơn
Khai thác các nguồn lực quốc tế Hội nhập với thế giới
Cải cách hành chính
Hình thành xã hội dân sự
Đại đoàn
kết toàn dân
Củng cố và mở rộng hệ thống phúc lợi xã hội
Tiêu cực:
Tăng cách biệt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và tinh thần Tăng cách biệt nông thôn-đô thị và khu vực Xung đột xã hội có xu hướng tăng
Định chế gia đình suy giảm chức năng
Xu hướng tăng hành vi lệch chuẩn, tội phạm, tệ nạn xã hội
Tăng gánh nặng chi phí của xã hội và cá nhân cho y tế
và giáo dục
Tăng phụ thuộc vào biến động toàn cầu
Tài nguyên khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường
Thân thiện
với môi
trường
Phát triển bền vững về mặt môi trường
Nguồn: Bùi Thế Cường
Hộp 2.1 Vai trò của thể chế trong cải cách: Phỏng vấn của VietnamNet với ông Grzegorz
Kolodko, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Ba Lan
Trong bài phát biểu của mình, ông có nhắc đến bài học mà các nước Trung Đông Âu đã phải trả do liệu pháp sốc gây ra (thất nghiệp ồ ạt, thất thoát tài sản công, lạm phát phi mã ), Ba Lan đã làm thế nào để vượt qua những khó khăn đó và trở thành nước có nền kinh tế lớn nhất Trung Đông Âu?
Thật không dễ dàng khi giải quyết gánh nặng mà các biện pháp thiếu tính toán được gọi
là "sốc" đã gây ra Hậu quả rõ nét nhất là GDP của Ba Lan đã sụt giảm 20% Khi nhậm chức Bộ trưởng Tài chính kiêm Phó Thủ tướng (giai đoạn 1994-1997), tôi đã áp dụng phương thức khác, cụ thể là cam kết mạnh mẽ hơn đối với việc tiến hành cải cách thể chế Chuyển đổi nền kinh tế không chỉ giản đơn là tự do hoá hay tư nhân hoá, quan trọng
hơn đó là xây dựng các thể chế, tổ chức cơ cấu pháp lý cho nền kinh tế thị trường
như: thị trường vốn, ngân hàng đầu tư, luật và các tổ chức, chính sách cạnh tranh, bảo hộ quyền sở hữu tài sản
Không nên tư nhân hoá ồ ạt, thiếu cân nhắc VietnamNet 1/6/2004 Việt Lâm-Cẩm Tú
thực hiện
2.6 ĐI TÌM MỘT DIỄN GIẢI LÝ LUẬN: TÓM TẮT VÀ KIẾN NGHỊ
Dựa trên những nội dung trình bày ở chương trước, chương này cố gắng sắp xếp một khung logic để nhìn vào thực tế ở Việt Nam Khung logic này bao gồm ba nội dung cơ bản Trước hết, tác giả đề xuất khái niệm “khuôn mẫu văn hóa-xã hội” Khái niệm này áp dụng vào thực tế hiện nay cho thấy xã hội Việt Nam thời kỳ Đổi Mới là một hiện thực hỗn hợp của ba khuôn mẫu văn hóa-xã hội khác nhau Các quan điểm lý luận, định hướng tư tưởng và định hướng chính sách đều xoay quanh sự “chung sống” và “đấu tranh” của ba kiểu khuôn mẫu này Và chúng đều bị
ba khuôn mẫu này chi phối một cách tự giác hoặc không tự giác
Tiếp theo, tác giả cho rằng để Việt Nam định hình được bản thân trong tiến trình phát triển lịch
sử thế giới hiện nay thì cần thừa nhận rằng bối cảnh toàn cầu phải là xuất phát điểm của lý luận,
Trang 40định hướng tư tưởng và chính sách Bối cảnh toàn cầu hiện nay, như cách xác định vẫn có hiệu lực trong suốt thế kỷ XX, vẫn là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên,
sự quá độ này cần được hiểu lại toàn diện hơn từ quan điểm triết học thực sự của Mác
Cuối cùng, tác giả trình bày một sơ đồ mô tả cấu trúc của đường lối Đổi Mới và các tác động xã hội của nó; với hy vọng sơ đồ này góp phần giúp cho tư duy của nhà lý luận và làm chính sách
có được một bản đồ để hiểu và tìm đường trong thực địa (xã hội)
Trong Chương này, xin nêu lên một số kiến nghị sau đây
o Tiếp tục coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển là vấn đề lý luận và thực tiễn trung tâm trong công tác nghiên cứu lý luận và hoạch định chính sách
o Một trong những kiểu tư duy xã hội học có tác dụng bổ ích cho nhà lý luận và hoạch định chính sách là nhìn thực địa xã hội và hành động trong đó theo hai trục gắn kết chặt chẽ với nhau: văn hóa và cấu trúc xã hội Về mặt văn hóa, 3 cốt lõi của nó là hệ tri thức, hệ giá trị và
hệ chuẩn mực Về mặt cấu trúc xã hội, điểm then chốt là tương tác giữa 3 chủ thể chủ yếu: các nhóm xã hội, các thiết chế và các tổ chức
o Nhấn mạnh một cách chính thức và rõ ràng hơn hai luận đề cơ bản trong mọi công tác lý luận,
tư tưởng và định hướng chính sách Đó là luôn nhìn và định hình các hành động cơ bản trên quan điểm coi môi trường toàn cầu là xuất phát điểm, và trên quan điểm “kết hợp” chủ nghĩa
tư bản và chủ nghĩa xã hội (“hòa bình, hợp tác và phát triển là xu hướng của thời đại”)
o Tập trung xây dựng khuôn mẫu văn hóa-xã hội hiện đại; chuyển từ một hiện thực xã hội hỗn hợp của ba khuôn mẫu văn hóa-xã hội sang một hiện thực mới nhất quán với nguyên lý thị trường định hướng vào xã hội và môi trường, có tính đến những yếu tố truyền thống thích ứng được với xã hội hiện đại
o Có những nghiên cứu rộng lớn hơn về cấu trúc thực sự của nền chính trị Đổi Mới, về tương tác của các thành phần trong cấu trúc ấy (chủ trương, thể chế, chính sách), và về các hệ quả xã hội của Đổi Mới