Và chúng tôi hy vọng qua đó có thể góp phần vào việc nhận diện ra một số động lực và đặc trưng thuộc về kích thước xã hội của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cũng như những vấn
Trang 1Bài chuyên đề viết cho Đề tài cấp nhà nước KX.02.10
“Các vấn đề xã hội của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam : Một xã hội học về biến đổi xã hội và văn hóa”
(chủ nhiệm : PGS-TS Bùi Thế Cường)
Bài chuyên đề
Tìm hiểu xã hội Sài Gòn-thành phố Hồ Chí Minh
Trần Hữu Quang
Thành phố Hồ Chí Minh
6-2004
Trang 2Mục lục
Trang
Mục lục 1
Mở đầu 2
I Cách tiếp cận lý thuyết 5
II Cơ cấu xã hội 9
1 Cơ cấu nhân khẩu đa chủng 9
2 Dân số : tăng vọt trong thế kỷ XX 10
3 Áp lực của luồng di cư vào thành thị 11
4 Vấn đề thất nghiệp và vấn đề tạo công ăn việc làm 13
5 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật 14
6 Cơ cấu nghề nghiệp 15
7 Cơ cấu lao động : xu hướng chuyển dần từ công nghiệp sang dịch vụ 17
8 Phân hóa xã hội 22
9 Chuyển động trong cơ cấu các tầng lớp xã hội : xu hướng hồi phục dần tầng lớp trung lưu 24
III Các định chế xã hội 27
1 Các định chế kinh tế : vai trò quan trọng của định chế công ty 27
2 Các định chế chính trị 30
3 Qui mô gia đình và nhà ở 32
4 Gia đình, hôn nhân, và vị thế xã hội của người phụ nữ 36
5 Định chế truyền thông đại chúng 40
IV Những vấn đề xã hội phải đương đầu 43
1 Áp lực dân số 43
2 Lao động 44
3 Tệ nạn xã hội và tội phạm 45
4 Trật tự đô thị 46
5 Xóa đói giảm nghèo 48
6 Qui hoạch và quản lý đô thị 48
V Từ những đặc trưng của Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh, đến những nhận định về một mô hình phát triển xã hội 50
1 Thúc đẩy quá trình thành thị hóa 51
2 Xây dựng một cơ cấu xã hội mở và phát triển tầng lớp trung lưu 53
3 Tạo điều kiện đa dạng hóa về mặt định chế xã hội và xây dựng xã hội dân sự 59 Kết luận 63
Tài liệu tham khảo 65
Trang 3Mở đầu
Hiện nay, cả nước chúng ta đang ở trong giai đoạn tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khuôn khổ chuyển sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm hướng tới mục tiêu là xây dựng một quốc gia công nghiệp vào năm 2020 Trong
lĩnh vực kinh tế, các đường lối, chủ trương và chính sách nhằm thực hiện quá
trình này đang từng bước được cụ thể hóa và thể hiện ngày một rõ ràng hơn, các thành tựu và tiến bộ lẫn các khó khăn cũng được nhận diện và khẳng định một cách tương đối hiển nhiên và dễ thấy
Nhưng trong lĩnh vực xã hội, hình như chúng ta còn đang thiếu một chiến
lược phát triển xã hội tương ứng với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Đồng thời, chúng ta cũng nhận thấy dường như còn khá nhiều lúng túng trong
việc nhận diện ra thế nào là một mô hình xã hội tương lai của đất nước, ít nhất là
cho đến năm 2020 khi xây dựng xong một nền kinh tế công nghiệp Cho đến nay,
các đường đi nước bước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa về mặt xã
hội chưa được hình dung và phát biểu một cách rõ ràng, kể cả trong nhận thức
lẫn trong việc thiết kế và phác họa ra một hệ thống các chính sách xã hội Thế mà thực tế lại đang chứng tỏ ngày càng có nhiều vấn đề xã hội bức xúc và thậm chí nghiêm trọng mà chưa có lời giải, điển hình như những vấn nạn trong nhiều lĩnh vực quản lý xã hội, vấn đề cải cách hành chính, vấn đề quản lý đô thị, vấn đề tham nhũng, và cả trong các lĩnh vực giáo dục, y tế hay khoa học Trong khi đó, chúng ta biết là con người luôn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu, nhân tố con người và nhân tố xã hội vừa là mục tiêu mà cũng vừa là động lực hết sức quan trọng, nếu không nói là quyết định, của quá trình tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước
Bài nghiên cứu sau đây không nhằm mục tiêu xây dựng một mô hình xã hội hay một chiến lược phát triển xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chúng tôi chỉ dự định tìm hiểu và phân tích một số đặc trưng của xã hội
Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh, xét như một trường hợp điển hình đã và đang trải qua
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế-xã hội tương đối sớm sủa hơn so với các địa phương khác trong nước Và chúng tôi hy vọng qua đó có thể góp
phần vào việc nhận diện ra một số động lực và đặc trưng thuộc về kích thước xã
hội của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cũng như những vấn đề xã hội
mà chúng ta sẽ phải đương đầu trong quá trình này trên qui mô cả nước Chúng tôi cho rằng xã hội thành phố Hồ Chí Minh là một trường hợp điển hình có thể cho phép chúng ta đi tới những kiến giải có ý nghĩa thực tiễn nhằm hiểu thêm và mường tượng thêm quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa về mặt xã hội đang diễn ra ở nước ta hiện nay Nhưng cần phải nói ngay rằng, khi nghiên cứu về TP.HCM, chúng tôi không quan niệm các động thái và các vấn đề mà TP.HCM
đã và đang phải đương đầu nhất thiết cũng sẽ lặp lại y hệt như vậy ở các tỉnh và thành phố khác Mặc dù có thể có những đặc trưng phổ quát của một quá trình phát triển kinh tế-xã hội, nhưng hiển nhiên là những kinh nghiệm lịch sử cụ thể của thành phố Hồ Chí Minh không thể được coi như là những “qui luật” tất yếu
sẽ diễn ra nơi mọi địa phương khác trong nước
Trang 4Với một diện tích không đầy 1 % cả nước và dân số khoảng 7 % cả nước, thành phố Hồ Chí Minh tạo ra giá trị tổng sản phẩm nội địa (GDP) bằng 18,35 %
so với giá trị GDP của cả nước, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn chiếm 29,33 %, giá trị xuất khẩu chiếm 36,73 %, và mức thu ngân sách nhà nước trên địa bàn chiếm khoảng 1/3 trong tổng thu ngân sách nhà nước trên cả nước (số liệu năm 2003).1
Cuối năm 2002, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 20/NQ-TW (ngày 11-2002), trong đó điểm lại 20 năm thực hiện Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị (1982) về vai trò và nhiệm vụ của thành phố Hồ Chí Minh, và tiếp tục xác định thành phố Hồ Chí Minh là “đô thị lớn nhất nước ta, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước.” Ngoài việc điểm lại những thành quả xây dựng và phát triển của TP.HCM những năm qua, bản nghị quyết này cũng đề cập tới những khó khăn, tồn tại và yếu kém trong quản lý, đồng thời đề ra phương hướng và nhiệm
18-vụ phát triển của thành phố này tới năm 2010 với mục tiêu “xây dựng thành phố
Hồ Chí Minh thành một thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại, đóng góp ngày càng lớn với khu vực phía Nam và cả nước, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á.” Theo bản qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội TP.HCM thời kỳ 1996-2000 và đến 2010 mà Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt với Quyết định số 532/TTg ngày 12-7-1997, qui mô dân số thành phố đến năm 2010 sẽ đạt khoảng từ 7,5 triệu tới
8 triệu người, trong đó có khoảng 5-6 triệu lao động, và mức tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân đầu người đạt khoảng 1.600 đô-la năm 2000, khoảng 2.760 đô-la năm 2005, và khoảng 4.540 đô-la vào năm 2010.2
Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng chủ yếu lối tiếp cận xã hội học, căn cứ trên một số tài liệu nghiên cứu lịch sử, kinh tế, xã hội và thống kê thu thập được Nhưng trước khi đi vào tìm hiểu, phân tích và nhận định về những đặc trưng của
xã hội Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh, chúng ta cần xác định ba đặc điểm quan trọng,
vì đây là những xuất phát điểm chi phối toàn bộ hình hài và tính chất của xã hội
Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh sau này Đó là đặc điểm thành thị, đặc điểm trung tâm,
và đặc điểm thương mại
Kể từ khi Nguyễn Hữu Cảnh chính thức thiết lập Sài Gòn thành một đơn
vị hành chính vào năm 1698, thì Sài Gòn dần dần phát triển theo hướng thành thị
hóa (theo nghĩa là có thành và có thị), và không bao lâu trở thành một đô thị
chiếm lĩnh vai trò đầu mối kinh tế và ngoại thương của cả miền Nam Có thể nói rằng lịch sử của Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh từ khi khai sinh đến nay cũng chính là
một lịch sử đô thị hóa
Đặc điểm thứ hai cũng hết sức quan trọng, đó là tính chất trung tâm của
Sài Gòn Tính chất này không phải chỉ do vị trí chiến lược về mặt địa lý và giao
Xem Con số và sự kiện, tháng 7-1997, trang 15 Xem thêm “Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010” của Ủy ban Nhân dân TP.HCM, in rônêô, tháng 10-1996, trang 134
Trang 5thông đường thủy cũng như đường bộ, mà chủ yếu còn do tiến trình lịch sử chính trị-xã hội và đặc biệt là quá trình phát triển kinh tế của vùng Sài Gòn-Gia Định nói riêng và cả vùng Nam bộ nói chung Không thể hình dung quá trình phát triển kinh tế của Sài Gòn tách rời khỏi quá trình phát triển của Nam bộ và sau này kể
cả của miền Trung và Tây nguyên Do đó, quá trình đô thị hóa của Sài Gòn cũng phải được xem xét và nhận thức trong bối cảnh lịch sử chính trị-xã hội từ thời Đàng Trong cho tới thời Pháp thuộc và thời chiến tranh chống Mỹ của cả miền Nam Có hiểu như vậy, chúng ta mới có thể thấy lịch sử hình thành và vận động của xã hội Sài Gòn là cả một tổng hợp phức tạp, được cấu thành bởi các quá trình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Khác với nhiều thành phố khác, điển hình như Huế chẳng hạn vốn là một kinh thành chủ yếu mang tính chất chính trị và hành chánh, phố thị Sài Gòn
mang đặc điểm nổi bật là từ rất sớm phát triển dựa trên thị trường, và sau này trở thành một trung tâm công nghiệp Hệ thống các cơ sở công nghiệp xây dựng từ
thời Pháp thuộc và về sau gắn liền với sự phát triển của khu công nghiệp Biên Hòa làm cho Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối sản xuất công nghiệp lớn nhất của cả miền Nam Lịch sử non trẻ hơn 300 năm cho thấy thành phố này lúc đầu mang tính chất tương tự như loại hình đô thị thương mại nổi lên
ở châu Âu vào thời Trung cổ như Genova ở Ý, Bruges ở Bỉ hay Marseille ở Pháp, và về sau đảm nhiệm luôn chức năng trung tâm công nghiệp như nhiều thành phố khác ở châu Âu trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa.3
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng đã nhận định như sau về đặc điểm văn hóa của xã hội Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh : “Bến Nghé-Sài Gòn đã trở thành cảng quốc tế giao thương với tầu bè Tây Dương, Hồng Mao, Ma Cao, Bồ Đà Bến Nghé-Sài Gòn là thành phố ngã ba đường vì nó kết nối được các luồng thông thương chủ yếu với thế giới rộng lớn hơn bên ngoài với sự giao lưu không ngừng của những con người, những tư tưởng, những luồng tư bản, những hàng hóa Chính vì vậy nơi đây thông qua những xung đột và những mâu thuẫn đã trở thành phòng thí nghiệm của sự tiến bộ và chịu gánh lấy những thách thức của tình trạng thế giới hóa Hệ quả là không một dòng thức văn hóa, một hình thức nghệ thuật
và cả nhu cầu và thị hiếu văn hóa nào tồn tại nguyên dạng trong một thời gian nhất định Chúng luôn luôn và nhanh chóng đổi mới để tạo nên một dạng thức mới có nội dung mang tính thời đại.”4
Trong suốt lịch sử của thành phố này, người dân sinh sống ở đây dường như hoàn toàn xa lạ với nền kinh tế tự cấp tự túc vốn là đặc trưng phổ biến lâu đời ở phần lớn các vùng nông thôn Việt Nam Cũng chính vì thế mà vào thời kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sau năm 1975, thành phố này đã buộc phải mày mò tìm ra những giải pháp “phá rào” để “tự cứu lấy mình”, và từ đó tạo ra những tiền đề cần thiết cho công cuộc đổi mới trên qui mô cả nước sau này So với cả nước, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh nhất ở đây, và thành phố này
3
Xem thêm Bert F Hoselitz, Aspects sociologiques de la croissance économique, Strasbourg,
Tendances actuelles, 1971, trang 86-88
4
Huỳnh Ngọc Trảng, “Văn hóa Nam bộ – Sự hội tụ những dòng chảy văn hóa”, trong tập tóm
tắt báo cáo khoa học Hội thảo quốc tế về Việt Nam học (Hà Nội, 15-17/7/1998), trang 67-68
Trang 6cũng đã từ lâu trở thành một thứ đầu tầu mang chức năng lôi kéo và thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa của các vùng khác phát triển theo Sự ra đời và phát triển của Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh chính là kết quả tập trung và điển hình của nền kinh tế thị trường của cả khu vực và của cả nước
Có thể nói lịch sử của Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh từ đầu thế kỷ XX cho đến
nay là một lịch sử công nghiệp hóa xét về mặt kinh tế, và hiện đại hóa xét về mặt
xã hội Lẽ tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hai quá trình này đã hoàn tất,
nhưng đây là hai quá trình đã bắt đầu khởi động kể từ đầu thế kỷ XX ở thành phố này, tương đối sớm hơn so với các địa phương khác trong nước
Trong bài này, chúng tôi sẽ lần lượt phân tích xã hội Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh xét về mặt cấu trúc xã hội, về mặt định chế xã hội, rồi những vấn đề xã hội
mà thành phố này phải đương đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
và cuối cùng là thử nhận diện ra những đặc trưng chính của mô hình xã hội của thành phố này nhằm đi đến một số nhận định mang tính chất kiến nghị Nhưng trước hết là một số vấn đề về cách tiếp cận lý thuyết
I Cách tiếp cận lý thuyết
Thoạt tiên là vấn đề khái niệm Hai khái niệm mà chúng tôi cho là mấu chốt trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu KX.02.10 này là “công nghiệp
hóa” và “hiện đại hóa” Theo thiển ý chúng tôi, “công nghiệp hóa”
(industria-lisation) là một khái niệm chủ yếu thiên về lĩnh vực kinh tế học Lĩnh vực xã hội
học quan tâm hơn tới khái niệm “hiện đại hóa” (modernisation), và thực ra quá
trình hiện đại hóa cũng đã mặc nhiên bao hàm trong nó quá trình công nghiệp hóa và quá trình đô thị hóa Vậy thế nào là hiện đại hóa ?
Thuật ngữ “modern” (hiện đại) xuất hiện từ thời Phục hưng ở châu Âu, lúc đầu thường được hiểu theo nghĩa đối lập với thuật ngữ “cổ xưa” (ancient) hay
“truyền thống” (traditional) Phải đợi đến Hegel thì người ta mới thấy có một sự
phân tích nghiêm cẩn và sâu sắc nhất về thân phận của “con người hiện đại” : đó
là con người đặt lịch sử trước mặt mình, và đặt mình trước lịch sử, và suy tưởng xem có sự hòa hợp giữa hai cái này với nhau hay không Đặc trưng của tính hiện
đại (modernity) theo Hegel là ở chỗ con người tự đặt mình vào trong lịch sử một
cách có ý thức.5
Về sau, người ta thường hiểu “hiện đại hóa” theo nghĩa là quá trình
chuyển biến từ xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại, xét trong mấy lĩnh vực như
sau (a) Hiện đại hóa về mặt chính trị là phát triển các định chế chính trị chủ yếu, như các chính đảng, nghị viện, quyền bầu cử, tức là những định chế tạo điều kiện cho người dân có thể tham gia vào quá trình ra quyết định (b) Hiện đại hóa về
mặt văn hóa được thể hiện chủ yếu trong quá trình thế tục hóa (secularisation) và
hình thành tư tưởng quốc gia dân tộc (c) Hiện đại hóa về mặt kinh tế (không đồng nhất với khái niệm công nghiệp hóa) là quá trình diễn ra những thay đổi sâu sắc về mặt kinh tế, như ngày càng gia tăng mức độ phân công lao động, sử dụng
5
Xem Roger Scruton, A Dictionary of Political Thought, London, Pan Press, 1982, trang
302-303
Trang 7các kỹ thuật quản trị, các công nghệ mới, và sự lớn mạnh của các hệ thống và phương tiện thương mại (d) Còn hiện đại hóa về mặt xã hội thì được thể hiện qua hiện tượng gia tăng số người biết chữ, hiện tượng đô thị hóa, sự suy giảm của các loại quyền lực cổ truyền, và sự xuất hiện của xu hướng cá nhân
(individualism) Tất cả những thay đổi vừa kể được coi như nằm trong quá trình ngày càng dị biệt hóa (differentiation) về mặt xã hội và về mặt cấu trúc.6
Nhiều tác giả, chẳng hạn như Eisenstadt và Rostow, đã sử dụng thuật ngữ
“hiện đại hóa” để chỉ quá trình phát triển của các xã hội hiện đại bắt đầu từ thời
kỳ cơ khí hóa và công nghiệp hóa Quá trình này có những đặc trưng như “nới
lỏng các ranh giới giữa các giai cấp xã hội, phát triển lĩnh vực giáo dục, nảy sinh những kiểu quan hệ thương lượng mới trong lĩnh vực công nghiệp, mở rộng quyền bầu cử, phát triển các dịch vụ xã hội, v.v ”.7
Tuy nhiên, có hai cái bẫy mà người ta cần tránh khi nói đến hiện đại hóa Trước hết là cái bẫy coi các xã hội Tây phương như là mẫu mực, là hệ qui chiếu
mà các nước đang phát triển phải noi theo Sở dĩ có sự ngộ nhận này là vì quá trình hiện đại hóa cũng như các lý thuyết về hiện đại hóa đều phần lớn xuất phát
từ châu Âu Người ta thường gọi cái bẫy này bằng cái từ “eurocentric”, tạm dịch
là xu hướng lấy châu Âu làm trung tâm Cái bẫy thứ hai cũng dễ mắc phải là : khi nói tới hiện đại hóa, người ta có xu hướng lấy xã hội hiện tại, lấy con người hiện tại làm chuẩn mực để nhìn nhận và đánh giá cái quá khứ, coi cái hiện tại hay cái
“mới” như là cái gì đối lập với cái “cũ” để phủ nhận cái “cũ” một cách đơn giản,
và cho rằng chỉ có cái hiện tại hay cái “mới” mới là cái hợp lý và đúng đắn Đây
là xu hướng thường được gọi là “ethnocentric”, nghĩa là xu hướng coi mình là
trung tâm, là căn cứ để phán đoán những cái khác với mình.8 Chính vì điều này
mà chúng tôi cho rằng, trong các thao tác phân tích, chúng ta không nên đối lập một cách máy móc thuật ngữ “hiện đại” với thuật ngữ “truyền thống”, vì làm như vậy sẽ không thể hiểu được trọn vẹn cả hai thuật ngữ này, mà lại càng không thể
lý giải được thực tại xã hội vốn phức tạp hơn nhiều so với cách nhìn giản lược về
xã hội bằng cách vạch ra một đường ranh giới phân chia giữa “truyền thống” và
“hiện đại”
Cho đến nay, hầu hết giới nghiên cứu về phát triển đều thừa nhận rằng luôn luôn có mối quan hệ tương thuộc hết sức chặt chẽ giữa sự tiến hóa về mặt xã hội và sự phát triển về mặt kinh tế.9
Nhưng người ta lại thường không đồng ý với nhau khi bắt tay vào việc
Xem thêm Nicholas Abercrombie et al., sách đã dẫn, trang 159 ; Peter S.J Chen,
“Modernization in Singapore : Changing Values and the Individual” (Working paper No 10, 1972), Peter S.J Chen, “Asian Values in Modernizing Society : A Sociological Perspective” (Working paper No 51, 1976), tóm tắt trong quyển Chan Kwok Bun, Ho Kong Chong (ed.),
Explorations in Asian Sociology, Singapore, Chopmen Publishers, 1991, trang 97-99
9
Xem Bert F Hoselitz, sách đã dẫn, trang 29
Trang 8giải thích các quá trình chuyển biến xã hội Về mặt lý thuyết, người ta thường có
hai xu hướng chính : một là các lý thuyết thiên về sự quân bình (equilibrium), và hai là các lý thuyết thiên về sự bất quân bình, tùy theo người ta quan niệm xã hội
là một tổng thể tự nó mang tính chất quân bình, hay ngược lại, nhấn mạnh hơn đến những mâu thuẫn và xung đột luôn luôn tồn tại trong xã hội.10 Trong lĩnh vực kinh tế học, người ta thấy có hai xu hướng lý thuyết lớn thường tranh cãi nhau,
đó là xu hướng cho rằng nên áp dụng chính sách tự do hóa và để cho thị trường
tự nó điều chỉnh, và xu hướng cho rằng cần có sự can thiệp của nhà nước để đảm bảo sự quân bình của thị trường Trong lĩnh vực xã hội học, luận đề thiên về sự quân bình được thể hiện chủ yếu thông qua trường phái thường gọi là chức năng luận, quan niệm sự phát triển của xã hội là một quá trình tiến hóa, tiệm tiến Còn những người theo luận đề thiên về sự bất quân bình thì lại chú trọng hơn tới những quan hệ xung đột và mâu thuẫn trong xã hội và quan niệm rằng chính đây mới là nguyên nhân và động lực thực sự của quá trình chuyển biến xã hội
Lịch sử diễn tiến của các xã hội thực ra vô cùng phức tạp và đa dạng Có những mô hình lý thuyết giải thích sự phát triển tỏ ra phù hợp với một số hoàn cảnh xã hội nào đó, nhưng lại không đứng vững khi áp dụng vào những hoàn cảnh xã hội khác Do đó, không ít mô hình lý thuyết sau khi được đưa ra một thời gian thường bị những thực tế mới khám phá khác sau này phủ nhận và bác bỏ
Talcott Parsons, chẳng hạn, đã đề xuất luận điểm cho rằng quá trình công
nghiệp hóa làm cho mô hình gia đình mở rộng bị phá vỡ và bị thay thế bởi mô
hình gia đình hạt nhân.11 Bởi lẽ, theo ông, trong xã hội hiện đại, giáo dục có xu hướng phát triển mạnh hơn ở bên ngoài khuôn khổ gia đình, vị thế xã hội-nghề nghiệp thường được thủ đắc trong đời sống xã hội hơn là được thừa kế từ cha sang con, tính di động về mặt địa lý ngày càng gia tăng Lập luận này thoạt nhìn
có vẻ hợp lý, nhưng người ta khó mà gọi đó là một qui luật phổ quát có hiệu lực
ở bất cứ nơi đâu Thí dụ ở Nhật Bản, theo các công trình nghiên cứu của Ezra Vogel, nhà kinh doanh nào muốn tuyển dụng nhân công thường phải thương lượng trước với gia đình của các công nhân này Chính hệ thống liên đới trong gia đình giúp cho nhà kinh doanh tìm được đủ số người mà mình cần, và đồng thời cũng đảm bảo cho công ty lòng trung thành và tinh thần tôn trọng hợp đồng của các công nhân Như vậy có nghĩa là trong trường hợp này, quá trình công
nghiệp hóa càng củng cố các mối liên hệ đoàn kết trong gia đình mở rộng chứ
không hề làm yếu chúng đi, vì chính đây là nguồn trợ lực đầy hiệu quả cho việc tuyển dụng và sử dụng công nhân.12
Một lý thuyết khác cho rằng khi mà khả năng tiết kiệm và tích lũy của dân
cư còn yếu ớt, thì không thể có đầu tư ; mà không có đầu tư, thì năng suất lao động không thể tăng lên, do đó thu nhập của người dân dậm chân tại chỗ, và hệ quả là khả năng tiết kiệm tiếp tục yếu ớt Theo lý thuyết này, chỉ có thể thoát ra
10
Xem Henri Mendras, Michel Forsé, Le changement social, tendances et paradigmes, Paris,
Nxb Armand Colin, 1983, trang 127
11
Xem Raymond Boudon, La place du désordre – Critique des théories du changement social,
Paris, Nxb Presses Universitaires de France, 1984, trang 90-91
12
Xem Raymond Boudon, sách đã dẫn, trang 90-91
Trang 9khỏi cái vòng luẩn quẩn nếu có được sự trợ giúp hoặc nguồn lực từ bên ngoài Thế nhưng, lịch sử phát triển của nước Anh vào thế kỷ XVIII hay của Nhật Bản vào thế kỷ XIX đã cho thấy lý thuyết này không đúng Trước đây cũng từng có lý thuyết cho rằng, để có thể phát triển, thoạt tiên phải có một “tư bản xã hội”
(overhead capital, thí dụ hệ thống đường sá, phương tiện giao thông ), bởi vì
nếu không, thị trường sẽ bị bó hẹp trong phạm vi địa phương ; nhu cầu ở địa phương thường chỉ có giới hạn nhất định nên không thúc đẩy sản xuất gia tăng mạnh mẽ được Nhưng Argentina là một trường hợp cho thấy lý thuyết này không ổn, vì vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, kinh tế Argentina tăng trưởng hết sức ngoạn mục mà vẫn không cần đến sự phát triển của các phương tiện giao thông.13
Nhiều lý thuyết kinh tế học thường dựa trên định luật cung-cầu để đi đến quan niệm cho rằng, tại một quốc gia nào đó, sở dĩ hình thành được một tầng lớp
các nhà kinh doanh và phát triển được kinh tế, chủ yếu là do xuất hiện những nhu
cầu nào đó tại quốc gia đó E Hagen đã phê phán quan niệm này căn cứ trên một
số công trình nghiên cứu cụ thể của mình : ông ta đưa ra một lý thuyết xã hội về phát triển kinh tế, và cho rằng đúng là sự phát triển kinh tế phần lớn đi đôi với sự hình thành của một tầng lớp doanh nhân Thế nhưng, theo ông, không phải cứ hễ
có nhu cầu về giầy dép chẳng hạn thì tự khắc sẽ ra đời một ngành sản xuất giầy dép mạnh Nhu cầu tiềm năng có thể là một hoàn cảnh thuận lợi cho sự xuất hiện của một ngành sản xuất, nhưng không phải là một điều kiện đủ để dẫn đến quá
trình công nghiệp hóa Để giải thích được sự hình thành tầng lớp doanh nhân nói riêng và sự phát triển kinh tế nói chung, theo Hagen, người ta còn cần phải
nghiên cứu các điều kiện xã hội trong đó diễn ra các quá trình này.14
Chính vì tính chất phức tạp của đối tượng nghiên cứu, nên lý thuyết nào cũng có những giới hạn của nó Trong lĩnh vực xã hội, phải thừa nhận là khó mà
nói được rằng có thể tìm ra được những “qui luật” mang tính phổ quát thực sự,
nghĩa là có thể áp dụng cho bất cứ xã hội nào vào bất cứ thời đại lịch sử nào Bởi
lẽ mỗi xã hội đều tự nó hết sức phức tạp, và đều mang những điểm đặc trưng riêng biệt được qui định bởi những bối cảnh lịch sử kinh tế-xã hội cụ thể nhất định Trong phần lớn các trường hợp, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội thường
chỉ có thể phát hiện ra những xu hướng phát triển của một thực tại xã hội nhất
định, và giới hạn nhiệm vụ của mình vào việc cố gắng phác thảo ra một cái khung lý thuyết để giải thích cho chính cái thực tại xã hội mà mình đã khảo sát
Trang 10luận đề và nhận định để giải thích các đặc trưng của xã hội Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển Lẽ tất nhiên, xin nhắc lại, chúng tôi không coi những luận đề này như những định luật mang tính phổ biến có thể áp dụng đối với tất cả các thành phố hay các địa phương khác trong cả nước Bài viết này chỉ mong mỏi rằng việc nghiên cứu trường hợp TP.HCM có thể nêu lên được những kích thước xã hội và những vấn đề xã hội đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và xem đây như là những kinh nghiệm nhằm góp phần soi sáng thêm cho nỗ lực đi tìm một mô hình phát triển xã hội cho Việt Nam trong một vài thập kỷ tới
II Cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh có đặc điểm là mang tính chất ngày càng đa dạng kể từ khi hình thành tới nay, và vì vốn là một thành phố-cảng
thương mại, nên cơ cấu xã hội cũng mang tính chất mở rất rõ nét, trong đó điểm
nổi bật là tính di động xã hội cao Chúng ta sẽ lần lượt xem xét cơ cấu nhân khẩu,
cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu lao động và cơ cấu các tầng lớp xã hội
1 Cơ cấu nhân khẩu đa chủng
Xét về mặt cơ cấu nhân khẩu học, Sài Gòn từ rất sớm đã là một xã hội dung nạp nhiều dân tộc và tôn giáo sống đan xen với nhau Vào cuối thế kỷ XVIII, dân cư Sài Gòn bao gồm “phần lớn là quan lại, binh lính, thương nhân, dân phu chuyên chở và một số thợ thủ công phục dịch nông nghiệp hay chế biến lúa gạo, v.v… Đa số là người Việt, một số đáng kể là người xã Minh Hương (tức người Hoa lai Việt hoặc nhập Việt tịch và theo phong hóa Việt), một số ít người Khơme, người Chăm sống thường trú và rất ít người Tây dương tới giảng đạo hay mở thương điếm.”15 Sang thế kỷ XIX, cùng với những nhóm người Hoa mới
di dân đến và những người Tây phương vào sinh sống để làm ăn buôn bán, “Sài Gòn có cơ bản gốc Việt Nam, nhưng đã có sắc thái quốc tế khá sớm.”16
Vào năm 1897, dân số Sài Gòn-Chợ Lớn là 33.404 người, bao gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau
Bảng 1 Dân số Sài Gòn-Chợ Lớn phân theo dân tộc, năm 1897
Xem Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử thành phố Hồ Chí Minh”, trong Trần Văn Giàu (chủ
biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (tập I, Lịch sử), TP.HCM, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, 1987, trang 168-169
16
Như trên, trang 203
Trang 11Tổng cộng 33.404 100,0
Nguồn : Annuaire général de l’Indochine 1910, Hà Nội, Nxb IDEO, trang 550
Gần đúng một thế kỷ sau, theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm
1999, cơ cấu các thành phần dân tộc trong dân cư TP Hồ Chí Minh là như sau
Bảng 2 Dân số TP.HCM phân theo dân tộc, năm 1999
Nguồn : Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1-4-1999 của Tổng cục Thống kê.
2 Dân số : tăng vọt trong thế kỷ XX
Xét về mặt dân số, do các quá trình đô thị hóa cộng với công nghiệp hóa diễn ra qua nhiều thời kỳ lịch sử thăng trầm khác nhau, Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh
là nơi tăng trưởng dân số rất nhanh chóng, đặc biệt trong thế kỷ XX Nếu so với
cách đây đúng 100 năm, thì dân số Sài Gòn-TP.HCM bây giờ đã tăng lên gấp
100 lần : vào năm 1905, mới có gần 55 ngàn người17, còn vào năm 2004 lên tới khoảng 5,8 triệu người – một mức gia tăng không phải do tỷ lệ gia tăng tự nhiên của dân số, mà chủ yếu do tác động gia tăng cơ học của những đợt di dân vào thành phố qua nhiều thời kỳ biến động khác nhau của lịch sử
Năm 1698, khi mới thành lập về mặt hành chính, địa bàn Sài Gòn lúc ấy (với diện tích 50 km2) mới có khoảng 10.000 dân.18 Đến năm 1863, tức là sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông, cả Sài Gòn-Chợ Lớn có khoảng 20.000 dân, kể
cả người Tàu, Tây, Ấn Độ… Năm 1898, dân số là 33.404, năm 1905 là 54.745.19Nhưng sau đó, gia tăng khá nhanh chóng để lên tới hơn 300 ngàn dân vào năm
1929, rồi 1,77 triệu vào năm 1958, 2,54 triệu năm 1960, 3,33 triệu năm 1970, và khoảng 4 triệu vào năm 1975
Năm 1976, một năm sau ngày giải phóng, theo số liệu của Cục thống kê TP.HCM, dân số TP Hồ Chí Minh là 3,46 triệu người (diện tích là 1.295,5 km2)
Và đến năm 2003, theo thống kê chính thức, con số này lên tới 5,63 triệu người (với diện tích lúc này là 2.095 km2) Tuy nhiên hiện nay, nhiều người không tin lắm vào con số chính thức và ước đoán rằng dân số bây giờ (năm 2004) có thể lên tới khoảng 9 triệu người, trong đó hơn một triệu là những người đến đây làm
ăn, sinh sống mà không đăng ký tạm trú, và những người vãng lai Nếu con số này đúng thì có nghĩa là riêng TP.HCM đã thu nạp hơn 1/10 dân số cả nước !
Trang 12Diễn biến về dân số của TP.HCM kể từ sau giải phóng tới nay được trình bầy trong bảng 3, theo số liệu của Cục Thống kê TP.HCM
Bảng 3 Dân số TP.HCM 1976-2002
Dân số (triệu người)
Tỷ lệ tăng tự nhiên (% / năm)
Biến động cơ học (người / năm)
Nguồn : Niên giám thống kê hàng năm của Cục Thống kê TP.HCM
* Số liệu của Tiểu ban chỉ đạo quản lý dân nhập cư TP.HCM, Trung tâm xử lý thông tin thống kê, 1996.20
3 Áp lực của luồng di cư vào thành thị
Kể từ thời kỳ khởi sự công cuộc đổi mới năm 1986 tới nay, cùng với Hà Nội, TP.HCM hiện nay đang chịu áp lực rất lớn của những làn sóng di cư tự phát
từ các vùng nông thôn và các tỉnh khác đổ về Hiện tượng này có thể được giải thích là bắt nguồn từ tình trạng chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển giữa các
vùng, và chịu tác động bởi hai lực chính : một là lực đẩy ra (push-effect) của
những vùng còn quá nhiều khó khăn về kinh tế và không mở ra được những cơ
hội kiếm sống ổn định tối thiểu cho người dân ; và hai là lực hút (pull-effect) của
những thành phố lớn vốn là nơi có mức sống cao hơn và có nhiều cơ hội kiếm sống tương đối dễ dàng hơn Vì thế, có thể thấy trước rằng bao lâu chưa thúc đẩy được sự phát triển ở các tỉnh và các vùng nông thôn thì xu hướng di dân đổ về các cực phát triển ở các thành thị lớn sẽ vẫn còn khả năng tiếp diễn một cách tự phát
Bảng 3 trên đây cho thấy mặc dù tỷ lệ tăng tự nhiên (số sinh trừ đi số tử) ở TP.HCM ngày càng giảm, nhất là từ sau năm 1985, nhưng con số biến động cơ học (số người đến trừ đi số người rời khỏi thành phố) lại có xu hướng gia tăng
Theo một tài liệu nghiên cứu, tính từ năm 1986 đến năm 1998, bình quân mỗi năm có 40.000 người di cư vào thành phố, chủ yếu đến từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam bộ và vùng duyên hải miền Trung (đối với Hà Nội, con số di cư đến sinh sống trong cùng khoảng thời gian này là 22.000 người mỗi năm).21 Nhưng chúng tôi e rằng con số thực tế có thể còn cao hơn con số vừa nêu, bởi lẽ, như có nhắc tới ở mục trên, nhiều người dự đoán dân
số thực tế ở TP.HCM hiện nay lên tới 9 triệu, chênh lệch khá xa so với con số
20
Xem Trần Hồng Vân, Tác động xã hội của di cư tự do vào thành phố Hồ Chí Minh trong thời
kỳ đổi mới, TP.HCM, Nxb Khoa học xã hội, 2002, trang 66
21
Xem Trần Hồng Vân, sách đã dẫn, trang 40-41
Trang 13thống kê chính thức
Kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 cho biết, vào thời điểm cuộc điều tra, có tổng cộng 433.765 người từ các tỉnh thành khác lần lượt đến sinh sống tại TP.HCM trong khoảng thời gian năm năm 1994-1999, tức là trung bình gần 90 ngàn người mỗi năm.22 Cũng vẫn theo số liệu của cuộc tổng điều tra này, tổng cộng số người di chuyển nơi cư trú (ra khỏi tỉnh) trên cả nước trong 5 năm
đó là 2.116.364 người.23 Như vậy, có thể thấy khoảng 1/5 trong tổng số đó là đổ
về TP.HCM
Thực ra, xét về tốc độ gia tăng chung về dân số, tính từ năm 1976 tới năm
2002, TP.HCM không có tỷ lệ cao hơn mức tăng của cả nước (TP.HCM : từ 3,46 triệu dân năm 1976 lên tới 5,34 triệu dân vào năm 2002, tức là tăng 54 % ; cả nước : từ 49,2 triệu dân năm 1976 lên tới 79,7 triệu dân vào năm 2002, tức là tăng 62 %) Theo đánh giá của chúng tôi, cái gánh nặng quản lý đô thị hiện nay của thành phố không phải do áp lực của hiện tượng di dân là chính, mà chủ yếu
là do những vấn đề thuộc về bản thân thành phố : cho đến giờ, thành phố vẫn chưa mở rộng ra được các tiểu thành phố vệ tinh như qui hoạch có lúc đã từng dự định, mà cũng không xây dựng được thêm bao nhiêu cơ sở hạ tầng đô thị ngay trong khu vực nội đô đủ để đảm bảo cho cuộc sống của người dân Chẳng thế mà lâu nay lời than thường nghe nhất nơi các nhà quản lý đô thị là “quá tải” !
Đề cập đến chuyện áp lực dân số cũng như đến luồng di dân từ các tỉnh thành về TP.HCM, chúng tôi cho rằng nhất thiết cần tránh rơi vào một định kiến sai lầm cho rằng một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng khó khăn, “quá tải”, và “xuống cấp” về nhiều mặt hiện nay ở thành phố này là do “dân nhập cư” gây ra.24 Thí dụ về định kiến này hoàn toàn không hiếm được phản ánh trên báo chí Ngay cái tên gọi “dân nhập cư”25 hình như cũng đã tự nó hàm chứa một sự trách móc và đổ lỗi nào đó, mà quên mất rằng suốt lịch sử hình thành và phát
triển của thành phố này chính là một lịch sử di dân Suy cho cùng, ở đây, có ai
dám nói mình không phải là gốc “dân nhập cư” ? Bản chất của vùng đất này là nơi tụ hội và dung nạp người dân đến từ “tứ xứ”, và chính điều đó cũng tạo nên thế mạnh của thành phố này
Chỉ xét riêng về mặt kinh tế, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng những người “nhập cư” ấy chính là một nguồn cung ứng lao động quan trọng cho nhu cầu cấp bách của các xí nghiệp và các công trình xây dựng đang mở ra ngày càng nhiều trong thập niên 1990, và do đó hẳn nhiên là đóng góp không nhỏ vào
22
Tính từ thời điểm ngày 31-3-1994 đến thời điểm ngày 31-3-1999 Cũng theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số này, tổng số người di cư đến từ các tỉnh thành khác vào Hà Nội trong vòng 5 năm 1994-1999 là 196.930 người, tức là trung bình gần 40 ngàn người mỗi năm
Thực ra, theo ý kiến chúng tôi, thuật ngữ “nhập cư” dùng trong trường hợp này là không
chuẩn xác Chữ “nhập cư” hay “dân nhập cư” (immigration hay immigrants) thường chỉ
được dùng để chỉ hiện tượng di cư đến từ một quốc gia khác Còn trong nội bộ một quốc gia,
người ta thường dùng những chữ như di cư, di trú, chuyển cư (migration hay migrants)
Trang 14tổng sản phẩm GDP của chính thành phố này.26 Chẳng hạn, vào năm 2002 tại các khu công nghiệp ở huyện Bình Chánh, có tổng cộng khoảng 12 ngàn công nhân, trong đó hơn 9 ngàn là những người từ các vùng khác tới, chủ yếu là từ miền Trung và miền Bắc (75 %) ; còn ở các khu công nghiệp phía Bắc TP.HCM, tỷ lệ này lên tới hơn 80 %.27
4 Vấn đề thất nghiệp và vấn đề tạo công ăn việc làm
Thất nghiệp là một trong những vấn đề không tránh khỏi và thường đi đôi với quá trình phát triển đô thị Nếu tỷ lệ thất nghiệp trên phạm vi toàn quốc là 5,88 % năm 1996, 6,44 % năm 2000, 6,01 % năm 2002 (theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê), thì tỷ lệ thất nghiệp ở TP.HCM gần như luôn luôn ở vào khoảng trên dưới 10 %
Bảng 4 Tỷ lệ thất nghiệp và mức độ tạo công ăn việc làm ở TP.HCM, 1976-2002
Số người trong tuổi lao động (a)
Số người thất nghiệp*
(b)
Tỷ lệ % (b / a)
Số người được giải quyết công
Nguồn : Xem các bảng “Cân đối lao động trên địa bàn thành phố”
trong Niên giám thống kê hàng năm của Cục Thống kê TP.HCM
Rất may là kể từ khi có chính sách đổi mới, do ngày càng có nhiều cơ sở kinh doanh và liên doanh được mở ra, nên khả năng giải quyết công ăn việc làm cũng đã góp phần giải tỏa bớt phần nào áp lực của tình trạng thất nghiệp Nếu từ năm 1985 trở về trước, hàng năm thành phố chỉ có thêm được khoảng 50-70 ngàn chỗ làm mới, thì trong thập niên 1990, mức độ tạo ra công ăn việc làm ngày
26
Theo số liệu của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP.HCM, hàng năm thị trường lao động TP.HCM cần có thêm khoảng 200.000 người, trong khi số người trong độ tuổi lao động của thành phố chỉ đạt khoảng 160.000 người, chỗ thiếu hụt này do lực lượng “nhập cư” bổ
sung vào (xem Sài Gòn Giải phóng thứ bẩy, số ra ngày 26-6-2004, trang 5) Khi đánh giá về
những ảnh hưởng và tác động của hiện tượng di dân vào TP.HCM trong giai đoạn
1984-1994, dự án nghiên cứu VIE/93/P02 cho rằng “sự di dân vào thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp vào sự thay đổi cơ cấu dân số và cơ cấu lao động theo hướng tích cực nâng cao trình độ học vấn và trình độ tay nghề [trong cơ cấu lao động] ở thành phố này ” (Institute
for Economic Research of Hochiminh City, Migration, Human Resources, Employment and
Urbanization in Hochiminh City, Hanoi, The National Political Publishing House, 1996,
trang 129)
27
Xem Nguyễn Minh Hòa, “Nhìn nhận lại những khuynh hướng thay đổi nghề nghiệp ở khu
vực ngoại thành trong quá trình đô thị hóa ở TP.HCM”, tạp chí Khoa học xã hội, số 3, 2002,
trang 60
Trang 15càng khả quan hơn, năm 2003 có thêm hơn 210 ngàn chỗ làm mới
Điều đáng chú ý là đại đa số những chỗ làm mới trong vòng mấy năm qua
là do khu vực tư nhân tạo ra, chứ không phải do khu vực nhà nước (xem bảng 5)
Rõ ràng đây cũng là một trong những kết quả hiển nhiên của chính sách đổi mới xét về mặt kinh tế
Bảng 5 Số người được giải quyết việc làm ở TP.HCM, 1995-2003 (Đvt : người)
b Khu vực ngoài quốc doanh và
đầu tư nước ngoài 137.465 164.699 164.939 177.293 179.396
2 Làm việc tạm thời 27.099 22.399 23.763 24.976 25.318
Nguồn : Các Niên giám thống kê năm 2002 và 2003 của Cục Thống kê TP.HCM
Cuộc tổng điều tra các cơ sở kinh tế và hành chính, sự nghiệp do Cục Thống kê TP.HCM tiến hành trên địa bàn TP.HCM vào thời điểm ngày 1-7-2002 cho biết toàn thành phố có 12.445 doanh nghiệp, 5.826 cơ sở sản xuất kinh doanh phụ thuộc, 221.542 hộ sản xuất kinh doanh cá thể, và 5.622 đơn vị hành chính, sự nghiệp và hiệp hội, đoàn thể – tăng thêm 21.033 đơn vị (tăng 9,4 %) và 549.305 lao động (tăng 58,4 %) so với năm 1995 Riêng loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn đạt số lượng 6.667 đơn vị, chiếm hơn một phần ba (35,6 %) so với cả nước, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 766 đơn vị, chiếm gần hai phần năm (38,0 %) so với cả nước.28
Tuy vậy, mặc dù đã có chuyển động tích cực trong nền kinh tế do chính sách đổi mới, nhưng tốc độ này vẫn chưa đủ để giảm được đáng kể tỷ lệ thất nghiệp : như chúng ta đã thấy ở bảng 4, năm 2002, tỷ lệ thất nghiệp ở TP.HCM vẫn còn ở mức hơn 9 % Áp lực về dân số và công ăn việc làm cho đến nay vẫn còn đè nặng lên thành phố, và đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động làm ăn buôn bán và kinh doanh, sản xuất nơi tất cả các thành phần kinh tế
5 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật
Vì là một trung tâm kinh tế và văn hóa của khu vực, nên dân cư thành phố
Hồ Chí Minh có trình độ học vấn tương đối cao hơn so với mặt bằng chung của
cả nước (số người đã học trung học phổ thông ở TP.HCM chiếm 35 %, trong khi con số này của cả nước là 21 %) Nhưng so với Hà Nội thì có phần kém hơn (xem bảng 6), và nếu so với nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chắc hẳn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là nếu xét về tình hình bất tương thích và bất liên thông hiện nay giữa hệ thống giáo dục phổ thông với hệ thống đào tạo kỹ thuật chuyên nghiệp Nói các khác, bên cạnh tính chất giáo dục tri thức phổ thông, hệ thống giáo dục bây giờ vẫn chưa kết hợp được với tính chất “thực nghiệp” mà các sĩ phu Duy tân Việt Nam khuyến cáo và kêu gọi ngay
Trang 16Bảng 6 Tình trạng đi học của dân số từ 5 tuổi trở lên ở TP.HCM, Hà Nội và cả nước, năm 1999 (Đvt : người)
Đã từng đi học Cả nước TP.HCM Hà Nội
Số lượng % Số lượng % Số lượng % Chưa đi học 6.891.873 9,97 292.799 6,28 98.039 3,95 Tiểu học 25.538.581 36,93 1.365.912 29,29 414.967 16,75 Trung học cơ sở 20.255.574 29,29 995.274 21,33 729.581 29,34 Phổ thông trung học 14.428.591 20,86 1.643.400 35,23 810.675 32,74 Cao đẳng 555.058 0,80 47.552 1,00 48.336 1,94 Đại học 1.424.910 2,06 308.647 6,62 353.898 14,29 Trên đại học 44.068 0,06 8.900 0,19 20.961 0,85 Không xác định 7.995 0,02 1.131 0,03 589 0,02 Tổng số 69.150.931 100,00 4.664.060 100,00 2.477.046 100,00 Nguồn : Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1-4-1999 của Tổng cục Thống kê
Ngoài thủ đô Hà Nội, TP.HCM là thành phố thứ hai tập trung đông nhất lực lượng có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao : số người có bằng đại học ở TP.HCM chiếm khoảng một phần năm của lực lượng này trong cả nước, và số người có bằng trên đại học cũng chiếm khoảng một phần năm (xem bảng 7)
Bảng 7 Số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở TP.HCM, Hà Nội và cả nước, năm
viên nghiệp vụ (có bằng,
có chứng chỉ) 1.270.516 133.509 10,47 111.011 8,74 Trung học chuyên nghiệp 1.530.851 101.758 6,66 120.750 7,90 Cao đẳng 435.559 34.402 7,90 36.850 8,46 Đại học 1.004.730 200.140 19,92 225.726 22,47 Trên đại học 37.463 7.657 20,44 18.577 49,59 Nguồn : Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1-4-1999 của Tổng cục Thống kê
Tuy nhiên, cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật ở TP.HCM trên đây, cũng tương tự như tình hình của cả nước, thể hiện rõ rệt tính chất không cân đối và bất hợp lý mà nhiều người đã lên tiếng báo động lâu nay, đó là “thừa thầy, thiếu thợ” : số công nhân và nhân viên có bằng trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ kỹ thuật còn quá ít trong cơ cấu lao động Cơ cấu lao động này thay vì có hình thù tam giác theo tình hình phát triển bình thường (chẳng hạn theo mô hình : 1 kỹ sư / 3-5 trung cấp / 10-15 thợ lành nghề), thì dường như lại có hình thù tương tự như hình trụ : bảng 7 cho thấy ở TP.HCM cũng như ở Hà Nội, tổng cộng số công nhân và nhân viên có bằng trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ kỹ thuật cũng mới chỉ đạt xấp xỉ ngang mức số người có bằng đại học Trong khi đó, chúng ta đều biết là quá trình công nghiệp hóa đang đòi hỏi trình độ tay nghề của đội ngũ công nhân và nhân viên ngày càng cao và chuyên nghiệp hơn
6 Cơ cấu nghề nghiệp
Cơ cấu nghề nghiệp của người lao động ở TP.HCM (xem bảng 8) cũng cho thấy lực lượng có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao tập trung khá đông ở thành phố này (hơn 121 ngàn người, tức chiếm gần một phần năm lực lượng này
Trang 17của cả nước) Ngoài ra, cơ cấu này còn phản ánh rõ rệt hai tính chất đặc trưng
của thành phố này, đó là tính chất công nghiệp (số công nhân có trình độ kỹ thuật
là 377.655) và tính chất thương mại, dịch vụ (tổng cộng số nhân viên làm việc tại
văn phòng và nhân viên làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ và thương mại lên tới gần 600 ngàn người)
Bảng 8 Nghề nghiệp của những người từ 13 tuổi trở lên đang làm việc ở TP.HCM và trên cả nước, năm 1999 (Đvt : người)
4 Nhân viên làm việc tại văn phòng 452.301 99.596 22,00
5 Nhân viên làm việc ở các lĩnh vực
Chi tiết cơ cấu ngành nghề (phân theo các ngành kinh tế quốc dân) của lực lượng lao động ở TP.HCM, theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 1999, được trình bầy trong bảng 9 Bảng này cho thấy cơ cấu ngành nghề ở TP.HCM hoàn toàn khác hẳn so với cơ cấu ngành nghề của cả nước Vào năm 1999, trong lúc khu vực I (nông nghiệp) chiếm tới 69 % trong cơ cấu lao động của cả nước, thì ở TP.HCM, ngược lại, lao động làm việc trong khu vực III (dịch vụ) chiếm tới
51 %, và trong khu vực II (công nghiệp) chiếm tới 42 %
Bảng 9 Ngành nghề của những người từ 13 tuổi trở lên đang làm việc ở TP.HCM và trên cả nước, phân theo các ngành kinh tế quốc dân, năm 1999
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ %
so với
cả nước Khu vực I 25.199.516 69,19 156.300 7,12 0,62 Nông nghiệp và lâm nghiệp 24.525.978 67,34 147.025 6,70 0,60 Thủy sản 673.538 1,85 9.275 0,42 1,38 Khu vực II 4.318.107 11,86 923.054 42,04 21,38 Công nghiệp khai thác mỏ 225.010 0,62 3.266 0,15 1,45 Công nghiệp chế biến 3.105.550 8,53 756.850 34,47 24,37 Điện, khí đốt, nước 78.987 0,22 12.731 0,58 16,12
Trang 18Cả nước TP.HCM
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ %
so với
cả nước Xây dựng 908.560 2,49 150.207 6,84 16,53 Khu vực III 6.902.341 18,95 1.116.304 50,84 16,17 Thương nghiệp, dịch vụ sửa chữa 2.548.521 7,00 445.339 20,28 17,47 Khách sạn, nhà hàng 646.889 1,78 157.786 7,19 24,39 Vận tải, thông tin liên lạc 892.902 2,45 182.008 8,29 20,38 Giáo dục và đào tạo 918.853 2,52 80.556 3,67 8,77
Y tế 247.065 0,68 31.864 1,45 12,90 Quản lý nhà nước 899.240 2,47 66.569 3,03 7,40 Dịch vụ cá nhân và công cộng 329.107 0,90 79.703 3,63 24,22 Các hoạt động dịch vụ khác 419.764 1,15 72.479 3,30 17,27
Tổng cộng 36.419.964 100,00 2.195.658 100,00 6,03 Nguồn : Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1-4-1999 của Tổng cục Thống kê
Điểm cũng đáng chú ý thể hiện trong bảng 9 là số lao động làm việc trong các ngành công nghiệp chế biến ở TP.HCM chiếm tới một phần tư tổng số của cả nước Số lao động làm việc trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, và các loại dịch
vụ cá nhân và công cộng cũng chiếm một phần tư tổng số lao động loại này của
cả nước, còn số lao động làm việc trong các lĩnh vực thương nghiệp, dịch vụ sửa chữa, và giao thông vận tải thì chiếm khoảng một phần năm của cả nước
Bảng 10 Những người từ 13 tuổi trở lên đang làm việc ở TP.HCM, phân theo thành phần kinh tế và theo khu vực kinh tế, năm 1999 (Đvt : người)
Tư nhân 102.184 4,65 536 0,34 65.055 7,05 36.593 3,28
Cá thể 1.380.957 62,89 150.654 96,39 487.517 52,82 742.786 66,54 Hỗn hợp 123.441 5,62 372 0,24 96.295 10,43 26.774 2,40 Nước ngoài 61.438 2,80 179 0,11 50.975 5,52 10.284 0,92 Không xác định 359 0,02 - 0,00 15 0,00 344 0,03 Tổng số 2.195.658 100,00 156.300 100,00 923.054 100,00 1.116.304 100,00
Nguồn : Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1-4-1999 của Tổng cục Thống kê
Bảng 10 (kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 của Tổng cục Thống
kê) cho thấy phần lớn lao động tại TP.HCM đều đang làm trong các thành phần
kinh tế tư nhân và cá thể Nếu tính cả số lao động đang làm việc cho các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì thành phần kinh tế này chiếm tới 97 % ở khu vực I (nông nghiệp), 66 % ở khu vực II (công nghiệp và xây dựng), và 71 %
ở khu vực III (dịch vụ và thương mại) Thực ra đây là một đặc điểm của cơ cấu lao động của Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh từ xưa tới nay, ngoại trừ thời kỳ kinh tế
kế hoạch hóa tập trung và bao cấp kéo dài chừng 10 năm sau giải phóng Những năm gần đây, trong quá trình mở rộng nền kinh tế nhiều thành phần, xu thế này càng ngày càng rõ hơn
7 Cơ cấu lao động : xu hướng chuyển dần từ công nghiệp sang dịch vụ
So sánh với tình hình năm 1999, số liệu năm 2002 của Cục thống kê TP.HCM cho thấy xu hướng chuyển động trong cơ cấu lao động theo hướng
Trang 19ngày càng củng cố thêm mô hình dịch vụ và công nghiệp như đã nói trên đây : số
lao động nông nghiệp và thủy sản giảm từ 156 ngàn (1999) còn 144 ngàn người (2002) (từ 7,12 % giảm còn 6,16 %), số lao động công nghiệp và xây dựng tăng
từ 0,92 triệu (1999) lên tới 0,96 triệu người (2002) (từ 42,04 % giảm còn 41,02 %), và số lao động dịch vụ và thương mại tăng từ 1,12 triệu (1999) lên tới 1,23 triệu người (2002) (từ 50,84 % tăng lên 52,56 %).29 Khu vực tạo ra công ăn việc làm nhiều nhất trong ba năm này chính là khu vực thương mại và dịch vụ
Mô hình đặc trưng của cơ cấu kinh tế của TP.HCM hiện nay chủ yếu
mang tính chất công nghiệp và dịch vụ Chính điều này qui định hình hài cơ cấu
nghề nghiệp của lực lượng lao động xã hội trong thành phố Chúng ta thử nhìn lại diễn biến chuyển đổi trong cơ cấu kinh tế của TP.HCM từ năm 1976 tới năm
2003 trình bầy trong bảng 11
Bảng 11 Cơ cấu tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn TP.HCM, 1976-2003
1976 1980 1985 1990 1994 1995 2000 2003 Tổng sản phẩm nội địa (GDP)* (Đvt : tỉ đồng)
Khu vực I (nông nghiệp) 156 167 218 231 273 1.093 1.154 1.364
Khu vực II (công nghiệp) 628 785 1.410 1.843 3.444 12.551 23.313 33.055
Khu vực III (dịch vụ) 1.639 1.676 2.283 2.730 3.832 18.952 28.287 36.407
Tổng cộng GDP 2.423 2.628 3.911 4.804 7.549 32.596 52.754 70.826
Tỷ lệ %
Khu vực I (nông nghiệp) 6,44 6,35 5,57 4,81 3,62 3,53 2,19 1,92
Khu vực II (công nghiệp) 25,92 29,87 36,05 38,36 45,62 38,50 44,19 46,67
Khu vực III (dịch vụ) 67,64 63,77 58,37 56,83 50,76 58,14 53,62 51,40
Tổng cộng GDP 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
* Ghi chú : Số liệu thời kỳ 1976-1994 được tính theo giá cố định năm 1989,
còn thời kỳ 1995-2003 thì được tính theo giá cố định năm 1994
Nguồn : Cục Thống kê TP.HCM.30
Có mấy xu hướng nổi lên rất rõ rệt qua bảng số liệu thống kê trên là :
- tỷ trọng khu vực II (công nghiệp) tăng dần, từ khoảng một phần tư năm
1976 lên tới gần một nửa trong cơ cấu kinh tế của TP.HCM năm 2003 ;
- tỷ trọng khu vực III (dịch vụ) giảm dần trong cơ cấu kinh tế (từ hai phần
ba năm 1976 giảm xuống còn khoảng một nửa vào năm 2003), mặc dù vẫn gia tăng mạnh mẽ về giá trị truyệt đối ;
- tỷ trọng khu vực I (nông nghiệp) có chiều hướng ngày càng giảm : từ tỷ trọng 6,4 % vào năm 1976, sụt giảm dần đến năm 2003 chỉ còn không đầy 2 %
Xét về giá trị tuyệt đối, trong thời kỳ 1976-1994 (tính theo giá cố định năm 1989), khu vực công nghiệp gia tăng khoảng 5,5 lần, và khu vực dịch vụ và thương mại gia tăng 3,1 lần Còn trong thời kỳ 1995-2003 (tính theo giá cố định năm 1994), khu vực công nghiệp gia tăng gấp 2,6 lần, và khu vực dịch vụ và thương mại gia tăng gần gấp 2 lần Mức tăng trưởng mạnh đáng kể diễn ra sau
Số liệu do chúng tôi tính toán lại để tổng hợp theo từng khu vực Xem Thời báo Kinh tế Sài
Gòn, số ngày 27-4-1995, trang 17, và Niên giám thống kê 2003 của Cục thống kê TP.HCM,
trang 30
Trang 20năm 1985, đặc biệt là trong thập niên 1990
Cơ cấu kinh tế TP.HCM vào năm 1976, lúc mới giải phóng, cho thấy tỷ trọng của khu vực dịch vụ rất cao (67,6 %), không hẳn do khu vực này mạnh (về giá trị tuyệt đối), mà chỉ là do lúc ấy, khu vực công nghiệp còn khá yếu ớt Kể từ khi đổi mới, khu vực công nghiệp ngày càng tăng trưởng, nên tỷ trọng của nó trong cơ cấu kinh tế cũng tăng lên theo, lên tới 46,7 % vào năm 2003
Vào năm 2003, trong cơ cấu tổng sản phẩm nội địa (GDP) của TP.HCM, khu vực III (dịch vụ và thương mại) chiếm tỷ trọng 51,4 %, trong khi khu vực II (công nghiệp và xây dựng) chiếm 46,7 %
Sau khi khảo sát diễn biến thay đổi trong cơ cấu kinh tế của thành phố từ sau giải phóng tới nay, bây giờ chúng ta thử xem diễn biến thay đổi trong cơ cấu
ngành nghề của lực lượng lao động ở thành phố cũng trong khoảng thời gian này Bảng 12 Cơ cấu ngành nghề của lao động xã hội trên địa bàn TP.HCM, 1979-2002
1979 1985 1989 1995 1999 2000 2002
Lao động đang làm việc trên địa bàn TP.HCM (Đvt : ngàn người)
Khu vực I (nông nghiệp) 245 260 216 168 156 142 144 Khu vực II (công nghiệp) 468 428 639 776 923 917 965 Khu vực III (dịch vụ) 433 492 648 877 1.116 1.151 1.227
Tổng cộng 1.146 1.180 1.503 1.821 2.195 2.210 2.336
Tỷ lệ %
Khu vực I (nông nghiệp) 21,38 22,03 14,37 9,23 7,12 6,43 6,16
Khu vực II (công nghiệp) 40,84 36,27 42,51 42,61 42,04 41,49 41,31
Khu vực III (dịch vụ) 37,78 41,69 43,11 48,16 50,84 52,08 52,53
Tổng cộng 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Nguồn : Ba cuộc tổng điều tra dân số năm 1979, 1989 và 1999, và các Niên
giám thống kê hàng năm của Cục Thống kê TP.HCM.31
Có mấy xu hướng lớn trong giai đoạn gần 25 năm trở lại đây mà chúng ta
có thể nhận xét qua bảng thống kê trên :
- lao động nông nghiệp (khu vực I) giảm đi đều đặn cả về mặt số lượng tuyệt đối (từ 245 ngàn người năm 1979 còn 144 ngàn vào năm 2002), lẫn về mặt
số lượng tương đối (từ 21 % năm 1979 giảm còn 6 % vào năm 2002) ;
- lao động công nghiệp (khu vực II) tuy gia tăng về số lượng tuyệt đối (từ
468 ngàn người năm 1979 lên 965 ngàn năm 2002, tức tăng hơn gấp đôi), nhưng
tỷ trọng hầu như không thay đổi, lúc nào cũng xấp xỉ 40-41 % ;
- lao động dịch vụ và thương mại (khu vực III) thì lại tăng trưởng mạnh
mẽ cả về mặt số lượng tuyệt đối (từ 433 ngàn người năm 1979 lên 1,23 triệu năm
2002, tức là tăng gần gấp ba lần), lẫn về tỷ trọng (từ 37,8 % năm 1979 lên dần
tới 52,5 % vào năm 2002)
Như vậy, nếu chúng ta so sánh những xu hướng đặc trưng thể hiện qua bảng 11 (cơ cấu kinh tế) với bảng 12 (cơ cấu lao động), chúng ta có thể rút ra một nhận xét quan trọng sau đây : trong vòng gần 30 năm qua, mặc dù nền kinh
tế TP.HCM vẫn còn nằm trong giai đoạn phát triển chủ yếu theo hướng công
nghiệp hóa (chứ chưa chuyển sang giai đoạn phát triển chủ yếu theo hướng dịch
31
Số liệu do chúng tôi tính toán lại để tổng hợp theo từng khu vực
Trang 21vụ và thương mại), nhưng sự chuyển biến đều đặn và mạnh mẽ trong cơ cấu lao
động theo hướng phát triển các ngành nghề dịch vụ và thương mại cho phép chúng ta dự báo rằng trong một tương lai không xa, cơ cấu kinh tế TP.HCM sẽ
chuyển sang mô hình kinh tế dịch vụ-công nghiệp của một thành phố hiện đại,
như đã được xác định trong bản qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội TP.HCM mà Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt năm 1997,32 chứ không còn là
mô hình công nghiệp-thương mại như hiện nay (xem thêm bảng dự báo dưới
đây)
Bảng 13 Cơ cấu lao động làm việc trên địa bàn TP.HCM đến năm 2010
1995 2000 2005 2010
Lao động làm việc trên địa bàn TP.HCM (Đvt : ngàn người)
Khu vực I (nông nghiệp) 212 186 151 123
Khu vực II (công nghiệp) 832 1.040 1.259 1.482
Khu vực III (dịch vụ) 870 1.198 1.615 2.091
Tổng cộng 1.914 2.424 3.025 3.696
Tỷ lệ %
Khu vực I (nông nghiệp) 11,07 7,67 4,99 3,33
Khu vực II (công nghiệp) 43,47 42,90 41,62 40,10
Khu vực III (dịch vụ) 45,45 49,42 53,39 56,57
Tổng cộng 100,00 100,00 100,00 100,00
Nguồn : UBND TP.HCM, Phụ lục báo cáo tổng hợp qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội TP.HCM đến năm 2010 (in rônêô), tháng 10-1996, trang 88
Trong một bài trả lời phỏng vấn của tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn vào cuối
năm 2000, Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Minh Triết cũng đã từng đưa ra một nhận xét tương tự : “Từ trước đến nay, dịch vụ và thương mại trong cơ cấu GDP của TP.HCM vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn công nghiệp ( ) Tuy nhiên, hiện nay tốc độ phát triển công nghiệp nhanh hơn, do đó đến năm 2005, tỷ trọng của công nghiệp sẽ gần ngang bằng thương mại và dịch vụ, thậm chí trong năm năm tiếp theo, tỷ trọng công nghiệp còn có thể vượt lên trên Nhưng theo chỉ đạo của Trung ương, TP.HCM phải tập trung phát triển khu vực dịch vụ, nên vấn đề đặt
ra cho chúng tôi là làm thế nào để đẩy tốc độ phát triển khu vực dịch vụ lên cao hơn so với hiện nay Như vậy, xác định cơ cấu kinh tế TP.HCM trong năm năm
tới là thương mại-dịch vụ-công nghiệp chỉ là sự khẳng định TP.HCM trong tương
lai sẽ không phải là thành phố công nghiệp Vì một thành phố đông dân cư như
TP.HCM, nếu phát triển công nghiệp sẽ gặp khó khăn trong vấn đề giải quyết ô nhiễm và mặt bằng để xây dựng nhà máy.”33 (những chỗ in nghiêng là do chúng tôi, T.H.Q.)
Gần đây, khá nhiều ý kiến tiếp tục đặt vấn đề là cần làm thế nào để thành phố phát triển mạnh hơn nữa lĩnh vực dịch vụ vốn hiện nay còn rất nhiều dư địa còn bỏ trống, chưa được khai thác và phát huy đúng mức cần thiết Trong một bài
trả lời phỏng vấn của Thời báo Kinh tế Sài Gòn vào năm 2000, phó trưởng ban
Trang 22kinh tế Trung ương Đảng Phạm Chánh Trực cho rằng : “[TP.HCM] đặt ưu tiên vào phát triển công nghiệp nói chung sẽ không phù hợp Trong tương lai, TP.HCM phải chuyển dần công nghiệp ra các tỉnh lân cận ( ) Tình hình hiện nay đang đặt ra cho TP.HCM vai trò mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với kinh
tế, đó là trở thành trung tâm dịch vụ lớn của cả nước, đặc biệt là khoa học công nghệ và tài chính-ngân hàng ( ) Trong tương lai, sẽ còn lại những ngành sản xuất có công nghệ cao mới trụ lại được ở thành phố.”34
Tác giả Nguyễn Văn Sơn, một chuyên viên kinh tế, cho rằng TP.HCM cho đến nay vẫn chưa xác định rõ cơ cấu kinh tế của mình, cũng như vẫn còn đầu tư theo kiểu “dàn đều hoặc theo cơ hội”, nên chưa có được sự chuyển dịch mạnh mẽ
về cơ cấu kinh tế Ông cho rằng : “Cần xác định cơ cấu kinh tế của TP.HCM là dịch vụ-công nghiệp hơn là công nghiệp-dịch vụ ; nói khác hơn là động lực chính của thời kỳ phát triển sắp tới ( ) TP.HCM cần biết nhường bớt phát triển công nghiệp cho các thành phố và tỉnh lân cận, để giữ lấy cho mình vai trò độc tôn trong dịch vụ (vận tải, thông tin liên lạc, thương nghiệp, xuất nhập khẩu, du lịch, tài chính-ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, kinh doanh bất động sản, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, dịch vụ con giống-cây giống, khoa học công nghệ, cung ứng lao động chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ ) ( ) Vai trò độc tôn trong dịch vụ này vừa là đòn bẩy phát triển kinh tế của thành phố, vừa là điểm tựa cho cả khu vực B2, nhất là cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.”35
Liên quan tới vấn đề cơ cấu kinh tế, gần đây người ta nói nhiều đến yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế để nền kinh tế của thành phố có thể đạt hiệu quả cao hơn Hình như tốc độ phát triển nhanh của những năm đầu của thời kỳ đổi mới nay đã bắt đầu bão hòa, những chính sách của giai đoạn đầu đã phát huy hết tác dụng, và thành phố đang cần một chiến lược mới, những chính sách và động lực mới để chuyển sang một giai đoạn tăng trưởng mới hơn về chất Tuy nhiên, hiện nay thành phố vẫn đang còn lúng túng về rất nhiều vấn đề Chưa nói tới những vấn đề còn khá gai góc như chiến lược kinh tế, qui hoạch đô thị, hay quản
lý đô thị, chỉ riêng những vấn đề liên quan tới yếu tố con người cũng đã làm cho không ít người lo ngại Chẳng hạn, hệ thống giáo dục thì ngày càng lộn xộn và xuống dốc, vấn đề đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề vẫn chưa vực dậy được, hay vấn đề sử dụng đội ngũ trí thức và chuyên gia giỏi cũng là chuyện mà nhiều
ý kiến đánh giá là chưa biết tận dụng và phát huy hết., trong khi hệ thống trường đại học và viện nghiên cứu thì vẫn chưa gắn kết được bao nhiêu với môi trường thực tiễn sản xuất, kinh doanh trong xã hội…
Có lẽ chính vì thiếu một định hướng chiến lược phát triển tương xứng với tầm vóc của thành phố này, nên cho đến nay, có thể thấy rõ là phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp ở TP.HCM chủ yếu còn mang tính chất thâm dụng lao động
(labor-intensive), nghĩa là sử dụng nhiều công nhân không có tay nghề cao, với
công nghệ ở trình độ thấp, và vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì bộc lộ khả năng
34
Xem Tấn Đức, “Kinh tế TP.HCM : dịch vụ sẽ lên hàng đầu” (phỏng vấn ông Phạm Chánh
Trực, phó trưởng ban kinh tế Trung ương Đảng), Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày
14-9-2000, trang 15
35
Nguyễn Văn Sơn, “Phát triển thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 theo hướng nào?”, Thời
báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 19-12-2002, trang 20
Trang 23chuyển sang hướng phát triển theo dạng thâm dụng vốn (capital-intensive) hay
thâm dụng chất xám – mà đáng lý đây mới là những hướng phát triển ưu tiên của TP.HCM vốn có nhiều ưu thế hơn hẳn so với các tỉnh khác xung quanh
8 Phân hóa xã hội
Hiện tượng phân hóa xã hội, một hiện tượng mang tính chất kinh tế-xã hội, đã xuất hiện trong xã hội Sài Gòn ngay từ thế kỷ XVIII, và diễn ra từ đó đến nay trong suốt các quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ở thành phố này Vào thời Pháp thuộc, cơ cấu xã hội Sài Gòn dần dần chuyển hóa theo xu thế của một
xã hội tư bản chủ nghĩa thuộc địa, mở đầu từ sự hình thành của giai cấp công nhân, và sau đó là sự hình thành của giai cấp tư sản Việt Nam trong những năm
1920 Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời chậm hơn so với giai cấp công nhân, với những người như Trương Văn Bền (hãng xà bông), Nguyễn Văn Kiệu (hãng tàu), Trí Độ (hãng đúc), Nguyễn Văn Dụng và Cân Văn… Xu hướng này vẫn tiếp diễn trong giai đoạn 1954-1975, mặc dù nền kinh tế lúc này mang đậm sắc thái què quặt, lệ thuộc và ảnh hưởng mạnh bởi hoàn cảnh chiến tranh
Kể từ khi giải phóng đất nước, sau thời gian thất bại trong mô hình xã hội chủ nghĩa mang tính chất duy ý chí muốn xây dựng ngay một xã hội thuần nhất chỉ có hai giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức XHCN, từ năm 1986, nhà nước dần dần thừa nhận trở lại sự tồn tại của nhiều chế độ sở hữu khác nhau Nền kinh tế nhiều thành phần được khôi phục, cơ cấu giai cấp-xã hội trở nên phức tạp hơn.36 Hiện tượng phân hóa các tầng lớp xã hội cũng bắt đầu xuất hiện trở lại Đối với tình hình cơ cấu các tầng lớp xã hội hiện nay ở TP.HCM, rất tiếc
là cho đến giờ, theo chỗ chúng tôi được biết, dường như chưa có công trình nghiên cứu xã hội học qui mô nào về vấn đề phân hóa các tầng lớp, và chỉ có một
số công trình khảo sát về sự chênh lệch mức sống xét dưới góc độ kinh tế học mà chúng ta sẽ điểm lại dưới đây
Cuộc điều tra về mức sống dân cư và phân hóa giầu nghèo của Viện Kinh
tế TP.HCM năm 1995 cho biết, nếu chia tổng số mẫu điều tra làm năm nhóm bằng nhau xếp theo mức thu nhập (mỗi nhóm chiếm tỷ lệ 20 % mẫu, theo thông
lệ điều tra trên thế giới), thì khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm giầu nhất là nhóm nghèo nhất là 14,3 lần, nhưng mức chênh lệch về giá trị tài sản lại lên tới 94,6 lần Năm năm sau, năm 2000, Viện Kinh tế TP.HCM lại tiếp tục tiến hành một cuộc điều tra tương tự và nhận thấy sự phân hoá xã hội có xu hướng giảm đi : mức chênh lệch về thu nhập giữa nhóm giầu nhất là nhóm nghèo nhất là 9,5 lần, còn mức chênh lệch về giá trị tài sản là 13,1 lần.37
Bản phúc trình của Viện Kinh tế TP.HCM cho biết nhận định này đi ngược lại với một số nhận định cho rằng “sự phân hóa giầu nghèo tại Việt Nam đang ngày một doãng ra.” Tuy nhiên, như chính bản phúc trình cũng thừa nhận,
36
Xem thêm Nguyễn Minh Hòa, “Sự biến đổi cơ cấu giai cấp-xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh
sau bốn năm chuyển sang kinh tế thị trường (1988-1992)”, tạp chí Khoa học xã hội, số 15,
Trang 24có một số khác biệt trong phương pháp và cách thức tiến hành có thể ảnh hưởng đến kết quả của hai cuộc điều tra, đặc biệt là khi điều tra về giá trị tài sản nhà, đất.38 Do đó, theo chúng tôi nghĩ, xu hướng phân hóa xã hội đang tăng lên hay đang giảm đi là điều còn cần được khảo sát thêm để có thể đi tới kết luận vững chắc hơn Nhưng dù sao, bản phúc trình này cũng có nêu ra một xu hướng tương đối rõ rệt có thể khẳng định được qua hai cuộc điều tra năm 1995 và năm 2000,
đó là xu hướng gia tăng tầng lớp trung lưu.39
Cuộc điều tra về mức sống dân cư của Cục Thống kê TP.HCM năm 2002 cũng áp dụng phương pháp xử lý theo kiểu phân tổ tương tự như trên (chia mẫu điều tra ra làm năm nhóm bằng nhau) So sánh với kết quả cuộc điều tra trên qui
mô cả nước của Tổng cục Thống kê cũng vào năm 2002, cuộc điều tra Cục
Thống kê TP.HCM đi đến kết luận tổng quát là mức độ bất bình đẳng giữa các
nhóm thu nhập ở TP.HCM thấp hơn so với mức độ của cả nước
Theo kết quả cuộc điều tra này, thu nhập bình quân của nhóm 10 % hộ có mức thu nhập cao nhất so với nhóm 10 % hộ có mức thu nhập thấp nhất của thành phố có hệ số chênh lệch 9,04 lần, trong khi hệ số này của cả nước là 13,86 lần Còn nếu so sánh mức thu nhập bình quân của nhóm 20 % hộ có mức thu nhập cao nhất so với nhóm 20 % hộ có mức thu nhập thấp nhất của thành phố thì
hệ số chênh lệch là 5,78 lần, trong khi hệ số này của cả nước lên tới 8,14 lần
Kết quả xử lý cũng cho biết hệ số Gini về thu nhập – một hệ số phản ánh mức độ bất bình đẳng về thu nhập40 – của thành phố năm 2002 là 0,345, tương đối thấp hơn so với hệ số 0,42 của cả nước năm 2002 Như vậy, kết quả này đã gián tiếp khẳng định thêm cho nhận định của công trình điều tra của Viện Kinh tế
TP.HCM năm 2000 là sự “phân hóa giầu nghèo” ở TP.HCM có xu hướng giảm
đi, chứ không tăng lên như nhiều người nghĩ Khi bước vào nền kinh tế thị
trường, dù đã được xác định là theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng nhiều người cho đến nay vẫn lo ngại rằng môi trường tự do kinh doanh và cạnh tranh
dễ làm cho xã hội ngày càng phân hóa hơn, chênh lệch giầu nghèo ngày càng nặng nề hơn Nhưng những dữ kiện thực tế cho thấy không hẳn như thế Có thể ở một số giai đoạn ban đầu, sự phân hóa xảy ra mạnh hơn, nhưng khi nền kinh tế
đã tương đối phát triển ổn định, thì xu hướng chung thường là giảm bớt sự phân hóa.41
1997 “Như vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với việc chuyển sang nền kinh
tế thị trường có thể đem đến sự bất bình đẳng hơn, sự phân hóa giầu nghèo hơn trong giai đoạn ban đầu, nhưng khi đạt đến một độ nhất định sẽ mang lại cho xã hội Việt Nam một sự phân chia tài sản quân bình hơn Và điều này hoàn toàn không phải là sự chia đều nghèo khó như trong quá khứ hay tại các khu vực nông thôn còn kém phát triển hiện nay.” (Phạm Bích San, Nguyễn Đức Vinh, “Một số khía cạnh biến đổi của xã hội Việt Nam : nghiên cứu
trường hợp Hà Nội”, tạp chí Xã hội học, số 2, 1998, trang 35-36)
Trang 25Lẽ tất nhiên, hiện tượng phân hóa xã hội là một hiện tượng hết sức phức tạp và không thể chỉ khảo sát qua các chỉ tiêu kinh tế thuần túy, và do đó vấn đề này còn cần được các nhà xã hội học nghiên cứu kỹ lưỡng hơn Tuy nhiên, bản thân kết quả các cuộc điều tra độc lập của mấy cơ quan nghiên cứu trên đây trong các năm 1995, 2000 và 2002 cũng đã có thể giúp chúng ta mường tượng được phần nào xu thế phân hóa, ít ra là về mặt kinh tế, sẽ diễn ra trong bước đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên qui mô cả nước Có thể nói rằng, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, chính nỗ lực đẩy mạnh phát triển kinh tế không những sẽ là cơ sở để nâng cao đời sống của người dân nói chung, mà còn góp phần hạn chế hiện tượng phân hóa giầu nghèo trong xã hội
9 Chuyển động trong cơ cấu các tầng lớp xã hội : xu hướng hồi phục dần tầng lớp trung lưu
Một nguồn số liệu khác mà chúng ta có thể thử tham khảo để tìm hiểu về
sự chuyển động trong cơ cấu các tầng lớp xã hội là các cuộc điều tra mức sống hàng năm mà Cục Thống kê TP.HCM thực hiện kể từ năm 1990 tới nay.42 Kết quả điều tra hàng năm có phân loại các hộ dân cư ra làm những nhóm có mức sống từ khó khăn cho tới mức sống cao, với thang phân loại thay đổi theo từng năm
Bảng 14 Cơ cấu hộ dân cư TP.HCM phân theo mức sống, 1991-2000 (%)
1991 1995 2000 2001 2002 Tổng số hộ
100,0 10,6 27,9 36,2 19,0 6,3
100,0 9,8 16,0 21,0 23,9 29,3
100,0 9,9 15,0 21,5 24,7 28,9
100,0 10,2 15,8 20,0 24,1 29,9 Nguồn : Các cuộc điều tra mức sống dân cư hàng năm của Cục thống kê TP.HCM, và
các Niên giám thống kê hàng năm của Cục thống kê TP.HCM
Bảng 15 Một vài chỉ tiêu liên quan tới chi tiêu và ăn uống của dân cư TP.HCM
1990 1991 1995 2000 2002 2003 Mức chi tiêu bình quân
một người / tháng (đồng) 71.200 127.858 356.295 528.532 674.630 752.131 trong đó :
Tỷ lệ % chi cho ăn uống 73,2 77,1 66,4 54,5 51,4 50,0 Mức tiêu thụ bình quân đầu người mỗi tháng :
Gạo (kg) 9,9 9,6 8,7 7,1 7,4 6,3 Thịt các loại (kg) 1,3 1,1 1,6 2,0 2,0 2,7
Trang 26Trứng gà, trứng vịt (quả) 4,4 3,1 4,8 4,2 3,5 3,8 Nguồn : Các cuộc điều tra mức sống dân cư hàng năm của Cục thống kê TP.HCM, và
các Niên giám thống kê hàng năm của Cục thống kê TP.HCM
Tuy nhiên, đây chỉ là những cuộc điều tra giới hạn vào việc khảo sát về mức sống, nghĩa là chỉ bao gồm một số chỉ tiêu định lượng về thu nhập và chi tiêu, nên không thể phản ánh được hình hài cơ cấu các tầng lớp xã hội Hạn chế chủ yếu là cái thang phân loại hộ theo mức sống (khó khăn, trung bình, khá ) căn cứ trên mức chi tiêu bình quân đầu người mỗi tháng mà cơ quan thống kê xác định lại hàng năm Chúng ta thử tham khảo vài cái khung phân loại hộ vào các năm 1991, 1996 và 2000 thì có thể thấy rõ vấn đề này hơn (xem bảng 16) Điều không rõ là những khoảng cách phân tổ được thay đổi qua các năm được căn cứ trên cơ sở nào, phải chăng do tính tới yếu tố trượt giá của đồng tiền, hay là dựa trên những yếu tố khác, bởi lẽ chỉ trong vòng 9 năm (năm 1991 và năm 2000) mà cái khung phân loại được tăng lên gấp đôi ?
Bảng 16 Khung phân loại hộ theo mức chi tiêu bình quân một người mỗi tháng ở TP.HCM (Đvt : ngàn đồng)
dưới 250
251 - 450
451 - 750
751 - 1.850 trên 1.850
dưới 294
295 – 465
466 – 801
802 – 1.939 trên 1.939 Mức chi tiêu bình quân chung một
người (ngàn đồng / tháng) 128 415 528 579
Nguồn : Báo cáo “Mức sống các tầng lớp dân cư TP.HCM năm 1991” của Cục Thống kê
TP.HCM, và các Niên giám thống kê năm 1996, 2000 và 2001 của Cục thống kê
TP.HCM
Vả lại, bên cạnh cái hạn chế về phương pháp phân loại như vừa nói, chúng
ta thấy nói chung mức sống vẫn còn khá thấp so với các nhu cầu của đời sống (xem bảng 15), thể hiện qua mức chi tiêu bình quân mỗi người hàng tháng, và điển hình là qua tỷ lệ chi cho việc ăn uống vẫn còn khá cao (tính trên tổng chi tiêu), tuy cũng đang có xu hướng giảm dần (tỷ lệ này vào năm 1991 là 77 %, năm
1995 là 66 %, năm 2000 là 54 %, và năm 2003 là 50 %).43
Chính vì những lý do đó, chúng tôi cho rằng những cái tên mà cơ quan thống kê đặt cho những nhóm hộ như nhóm có “mức sống khá” hoặc “mức sống cao” chỉ mang một ý nghĩa rất tương đối, chứ chưa thể coi đấy thực sự là những
43
Tỷ lệ này cao lắm là 20-25 % trong một nền kinh tế phát triển Chẳng hạn vào năm 1994, tỷ lệ chi cho việc ăn uống (tính trong tổng chi của các hộ gia đình) ở Nhật Bản là 17,8 %, ở Mỹ là
10,7 %, ở Anh là 19,6 % và ở Đức là 21,1 % (xem Japan 1998, An International
Comparison, Keizai Koho Center, 1997, trang 96) Mức sống chỉ thực sự khá lên khi người
ta không còn phải bận tâm lo cái ăn, mà có thể dành ra phần khá lớn thu nhập của mình vào việc thoả mãn các nhu cầu không kém quan trọng khác như nhà cửa, ăn mặc, đi lại, và các nhu cầu văn hóa, giáo dục, y tế, giải trí
Trang 27hộ khá giả hay giầu có Và nhóm hộ có “mức sống trung bình” thực ra chỉ là có nghĩa là “trung bình” xét trong giới hạn của cái khung phân loại này mà thôi, chứ
hoàn toàn không phải là nhóm người có mức sống trung lưu mà người đọc có thể
ngộ nhận khi mới thoạt nhìn.44
Tuy vậy, sau khi một vài nhận định thận trọng vừa nêu, chúng tôi cho rằng vẫn có thể rút ra được ít ra ba nhận định từ bảng 14 (cơ cấu hộ dân cư TP.HCM phân theo mức sống thời kỳ 1991-2000) như sau :
- Số người nghèo đói có giảm đi nhiều (điều này cũng có thể được chứng thực qua phong trào xóa đói giảm nghèo thực hiện từ nhiều năm nay và gần đây vừa kết thúc một chặng quan trọng)
- Đời sống dân cư nói chung trong thời kỳ đổi mới có khá lên nhiều so với trước
- Xu hướng gia tăng dần về tỷ lệ của các nhóm hộ có “mức sống khá” và
“mức sống cao” có thể cho phép chúng ta nêu lên giả thuyết sau đây – tất nhiên
còn cần được kiểm chứng –, đó là : tầng lớp trung lưu đang có xu hướng từng
bước hồi phục và gia tăng dần dần trở lại ở xã hội TP.HCM Giả thuyết này
cũng phù hợp với nhận định mà hai cuộc điều tra của Viện Kinh tế TP.HCM vào năm 1995 và năm 2000 đã đưa ra.45
Cho đến nay, chúng tôi chưa có cơ sở dữ liệu để hình dung về qui mô của tầng lớp trung lưu hiện nay tại TP.HCM, mà chỉ có thể dừng lại ở nhận xét rằng tầng lớp này đang có xu hướng gia tăng trở lại như đã nói trên Có thể nói rằng sở
dĩ xuất hiện xu hướng này là nhờ vào đường lối đổi mới kinh tế và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó quan trọng nhất là sự phục hồi của nền kinh tế
tư nhân và cá thể Đây chính là cơ sở kinh tế-xã hội của hiện tượng trung lưu hóa trong cơ cấu xã hội Xét về mặt cơ cấu xã hội, sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu cũng chính là một chỉ báo có thể cho thấy sự phân hóa giầu nghèo có xu hướng giảm đi (mặc dù trong một số giai đoạn phát triển nhất định, hiện tượng phân hóa này có thể gia tăng trong chừng mực nào đó, như một số tác giả đã nhận định) Nhưng điều còn quan trọng hơn, là sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu còn chứng tỏ rằng đời sống người dân đang khấm khá lên, và bộ mặt xã hội trở nên lành mạnh hơn
44
Có thể xem thêm nhận định sau đây của GS Tương Lai khi phân tích về sự phân tầng xã hội căn cứ trên hệ thống chỉ tiêu định lượng về mức thu nhập của Tổng cục Thống kê : “Ở đô thị hay nông thôn, mức sống, nếu được tính theo chuẩn của quốc tế thì vẫn đang còn quá thấp Nếu xếp những nhóm xã hội đứng ở quãng giữa trong tháp phân tầng là nhóm trung lưu thì e
chưa đúng với nghĩa của nó.” (Tương Lai, Khảo sát xã hội học về phân tầng xã hội, Hà Nội,
Nxb Khoa học xã hội, 1995, trang 236) Cũng theo công trình này của GS Tương Lai, thì mức phân loại hộ giầu và hộ nghèo của ngành thống kê vào những năm đầu thập niên 1990 như sau (mức thu nhập đầu người mỗi tháng qui ra gạo) :
Năm Hộ giàu Hộ nghèo
Trang 28III Các định chế xã hội
Theo nhãn giới xã hội học, một định chế xã hội (social institution) là một
hệ thống các quan hệ xã hội đã được xác lập ổn định trong xã hội Nó được định hình theo thời gian, khi mà, trong các mối quan hệ xã hội, một số ứng xử nào đó của con người được lập đi lập lại, rồi dần dần biến thành tập quán, và cuối cùng
trở thành những chuẩn mực mà mọi người đều mặc nhiên thừa nhận và làm theo, trong đó cũng có những cái được thể chế hóa thành những qui tắc pháp lý mà ai
cũng phải tuân thủ Định chế là một sản phẩm của đời sống xã hội Người ta thường phân biệt bốn loại định chế xã hội : các định chế chính trị (liên quan tới việc phân bố và sử dụng quyền lực trong xã hội), các định chế kinh tế (liên quan tới các quá trình sản xuất và phân phối các của cải và dịch vụ), các định chế văn hóa (như giáo dục, tôn giáo, phong tục, văn chương, nghệ thuật), và các định chế thân tộc (như hôn nhân, gia đình)
Nếu định chế là sản phẩm của xã hội, thì ngược lại, cũng có thể nói rằng
mức độ phát triển của một xã hội hay của một nền kinh tế phụ thuộc phần lớn vào tính chất cũng như sự vận hành của các định chế
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Sài Gòn-TP.HCM từ cuối thế kỷ XIX và trong suốt thế kỷ XX đã không ngừng thúc đẩy quá trình phân công lao động và quá trình chuyên môn hóa trong xã hội Hệ quả của điều này là dẫn đến quá trình phát triển các định chế xã hội, hay nói theo thuật ngữ xã hội học, là quá
trình biệt dị hóa của các định chế xã hội (differentiation) Những hệ thống xã hội
tương đối đơn giản trong xã hội cổ truyền dần dần trở nên phức tạp hơn và tách
ra thành những tiểu hệ thống mang chức năng chuyên biệt, nhằm thích ứng với môi trường xã hội tổng thể ngày càng chuyển động theo hướng đa dạng Đây cũng là một trong những đặc trưng trong lịch sử phát triển của xã hội Sài Gòn-TP
Hồ Chí Minh, làm cho hệ thống xã hội của đô thị này ngày càng mang tính chất
phức hợp, đa diện và không đồng nhất (heterogeneity)
1 Các định chế kinh tế : vai trò quan trọng của định chế công ty
Trong lĩnh vực kinh tế, ngay từ hồi đầu thời Pháp thuộc khi Pháp bắt đầu
du nhập một số định chế của chủ nghĩa tư bản, Sài Gòn là nơi phát triển sớm nhất
những loại hình định chế kinh tế mới như công ty, nhà máy hay ngân hàng theo qui mô và dạng thức hiện đại Và kèm theo đó là sự ra đời của các hình thức và
các công cụ giao dịch và hợp đồng trong các lĩnh vực kinh doanh và thương mại
Đây là những điều hết sức mới mẻ chưa từng có trong đời sống kinh tế của xã hội Việt Nam cổ truyền Tất nhiên, trước đó cũng đã có những hình thức và công cụ giao dịch trong công việc làm ăn buôn bán, nhưng còn tồn tại ở dạng rất thô sơ
Cuối thế kỷ XIX, cùng với nhịp độ mở rộng cảng Sài Gòn trong việc xuất cảng lúa gạo, cũng như mở rộng hệ thống đường bộ, đường xe lửa, cầu cống… (tức là phát triển các cơ sở hạ tầng kinh tế-kỹ thuật), thì các nhà máy và xí nghiệp cũng lần lượt xuất hiện nhanh chóng Nếu năm 1877 mới có một nhà máy xay lúa đầu tiên, thì đến năm 1895 đã có cả trăm nhà máy này ở Sài Gòn-Chợ Lớn Khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, “nhà máy xay, nhà máy cưa, nhà máy nước đá, nhà máy đèn, nhà máy bia, nhà máy xà bông, nhiều xưởng in quan trọng, nhà máy làm đường, xưởng sửa tàu đóng thuyền, xưởng thuộc da, lò gạch ngói, lò nhuộm, xưởng mộc, xưởng dệt, v.v… đua nhau mọc lên và phát triển,
Trang 29quy mô chưa phải to lớn lắm nhưng dùng máy móc đã khá nhiều.”46 Ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam là Ngân hàng Đông Dương, ra đời ở Sài Gòn vào năm 1875, sau đó mở rộng dần chi nhánh ra toàn cõi Đông Dương
Lúc đầu, chủ các hãng và nhà máy phần lớn là người Pháp và người Hoa, nhưng về sau, cùng với sự thúc đẩy của các tư tưởng “duy tân” và “minh tân”, giới công thương người Việt ngày càng bành trướng kinh doanh nhiều hơn, nhất
là kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Trong một bản báo cáo gởi về Pháp năm 1919, viên Toàn quyền Đông Dương có viết về chuyện này như sau :
“Phong trào tẩy chay [Hoa thương] xảy ra ở Sài Gòn tuy quá trớn thật, nhưng nó cũng có ý nghĩa rằng tư tưởng đã thay đổi Mới đây ít năm, người Nam kỳ chẳng những không thích mà lại sợ cái việc thương mãi Còn bây giờ thì họ thấy rằng thương mãi là quan trọng cho họ, thấy rằng họ cần phải cố gắng trên hướng này.”47
Những định chế kinh tế mới, mà quan trọng nhất là hình thức công ty, sẽ
là những khuôn khổ thể chế tạo điều kiện cho việc tích tụ vốn với qui mô lớn, tuyển dụng và đào tạo đội ngũ thợ lành nghề cũng như đội ngũ các nhà quản trị,
tổ chức sản xuất và phân công lao động hợp lý, khuếch trương kinh doanh, tái
sản xuất mở rộng Định chế công ty đã tạo điều kiện xuất hiện tầng lớp doanh
nhân và tầng lớp những người đi làm thuê, sau này dần dần lớn mạnh để trở
thành giai cấp công nhân Nói cách khác, sự chuyển đổi của các định chế kinh tế
cũng đã làm biến đổi một cách căn bản bộ mặt cơ cấu các tầng lớp xã hội ở TP.HCM
Có thể nói chính loại hình định chế “công ty” là một trong những tác nhân
chủ chốt thúc đẩy quá trình cơ khí hóa và quá trình công nghiệp hóa ở Sài Gòn
kể từ cuối thế kỷ XIX cho tới nay Định chế công ty khác hẳn về tính chất so với định chế một ngôi xưởng của người thợ thủ công truyền thống ở những điểm
sau : hợp lý hóa (về mặt tổ chức), biệt dị hóa (trong sự phân công lao động theo chức năng), lấy hiệu quả làm mục tiêu và thước đo (mà trước hết là lợi nhuận, không có lời thì không làm), và hướng ngoại (nghĩa là luôn luôn nhắm tới thị
trường, lấy khách hàng làm lý do tồn tại của mình) (đặc trưng của hoạt động lao động của người thợ thủ công thiên về tính chất hướng nội nhiều hơn là hướng ngoại : họ làm việc vì lòng chí thú nghề nghiệp nhiều hơn là vì khách hàng, có khi tỏ thái độ không cần khách hàng, và đôi khi cũng nhất định không bỏ nghề dù không còn thị trường nữa)
Khi phân tích về tính hiện đại với tư cách là một quá trình duy lý hóa
(rationalisation), Alain Touraine từng nhấn mạnh đến sự xuất hiện của doanh nghiệp (entreprise) xét như là tác nhân (agent) của quá trình hiện đại hóa
Touraine nhận xét rằng phần lớn các công trình nghiên cứu kinh tế học trước đây đều chưa chú ý đủ tới tầm quan trọng của các doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế và phát triển kinh tế ; ông cho rằng chính nhà kinh tế học Joseph
Schumpeter là nhà nghiên cứu đầu tiên nhấn mạnh tới vai trò của doanh nghiệp
và doanh nhân với tư cách là những tác nhân của quá trình canh tân và đổi
Trang 30mới.48 Schumpeter cho rằng các doanh nhân chính là những “người đầu đàn” thúc đẩy nền kinh tế lớn mạnh lên.49
Thế nhưng, lịch sử kinh tế của TP.HCM cũng như của cả miền Nam từng trải qua một chặng đường hơn 10 năm bị đứt đoạn sau ngày giải phóng với các chính sách cải tạo công thương nghiệp áp dụng trong thời kỳ quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu và hành chính bao cấp Thời gian này, thành phần kinh tế tư bản tư nhân bị xóa bỏ, nhiều định chế kinh tế trước đó đã phát triển ở trình độ cao lúc đó bị phủ nhận và triệt tiêu, khái niệm kinh doanh sinh lợi không được thừa nhận, tầng lớp doanh nhân coi như bị giải thể
Phải đợi cho đến thời kỳ đổi mới khởi sự từ khoảng giữa thập niên 1980, một số định chế kinh tế mới dần dần được khôi phục trở lại.50 Một cái mốc hết sức quan trọng là, trong bản Hiến pháp năm 1992, nguyên tắc “công dân có
quyền tự do kinh doanh” được xác lập (điều 57) (điều này chưa có trong Hiến
pháp năm 1980), và chính thức công nhận công dân có quyền sở hữu về tư liệu
sản xuất (điều này cũng chưa được ghi một cách minh nhiên trong Hiến pháp
1980) : “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà
ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác ” (điều 58)
Trước đó, vào năm 1990, Quốc hội cũng đã thông qua Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, chính thức nhìn nhận trở lại bằng cách thể chế hóa định chế công ty và doanh nghiệp tư nhân Đến năm 1999, hai đạo luật này được thay thế bằng một đạo luật thống nhất là Luật doanh nghiệp, trong đó nêu ra các loại hình doanh nghiệp là : công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công
ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, và ghi rõ trong Điều 4 như sau : “(1) Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được qui định trong luật này, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp, thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh (2) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp (3) Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.”
Bên cạnh những nguyên tắc căn bản đó, nhiều hình thức và công cụ giao dịch kinh doanh khác cũng dần dà được nhà nước thiết lập nhằm phục vụ cho sự vận hành ngày càng phức tạp của bộ máy kinh tế, như chế độ hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, qui chế hợp đồng hợp tác kinh doanh hay qui chế thường gọi là B.O.T (xây dựng, vận hành, chuyển giao), hay những loại định chế trong thị trường vốn như thị trường chứng khoán
Bảng 17 Số lượng doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ở TP.HCM (tính đến ngày 31-12 hàng năm)
Trang 312000 2001 2002 Tổng số 8.616 11.572 14.508 Khu vực doanh nghiệp nhà nước và có vốn
nhà nước 690 718 767
DN nhà nước trung ương 290 274 301
DN nhà nước địa phương 309 292 294 Công ty TNHH nhà nước - 3 4
Công ty cổ phần có vốn nhà nước 91 149 168 Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 7.385 10.151 12.936
DN tập thể 232 265 284
DN tư nhân 2.900 3.487 4.066
Công ty hợp danh - 2 7
Công ty TNHH tư nhân 4.139 6.101 8.110
Công ty cổ phần không có vốn nhà nước 114 296 469 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 541 703 805
100 % vốn nước ngoài 314 461 560
DN liên doanh với nước ngoài 227 242 245
Nguồn : Niên giám thống kê 2003 của Cục Thống kê TP.HCM
Kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ đầu năm 2000 đến nay, số doanh nghiệp khu vực tư nhân ở TP.HCM tăng lên khá nhanh chóng, tổng cộng lên tới gần 13 ngàn doanh nghiệp vào cuối năm 2002 (xem bảng 17), tính ra trung bình mỗi tháng ra đời thêm 360 doanh nghiệp mới Tất nhiên trong số đó, cũng có không ít doanh nghiệp “ma”, hoặc chỉ tồn tại được một thời gian ngắn rồi biến mất Nhưng nhìn chung, khu vực kinh tế tư nhân đang góp phần hết sức quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tế và giải quyết công ăn việc làm cho thành phố cũng như cả nước Điều này chứng tỏ nguồn vốn tiềm năng cũng như sức năng động của người dân TP.HCM bắt đầu được khơi dậy trở lại, và chắc hẳn vẫn còn hết sức phong phú nếu biết phát huy đúng mức hơn nữa bằng các biện pháp thể chế và chính sách Bởi lẽ, như nhiều nhà kinh tế đã phân tích, số doanh nghiệp tính bình quân trên số dân ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn hết sức
ít ỏi so với các nước đã phát triển
2 Các định chế chính trị
Trong đời sống chính trị, do chính sách trực trị của Pháp ở Nam kỳ, nên Sài Gòn cũng là nơi đầu tiên trong cả nước chứng kiến sự ra đời tương đối sớm sủa của những định chế chính trị hiện đại
Hình thức chính đảng và đoàn thể xuất hiện kể từ giữa thập niên 1920 trở
đi, trong đó có cả những tổ chức của các lực lượng yêu nước và chống Pháp.51Công hội đầu tiên do Tôn Đức Thắng tổ chức thành lập từ năm 1921 Năm 1926-
27 có mặt Thanh niên cách mạng đồng chí hội, và Tân Việt cách mạng đảng ; năm 1929-30, An Nam cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn cũng ra đời ở Sài Gòn.52
Sau đó, hình thức đấu tranh chính trị ở nghị trường cũng đã được các lực
51
Xem Trần Văn Giàu, «Lược sử thành phố Hồ Chí Minh», trong Trần Văn Giàu (chủ biên),
Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (tập I, Lịch sử), TP.HCM, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 1987, trang 288
52
Xem Trần Văn Giàu, bài đã dẫn, trang 281-282, 296, 298
Trang 32lượng yêu nước vận dụng : năm 1933 và 1935, liên danh “sổ lao động” mà người đứng đầu là Nguyễn Văn Tạo đã ra tranh cử và trúng cử vào hội đồng thành phố Sài Gòn, vốn trước đó chỉ gồm có thực dân và tay sai.53
Những hình thức phản kháng như bãi công lần đầu tiên xuất hiện từ 1911
ở xưởng đóng tầu Ba Son54, cuộc bãi khóa đầu tiên của học sinh xảy ra tại trường
Chasseloup Laubat vào tháng 3-1920, sau cuộc bãi công lớn của thủy thủ ở bến cảng Sài Gòn đòi phụ cấp đắt đỏ55
Cũng vào giữa thập niên 1920 ấy, đặc biệt còn có những hình thức đấu tranh chính trị mới mẻ chưa hề có trong xã hội Việt Nam cổ truyền : “Từ Pháp, Nguyễn An Ninh đem về hai hình thức cổ động mới đối với Sài Gòn, với cả
Đông Dương nữa : làm báo đối lập với chính phủ thực dân và diễn thuyết trước
đông đảo công chúng”56 Và lần đầu tiên xuất hiện hình thức mít-tinh năm 1926 với mấy ngàn người tập hợp ở một ngôi vườn Xóm Lách đường Lanzarotte (nay
là đường Kỳ Đồng) để nghe Nguyễn An Ninh diễn thuyết Hình thức biểu tình
cũng bắt đầu xuất hiện khi khoảng 100.000 người đi đưa đám tang cụ Phan Châu Trinh vào năm 1926.57 Khi nông dân ở Cao Lãnh biểu tình kéo đến dinh quận để xin hoãn thuế vào năm 1930, thì kể từ đó, từ “biểu tình” bắt đầu xuất hiện trên báo chí Sài Gòn58
Tất cả những hình thức hoạt động chính trị vừa kể như chính đảng, hiệp hội, đấu tranh nghị trường, biểu tình, đình công, bãi khóa về sau trong thời kỳ 1954-1975 đều được các lực lượng yêu nước và tiến bộ ở Sài Gòn không ngừng
sử dụng và khai thác trong các phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh, trí thức, công nhân, phụ nữ, các lực lượng tôn giáo góp thêm sức mạnh đáng kể vào lĩnh vực đấu tranh chính trị trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ để giành lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước
Tuy nhiên, xét về mặt định chế chính trị, còn phải nói tới một trong những
định chế chính trị quan trọng nhất của một xã hội hiện đại, đó là hệ thống pháp
luật Lẽ dĩ nhiên, hệ thống này trong suốt thời kỳ Pháp thuộc là do nhà nước
thuộc địa xây dựng Nhưng điều đáng chú ý ở đây là Sài Gòn chính là nơi hình thành tương đối sớm nhất so với các địa phương khác trong cả nước một hệ thống pháp luật điều chỉnh đời sống xã hội đô thị, và một hệ thống pháp luật kinh tế-thương mại tương đối phát triển
Môi trường đô thị, hay nói đúng hơn là xã hội đô thị, đòi hỏi phải có kèm theo nó một hệ thống qui tắc và chuẩn mực hết sức chi tiết mà nếu thiếu chúng thì xã hội đô thị không thể vận hành một cách suôn sẻ và bình thường được Kể
Xem Ngô Hà, “Lược sử báo chí thành phố (1865-1945)”, trong Trần Văn Giàu, Trần Bạch
Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (tập II, Văn
học), TP.HCM, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, trang 364-365
Trang 33từ các luật lệ liên quan tới giao thông, vệ sinh công cộng, các qui định về việc xây dựng nhà cửa, các chuẩn mực sử dụng các tiện ích công cộng như điện, nước… cho tới các luật lệ liên quan tới các loại quan hệ dân sự như hôn nhân, gia đình, quan hệ lao động… và kể cả những qui định liên quan tới sự an ninh của đô thị và sự an toàn của người dân của một thành phố đông dân
Xét về đời sống kinh tế, các mối quan hệ giao thương vốn có của thành phố này với các thị trường quốc tế cũng đã mặc nhiên buộc phải hình thành một
hệ thống pháp luật kinh tế và thương mại tương ứng với trình độ phát triển của
nó Chúng ta biết là để có thể khuếch trương các quan hệ giao dịch làm ăn và nhất là trong ngoại thương, người ta không thể không tiếp thu và thích ứng với những tập quán và luật lệ làm ăn của các bạn hàng đối tác ở các nước khác Vả lại, một khuôn khổ pháp lý được xây dựng đầy đủ và ổn định cũng chính là một
cơ sở không thể thiếu để có thể nuôi dưỡng và thúc đẩy các quan hệ giao dịch trong lĩnh vực làm ăn buôn bán
Xét về mặt này, theo giả thuyết của chúng tôi (tất nhiên còn cần được kiểm chứng), người dân Sài Gòn, do đã sống từ lâu trong khuôn khổ một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh và có tính chất cưỡng chế cao, nên nói chung đã sớm có tập quán tuân thủ các qui phạm pháp luật, cho dù trong nhiều thời kỳ khác nhau, nhà nước không phải là một nhà nước dân chủ thực sự do dân
và vì dân Mặt khác, do đã có điều kiện làm quen với những sinh hoạt của các định chế chính trị hiện đại, nên người dân Sài Gòn cũng sớm có nhận thức về một mô hình nhà nước pháp quyền
3 Qui mô gia đình và nhà ở
Theo số liệu thống kê, qui mô hộ gia đình ở TP.HCM có xu hướng giảm dần tính từ năm 1976 tới nay : từ 5,91 nhân khẩu/hộ năm 1976 giảm còn 4,95 nhân khẩu/hộ vào năm 1999 (xem bảng 18) Thế nhưng, nếu so sánh chỉ tiêu này với chỉ tiêu của cả nước vào năm 1999, thì chúng ta chứng kiến một tình hình khá kỳ lạ là số người trong gia đình ở TP.HCM lại đông hơn so với mức bình quân của cả nước : 4,95 so với 4,58 người/hộ năm 1999 (xem bảng 19) Riêng gia đình ở nội thành TP.HCM có tới 5,03 người/hộ, đông hơn mức bình quân của khu vực thành thị trên cả nước, mà cũng đông hơn cả gia đình ở khu vực ngoại thành TP.HCM lẫn mức bình quân của khu vực nông thôn trong cả nước !
Bảng 18 Qui mô nhân khẩu trong một hộ ở TP.HCM, 1976-1999
Dân số (người)
Số hộ (hộ)
Nguồn : Ba cuộc tổng điều tra dân số năm 1979, 1989, 1999,
và các Niên giám thống kê hàng năm của Cục Thống kê TP.HCM
Bảng 19 Qui mô nhân khẩu trong một hộ ở TP.HCM và trên cả nước, 1999
Dân số Số hộ Số người / hộ
Trang 34Nguồn : Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1-4-1999 của Tổng cục Thống kê
Kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 còn cho biết là tại TP.HCM, những người có “quan hệ khác” với chủ hộ (tức là không phải vợ/chồng của chủ
hộ, mà cũng không phải là con ruột của chủ hộ) chiếm tỷ lệ khá cao, lên tới 21,9
% trong tổng số nhân khẩu ở trong hộ, trong khi con số này của cả nước là 11,9
%, và ở Hà Nội cũng chỉ là 14,3 % Nói cách khác, các hộ gia đình ở TP.HCM vừa đông hơn, vừa mang tính chất “mở rộng” hơn so với các hộ gia đình ở các nơi khác trên cả nước
Tại sao lại có tình hình nghịch lý như trên ? Qua các công trình nghiên cứu thực tiễn ở các nước, các nhà xã hội học thường đi đến nhận định cho rằng gia đình ở đô thị không còn là một đơn vị hợp nhất các chức năng sinh sản, kinh
tế và giáo dục vốn tồn tại trong xã hội truyền thống và trong xã hội nông thôn Không gian đô thị chật hẹp nên mô hình đại gia đình khó lòng được duy trì, ngược lại xu hướng không thể tránh khỏi là gia đình hạt nhân bao gồm hai thế hệ Phần lớn đàn ông và kể cả khá đông phụ nữ thường đi làm ở một cơ sở bên ngoài không gian gia đình (ở văn phòng, công sở, xí nghiệp, chợ búa…) Phần lớn gia đình không còn là một đơn vị sản xuất, mà không gian gia đình cũng không phải
là một không gian sản xuất như trong xã hội nông thôn cổ truyền nữa Mặt khác
sự phát triển của định chế trường học cũng như những định chế văn hóa khác bên cạnh trường học làm cho gia đình không còn là một nơi độc quyền mang chức năng giáo dục trẻ em như xưa kia Không phải chỉ người lớn, mà ngay cả trẻ em cũng có một phần khá lớn thời gian sinh hoạt ở bên ngoài gia đình
Chính vì những lý do đó mà mô hình gia đình ở đô thị thường là mô hình
gia đình hạt nhân, tức là chỉ bao gồm hai thế hệ là cha mẹ và con cái, chứ không
phải là mô hình gia đình mở rộng Thế mà số liệu thống kê lại cho thấy hình như
tình hình gia đình ở TP.HCM có vẻ như phát triển ngược lại với xu hướng hạt nhân hóa, nhất là khi so sánh với gia đình ở khu vực nông thôn, kể cả nông thôn ngoại thành TP.HCM Cần giải thích hiện tượng này như thế nào ?
Chúng tôi không cho rằng gia đình ở đô thị TP.HCM không đi theo xu thế hạt nhân hóa Xu thế này vẫn đang diễn ra ; bằng chứng là qui mô hộ gia đình tính từ năm 1976 tới 1999 vẫn giảm đi dần dần Như vậy, sở dĩ qui mô hộ ở TP.HCM đông hơn các địa phương khác, kể cả so với khu vực nông thôn, theo nhận định của chúng tôi, đơn giản là do nhà cửa ở TP.HCM ngày càng trở nên quá chật hẹp so với tốc độ gia tăng dân số, trong khi đó, tốc độ xây dựng nhà ở cho cư dân tại thành phố này trong những năm qua lại quá chậm chạp và không đáp ứng được nhu cầu của người dân Hiện tượng này đã từng được ghi nhận trong công trình điều tra của Nguyễn Quang Vinh vào năm 1993, cũng như công trình khảo sát của Charles Hirschman và Vũ Mạnh Lợi vào năm 1991, không phải chỉ riêng gia đình ở TP.HCM mà kể cả ở các thành phố khác trong miền