1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tim hiu bn sc th

28 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 581,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua ý thơ, người đọc tiếp xúc với quan điểm, phản ứng, quy tắc, lập luận, ý tưởng và những gì ám ảnh trong tâm tư của tác giả.. Tưởng cũng nên nhắc đến quan điểm của thơ Ấn Tượng impress

Trang 1

Tìm Hiểu Bản sắc

Thơ

Ngu Yên

Trang 2

1 Thẩm Mỹ Ý Tứ Thơ

Ý tưởng là sản phẩm của trí tuệ, gồm có: 1- sản phẩm thường dụng, 2- sản phẩm phát minh Ý tưởng thơ thuộc về loại sản phẩm thứ hai Qua ý thơ, người đọc tiếp xúc với quan điểm, phản ứng, quy tắc, lập luận, ý tưởng và những gì ám ảnh trong tâm tư của tác giả Trong khi, qua tứ thơ, người đọc cảm nhận được phong thái, tài hoa, trình độ thẩm mỹ, và khả năng sáng tạo của người viết Để có ý tưởng sâu sắc, độc đáo, thuyết phục, người viết cần tư duy Để có tứ thơ nổi bật, khác thường, gây mê, người viết cần cảm tính thông minh (intelligent emotion) Cả hai ý và tứ đều cần năng lượng và khả năng bén nhạy của tưởng tượng Hình ảnh của tưởng tượng đóng vai trò rất quan trọng vì nó kích hoạt và gia tăng cảm xúc Tuy nhiên, quan trọng hơn tưởng tượng là trực giác hiểu biết Ví dụ, khi nghe kêu cứu: “Cháy nhà” Không chỉ hình ảnh lửa cháy làm ta sợ hãi, mà chính sự hiểu biết về “lửa cháy nhà” thông qua trực giác làm ta kinh hoảng Vì vậy, có thể xác định, đọc thơ là hành động không chỉ thuộc tình cảm, không chỉ thuộc tưởng tượng, nhưng căn bản

là hành động thuộc về hiểu biết Ngược lại, sáng tác không chỉ là kết tinh của cảm xúc, của tưởng tượng, mà căn bản là tư duy

Tư Duy Trong Thơ

Trong Wisdom & Metaphor, (2003, Kentville, NS: Gaspereau Press) Jan Zwivky trích dẫn lời Simic:

“Trong bản chất một bài thơ thú vị [hay, giá trị] là vấn đề nhận thức và siêu hình của nhà thơ,” (trang

Trang 3

2) Ông muốn nói, ý thơ bao gồm hai thành phần chủ lực: 1- Những gì đặc biệt, nổi bật mà nhận thức khám phá từ đối tượng hoặc chủ đề 2- Nghĩa của ý cưu mang tính tư duy hoặc có nhân sinh quan, có đạo lý Thông thường, nghĩa sâu sắc ẩn núp sau nghĩa đen, mang tính đại diện

Tưởng cũng nên nhắc đến quan điểm của thơ Ấn Tượng (impressionistic poetry), các nhà thơ trong phái này quan niệm, mục tiêu làm thơ là ghi nhận những ấn tượng cảm xúc, nghĩa là ít dựa lên động lực trực giác, mà lôi cuốn theo tưởng tượng và giai điệu, nhạc tính của câu thơ Dòng thơ Ấn Tượng là một nghệ thuật kết hợp giữa vai trò cảm xúc được

đề cao trong phong trào thơ Lãng Mạn và học thuật

sử dụng biểu tượng trong thơ Tượng Trưng Phong trào này không có sinh mệnh lâu dài Sau

đó, khuynh hướng ấn tượng thay đổi theo trào lưu quan tâm đến ý nghĩa của bài thơ

Ý tứ chính cho toàn thể bài thơ, thông thường được gợi lên hoặc điềm chỉ ngay lúc khởi đầu hoặc vào lúc chấm dứt, thỉnh thoảng xuất hiện ở giữa như những nhắc nhớ Những ý tứ phụ phải xoay quanh ý tứ chính, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng không lộ liễu hoặc lý luận mạch lạc như văn xuôi Không phải ý tưởng nào cũng phù hợp với thơ Nhận xét của F.M Connell, S.J trong A Text Book

for the Study of Poetry xuất bản bởi J.S Cushing

Co., USA Theo ông, ý tưởng thơ là ý tưởng có khả năng chạm đến cảm xúc, chạm đến thâm sâu tận tâm hồn, trong khi có rất nhiều ý tưởng chỉ đối phó với hiểu biết “Ý tưởng cảm tính” (ý tưởng có cảm xúc, emotional idea) trong thơ có thể tạo ra thái độ cảm xúc sống động và sôi nổi

Trang 4

Ý tưởng cảm tính còn được đánh giá theo “cảm xúc có lý trí” (rational emotion) Cảm xúc là trạng thái phản ứng hóa học trong não bộ cho con người kinh nghiệm về cảm giác, cảm động, cảm tình Trong khi, lý trí cho khả năng phán đoán, suy luận, quyết định Cảm xúc lý trí là ý nghĩ, ý tưởng, suy luận, phán đoán trong trạng thái cảm xúc, khác với

lý trí trong trạng thái bình thường Cảm xúc có lý trí thuộc về nghệ thuật, là nền tảng cho lý trí sinh hoạt

trong quá trình sáng tác [Mời đọc thêm chương sau Thơ Cảm Tính.]

Ý tưởng cảm xúc phát xuất từ tâm và trí cùng một lượt Khái niệm này nêu lên câu hỏi về sự phối hợp giữa cảm xúc và lý trí, cần sự cân bằng hay không? Khi bắt gặp một đối tượng cụ thể hay trừu tượng, ý nghĩ cảm tính kích thích cảm xúc Cảm xúc gia tăng theo suy nghĩ, khi hình ảnh và tứ thơ xuất hiện Cảm xúc càng mạnh, tứ thơ càng phong

phú và độc đáo [Trong thực hành, ý thơ phát xuất

từ tâm và trí trong một tứ diễn đạt nào đó, do tác giả chọn lựa hoặc vô thức của tác giả đề xuất Ví

dụ, ý: “Yêu em suốt đời.” Diễn trong tứ 1: “Yêu ai yêu cả một đời.” (Nỗi Lòng- Nguyễn văn Khánh) Diễn tứ 2: “Yêu em tam tứ núi cũng trèo, thất bát giang cũng lội, thập cửu đèo cũng qua.” (Ca dao) Diễn tứ 3: “Cả ngày lẫn đêm / nỗi khao khát về em / thoát ra như con rắn độc.” (“Love” thơ của Samar Sen All day and all night / my desire for you / unwidns like a poisonous snake.)Diễn tứ 4: “Nếu có điều gì vĩnh cửu được, thì em ơi, đó là tình yêu chúng ta.” (Mãi Mãi Bên Nhau của Từ Công Phụng.)]

Sự hiện diện vừa tình cảm vừa lý trí trong một ý tứ thơ nghĩa là một tứ thơ hay phải hội đủ cảm xúc mạnh và ý tưởng có giá trị John Ruskin đề nghị, một cảm xúc mạnh phải có một động cơ mạnh từ

Trang 5

một nhận thức mạnh Nếu để ý tưởng lấn áp, cảm xúc yếu, bài thơ sẽ rơi vào tình trạng luận văn, hoặc mang tính giả tạo (insincerity) Trong khi, Percy Bysshe Shelley trong tiểu luận A Defence of

Poetry lập luận, cảm xúc mạnh dẫn đến đam mê,

thường khi làm mất thăng bằng Phần ý nghĩa giám sút sẽ đưa bài thơ vào tính đa cảm (sentimentalism) Bài thơ có giá trị phải hội đủ hai yếu tố căn bản: cảm xúc mạnh và ý nghĩa thâm thúy hoặc thuyết phục

Trong thực tế, khi thơ đến, chữ nghĩa tự động lũ lượt tuôn ra, nhà thơ khó kiểm soát chữ nào khô tình, chữ nào đa cảm Việc phân tích thông thường thuộc về phần tái xét (edit) và sửa chữa Vì vậy, nhà thơ phải trải nghiệm và tự luyện kinh nghiệm

để khi sáng tác những đánh giá, chọn lựa, sẽ đến

từ vô thức, thói quen, một cách tự nhiên Nhà thơ

có thể tự đánh giá bài thơ của mình sau khi hoàn tất bản nháp, bằng cách: 1- Nhìn lại và đếm những câu thơ đã viết trong cơn mê lôi cuốn Nghĩa là viết trong trạng thái say sưa tách rời khỏi thế giới thực

tế 2- Nhìn lại và đếm những tứ thơ đã làm cho bản thân kinh ngạc Vẫn tiếp tục kinh ngạc khi đọc lại Hai yếu tố này càng nhiều, bài thơ càng có giá trị cao Và cả hai yếu tố này đều thuộc về thẩm mỹ theo cá tính tác giả

Mời đọc bài thơ vừa ví dụ vừa giải trí vừa trầm ngâm Ý chính: Bày tỏ lòng chán ngán, muốn xa lánh đồng loại Thà cô độc nhưng khỏi bị phiền nhiễu Tứ chính: Cánh cửa người mang đến và tác giả mang đi Một ví dụ cho thấy, dù ý không lạ nhưng tứ diễn tả khác thường, tạo ra ngạc nhiên

và thú vị

Tôi sống trong ngôi nhà không cửa

Trang 6

Mỗi người đến thăm phải mang theo cửa

trên lưng Lấp vào ngồi nói chuyện, xong,

khi từ biệt họ ra đi cùng cửa

Sự riêng tư của tôi phụ thuộc vào

việc thăm viếng của những người này

Thỉnh thoảng có những người đến tay không

Đây là những kẻ quá nghèo không còn cá tính Những tay chơi bạc và bọn mặt rô

ghé qua chỉ để mượn tiền hay giở trò đểu giả Thấy bóng những kẻ này từ xa tôi vội rời nhà

lên đường thăm những người bạn thiết

Khi ra đi tôi mang theo cửa trên lưng

(Cánh cửa mà tôi tháo ra từ nhà mình

nhưng chỉ để dùng ở nhà kẻ khác.)

(Nhà Không Cửa của Phan Nhiên Hạo.)

Sự nghịch lý khiến người đọc phải suy nghĩ về ý định của tác giả Ngôi nhà không có cửa Người đến thăm mang cửa lấp vào đâu? Tác giả ra đi tháo cửa nơi nào? Như vậy, cửa nhà được ngụy trang để che giấu hoặc nhà thật sự không cửa? Còn cửa mang trên lưng phải chăng chỉ là biểu tượng “đóng / mở” giao tiếp?

Cấu trúc câu thơ bình thường như văn xuôi Dẫn đến câu hỏi: Thơ và văn xuôi chỉ khác nhau nơi xuống hàng và vắt hàng? Hoặc khác nhau vì tứ diễn đạt?

Ý thơ đương đại không đòi hỏi phải tiếp cận sự thật, vì sự thật đã không còn điều kiện để minh chứng Ý thơ nghiêng về tính tự sự, và tưởng tượng Tuy vậy, hiệu quả của hư cấu trong thơ đang là vấn đề tương tranh giữa các phái văn học

Trang 7

Thơ thể hiện từ nghệ thuật Hiện Thực cho đến, Siêu Thực, Hóa Ảo Hiện Thực, Chuyển Đổi Hiện Thực, Đa Hiện Thực, Siêu Hiện Thực Tóm lại,

hư cấu quá độ sẽ làm thơ rời xa đời sống và tách

xa sự nỗ lực làm quen của độc giả Nhưng trong mọi trường hợp, ý thơ luôn luôn đặt cơ sở lên sự trung thực

Sự trung thực trong ý thơ đời hỏi nhà thơ mô tả, diễn tả ý thơ từ: 1- kinh nghiệm sống, 2- kinh nghiệm thẩm thấu từ suy tư, 3- một niềm tin nào

đó

Đúc kết, một ý thơ có giá trị, ngoài cảm xúc mạnh

và ý nghĩa hay, còn đòi hỏi yếu tố trung thực và ba bản tính: nhất quán, tự nhiên và hợp lý Ba bản tính này thể hiện vào thơ khác nhau tùy vào sở học, sở thích và cá tính của nhà thơ

Trong ba bản tính, bản tính hợp lý, càng về sau càng ít được quan tâm Thơ đương đại không tuân theo những tiêu chuẩn hữu lý chung, hoặc có lý theo kiểu bình thường, nhà thơ thường diễn đạt theo đạo lý riêng, một cách giải thích hoặc niềm tin

cá nhân Thơ thật sự không cần phải hữu lý nhưng mỗi bài thơ giá trị đều có lý do riêng để hiện diện

Diễn Đạt Ý Tứ Thơ

Về phần người đọc, ý tứ thơ phô bày qua ngôn ngữ cho phép họ nhận thức và cộng hưởng Nếu ý

tứ thơ được diễn đạt theo nghĩa thâm trầm, khác

lạ, thường khi khó hiểu đối với đa số người đọc Ngược lại, nếu ý tứ thơ quá dễ dãi, bài thơ sẽ trở thành tầm thường Làm thế nào để thỏa mãn cả hai? Sự mâu thuẫn này luôn luôn là cuộc đấu tranh của sáng tác

Trang 8

Thi sĩ Seamus Heaney (Nobel 1995) trong một buổi đọc thơ tại Lễ Hội Kent Arts năm 1986 đã trình bày quan điểm, các nhà thơ cần phải cân bằng sự đối nghịch giữa “chính xác” và “thỏa thuận” Nghĩa là các nhà thơ phải quan tâm đến mô tả diễn đạt đúng đắn ý tứ thơ, rồi trong quá trình sáng tác, phải

tự hỏi, tự điều chỉnh, nếu thể hiện như vậy liệu độc giả có thể cảm nhận, có thể hiểu hay không? Khái niệm này đặt lại câu hỏi: Phải diễn đạt ý tứ thơ như thế nào? Giá trị của ý thơ và sự diễn đạt ý

tứ thơ đó là hai thành phần chủ lực cấu tạo ra thơ, như vậy nó thể hiện ra sao trong thẩm mỹ? Nói đến cân bằng là nói đến sự giao tiếp, chia sẻ giữa kinh nghiệm thẩm mỹ của tác giả và độc giả qua ý tứ thơ

Dan Sperber trong Rethinking Symbolism (1974, dịch giả Alice L Morton Cambridge University Press) lập luận,

điều quan trọng là phải tập trung vào văn chương như một hình thể kinh nghiệm thẩm mỹ, mang tính phổ quát, một khái niệm văn hóa Ông cho rằng nên tập trung vào tính biểu tượng (symbolism) hơn

là khái niệm về biểu tượng (notion of symbol) Quan điểm này sắp xếp khái niệm tác phẩm và văn chương đứng sau hiện tượng kinh nghiệm phổ quát về kinh nghiệm thẩm mỹ Nói nôm na, ông xem trọng kinh nghiệm thẩm mỹ phổ quát trong ý thơ, vượt qua những dị biệt của các nền văn hóa khác nhau

Quan điểm trên có thể là một trong những đóng góp xây dựng ý thơ Như Adrian Pilkomgton viết: “

‘Ý tưởng thơ là một loại ý tưởng đặc biệt (liên quan đến một loại suy nghĩ đặc biệt) rất khó mà diễn tả

và thông đạt một cách chính xác.” (Poetic Thoughts and Poetic Effects: A Relevance Theory Account of the Literary

Trang 9

Use of Rhetorical tropes and Schemes Afria Pilkington, 1994 University Colledge London Trang 25.). Ý tưởng thơ đặc biệt vì: 1- thông thường nghịch lý hoặc phi lý, 2- vạch trần những che đậy, 3- sâu sắc và nổi bật Với những đặc tính đó, ý tưởng đòi hỏi việc suy tư thường nhật qua những quan sát, theo dõi Đòi hỏi nhận thức sắc sảo bén nhạy Đòi hỏi sự tập trung vào một quan điểm, một khái niệm, hoặc một vấn

đề khi đã tìm thấy có điều gì cần khám phá, phiêu lưu, hoặc cần tiếp giáp sự thật

Mời đọc bài thơ, ý chính nói đến nỗi thất vọng về tình yêu của một người phụ nữ Các hình ảnh và các tứ phụ xoay quanh những chuyện xảy ra hàng ngày mà cô phải chịu đựng, phải phục vụ, với tâm trạng chán chường bị ám ảnh bởi cái chết

Quan sát là công việc quan yếu của người nghệ sĩ Đọc lại những lời ghi chép của Leonardo da Vinci

và những lời tường thuật của các môn đệ của ông,

sẽ nhận ra sự quan sát tỉ mỉ và sáng tạo mang đến những kiến thức khác thường và hiểu biết suy diễn Công việc này mang về, chồng chất thành một kho tàng vô giá cho sáng tác

Giải Cứu Kẻ Chết

(Của David Ignatow.)

Cuối cùng, muốn buông bỏ tình yêu là hôn chiếc lá,

là để mưa rơi thẳng xuống đầu,

là quan tâm bếp lửa,

là theo dõi ánh mắt và hành vi

khi anh ta trò chuyện,

là sắp bánh mì lên bàn

và thận trọng đặt con dao bên cạnh,

là băng qua đám đông

như đám đông của chính mình

Trang 10

Không yêu nghĩa là sống

Yêu là bị kéo đi

vào rừng sâu nơi mộ phần bí mật

đào sẵn, ca hát, ngợi khen bóng tối

Thuyền em chìm trong đại dương

Anh là người không ràng buộc,

Hãy giải cứu kẻ chết

Về diện diễn đạt, ý thơ đặc biệt vì xuất hiện qua tứ thơ Ý không chính thức hiện hình mà chỉ đưa ra những gì có khả năng đại diện cho ý Thẩm mỹ của

ý thơ chính là thẩm mỹ thể hiện lên tứ thơ Vì vậy,

“hay” và “đẹp” có thể là hai khái niệm khác nhau ở những nơi khác, nhưng trong thi ca, ý tưởng hay là

ý tưởng đẹp, hoặc ngược lại ý đẹp là ý hay Hoặc nói một cách thực tế hơn, một tứ thơ có giá trị phải hội đủ hai yếu tố đẹp và hay Một điểm khác cần phải minh bạch, điều hay điều đẹp chưa hẳn là điều đúng (chân lý), không hẳn là điều thiện (đạo đức)

Về mặt triết học đương đại, những triết gia như Alain Badiou (1937- , Pháp), Giorgio Agamben (1942- , Ý), phân tích ý tưởng thơ qua hai tác phẩm: Handbook of Inaesthetics (2005) và Word

and Phantasm in Western Culture (1993), đưa đến

nhận định “không thể định danh” (unnamable của

Trang 11

Badiou) và “không hiểu rõ” (nonapprehensibility của Agamben) Cả hai lý luận tương tựa, ý tưởng thơ xuất hiện qua ngôn ngữ tạo ra những khoảng trống giữa biểu hiện và biến mất, giữa thành lập và không thành lập, giữa hữu hình và vô hình Một loại thông tin vừa đầy vừa trống, mà uy lực của khoảng trống tạo cho tri thức sự ham muốn hiểu biết, ngay cả khi không thể tiếp giáp với nó Badiou gọi nó là “bất định danh” Ông giải thích: The

ubbamable is that thing whose naming cannot be forced by a truth That thing whose entrance into truth [mise en vérité] truth itself cannot anticipate [ ] (Bất định danh là điều mà việc đặt tên không thể ép buộc bởi sự thật Điều đó thâm nhập sự thật [ ] mà chính sự thật không thể biết trước [ ].)

Chúng ta tự hỏi, đây là sự bất lực của ngôn ngữ hoặc vì lý do khác? Agamben cho rằng lỗi ở khả năng hiểu biết bị giới hạn

Ghi:

Rescue The Dead

Finally, to forgo love is to kiss a leaf,

is to let rain fall nakedly upon your head,

is to respect fire,

is to study man's eyes and his gestures

as he talks,

is to set bread upon the table

and a knife discreetly by,

is to pass through crowds

like a crowd of oneself

Not to love is to live

To love is to be led away

into a forest where the secrete grave

in dug, singing, praising darkness

under the trees

To live is to sign your name,

is to ignore the dead,

is to carry a wallet

Trang 12

and shake hands

To love is to be a fish

My boat wallows in the sea

You who are free,

rescue the dead

(David Ignatow (1914- )

2 Yếu Tố Làm Đẹp Bài Thơ

Thẩm mỹ của một bài thơ bắt đầu từ một đối tượng đẹp hoặc một ý tưởng hay 1- Nếu là một đối tượng

cụ thể, nhà thơ cần quan sát một cách chi tiết bằng năm giác quan, không phải chỉ bằng mắt, và sử dụng “giác quan nội tâm”, tức là khả năng nhận thức 2- Nếu là đối tượng trừu tượng, nhà thơ cần dàn trải sự tưởng tượng để tạo thành thi cảnh, câu chuyện, hoặc những chi tiết mang tính nhất quán

Sự tưởng tượng phải có thể thấy được, sờ được, cảm nhận được, không phải chỉ là những ý nghĩ

mơ hồ 3- Nếu là một ý tưởng hay, nhà thơ cần suy nghĩ thêm bề sâu và bề rộng của ý tưởng này Tìm những ý tưởng phụ mang tính thâm thúy, kinh ngạc, biến chuyển Khi suy tư về ý tưởng đối tượng, dĩ nhiên, những hình ảnh và tứ thơ sẽ xuất hiện Những tưởng tượng này thuộc về tưởng tượng có lý trí (Rational imagination), khác với tưởng tượng của ảo mộng (daydream) và chiêm bao Mọi hình thức tưởng tượng đều phải đi sâu và chi tiết, mặc dù có thể không đưa vào thơ, nhưng

sự phát huy, phát triển tưởng tượng về đối tượng

sẽ kêu gọi vô thức hoạt động và tiếp viện Cả ba loại đối tượng đều phải đặt vào phạm vi và nội dung thẩm mỹ, tức là truy lùng nét đẹp và điều hay

Trang 13

Hình Ảnh và Tứ Thơ

Ba tổ hợp nghiên cứu bởi: 1- G Gabrielle Starr, viện trưởng trường cao đẳng Pomona, kiêm khoa trưởng trường cao đẳng nghệ thuật và khoa học thuộc đại học New York, 2- Edward Vessel, nhà khoa học nghiên cứu thuộc khoa thần kinh học tại viện Max Planck ở Frankfurt, Đức quốc, 3- Belfi, giáo sư khoa tâm lý học tại đại học khoa học và kỹ nghệ, tiểu bang Missouri, đưa ra kết quả cuộc thử nghiệm trên tạp chí Psychology of Aesthetics,

Creativity, and the Arts, (ngày 30 tháng 11 năm 2017),

để trả lời câu hỏi: Vì sao thưởng ngoạn cảm

nhận được thẩm mỹ (hay và đẹp) của bài thơ?

Cuộc thử nghiệm dựa trên 400 người tham dự, đặt trọng tâm trên các quan điểm: 1- Sự sống động: Hình ảnh gợi lên từ bài thơ 2- Cảm xúc bị kích thích: Mức độ sôi động và thư giãn 3- Cảm xúc gây phản ứng hóa trị: Bài thơ thuộc về tích cực hoặc tiêu cực 4- Tác dụng thẩm mỹ: Mức độ thụ hưởng, lôi cuốn, hấp dẫn, thú vị

Kết quả dẫn đầu, những bài thơ được yêu chuộng nhất, cảm nhận nhiều nhất, là những bài thơ gợi lên những hình ảnh sống động, sâu sắc, mang tính thẩm mỹ

Giáo sư Belfi lập luận, người ta có thể khác nhau

về sở thích khi đối diện với thưởng thức nghệ thuật, nhưng có một số yếu tố nào đó mang tính đồng thuận ảnh hưởng sự thưởng ngoạn chung Tại sao chúng ta thích một bài thơ? Nghiên cứu trả lời, vì sự thẩm mỹ (hay đẹp) của bài thơ đã làm

chúng ta hài lòng [Theo kinh nghiệm riêng của tôi, hài lòng không chưa đủ Hài lòng chỉ là yếu tố đầu

Trang 14

tiên thuộc về giải trí Đối với một số độc giả, chỉ cần hài lòng là thỏa mãn Đối với một số độc giả khác,

có trình độ và kinh nghiệm thưởng ngoạn, họ sẽ tìm kiếm nghệ thuật của bài thơ qua: 1- ý nghĩa, 2- cách diễn đạt và ngôn ngữ, 3- sự linh hoạt của cảm xúc Một bài thơ có giá trị sẽ mang đến cho người đọc đôi điều tươi sáng hơn, hiểu biết hơn, trước khi

họ đọc bài thơ đó.]

Nghiên cứu kể trên đưa đến kết quả theo thứ tự: 1- Những hình ảnh sống động thể hiện thẩm mỹ 2- Sự hóa trị có khả năng góp phần cảm nhận thẩm

Mỗi hình ảnh có thể đã là một tứ thơ Trong thực hành, thông thường hình ảnh kết hợp với nhau tạo thành tứ thơ Nhiều tứ thơ kết hợp thành một tứ nhất quán đại diện cho ý chính của toàn thể bài thơ

Hình Ảnh Sống Động Trong Thơ Thế nào là hình ảnh sống động? Có một số khuynh hướng diễn giải khác nhau Ý nghĩa của hình ảnh sống động là hình ảnh có sinh lực, linh động, truyền đạt sức sống

Ngày đăng: 05/01/2022, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w