Khi bắt đầu một đợt tăng giá, trong trường hợp giá đã thực hiện hai lực đẩy đi lên mà không để lại bất kỳ đợt giảm giá đáng kể nào, người ta có thể ước tính tại thời điểm nào để đợi giá
Trang 1Phương pháp Wyckoff về chuyên sâu
Phần 1 - Thị trường di chuyển như thế nào
Chương 6 - Các cấu trúc của phương pháp Wyckoff
Phần 3 - Ba quy luật cơ bản
Chương 7 - Quy luật cung và cầu
Chương 8 - Quy luật Nhân quả
Chương 9 - Quy luật Nỗ lực và Kết quả
Phần 4 - Các quá trình tích lũy và phân phối
Chương 10 - Tích lũy
Chương 11 - Tích lũy lại
Chương 12 - Phân phối
Chương 13 - Phân phối lại
Phần 5 - Sự kiện
Chương 14 - Sự kiện số 1: Điểm dừng sơ bộ
Chương 15 - Sự kiện số 2: Cao trào
Chương 16 - Sự kiện # 3: Phản ứng
Chương 17 - Sự kiện # 4: Kiểm tra
Trang 2Chương 18 - Sự kiện 5: Rung lắc
Chương 19 - Sự kiện # 6: Đột phá
Chương 20 - Sự kiện #7: Xác nhận
Phần 6 - Các giai đoạn
Chương 21 - Giai đoạn A: Dừng xu hướng trước đó
Chương 22 - Giai đoạn B: Xây dựng nguyên nhân
Chương 23 - Giai đoạn C: Kiểm tra
Chương 25 - Giai đoạn E: Xu hướng ngoài phạm vi
Giá không di chuyển giữa hai điểm trên một đường thẳng trong một mô hình sóng Thoạt nhìn chúng có vẻ là những chuyển động ngẫu nhiên, nhưng hoàn toàn không phải vậy Giá được thay đổi lên xuống theo biến động
Sóng có bản chất mong manh và tác động lẫn nhau sóng cấp thấp hơn là một phần của sóng cấp trung gian, những sóng này lại là một phần của sóng cấp cao hơn
Trang 3Mỗi xu hướng tăng và xu hướng giảm được tạo thành từ nhiều sóng xu hướng tăng và sóng giảm nhỏ Khi một sóng kết thúc, một sóng khác bắt đầu theo hướng ngược lại Bằng cách nghiên cứu và so sánh mối quan hệ giữa các sóng và thời gian, vận tốc và phạm vi của chúng, chúng ta sẽ có thể xác định bản chất của xu hướng
Phân tích sóng cung cấp cho chúng ta một bức tranh rõ ràng về những thay đổi tương đối giữa cung và cầu và giúp chúng ta đánh giá sức mạnh hoặc yếu tương đối của người mua và người bán khi giá di chuyển
Thông qua phân tích song để xác định khả năng kết thúc của sóng theo một hướng và điểm bắt đầu theo hướng ngược lại
Chương 2 - Chu kỳ giá cả
Trong cấu trúc cơ bản của thị trường chỉ có hai loại:
- Xu hướng: Có thể là xu hướng tăng giá nếu chúng đi lên hoặc giảm giá nếu chúng đi xuống
- Phạm vi giao dịch: Có thể là tích lũy nếu chúng ở đầu chu kỳ, hoặc phân phối nếu chúng ở phần cuối chu kỳ
Như chúng ta đã thấy, sự dị chuyển của giá trong các giai đoạn này được thể hiện bằng sóng Trong giai đoạn tích lũy: CO mua tất cả các cổ phiếu có sẵn bán trên thị trường Khi họ đảm bảo bằng rằng không còn bất kỳ cổ phiếu tự do trên thị trường, CO bắt đầu giai đoạn tang giá Giai đoạn tăng này là có ít kháng cự nhất Các CO đã xác định rằng họ sẽ không gặp phải quá nhiều kháng cự (cung) khiến giá không thể đạt đến mức cao hơn Điều này rất quan trọng bởi vì cho đến khi họ chứng minh được rằng con đường đi lên (vắng bóng người bán) Họ sẽ không bắt đầu xu hướng tăng giá ngay, CO sẽ thực hiện các thử nghiệm lặp đi lặp lại Trong trường hợp đặc biệt, giá nằm dưới hỗ trợ tạo hiện tượng giảm giá giả
Trong xu hướng tăng, nhu cầu của người mua mạnh hơn người bán Ở giai đoạn này, có sự tham gia của các CO, những người ít được cung cấp thông tin đầy đủ và công chúng nói chung
có nhu cầu mua làm giá lên Diễn biến sẽ tiếp tục cho đến khi người mua và người bán cho rằng giá đã đạt đến mức cao, người mua sẽ thấy nó có giá trị khi đóng các vị thế của họ và người bán
sẽ thấy việc bắt đầu mua các vị thế bán là có giá trị(bán khống)
Thị trường bước vào giai đoạn phân phối Một mức trần thị trường sẽ được hình thành và người
ta nói rằng các CO đang hoàn tất việc phân phối (bán) cổ phiếu mà họ đã mua trước đó Có sự tham gia của những người mua tham lam cuối cùng và sự tham gia bán của các nhà đầu tư CO Khi CO nhận thấy rằng con đường đi kháng cự đang tăng đàn (lực bán đang tăng lên), họ bắt đầu giai đoạn giảm giá
Trang 4Nếu họ thấy rằng nhu cầu vẫn còn cao và không có ý định từ bỏ cổ phiếu đo, kháng cự bán đối với giá giảm dần Nếu bạn tiếp tục sau khi tạm dừng xu hướng, cấu trúc này sẽ được xác định là giai đoạn tích lũy lại Điều này cũng đúng đối với trường hợp giảm giá, nếu giá xuất hiện xu hướng đi ngang trong một xu hướng giảm giá và có một khoảng dừng trước khi tiếp tục giảm, chuyển động ngang đó sẽ được xác định là giai đoạn phân phối lại
Trong xu hướng giảm, cung của người bán mạnh hơn cầu của người mua nên tạo ra các đợt giá thấp hơn
Có thể xác định thị trường đang ở giai đoạn nào của chu kỳ giá là một lợi thế đáng kể Biết được bối cảnh chung giúp chúng ta tránh đi vào mặt trái của thị trường Điều này có nghĩa là nếu thị trường đang trong Giai đoạn tăng giá sau khi tích lũy, chúng tôi sẽ tránh giao dịch bán khống và nếu nó đang trong Giai đoạn giảm giá sau khi phân phối, chúng tôi sẽ tránh giao dịch mua dài hạn Bạn có thể không biết cách tận dụng sự chuyển động của xu hướng nhưng với tiền
đề này, bạn chắc chắn sẽ tránh bị thua lỗ bằng cách không cố gắng giao dịch ngược xu hướng Khi giá ở trong giai đoạn tích lũy hoặc xu hướng tăng, nó được cho là ở vị thế mua, và khi ở Giai đoạn phân phối hoặc xu hướng giảm, nó được cho là ở vị thế bán Khi không có lợi ích, tức là không có chiến dịch nào được thực hiện, nó được cho là ở vị trí trung lập, đi ngang Một chu kỳ được coi là hoàn thành khi tất cả các giai đoạn của chu kỳ đã xuất hiện là tích lũy,
xu hướng tăng, phân phối và xu hướng giảm Những chu kỳ hoàn chỉnh này xảy ra trong tất
cả các khung thời gian Đây là lý do tại sao điều quan trọng là phải tính đến tất cả các khung thời gian, bởi vì mỗi người trong số họ có thể ở các giai đoạn khác nhau Cần phải bối cảnh hóa thị trường từ quan điểm này để thực hiện phân tích chính xác về nó
Một khi bạn học cách xác định đúng bốn giai đoạn giá cả và đưa ra quan điểm hoàn toàn công bằng, tránh xa tin tức, tin đồn, ý kiến bến ngoài và định kiến của riêng bạn, việc tận dụng lợi thế của bạn sẽ tương đối dễ dàng hơn
Chương 3 – Xu hướng
Giá thay đổi và làn cho các sóng thay đổi do đó tạo ra xu hướng Giá di chuyển bởi một loạt các sóng theo hướng của xu hướng chính (xung động), chúng được ngăn cách bởi một loạt các sóng theo hướng ngược lại (đảo chiều)
Trang 5Xu hướng chỉ đơn giản là đường có ít kháng cự nhất, khi giá di chuyển từ điểm này sang điểm khác vì nó đi theo đường có ít kháng cự nhất do đó công việc của nhà đầu tư là xác định xu hướng và giao dịch với nó
Khi một thị trường đang tăng và gặp phải kháng cự (bán cổ phiếu) giá vượt quá ngưỡng kháng
cự đó giá sẽ quay đầu, điều tương tự cũng xảy ra khi giá giảm và gặp phải kháng cự hoặc vượt quá những lần mua đó giá sẽ thay đổi Các điểm trục này là những điểm quan trọng và cung cấp cho các vị trí tuyệt vời để giao dịch
Tùy thuộc vào hướng di chuyển, chúng ta có thể phân biệt ba loại xu hướng: tăng, giảm và đi ngang Mô tả khách quan nhất về xu hướng tăng là khi giá thực hiện một loạt các xung lực tăng
và giảm với các mức cao và mức thấp luôn tăng dần Tương tự, xác định xu hướng giảm khi các mức cao và mức thấp đang giảm là một loạt các xung lực giảm và hồi quy Cuối cùng, chúng tôi xác định xu hướng đi ngang khi các mức cao và thấp vẫn dao động trong một phạm
vi giá gợi là Tradingrange (TR)
Các xu hướng được chia theo thời gian thành ba loại khác nhau; dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
Vì không có quy tắc nghiêm ngặt để phân loại chúng theo khung thời gian, chúng có thể được phân loại theo cách phù hợp Nghĩa là, xu hướng ngắn hạn sẽ được quan sát trong xu hướng trung hạn và xu hướng này sẽ nằm trong xu hướng dài hạn
Các loại xu hướng
Lưu ý rằng cả ba xu hướng có thể không di chuyển theo cùng một hướng Điều này có thể tạo
ra các vấn đề tiềm ẩn rủi ro cho nhà đầu tư Để có hiệu quả, các nghi ngờ phải được loại bỏ càng nhiều càng tốt và cách để làm điều này là xác định trước loại giao dịch sẽ được thực hiện Một điều kiện rất quan trọng cần tính đến khi lựa chọn giao dịch là thời gian (điểm mua) thành công trong bất kỳ loại hình hoạt động chủ yếu đòi hỏi phải có thời gian để thành công trong giao dịch ngắn hạn đòi hỏi phải có một Thời gian dài với TT Vì vậy một người mới bắt đầu nên bắt đầu với giao dịch dài hạn cho đến khi bạn đạt được thành công
Có các xu hướng khác nhau tùy thuộc vào khung thời gian, có thể khó có các vị thế mua và bán cùng một lúc Nếu xu hướng trung hạn là tăng, bạn có thể thực hiện một vị thế mua với kỳ vọng nắm giữ nó trong vài tuần hoặc vài tháng và nếu trong thời gian chờ đợi xuất hiện xu hướng giảm ngắn hạn bạn có thể thực hiện vị thế bán và giữ giao dịch mua cùng một lúc
Trang 6Mặc dù về mặt lý thuyết là có thể, nhưng việc duy trì kỷ luật để duy trì cả hai vị trí cùng một lúc là điều vô cùng khó khăn Chỉ những ndt có kinh nghiệm mới làm điều này Đối với người mới, tốt nhất là theo xu hướng và không tham gia đồng thời cả hai chiều cho đến khi có lợi nhuận ổn định
Bạn phải học và hiểu các động thái, mô hình, hành vi và cảm xúc kiểm soát thị trường Thị trường tăng giá được thúc đẩy bởi lòng tham, trong khi thị trường giảm được thúc đẩy bởi sự sợ hãi Đây là những cảm xúc chính thúc đẩy thị trường Lòng tham dẫn đến việc trả giá cao hơn cho đến khi được gọi là tình trạng quá mua Mặt khác sự hoảng loạn gây ra bởi sự sụt giảm dẫn đến việc muốn thoát khỏi các vị thế và bán, tạo thêm động lực cho sự sụp đổ cho đến khi đạt được điều kiện bán quá mức
Những cảm xúc này không phải là điều tiêu cực, chỉ cần chúng ta biết hướng tới khía cạnh tích cực và quan trọng là bảo vệ vốn
Chương 4 - Đánh giá xu hướng
Sự tương tác giữa cung và cầu, khi một xu hướng xuất hiện sẽ để lại manh mối trong cấu trúc của hành động giá Chúng ta có các công cụ khác nhau để đánh giá xu hướng
Đánh giá xu hướng một cách hợp lý là chìa khóa để xác định khả năng thành công của bạn Nó cho phép chúng ta phát hiện xem có bất kỳ thành nào tạo ra từ các hiện tượng suy yếu hoặc đang tăng mạnh Công việc của chúng ta là tìm kiếm điểm mạnh và chống lại sự yếu
Phân tích điểm mạnh/điểm yếu (Strength/Weakness analysis)
Khi giá xu hướng, chúng ta kỳ vọng lực đẩy sẽ lớn hơn Chúng ta phải xem đó là cuộc chiến giữa người mua và người bán, chúng ta sẽ cố gắng phân tích điểm mạnh hay điểm yếu của cả hai Cách tốt nhất để đánh giá sức mạnh/yếu hiện tại là so sánh nó với các chuyển động trước
đó
Sự suy yếu của giá không ngụ ý là sự thay đổi của xu hướng, nó chỉ đơn giản là dấu hiệu của sự mất sức mạnh và cho chúng ta biết rằng chúng ta phải chuẩn bị cho những chuyển động trong tương lai
Có một số cách để phân tích điểm mạnh / điểm yếu của thị trường là so sánh Không có giá trị tuyệt đối So sánh các chuyển động hiện tại với những chuyển động trong quá khứ
Tốc độ
Tốc độ đề cập đến giá di chuyển vì vậy nếu giá di chuyển nhanh hơn trong quá khứ, thì đó là sức mạnh Mặt khác, nếu nó đang di chuyển chậm hơn trong quá khứ, nó cho thấy sự yếu kém
Trang 7Đường (Lines)
Các đường phân định các phạm vi và xác định xu hướng Chúng hỗ cho các phân tích, rất hữu ích để đánh giá sức mạnh của xu hướng, để xác định khi nào giá đạt đến quá mua của thị trường
là đường nằm trên, quá bán là đường phía dưới
Nói chung, chúng giúp chúng ta thấy trước các mức hỗ trợ và kháng cự Đồng thời, giá tiến gần hoặc chạm vào các đường đó gợi ý việc tìm kiếm các dấu hiệu đổi hướng
Trang 8Đường Line có nhiều điểm chạm thì mức độ chính xác phân tích càng cao Chúng ta phải cẩn thận không vẽ các đường một cách bừa bãi, đặc biệt là trên mọi chuyển động nhỏ Việc xử lý các đường line chính xác đòi hỏi phải có khả năng phán đoán tốt nếu không nó sẽ gây ra sự nhầm lẫn trong suy luận của bạn
Khi giá xuyên thủng một đường, chúng ta phải tỉnh táo hơn và sẵn sàng hành động Tùy thuộc vào vị trí xảy ra, chúng tôi có thể đưa ra các kịch bản khác nhau Cần hiểu kỹ về hành động giá
và khối lượng để xác định các kịch bản có thể xảy ra nhất
Đường ngang (Horizontak lines)
Một đường ngang xác định một vùng trước đó có sự mất cân bằng giữa cung và cầu Khi nối ít nhất hai điểm giá, nó sẽ xác định một hỗ trợ Đây là vùng mà trước đây người mua xuất hiện để vượt qua người bán và ngăn đà giảm giá Trên vùng đó, người mua sẽ xuất hiện trở lại khi giá
về lại đường đó
Một đường ngang nối ít nhất hai điểm cao xác định mức kháng cự và là khu vực mà cung vượt cầu giá ngừng tăng, đó là lý do tại sao người bán sẽ xuất hiện lại một lần nữa trong tương lai Khi một đường đóng vai trò hỗ trợ và kháng cự, nó được gọi là đường trục Giá có xu hướng xoay quanh các đường trục đó Các mức giá đó luôn thay đổi, một kháng cự bị vươt qua trở thành một hỗ trợ, và một hỗ trợ bị vượt qua thì trở thành một kháng cự
Đường xu hướng (Trend lines)
Trang 9Sau khi xác định được bản chất của xu hướng, bước tiếp theo là xây dựng một kế hoạch để tận dụng lợi thế của xu hướng đó là nối đơn giản giữa hai hoặc nhiều điểm giá
Trong một xu hướng giảm, đường xu hướng được vẽ bằng cách nối hai đỉnh đang giảm Đường này được gọi là đường cung, người ta cho rằng những người bán sẽ xuất hiện khi giá chạm lines
Trong một xu hướng tăng, đường xu hướng được vẽ bằng cách nối hai đáy thấp nhất đang tăng Đường này được gọi là đường cầu vì nó đánh dấu điểm mà người mua xuất hiện
Chúng ta có thể liên tục điều chỉnh lại các đường xu hướng để phù hợp nhất với hành động giá
và do đó tạo ra nhiều điểm chạm nhất Đường thẳng được chạm càng nhiều lần càng tốt, chúng
ta có thể giải thích nó sẽ mạnh mẽ hơn khi được lặp lại trong tương lai
Lưu ý rằng một đường có độ dốc quá lớn sẽ bị phá vỡ sớm, vì vậy nó sẽ không được vẽ chính xác Miễn là giá vẫn nằm trong các mức đã được thiết lập, có thể nói rằng sự chuyển động là mạnh xem xét duy trì hoặc bổ sung các vị thế
Khi giá tiếp cận đường xu hướng, có một mối nguy là rễ bị phá vỡ và điều này có nghĩa là sức mạnh của xu hướng đang bị cạn kiệt, cho thấy sự thay đổi về tốc độ của xu hướng hoặc nguy cơ đảo ngược xu hướng có thể sẩy ra
Khi phá vỡ đường xu hướng chưa thể kết luận đc điều gì, vì nó có thể là một sự phá vỡ thật hoặc phá vỡ giả Điều quan trọng là đường xu hướng bị phá vỡ như thế nào, điều kiện xảy ra và hành động trước nó
Sau khi di chuyển một khoảng cách nhất định, giá có thể tìm thấy ngưỡng kháng cự điều này sẽ khiến xu hướng thay đổi tốc độ và dừng lại Trong thời gian đổi hướng (chuyển động phía trước
Trang 10hoặc phạm vi TR) lực ban đầu thúc đẩy xu hướng nhỏ thay đổi hoặc thậm chí được tăng lên, dẫn đến việc tiếp tục xu hướng lớn trước đó
Trong điều kiện này, cần phải xác định lại các đường xu hướng để phù hợp Vì lý do này, không nên cho rằng điểm phá vỡ đường xu hướng là điểm đảo chiều
Kênh giá (Channels)
Kênh giá lý tưởng sẽ có một số điểm tiếp xúc và phải nằm bên trong giới hạn của nó
Khi đường xu hướng tăng đường cầu đc kéo về phía trước hướng lên và được vẽ với mức cao
và mức tối thiểu để tạo ra kênh giá, đường quá mua được tạo ra và chúng xác định một kênh xu hướng tăng Kênh này xác định giá đang tăng
Chúng ta cần lưu ý các điều kiện quá mua Những điều kiện này được tạo ra khi giá vượt ra khỏi kênh tăng giá Do tăng tốc quá nhanh, giá đạt đến điểm rất nhạy cảm vượt ra khỏi kênh giá
và sự rút lui của NĐT có kinh nghiệm hơn làm cho xu hướng tăng đang suy yếu Chúng hướng giá đến điều chỉnh giảm
Con người dường như có khuynh hướng cực đoan Trên thị trường tài chính, xu hướng này được bộc lộ dưới dạng lòng tham Giá được đẩy lên ngày càng cao cho đến khi công chúng tham gia vào với những cổ phiếu thường được định giá quá cao Khi điều này xảy ra làm tình trạng quá mua được tạo ra
Khi đường xu hướng giảm hoặc đường cung được kéo về phía trước hướng suống và được vẽ ở mức tối thiểu và mức tối đa để tạo ra kênh giá, đường quá bán được tạo ra và xác định một kênh xu hướng giảm Kênh này xác định giá đang giảm
Nhà đầu tư cần lưu ý về các điều kiện Những điều kiện này được tạo ra khi giá vượt quá mức thấp nhất của kênh bên dưới Do xu hướng giảm giá quá nhanh, giá đạt đến điểm rất nhạy cảm (chốt lời) và sự rút lui của các nhà giao dịch có kinh nghiệm cho thấy sự suy yếu của xu hướng giảm giá Nó thường hướng giá đến điều chỉnh tăng
Trong thị trường con gấu (giảm) có một thái cực khác chiếm quyền kiểm soát nỗi sợ Khi giá giảm, các nhà giao dịch trở nên lo lắng Càng xuống thấp, họ càng sợ hãi Nỗi sợ hãi đến mức những nđt nhỏ lẻ không thể chịu đựng được và phải bán cổ phần của mình Sự hoảng loạn bán chạy này tạo ra tình trạng bán quá mức
Những giai đoạn mua, bán quá mức sẽ dẫn đến việc dừng các chuyển động trong bất kỳ thời điểm nào
Đường đảo chiều (Inverted lines)
Trang 11Trong điều kiện tăng tốc, xu hướng chưa kết thúc, đường đảo ngược để xác định cấu trúc ban đầu của chuyển động giá
Vấn đề đầu tiên tạo ra đường cung theo xu hướng tăng để tạo ra đường cầu và tạo ra đường cầu theo xu hướng giảm để tạo ra đường cung
Khi bắt đầu một đợt tăng giá, trong trường hợp giá đã thực hiện hai lực đẩy đi lên mà không để lại bất kỳ đợt giảm giá đáng kể nào, người ta có thể ước tính tại thời điểm nào để đợi giá giảm xuống bằng cách tạo đường cung kéo dài và tạo đường xu hướng tăng và theo cách tương tự, đầu tiên hãy vẽ đường cầu để tạo đường cung
Đường hội tụ (Converging lines)
Sẽ có lúc chúng ta nhận thấy rằng các đường quá mua và quá bán được tạo ra từ đường xu hướng và chúng hoạt động không hiệu quả Giá có thể không bao giờ đạt đến những đường này
Lưu ý rằng trong trường hợp đi lên, thậm chí không thể chạm đến đường quá mua ban đầu biểu thị của sự yếu kém và cảnh báo chúng ta về khả năng có thể đi xuống Tương tự như vậy, giá không thể đạt đến đường dưới trong xu hướng giảm biểu thị hiện tượng của sức mạnh nền và cảnh báo cho chúng ta về khả năng quay đầu đi lên
Trang 12Chương 5 - Phạm vi giao dịch (Trading Ranges)
Thị trường dành phần lớn thời gian trong điều kiện này, vì vậy chúng cực kỳ quan trọng
Phạm vi giao dịch là những nơi mà chuyển động trước đó dừng lại và có sự cân bằng tương đối giữa cung và cầu Nó là phạm vi tích lũy hoặc phân phối để chuẩn bị cho một xu hướng tăng hoặc giảm tiếp theo Chính sự tích lũy hoặc phân phối này là nguyên nhân tạo nên sự phát triển của xu hướng tiếp theo
Các phạm vi bên trong nó mang lại cơ hội giao dịch tối ưu và tiềm năng tỉ lệ rủi ro / phần thưởng khá cao, tuy nhiên, các hoạt động của CO bên trong phạm vi, bạn phải xác đinh chính xác để tận dụng sự chuyển động của xu hướng tiếp theo
Trong hoạt động của xu hướng, khi giá đã di chuyển một phần đường đi, nó sẽ bị dừng lại Bằng cách tận dụng các cơ hội trong range để biết đc nước đi của CO
Để xác định chính xác ở đầu xu hướng, bạn phải có khả năng phân tích hành động giá và khối lượng trong quá trình tích lũy May mắn thay, phương pháp Wyckoff cung cấp các hướng dẫn
mà ndt có thể thực hiện thành công việc này Việc xác định các sự kiện và phân tích các Pha trở thành công cụ không thể thiếu để đọc đúng hành vi TT
Nếu bạn không xác định được xu hướng rõ ràng, thì rất có thể giá đang ở trong giai đoạn tích lũy Xu hướng trung lập hoặc có thể có ba vấn đề đằng sau nó là đang tích lũy để chuẩn bị cho một chuyển động đi lên, nó đang phân phối để chuẩn bị cho một chuyển động đi xuống hoặc nó đang dao động lên xuống mà không có bất kỳ hướng xác định nào
Các biến động ngẫu nhiên nên bỏ qua vì có thể không có lợi ích đằng sau Điều quan trọng là phải hiểu rằng không phải tất cả các giai đoạn giao dịch đều có lợi nhuận và do đó chúng ta không nên tham gia vào TT, giá dao động ở trạng thái cân bằng và chuyển động trung hòa với các chuyển động hướng ngược lại
Trên cơ sở luật nhân quả, giá và thời gian trong Range chuẩn bị cho vận động tiếp theo và chuyển động đó sẽ tỷ lệ thuận với thời gian trong Range Điều này có nghĩa là phạm vi ngắn sẽ tạo ra các chuyển động ngắn và phạm vi dài hơn sẽ tạo ra các chuyển động dài hơn
Trang 13Để xác định phạm vi, cần có hai điểm để xây dựng kênh giá Miễn là giá vẫn nằm trong kênh
và không có biến động lớn nào xảy ra Điều quan trọng là ở các biên độ khi chúng bị phá vỡ, chúng có thể mang lại những tín hiệu tuyệt vời
Động thái phá vỡ kênh giá và bắt đầu xu hướng, Giai đoạn này không thể xảy ra cho đến khi có
sự mất cân bằng giữa nguồn cung và cầu Tại thời điểm đó, thị trường phải nằm trong tầm kiểm soát của các CO và họ phải xác nhận rằng hướng mà họ muốn di chuyển sẽ ít kháng cự nhất.(cp bán ít nhất)
Điều này có nghĩa là nếu họ đã tích lũy với ý định tăng giá, trước tiên họ sẽ xác định sẽ không tìm thấy lực cản nào (bán hàng) để ngăn chặn đà tăng Khi thấy đường thông thoáng, họ bắt đầu
di chuyển Tương tự, nếu họ đang phân phối (bán) với ý định giảm giá, họ cần đảm bảo rằng lượng cầu (người mua) là tương đối thấp
Phần 2 - Phương pháp Wyckoff
Nguyên tắc cơ bản của Wyckoff đã trở thành nền tảng cơ bản của phân tích kỹ thuật Ba quy luật cơ bản: Cung và Cầu, Nhân quả và Nỗ lực Kết quả, các khái niệm về Tích lũy / Phân phối
và tính ưu việt của Giá và Khối lượng khi xác định biến động giá
Phương pháp Wyckoff đã vượt qua thử thách của thời gian Hơn 100 năm không ngừng phát triển và đã chứng minh giá trị của phương pháp giao dịch cho tất cả các loại tài sản
Kết quả này không gây ngạc nhiên vì nó dựa vào việc phân tích hành động giá và khối lượng để đánh giá phản ứng của nó như thế nào đối với cuộc chiến giữa các lực lượng chi phối về giá đó
là cung và cầu
Chương 6 - Các cấu trúc của phương pháp Wyckoff
Thị trường tài chính là một vật thể sống, chúng luôn thay đổi do sự tương tác liên tục giữa người mua và người bán Đây là lý do tại sao sẽ là một sai lầm nếu sử dụng các mô hình hoặc chỉ báo cố định để cố gắng đọc bối cảnh của thị trường
Nhận thức được rằng thực tế không thể có hai cấu trúc giống nhau, cách tiếp cận giao dịch do phương pháp Wyckoff đề xuất là linh hoạt khi phân tích thị trường
Giá có thể tạo nên các loại cấu trúc khác nhau tùy thuộc vào điều kiện mà nó đc hình thành Đây là lý do tại sao chúng ta cần một cách tiếp cận linh hoạt cho các biến động giá nhưng đồng thời chịu sự chi phối của các yếu tố cố định nhằm mang lại tính khách quan nhất cho việc đọc biểu đồ
Các khía cạnh cố định này của phương pháp Wyckoff là các sự kiện và các giai đoạn tạo nên sự phát triển của giai đoạn Dưới đây, chúng ta trình bày hai sơ đồ cơ bản về tích lũy và phân phối
để đưa ra một ý tưởng chung về động lực mà giá di chuyển theo phương pháp Wyckoff
Như chúng ta vừa đề cập đến những đề án này có thể được coi là lý tưởng Điều quan trọng cần ghi nhớ là không phải lúc nào thị trường cũng thể hiện theo cách này
Trang 14Sơ đồ tích lũy cơ bản # 1(Basic scheme of accumulation #1)
Tích lũy (Accumulation) Quá trình mà các CO hấp thụ lượng hàng có sẵn trên thị trường Đây
là sự chuyển giao từ các nhà đầu tư bán lẻ hoặc "tay yếu" sang các nhà giao dịch chuyên nghiệp lớn hoặc "tay mạnh"
Lạch nhỏ (Creek) Mức hỗ trợ đối với các cấu trúc tích lũy hoặc tái tích lũy Nó được tạo ra bởi (AR) tự động và là cạnh trên của TR trong Giai đoạn B
CHoCH (change of character) Thay đổi đặc tính trang thái Thay đổi nhân vật Nó chỉ ra nơi
mà giá sẽ sớm thay đổi di chuyển
Đầu tiên CHoCH là được thiết lập trong Giai đoạn A, nơi giá chuyển từ xu hướng giảm sang không rõ xu hướng (đi ngang)
Thư hai CHoCH cạnh dưới của TR trong giai đoạn C đến mức cạnh trên của SOS trong đó giá
đi ngang chuyển sang xu hướng tăng
Giai đoạn A Dừng xu hướng giảm trước đó
PS (prelimitary Support) Hỗ trợ sơ bộ Đó là nỗ lực đầu tiên để ngăn xu hướng giảm
SC (Selling Climax) Quá bán Climax Hành động ngăn chặn chuyển động đi xuống
AR (Automatic Rally) Tự động tập hợp Phản ứng tăng giá Một chuyển động hướng lên
ST (Secondary Test) Kiểm tra phụ Kiểm tra mức độ hỗ trợ trong vùng tích lũy Thiết lập
phần cuối của giai đoạn A và đầu của giai đoạn B
Giai đoạn B Xây dựng nguyên nhân
UA (Upthrust Action) Hành động tin cậy Sự bứt phá tạm thời qua kháng cự và quay lại
Range Đây là thử nghiệm do AR tạo ra
ST như SOW (Secondary Test as Sign of Weakness) Kiểm tra phụ như là dấu hiệu của tín
hiệu yếu tín hiệu yếu như chức năng kiểm tra Tạm thời phá vỡ hỗ trợ và quay trở lại Range Đây là một sự kiểm tra ở cạnh dưới do SC tạo ra
Trang 15Giai đoạn C Kiểm tra (Test)
SP (Spring) Đây là một sự kiểm tra dưới dạng phá vỡ tới mức thấp hoặc vượt qua mức thấp
nhất của Giai đoạn A và B Có ba loại spring khác nhau
Test spring Xu hướng giảm về mức thấp nhất của Range để kiểm tra lực của người bán
LPS (Last Point of Support) Điểm hỗ trợ cuối cùng Kiểm tra dưới dạng một chuyển động
giảm giá không đạt tới mức thấp nhất
TSO (Terminal Shakeout hoặc Shakeout) Giá di chuyển đột ngột breakout tạo ra sự giảm
sâu qua hỗ trợ và phục hồi nhanh chóng vào lại Range
Giai đoạn D Xu hướng Bullish tăng giá
SOS (Sign of Strength) Tín hiệu mạnh Đó là một chuyển động tăng giá được tạo ra sau sự
kiện kiểm tra trong giai đoạn C của TR
JAC (Jump Across the Creek) Nhảy qua lạch nhỏ
LPS (Last Point of Support) Điểm hỗ trợ cuối cùng Đây là những đáy tăng dần
BU (Back Up) Sao lưu Đây là phản ứng (tích lũy lại, test) cuối cùng trước khi thị trường tăng
giá bắt đầu
BUEC (Back Up to the Edge of the Creek) Quay lại cạnh Creek Trở lại con lạch
Giai đoạn E Xu hướng tăng phá vỡ giai đoạn Sự thành công của SOS và LPS tạo ra một động
lực giá
Sơ đồ tích lũy cơ bản # 2
Dạng sơ đồ thứ hai của phương pháp này là Spring điểm thử nghiệm trong giai đoạn C không
bị phá vỡ ra khỏi TR Do điều kiện thị trường và biểu thị sức mạnh nền
Mục tiêu của giá là thăm dò vùng thanh khoản này nhưng các CO hỗ trợ thị trường mua vào mạnh mẽ Họ không để giá thấp hơn nữa để không ai khác có thể mua thấp hơn nữa
Loại phạm vi giao dịch này phức tạp hơn vì không thể đánh giá hành động Shakeout đó, cách xác định tăng giá sẽ mất một điểm tin cậy
Trang 16Khu vực giao dịch là ở Spring tiềm năng, sau đó có thể mua tại LPS có thể giá sẽ đi suống điểm tối thiểu đó một lần nữa
Ngoài ra, dấu hiệu đầu tiên của sức mạnh tăng giá tại điểm phá vỡ thường bị mất (kiệt sức)
Do đó, cơ hội mua cp khả thi nhất trong loại cấu trúc này có thể tại BUEC Đây là lúc chúng ta phải chú ý hơn để tìm kiếm cơ hội
Sơ đồ phân phối cơ bản # 1
Phân phối (Distribution) Quá trình CO phân phối (bán) cổ phiếu Đây là sự chuyển giao từ các
nhà đầu tư lớn hoặc "tay to" sang các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá nhân hoặc "tay yếu"
ICE (Level of support for distribution or redistribution structures) Mức độ hỗ trợ của quá trình
phân phối hoặc tái phân phối Nó được thiết lập bởi mức tối thiểu được tạo ra bởi phản ứng tự động AR và mức thấp trong Giai đoạn B
CHoCH Thay đổi đặc tính Nó chỉ ra TT mà giá sẽ di chuyển Đầu tiên CHoCH được thiết lập
trong giai đoạn A nơi giá chuyển từ môi trường có xu hướng tăng sang môi trường đi ngang CHoCH thư hai được đặt từ mức cao nhất của Giai đoạn C đến mức thấp nhất của SOW trong
đó giá chuyển từ đi ngang sang có xu hướng giảm
Giai đoạn A Dừng xu hướng trước đó
PSY (Preliminary Supply) Hỗ trợ sơ bộ Đó là nỗ lực đầu tiên để ngăn sự tang giá
BC (Buying Climax) Hành động ngăn sự tăng giá và chuyển động giá đi suống (quá mua)
AR (Automatic Reaction) Phản ứng tự động ngăn sự giảm giá
ST (Secondary Test) Kiểm tra phụ Kiểm tra mức độ nhu cầu liên quan đến hành động mua
thiết lập phần cuối của Giai đoạn A và đầu của Giai đoạn B
Giai đoạn B Xây dựng nguyên nhân
UT(Upthrust) Độ tin cậy Sự kiện tương tự như UA ở giai đoạn tích lũy Sự bứt phá tạm thời
qua ngưỡng kháng cự và quay lại TR Đây là một bài kiểm tra ở mức tối đa được tạo ra bởi BC
MSOW (Minor Sign of Weakness) Dấu hiệu yếu Sự kiện tương tự như ST và SOW của tích
lũy Tạm thời phá vỡ hỗ trợ và quay lại TR Đây là sự kiểm tra ở mức tối thiểu do AR tạo ra
Giai đoạn C: Kiểm tra
Trang 17UTAD(Upthrust After Distribution) Đây là một sự kiểm tra dưới dạng phá vỡ các điểm tối
đa của giai đoạn A và B
Test UTAD Một chuyển động đi lên để kiểm tra mức độ của người mua
Giai đoạn D Xu hướng giảm giá trong TR
MSOW Dấu hiệu điểm yếu chính Chuyển động giảm giá bắt nguồn sau sự kiện kiểm tra giai
đoạn C đển điểm thấp của TR tạo ra sự thay đổi thuộc tính
LPSY (Last Point of Supply) Điểm hỗ trợ cuối cùng Đây là những mức cao giảm dần mà
chúng ta tìm thấy trong xu hướng giảm dần về hỗ trợ
Giai đoạn E Xu hướng giảm ngoài TR Sự tiếp diễn của SOW và LPSY tạo ra động lực giảm
dần mức tối đa và mức tối thiểu
Sơ đồ cơ bản của phân phối # 2
Phương pháp thứ hai trong đó sự kiện kiểm tra trong giai đoạn C không đạt được mức tối đa của TR
Suy luận ngược so với ví dụ về lược đồ tích lũy # 2 Thể hiện một tín hiệu yếu hơn trong nền Giá đạt được tính thanh khoản tối đa, các nhà giao dịch lớn (CO) đã có vị thế bán,
Cấu trúc mất sự tin cậy do không có rung lắc Khi bán khống LPSY có thể xảy ra, chúng ta sẽ luôn nghi ngờ về việc liệu giá có lên mức cao trước khi giảm hay không
Dấu hiệu của điểm yếu (SOW) phá vỡ TR Cơ hội duy nhất để kiểm tra điểm phá vỡ (LPSY)
Phần 3 - Ba luật cơ bản
Chương 7 - Quy luật cung cầu
Richard Wyckoff là người đầu tiên đưa ra định luật kinh tế cơ bản này và ông ấy nói với chúng
ta rằng nếu cầu lớn hơn cung thì giá của sản phẩm sẽ tăng Nếu cung lớn hơn cầu thì giá của sản phẩm sẽ giảm và nếu cung và cầu ở trạng thái cân bằng thì giá của sản phẩm sẽ được duy trì
Trang 18Ý tưởng này rất chung chung và có nhiều sắc thái bởi vì có một lỗi rất phổ biến khi nghĩ rằng giá tăng vì có nhiều người mua hơn người bán hoặc giá giảm vì có nhiều người bán hơn người mua
Trên thị trường luôn có số lượng người mua và người bán như nhau có người mua thì phải có người bán
Lý Thuyết
Trên thị trường có người mua và người bán tương tác với nhau để khớp lệnh Theo lý thuyết đấu giá, thị trường tìm cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi giữa người mua và người bán và đây là lý do tại sao khối lượng (tính thanh khoản) thu hút giá
Lý thuyết được chấp nhận chung trong kinh tế học cho chúng ta biết rằng cung được tạo ra bởi người bán bằng cách đặt lệnh giới hạn bán hàng (đang chờ xử lý) vào cột ASK và cầu được tạo bởi người mua bằng cách đặt lệnh giới hạn mua vào cột IDB
Có một lỗi rất phổ biến khi gọi mọi thứ liên quan đến nhu cầu mua và mọi thứ liên quan đến nhu cầu bán hàng Tốt nhất, nên sử dụng các thuật ngữ khác nhau để phân biệt giữa lệnh tích cực và lệnh thụ động
Các yếu tố cung và cầu tương ứng với việc thực hiện trạng thái bị động bằng cách đặt các lệnh giới hạn trong cột IDB và ASK
Trong khi khi một CO chủ động và chuyển đến cột IDB để thực hiện một lệnh tích cực (đưa vào thị trường), anh ta được biết đến như một người bán và khi anh ta chuyển đến cột ASK, anh
ta được biết đến là người mua khi chuyển đến cột BID
Tất cả những điều này chỉ là hình thức và liên quan nhiều đến lý thuyết trong kinh tế học hơn là thực hành Chìa khóa của mọi thứ là ở các loại lệnh được thực hiện Chúng ta phải phân biệt giữa lệnh thị trường (tích cực) và lệnh giới hạn (bị động)
Các lệnh bị động chỉ đại diện cho ý định, chúng có khả năng ngăn chặn một chuyển động gía nhưng không phải là khả năng làm cho giá di chuyển Điều này đòi hỏi sự mua chủ động để đưa giá đi
Sự thay đổi giá cả (Price shift)
Trang 19Ý tưởng Initiative (Initiative)
Để giá tăng lên, người mua phải mua tất cả các lệnh bán (giá đặt trước) có sẵn ở trên TT và tiếp tục mua mạnh để ép giá lên một mức cao và tìm người bán mới ở đó để giao dịch
Các lệnh mua bị động khiến xu hướng giảm giá chậm lại, nhưng bản thân chúng không thể tăng giá Những lệnh duy nhất có khả năng tăng giá là những giao dịch mua lệnh thị trường (chủ động) hoặc những lệnh đặt giá cao
Do đó, giá có thể tăng lên khi người mua chủ động nhập hoặc bằng cách thực hiện Cắt lỗ đối với các vị thế bán
Để giá giảm xuống, người bán phải mua tất cả các lệnh sẵn có (nhu cầu) ở mức giá đó và tiếp tục đẩy xuống bằng cách buộc giá phải tìm lệnh mua ở mức thấp hơn
Các lệnh bán bị động làm cho xu hướng tăng chậm lại, nhưng nó không có khả năng tự hạ giá Các lệnh duy nhất có khả năng giảm giá là bán giá thấp cho thị trường
Do đó, sự chuyển động giảm giá có thể được t ạo ra bởi sự nhập cuộc tích cực của người bán hoặc bằng cách thực hiện Cắt lỗ của các vị thế mua
Thiếu sự quan tâm: Lack of interest
Cũng cần biết rằng sự vắng mặt của một trong hai lực lượng (mua và bán) có thể tạo điều kiện cho giá dịch chuyển Việc không có cung có thể tạo điều kiện cho giá tăng cũng như không có cầu có thể tạo điều kiện cho giá giảm
Trang 20Khi nhu cầu bán không tích cực được đặt trong cột ASK và do đó giá sẽ có thể dễ dàng tăng lên
và cần ít sức để mua mua
Ngược lại, nếu nhu cầu bị rút lại, nó sẽ dẫn đến việc giảm các hợp đồng mà người mua sẵn sàng đặt với IDB và điều này sẽ khiến giá đi xuống
Trang 21Chương 8 - Luật Nhân quả(The Law of Cause and Effect)
Ý tưởng là không có cái gì sẩy ra theo cách tự nhiên Để thấy sự thay đổi về giá, trước tiên phải xây dựng được nguyên nhân gốc rễ
Nói chung, các nguyên nhân được xây dựng thông qua một sự thay đổi lớn giữa các CO có thông tin tốt và nhà đầu tư cá nhân không được hiểu biết
Trong trường hợp giao dịch riêng lẻ, nguyên nhân làm cho giá tăng là mong muốn của người mua muốn có cổ phiếu đó hoặc mong muốn của người bán muốn có số tiền đó
Trang 22Ngoài việc nhìn nhận nguyên nhân trên phương diện hoạt động riêng lẻ, mục tiêu là nhìn nguyên nhân từ góc độ rộng hơn, ở khía cạnh vận động của TT Đối với điều này, người ta cho rằng thị trường đang hình thành một nguyên nhân trong các thời kỳ giảm giá và những điều này tạo ra một hiệu ứng chuyển động có xu hướng tăng hoặc giảm trong tương lai
Trong những giai đoạn cuối này, các chiến dịch hấp thụ cổ phiếu được thực hiện bởi CO, trong
đó CO bắt đầu xác định mình ở phía bên phải của thị trường, dần dần loại bỏ những người tham gia còn lại cho đến khi họ thấy con đường giá đi lên sẽ không có sự cản trở (lực bán)
Một khía cạnh quan trọng của định luật này là kết quả sẽ luôn tỷ lệ thuận với nguyên nhân đó
Do đó, nguyên nhân lớn sẽ tạo ra kết quả lớn hơn, và nguyên nhân nhỏ sẽ tạo ra hiệu quả thấp hơn
Nó hợp lý khi tính đến thời gian thị trường tích lũy, thời gian phát triển xu hướng càng dài thì khoảng cách di chuyển của xu hướng tiếp theo sẽ càng lớn
Điều quan trọng là phải hiểu các giai đoạn diễn ra là quá trình tích lũy / phân phối
Tùy thuộc vào thời gian của và những nỗ lực mà chúng ta thấy trong quá trình tích lũy (các hiện tượng lên xuống), nguyên nhân này sẽ kích thích chuyển động lên hoặc xuống (hiệu ứng)
Các yếu tố cần ghi nhớ: Elements to bear in mind
Có một số điều kiện nhất định, chẳng hạn như các sự kiện, có thể khiến giá biến động mạnh nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng
Các CO sử dụng các loại nền để tích lũy / phân phối với tất cả lượng hàng họ có mà không cần một chiến dịch quảng bá mà tạo ra chuyển động như mong đợi
Một khía cạnh khác cần lưu ý là không phải tất cả các TR đều là tích lũy hoặc phân phối Điểm này rất quan trọng
Hãy nhớ rằng phương pháp này cho chúng ta biết rằng sẽ có những cấu trúc chỉ đơn giản là biến động giá và không có nguyên nhân thúc đẩy
Đồ họa điểm và hình: N/A
Phân tích kỹ thuật để dự đoán các mục tiêu: Technical analysis for projection of objectives
Trang 23Một số người trong chúng ta thích đơn giản hóa nó và sử dụng các công cụ như Fibonacci, Elliot hoặc các mẫu hài hòa (hình chiếu dọc của TR) để chiếu các mục tiêu
Loại công cụ này ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn vì từ khi các phần mềm được đưa vào thị trường tài chính, nhiều thuật toán được lập trình theo những tiền đề đơn giản này và những mục tiêu được đáp ứng với xác suất cao
Phần kết luận: Conclusion
Vì thị trường vận động theo luật nhân quả bằng cách sử dụng các giai đoạn để tạo ra các chuyển động tiếp theo, tôi tin rằng nó có thể cho chúng ta một lợi thế để cố gắng giải mã những
gì đang diễn ra trong quá trình phát triển của các cấu trúc này
Và để cố gắng tìm ra những gì đang xảy ra ở đó, phương pháp Wyckoff cung cấp cho chúng ta những công cụ tuyệt vời
Các nhà giao dịch bằng PP Wyckoff biết rằng chính trong những điều kiện tạo ra các chuyển động và đó là lý do tại sao chúng tôi liên tục tìm kiếm sự khởi đầu của các cấu trúc mới để bắt đầu phân tích hành động của giá và khối lượng với mục tiêu xác định bản chất của chuyển động
xu hướng
Một xu hướng sẽ kết thúc và một nguyên nhân sẽ bắt đầu Một nguyên nhân sẽ kết thúc và một
xu hướng sẽ bắt đầu Phương pháp Wyckoff tập trung vào việc giải thích các điều kiện này
Chương 9 - Quy luật của nỗ lực và kết quả: The Law of Effort and Result
Trang 24Trong thị trường tài chính thì nỗ lực được biểu thị bằng khối lượng trong khi kết quả được biểu thị bằng giá cả
Điều này có nghĩa là hành động giá được phản ánh bằng khối lượng Nếu không có nỗ lực, nó không có kết quả
Mục đích là để đánh giá sức mạnh của người mua hoặc người bán thông qua sự hội tụ và phân
kỳ giữa giá và khối lượng
Tầm quan trọng của khối lượng: The importance of volume
Giá cả không phải là yếu tố quan trọng duy nhất trên thị trường tài chính Có lẽ điều quan trọng hơn nữa là đặc điểm của khối lượng
Hai yếu tố này (giá cả và khối lượng) là nền tảng của phương pháp Wyckoff
Khối lượng xác định số lượng cổ phiếu (cổ phiếu, đơn vị, hợp đồng) đã được mua hoặc bán Khi các nhà giao dịch lớn quan tâm đến một cổ phiếu, điều này sẽ được phản ánh trong khối lượng giao dịch
Đây là khái niệm then chốt đầu tiên: sự tham gia của các nhà tạo lập được xác định bằng sự gia tăng khối lượng
Sự hội tụ và phân kỳ: Harmony and divergence
Sự gia tăng về khối lượng cho thấy sự hiện diện của CO với mục đích tạo ra một chuyển động (tiếp tục hoặc quay vòng)
Nếu nỗ lực kết hợp với kết quả thì đó là dấu hiệu sức mạnh của sự di chuyển và gợi ý là sự tiếp tục xu hướng Nếu nỗ lực đi ngược lại với kết quả thì đó là dấu hiệu của sự suy yếu củ xu hướng và cho thấy sự đảo ngược xu hướng
Cũng cần lưu ý rằng biến động giá sẽ tỷ lệ thuận với nỗ lực đã bỏ ra
Nếu có sự hài hòa (hội tụ) giữa giá và vol, một nỗ lực lớn hơn sẽ tạo ra một chuyển động lớn trong thời gian dài, khi một nỗ lực nhỏ sẽ phản ánh một chuyển động ngắn hơn
Mặt khác nếu phân kỳ, kết quả của xu hướng tỷ lệ thuận với sự phân kỳ đó Một sự phân kỳ nhỏ hơn có xu hướng tạo ra một kết quả nhỏ hơn và một sự phân kỳ lớn hơn sẽ tạo ra một kết quả lớn hơn
Bảng phân tích
Trang 25Trong quá trình phát triển của một nến giá: In the development of a candle
Cách đánh giá đơn giản nhất là chúng tA cố gắng phân tích hành động giá và khối lượng trong một cây nến riêng lẻ
Nến là đại diện cuối cùng của giá giữa người mua và người bán trong một khoảng thời gian nhất định
Kết quả cuối cùng là sự tương tác giữa cung và cầu sẽ cho chúng ta một thông điệp
Công việc của chúng ta với tư cách là những nhà giao dịch phân tích hành động giá và khối lượng phải biết cách diễn giải thông điệp đó một cách chính xác Trong trường hợp độc lập
Trang 26Chúng ta đang tìm kiếm sự kết hợp giá và khối lượng giao dịch Để có thông tin về sự kết hợp giá-vol, chúng tôi thấy giá tăng ở vol cao nhất và giá giảm ở vol thấp Điều ngược lại sẽ đánh dấu sự phân kỳ
Trên bảng tiếp theo: On the next scroll
Trong phần này, chúng ta cố gắng phân tích hành động của giá và khối lượng trong phần lớn thời gian dịch chuyển của giá
Chúng ta muốn đánh giá xem liệu khối lượng này có tạo ra chuyển động theo hướng của cây nến trước đó hoặc liệu giá có dịch chuyển theo hướng ngược lại hay không sau khi quan sát sự gia tăng về khối lượng
Trang 27Do đó, chúng ta có được một nỗ lực / kết quả hài hòa nếu cây nến đó + khối lượng đó tăng lên, giá giảm vol giảm và phân kỳ là ngược lại
Trong sự phát triển của các xu hướng: In the development of the movements
Chúng ta chú ý phân tích trong đoạn này, chúng ta phân tích hành động giá và khối lượng theo các chuyển động hoàn chỉnh
Theo nguyên tắc chung, các chuyển động lên xuống sẽ đi kèm với sự gia tăng khối lượng khi giá di chuyển theo hướng cản gần nhất và các chuyển động sẽ giảm dần kèm theo sự giảm về khối lượng
chúng ta xác định rằng có sự hài hòa khi một giao động đi kèm với vol tăng lên và khi giảm đi kèm với khối lượng giảm
Tương tự, chúng ta xác định sự phân kỳ khi chúng ta quan sát thấy một chuyển động tăng (tạo
ra mức cao / thấp) với sự giảm khối lượng và khi chúng ta thấy một sự thoái lui (chúng tôi sẽ phải đánh giá xem đó có thực sự là một sự thoái lui) với sự gia tăng về khối lượng hay không
Waves: Sóng
Công cụ này (ban đầu được tạo ra bởi David Weis) Vol đc đưa vào theo từng đoạn (lên và xuống)
Nhìn chung, nó cho phép chúng tôi đánh giá các điều kiện thị trường và so sánh chính xác với
áp lực tăng và giảm giữa các động thái giá
Một thực tế quan trọng cần lưu ý khi phân tích sóng là không phải tất cả khối lượng giao dịch trên sóng tăng đều là mua và không phải tất cả khối lượng giao dịch trên sóng giảm đều là bán Giống như bất kỳ các yếu tố nào khác, nó yêu cầu phân tích và diễn giải Việc phân tích nỗ lực
và kết quả hoàn toàn giống nhau
Trang 28Đó là một câu hỏi so sánh khối lượng với sóng hiện tại với những song trước
Sự hài hòa đạt được nếu trong một chuyển động đi lên, các xu hướng lên kèm theo các sóng hướng lên với vol lớn hơn so với các sóng đi xuống
Chúng ta cũng sẽ xác định sự hài hòa nếu giá đạt mức cao mới và mỗi xung lực tăng sẽ là sự gia tăng khối lượng của sóng
Mặt khác, chúng ta sẽ có sự phân kỳ nếu giá đi lên nhưng sóng tăng ngày càng ít; hoặc nếu trong trường hợp di chuyển lên trên các sóng giảm mạnh hơn
Mặt khác, nếu nó tiếp cận với một mức có khối lượng thấp sẽ tạo ra một sự phá vỡ giả, chúng
ta nói rằng có sự phân kỳ Tất cả khối lượng đã tham gia theo hướng ngược lại với mức phá
vỡ
Nó có thể được áp dụng cho bất kỳ cấp độ nào Cho dù nằm ngang (hỗ trợ và kháng cự), với
độ dốc (đường xu hướng, đường kênh, đường đảo ngược, hội tụ, phân kỳ), mức độ động (đường trung bình động, VWAP, dải BB); cũng như bất kỳ cấp độ nào khác thiết lập một phương pháp luận cụ thể
Nỗ lực / Kết quả trong xu hướng: Effort/Result in Trends
Ngoài những gì đã nghiên cứu trước đây, việc đánh giá nỗ lực / kết quả có thể được đưa vào các bối cảnh thị trường chung chẳng hạn như xu hướng
Nói chung, khối lượng tương đối lớn đi kèm với việc chấm dứt một chuyển động lớn, đặc biệt
là nếu đi kèm với những đợt tăng giá nhỏ
Do đó, một khối lượng mạnh sau một xu hướng giảm giá mạnh cho thấy sự sụt giảm gần như
đã hoàn tất Nó có thể là một cao trào bán hàng và có thể đang bắt đầu tích lũy
Tương tự, một khối lượng mạnh sau một xu hướng tăng kéo dài cho thấy rằng sự kết thúc của
xu hướng tăng đã gần kề và giai đoạn phân phối có thể đang bắt đầu
Thiếu sự quan tâm: Lack of interest
Không phải lúc nào việc quay đầu xu hướng cũng xảy ra khi có khối lượng lớn (nỗ lực) với một chuyển động giá tương đối nhỏ (kết quả)
Trang 29Chúng ta thấy một cách khác có thể gây ra biến động giá và đó là sự thiếu quan tâm của nhà đầu tư Khối lượng giao dịch thấp trên sàn thị trường (sau khi sụt giảm đáng kể), hoặc sau khi đảo chiều giảm, thường cho thấy thiếu lực bán
Nếu không có nhu cầu giảm, sự xuất hiện của người mua sẽ tạo ra tình trạng đảo ngược Tương tự như vậy, khối lượng nhỏ trên thị trường (sau khi tăng đáng kể) hoặc sau khi thoái lui trong xu hướng tăng, thường cho thấy thiếu lực mua dẫn đến giá sẽ quay đầu giảm với sự xuất hiện của người bán
Hãy nhớ rằng sự tăng hoặc giảm vol một cách đột ngột sẽ giúp ta xác định khi nào một chuyển động có thể kết thúc hoặc sắp kết thúc
Kiểm soát cổ phiếu:Stock control
Trong quá trình di chuyển của xu hướng trước đó, việc kiểm soát cổ phiếu chủ yếu nằm trong tay nhà đầu tư nhỏ Để có thể xoay chuyển thị trường, cổ phiếu đó cần được chuyển qua các
CO
Khi giá giảm, cổ phiếu dần dần đổi chủ, cổ phiếu giảm càng mạnh thì cổ phiếu đang ở vị trí mạnh Chính trong quá trình phát triển của cấu trúc tích lũy sẽ diễn ra quá trình hấp thụ cuối cùng là thời điểm giá sẵn sàng bắt đầu xu hướng tăng
Luật nhân quả
Chính trong những phạm vi này, chúng ta thấy được luật nhân quả vận hành trong giao dịch điều này cho chúng ta biết rằng để có một kết quả, trước hết phải có một nguyên nhân và kết quả sẽ tỷ lệ thuận với nguyên nhân đó
Trong trường hợp phạm vi tích lũy, việc mua cổ phiếu (nguyên nhân) sẽ có tác động tạo ra một
xu hướng đi lên tiếp theo và mức độ của chuyển động này sẽ tỷ lệ thuận với thời gian bỏ ra để xây dựng nguyên nhân đó (thời gian hấp thụ cổ phiếu)
Việc chuẩn bị cho một xu hướng tăng quan trọng cần nhiều thời gian Một nhà giao dịch lớn không thể mua tất cả mọi thứ anh ta muốn cùng một lúc bởi vì nếu CO thực hiện một đơn đặt hàng với tất cả số lượng anh ta muốn, anh ta sẽ nhận được mức giá cao hơn sự tính toán của chính anh
Trang 30Để thực hiện nhiệm vụ này, các CO cần phải lập kế hoạch và thực hiện một cách cẩn thận để
cố gắng hấp thụ tất cả lượng hàng từ ndt nhỏ ở mức giá trung bình thấp nhất có thể
Diễn tả vận động: Handling maneuvers
Trong quá trình tích lũy, CO tạo ra một thị trường cực kỳ yếu Tin tức tại thời điểm này có thể
là xấu và nhiều người sẽ bị ảnh hưởng muốn bán cổ phiếu Bởi thông tin từ các phương tiên đại chúng,
Trong phạm vi tích lũy, chúng ta quan sát thấy một sự kiện cơ bản đặc trưng cho bối cảnh này trong nhiều trường hợp, đó là hành động bắt đầu chuyển động xu hướng đó là rũ bỏ, còn được gọi là " spring " Đó là một chuyển động giảm đột ngột phá vỡ mức hỗ trợ của TR mà các nhà giao dịch lớn sử dụng để đạt được mức cắt lỗ của những nhà đầu tư nhỏ trong việc mua bán những ndt thiếu hiểu biết bán hang ra TT, những người nghĩ TT tiếp tục xu hướng đi xuống và thu lợi nhuận từ xu hướng này
Mặc dù là sự kiện rung lắc nó là một hành động tiếp thêm sức mạnh cho kịch bản tăng giá, nhưng nó không phải lúc nào cũng xảy ra Bạn nên biết rằng trong nhiều trường hợp, sự phát triển của xu hướng tăng sẽ bắt đầu mà không có hành động cuối cùng này Đây là một bối cảnh có phần khó xác định hơn nhưng không kém phần chính xác
Đồng thời, họ cần đưa những ndt nhỏ ra khỏi thị trường Đây là những nhà giao dịch đã mua sớm và đóng các vị thế của họ với lợi nhuận thấp và việc đóng vị thế mua này là lệnh bán, các nhà giao dịch lớn CO sẽ phải tiếp tục hấp thụ cổ phiếu nếu họ muốn tiếp tục đẩy giá Một hành động mà họ thực hiện để loại bỏ ndt nhỏ này là tạo ra một bối cảnh thị trường đi ngang, nhàm chán để những nhà ndt nhỏ này đóng các vị thế của họ
Đối tác, thanh khoản: Counterparty, liquidity
Hai vấn để là dừng các vị thế mua và bán cp của một số ndt, nó sẽ mang lại tính thanh khoản cho các CO đang tích lũy cp vì cả hai hành động đều bán hàng ra thị trường và những số lượng bán hàng này là cung cấp cổ phiếu mà các CO cần mua
Con đường ít kháng cự nhất: The path of least resistance
Các CO sẽ không bắt đầu tăng giá cho đến khi họ xác định đc đường đi ít kháng cự nhất Điều này đạt được bằng cách thực hiện các thử nghiệm khác nhau để kiểm tra mức độ của người bán
Như Spring, họ sẽ bắt đầu đưa các chuyển động giá đi xuống để theo dõi và quan sát Sự giảm của khối lượng vào thời điểm này cho thấy sự thiếu quan tâm của người mua, bán, ko có người bán nên không đạt được mức giá thấp hơn
Đây là lý do tại sao đôi khi bạn thấy nhiều hơn một lần rũ bỏ trong giai đoạn tích lũy, đây là những thử nghiệm mà các CO tạo ra để đảm bảo rằng họ sẽ không tìm thấy sự kháng cự ở mức giá cao hơn
Đặc điểm chung của các Range tích lũy: Common characteristics of the accumulation ranges
Sau đây là các đặc điểm chính của dải tích lũy:
Giảm khối lượng và biến động giá trong khung tích lũy Ngày càng có ít cổ phiếu để bán và do
đó sự dao động về giá và khối lượng sẽ giảm dần
Kiểm tra lên mức cao của TR mà không có vol ngoại trừ khi giá được chuẩn bị bắt đầu chuyển động ra khỏi TR Spring đến mức thấp vượt qua vùng hỗ trợ hoặc trên các mức thấp nhỏ trong
TR
Trang 31Các chuyển động đi lên rộng hơn và mượt hơn so với đi xuống Điều này biểu thị một dòng cầu chất lượng tốt và cho thấy rằng nguồn cung có chất lượng kém
Sự xuất hiện của các mức giá cao và thấp Chuỗi hành động này được quan sát trong giai đoạn cuối cùng của TR, ngay trước khi bắt đầu bước nhảy tăng giá Biểu thị toàn bộ quyền kiểm soát của người mua CO
Bắt đầu xu hướng tăng giá: Beginning of the bullish movement
Khi không còn lượng hàng nào để hấp thụ, một bước ngoặt sẽ xảy ra Quyền kiểm soát nằm trong tay CO và họ sẽ chỉ thoát khỏi vị thế của mình với giá cao hơn nhiều Nhu cầu tăng lúc này sẽ kích thích giá tăng đột ngột, bắt đầu xu hướng tăng
Chương 11 - Tích lũy lại: Reaccumulation
Quá trình tái tích lũy hoàn toàn giống với quá trình tích lũy Sự khác biệt là cách hình thành cấu trúc trong khi phạm vi tích lũy ban đầu là dừng một chuyển động giảm giá, thì phạm vi tích lũy lại là bắt đầu sau khi dừng một chuyển động đi lên
Hấp thụ hàng tồn kho: Stock Absorption
Tích lũy lại là kết quả của xu hướng tăng trước đó cần được củng cố Các CO điều khiển giá thay đổi trong suốt quá trình của xu hướng
Khi bắt đầu xu hướng tăng, giá trị nằm dưới sự kiểm soát của các chủ sở hữu rất mạnh (nhà giao dịch chuyên nghiệp, CO), nhưng khi nó đi lên, cổ phiếu sẽ chuyển dần sang các ndt nhỏ ít thông tin, nhỏ lẻ, gà vịt ngan
Tại thời điểm tái tích lũy, có ý kiến cho rằng nguồn cầu kém chất lượng và thị trường cần khởi động lại quá trình hấp thụ hàng một lần nữa khi các nhà khai thác lớn nắm quyền kiểm soát
Độ dài của TR: Duration of the structure
Một điểm quan trọng cần lưu ý là thời gian hình thành của TR này sẽ bị ảnh hưởng bởi các CO
và nhỏ lẻ có quyền kiểm soát giá trị
Trang 32Nếu tại thời điểm bắt đầu của quá trình tích lũy lại, giá trị chủ yếu vẫn nằm trong CO, thì thời gian của cấu trúc sẽ ngắn hơn Mặt khác, nếu những ndt nhỏ lẻ kiểm soát phần lớn lượng hàng tồn kho thì sẽ cần một thời gian dài hơn để có thể tái tích lũy
Tích lũy lại hay phân phối: Reaccumulation or Distribution
Việc phân tích một cách thận trọng về hành động giá và khối lượng là rất quan trọng để không mắc phải sai lầm khi nhầm lẫn quá trình tích lũy lại với quá trình phân phối
Cả hai đều được bắt đầu theo cùng một cách, sau khi dừng chuyển động tăng giá Cần phải tự động hóa các đặc tính của phạm vi tích lũy, vì đây là một trong những tình huống nguy hiểm nhất mà bất kỳ nhà điều hành Wyckoff nào cũng sẽ gặp phải
Chương 12 - Phân phối: Distribution
Quá trình phân phối là một chuyển động ngang của giá nhằm ngăn chặn sự di chuyển lên và trong đó có quá trình bán cổ phiếu của các chuyên gia CO, những người có lợi nhuận mua ở mức giá thấp hơn
Luật nhân quả
Trong quá trình này, chúng ta thấy luật nhân quả đang vận hành trong thế giới mua bán, điều này cho chúng ta biết rằng để có một tác động, trước hết phải có một nguyên nhân bắt nguồn
nó, và rằng hiệu quả sẽ tỷ lệ thuận với nguyên nhân
Trong trường hợp phân phối, việc bán cổ phiếu (nguyên nhân) sẽ tác động lên xu hướng giảm,
và mức độ của chuyển động này sẽ tỷ lệ thuận với thời gian giá đã bỏ ra để xây dựng nguyên nhân đó (hấp thụ cổ phiếu)
Việc chuẩn bị cho một diễn biến quan trọng cần nhiều thời gian Một nhà giao dịch lớn không thể thực hiện toàn bộ giao dich của mình cùng một lúc bởi vì nếu anh ta thực hiện các lệnh của mình với tất cả số lượng hàng anh ta có, anh ta sẽ nhận đc giá ko mong muốn
Để thực hiện nhiệm việc này, các chuyên gia cần phát triển và thực hiện một kế hoạch cẩn thận
để cố gắng bán tất cả cổ phiếu ra thị trường ở mức giá trung bình cao nhất có thể
Trang 33Xử lý diễn tập: Handling maneuvers
Trong quá trình phân phối, CO được hỗ trợ bởi các phương tiện truyền thông (thường là dịch
vụ Media của họ) để tạo ra một môi trường cực kỳ mạnh mẽ Những gì họ đang mong muốn
là thu hút càng nhiều nhà giao dịch càng tốt vì chính việc mua của những nhà giao dịch nhỏ này cần thiết để khớp với lệnh bán của CO
Các nhà giao dịch ko có thông tin không biết rằng các chuyên gia giỏi CO đang xây dựng một
vị thế bán hàng tuyệt vời bởi vì họ có những lợi ích (mua ở thấp) Bạn sẽ đi sau thị trường Bằng những hành động khác nhau, họ có thể bán từng chút một với nhu cầu mua trên TT Trong quá trình phân phối, cũng như tích lũy, chúng ta sẽ được thấy sự kiện cơ bản của spring Mặc dù đúng là không phải tất cả các cấu trúc sẽ có hành động này trước khi bắt đầu xu hướng chuyển động, thực tế là sự xuất hiện của nó sẽ tiếp thêm sức mạnh to lớn cho kịch bản Trong trường hợp của một cú sốc tăng giá, phương pháp Wyckoff gọi nó là " Đáng tin cậy ”
Đó là một chuyển động tăng đột ngột phá vỡ mức kháng cự của phạm vi các nhà giao dịch lớn
sử dụng chức năng này để tiếp cận các điểm dừng lỗ của những nhà giao dịch đã có vị trí tốt trong giao dịch ngắn hạn, tạo sự mua của các nhà giao dịch thiếu hiểu biết, những người nghĩ
về xu hướng tăng giá tiếp diễn và thu lợi nhuận từ chuyển động đó
Đồng thời, họ đưa nhỏ lẻ ra khỏi thị trường Đây là những nhà giao dịch được xác định ở vị thế bán, sẽ nhanh chóng đóng vị thế của họ với lợi nhuận ngắn hạn và việc đóng các vị thế bán này là các lệnh mua mà các nhà giao dịch lớn sẽ phải tiếp tục hấp thụ nếu họ muốn tiếp tục đẩy giá Một hành động mà họ thực hiện để loại bỏ ndt nhỏ này là tạo ra một bối cảnh thị trường đi ngang, nhàm chán để những ndt nhỏ đóng vị thế của họ
Đối tác, thanh khoản: Counterparty, liquidity
Các chuyên gia đang xây dựng chiến lược, nó rất quan trọng đây là cách duy nhất để họ có thể hoạt động trên thị trường Họ cần thanh khoản để khớp lệnh và sự kiện đột biến là cơ hội tuyệt vời chon dt nhỏ
Việc dừng các vị thế bán, cũng như các nhà giao dịch tham gia mua, là các lệnh mua nhất thiết phải được giao dịch với một lệnh bán Và trên thực tế, chính những nhà giao dịch có thông tin tốt đang đặt những lệnh bán đó và hấp thụ tất cả các giao dịch mua
Ngoài ra, khi sự đảo chiều giảm giá xảy ra sau đợt rung lắc, các lệnh dừng của những người đã mua cũng sẽ được thực hiện, tiếp thêm sức mạnh cho xu hướng giảm giá
Con đường ít kháng cự nhất: The path of least resistance
Khi sự phát triển của phạm vi sắp kết thúc, các CO sẽ không bắt đầu xu hướng giảm cho đến khi họ có thể xác minh rằng hướng đi là ít kháng cự nhất
Họ làm điều này thông qua các thử nghiệm mà họ đánh giá sự quan tâm của người mua Họ bắt đầu các chuyển động đi lên và tùy thuộc vào lần tham gia thứ hai (điều này sẽ được quan sát bởi khối lượng giao dịch trong chuyển động đó), họ sẽ định giá nếu nhu cầu vẫn còn hoặc ngược lại người mua đã cạn kiệt Sự giảm của khối lượng tại thời điểm này cho thấy sự thiếu quan tâm đến việc đạt được mức giá cao hơn
Đây là lý do tại sao đôi khi ta thấy nhiều hơn một UT trong phạm vi, đây là những thử nghiệm
mà các chuyên gia tạo ra để đảm bảo rằng họ sẽ không tìm thấy sự kháng cự ở mức giá thấp hơn
Đặc điểm chung của phạm vi phân phối
Sau đây là các đặc điểm chính của phạm vi phân phối:
Trang 34Khối lượng lớn và biến động trong TR Các biến động giá rộng và khối lượng sẽ tương đối cao
và không đổi
Các thử nghiệm đối với vùng thấp hơn của TR không có khối lượng, cho thấy không có sự quan tâm của người mua, ngoại trừ khi giá được chuẩn bị để bắt đầu chuyển động ra khỏi TR Tăng UT lên mức cao trước đó, trên vùng kháng cự hoặc trên mức cao nhỏ trong phạm vi Các chuyển động giá rộng hơn và linh hoạt hơn mượt hơn Điều này biểu thị sự gia nhập của nguồn cung có chất lượng và cho thấy rằng nhu cầu có chất lượng kém
Mức giảm tối đa và tối thiểu Chuỗi này xuất hiện trong giai đoạn cuối cùng của phạm vi, ngay trước khi bắt đầu bước nhảy giảm giá Những gì CO gợi ý là những người bán đang trở nên mạnh hơn
Bắt đầu của xu hướng giảm giá
Khi nhu cầu không còn nữa, một bước ngoặt sẽ xảy ra Quyền kiểm soát giá nằm trong tay kẻ mạnh và họ sẽ chỉ thoát khỏi vị thế của mình với mức giá thấp hơn nhiều
Nguồn cung tăng nhẹ lúc này sẽ kích thích giá giảm mạnh, bắt đầu xu hướng giảm
Chương 13 - Phân phối lại: Redistribution
Giai đoạn phân phối lại là một giai đoạn xuất phát từ một xu hướng giảm giá và theo sau bởi một xu hướng giảm giá mới Nhiều giai đoạn phân phối lại có thể xảy ra trong một thị trường gấu lớn Đây là khoảng dừng để làm mới giá trị để phát triển một chuyển động đi xuống khác
Phân phối lại hay tích lũy
Loại cấu trúc này giống như các giai đoạn tích lũy; do đó cần phải phân tích một cách thận trọng để không dẫn đến những kết luận sai lầm Khía cạnh này chắc chắn là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất đối với nhà giao dịch với phương pháp Wyckoff, để biết cách phân biệt giữa phạm vi phân phối lại và phạm vi tích lũy
Kiểm soát hàng trong kho: Stock control
Trang 35Trong khoảng thời gian phân phối lại, CO vốn đã có lợi nhuận ngắn để bán xung quanh phần trên cùng của TR và có khả năng bao gồm (đóng / mua) một số vị thế của CO gần TR
Nói chung, họ đang tăng vị thế ngắn hạn của họ trong quá trình phát triển TR, Lý do họ đóng một số vị thế bán của mình ở đáy phạm vi là để cung cấp hỗ trợ giá và không đẩy nó xuống sớm trước khi họ có thể thiết lập một vị thế bán khống
Sự phân phối lại vẫn biến động trong và cuối giai đoạn trước khi tiếp tục xu hướng giảm Các CO sẽ thay đổi giá trong suốt quá trình của xu hướng Khi bắt đầu xu hướng giảm, giá nằm dưới sự kiểm soát của những người sở hữu rất mạnh (nhà giao dịch chuyên nghiệp, CO), nhưng khi xây dựng quá trình, cổ phiếu sẽ dần thay đổi theo hướng các nhà giao dịch ít thông tin, nghỏ lẻ, cá cơm, ngan, vịt gà… Tại thời điểm này, có ý kiến cho rằng nguồn cung yếu và thị trường cần khởi động lại quá trình hấp thụ hàng do đó một lần nữa từ các nhà khai thác lớn nắm quyền kiểm soát
Thời gian của cấu trúc: Duration of the structure
Tỷ lệ nắm giữ của các CO và nhà đầu tư nắm quyền kiểm soát, giá sẽ ảnh hưởng đến thời gian của cấu trúc Nếu lúc bắt đầu phân phối lại, giá trị chủ yếu vẫn nằm trong tay CO thì thời gian tồn tại của cấu trúc sẽ ngắn hơn Mặt khác, nếu chính những nhà đầu tư nhỏ kiểm soát phần lớn cổ phiếu, thì sẽ cần một khoảng thời gian dài hơn để có thể phát triển lại quy trình bán hàng
Các mục tiêu của phân phối chính sẽ chưa được đáp ứng và cấu trúc này đang được phát triển
để bổ sung các vị trí bán hàng mới cho thị trường tiếp tục xu hướng giảm
Các sự kiện giống nhau đối với cả tích lũy và phân phối Điều duy nhất thay đổi trong một số trường hợp là tính logic cơ bản đằng sau chúng là như nhau Chúng ta sẽ chia các phần theo các sự kiện và trong đó chúng ta sẽ giải thích cả ví dụ về lượt đi lên và đi xuống của biểu đồ
Chuỗi các sự kiện
Mặc dù chúng được phát triển thêm sau này vaf chúng ta sẽ tóm tắt ngắn gọn về logic của từng
sự kiện sẽ xuất hiện:
Sự kiện số 1: Điểm dừng sơ bộ:Preliminary Stop
Điểm dừng sơ bộ là nỗ lực đầu tiên để ngăn xu hướng đang diễn ra, kết quả là sẽ luôn thất bại
Đó là một cảnh báo sớm rằng xu hướng có thể sắp kết thúc
Sự kiện nº2: Quá: Climax
Đây là một cao trào của xu hướng trước đó giá sẽ đạt đến tình trạng quá mua, quas bán và có
sự xuất hiện của các CO
Sự kiện nº3: Phản ứng:Reaction
Đó là tín hiệu tuyệt vời đầu tiên cho thấy sự thay đổi tâm lý thị trường Chúng ta có một trong hai lực (mua, ban) kiểm soát TT sang thị trường ở trạng thái cân bằng
Trang 36Sự kiện nº4: Kiểm tra:Test
Sự kiện này có các cách đọc khác nhau tùy thuộc vào vị trí nơi nó diễn ra Nói chung, nó đánh giá cung cầu hoặc không có cung cầu của các nhà điều hành trong một thời gian và hướng nhất định
Sự kiện # 7: Xác nhận:Confirmation
Nếu phân tích là chính xác, một thử nghiệm phá vỡ sẽ được thực hiện để xác nhận rằng CO đã xác định hướng chuyển động
Chương 14 - Sự kiện # 1: Điểm dừng sơ bộ:Preliminary Stop
Đây là sự kiện trong phương pháp Wyckoff nó xuất hiện đầu tiên để bắt đầu giai đoạn A,dừng
xu hướng trước đó Bắt đầu tích lũy
Trong trường hợp tích lũy, nó được gọi là hỗ trợ sơ bộ(PS), cùng với cao trào bán ( SC), Tự động tập hợp ( AR) và kiểm tra phụ ( ST) sẽ tạo ra sự thay đổi về đặc tính mà nó làm cho giá thay đổi từ môi trường có xu hướng giảm sang môi trường không có xu hướng
Trong ví dụ về cấu trúc phân phối, nó được gọi là mguồn cung cấp sơ bộ ( PSY), kết hợp với cao trào mua ( BC),
Phản ứng tự động ( AR) và kiểm tra phụ ( ST), kết thúc giai đoạn A, dừng xu hướng tăng trước
đó và bắt đầu Giai đoạn B đây là lúc xây dựng nguyên nhân
Như chúng ta đã biết, các quá trình tích lũy và phân phối đòi hỏi thời gian và trong những trường hợp hiếm hoi giá sẽ phát triển một sơ đồ tích lũy Quá trình tích lũy này bắt đầu với sự kiện đầu tiên với hỗ trợ sơ bộ PS và cung cấp sơ bộ PSY
Trước khi quá trinhftichs lũy diễn ra thì thị trường có xu hướng rõ ràng Tại một thời điểm nào
đó, giá sẽ đạt đến mức đủ hấp dẫn đối với các nhà giao dịch lớn và họ sẽ bắt đầu tham gia mạnh mẽ hơn
Cách điểm dừng sơ bộ xuất hiện trên đồ họa
Việc quan sát sự kiện trên biểu đồ thường bị hiểu sai vì không phải quan sát một thanh có khối lượng tăng mà phải quan sát cả một quá trình
Nó cũng có thể được nhìn thấy trên một tập hợp các thanh giá có phạm vi tương đối hẹp và vol lớn không đổi hoặc thậm chí trên nến đơn với vol lớn và tăng Những biểu hiện này thường ở phần cuối biểu đồ tích lũy:
Trang 37Một trong những câu trích dẫn quan trọng nhất trong cuốn sách của Tom Williams " Làm chủ thị trường " trong đó anh ấy nói điều gì đó tương tự như thị trường không thích các thanh xu hướng lớn có khối lượng tăng đáng kể sau một động thái kéo dài vì chúng thường biểu thị một tâm lý trái ngược
Việc quan sát một thanh giảm giá lớn với khối lượng đạt đỉnh và đóng cửa ở mức tối thiểu sau một đợt giảm giá kéo dài là một dấu hiệu rất rõ ràng về việc mua của CO
Có khả năng cổ phiếu này sẽ đạt đến tình trạng quá bán liên quan đến kênh giảm giá trong suốt
xu hướng giảm
Tâm lý đằng sau điểm dừng sơ bộ:The psychology behind the preliminary stop
Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu sự giao nhau giữa các lệnh xảy ra trong hành động Nên nhớ, muốn có người mua thì phải có người bán
Hãy tự hỏi bản thân xem CO cung cấp thông tin sai cho "nhỏ lẻ" và những nhà điều hành có được thông tin tốt hoặc "CO" đang làm gì tại thời điểm đó
Như chúng ta đã nhận xét, sau khi xác định rằng thị trường đã đạt đến giá trị để bắt đầu chiến dịch, chiến dịch dó là hấp thụ tất cả cổ phiếu của CO và chính các nhà đầu tư thiếu thông tin đang cung ứng cho họ tất cả thanh khoản mà họ cần để xây dựng vị thế của mình Chúng tôi đã nhận thấy các nhà đầu tư nhỏ thiếu thông tin tạo điều kiện cho điều này:
Kẻ tham lam: The greedy Sẽ có một nhóm người nhìn thấy giá biến động đột ngột và tham
gia vào thị trường để không bị bỏ rơi khỏi một động thái tiềm năng có lợi cho họ
Trang 38Kẻ sợ hãi Nhóm này đã nắm giữ các cổ phiếu trước đó và giá đang giảm trong thời gian dài
và tới điểm dừng lỗ Sau khi thấy giá lại đi ngược với mông muốn của họ và sợ mức lỗ tăng thêm, cuối cùng họ quyết định bán các vị thế của mình
Những người thông minh.(CO) Họ đã quay lại TT và chuẩn bị cho chiến lược của họ, nhưng
thời gian không được chính xác,
Tác dụng của điểm dừng sơ bộ:Uses of the preliminary stop
Xác định sự kiện dừng đầu tiên này là gì? Như chúng ta đã đề cập, đây là hành động dừng đầu tiên của xu hướng trước đó và chúng ta có thể rút ra hai kết luận rõ ràng:
Hãy ngừng suy nghĩ về việc tiếp tục giao dịch theo xu hướng trước đó, vì cấu trúc vẫn chưa được xác nhận là tiếp tục hay quay đầu
Đây là một điểm tuyệt vời để chốt lời
Hỗ trợ sơ bộ: Preliminary Support
Như chúng ta biết rằng xu hướng giảm không dừng lại ngay lập tức, nó có thể tìm thấy nhiều
hỗ trợ để ngăn đà giảm Đó là quán tính của xu hướng Nó giống như một phương tiện di chuyển khi đã đạt đến tốc độ hành trình cực đại, ngay cả khi nhả chân ga, ô tô sẽ tiếp tục di chuyển trong một thời gian theo quán tính của chính nó
Tất cả những nỗ lực dừng su hướng giảm là điểm hỗ trợ sơ bộ PS Càng nhiều điểm PS thì càng có nhiều khả năng rằng điểm cuối của xu hướng giảm cũng sẽ xảy ra mà không có sự gia tăng đáng kể về khối lượng
Thực tế của việc lặp lại của PS hỗ trợ sơ bộ gợi ý rằng CO đã loại bỏ người bán khỏi thị trường và khi đạt đến mức bán tối thiểu tức là sẽ có rất ít người bán và điều này sẽ làm xuất hiện điểm thấp nhất mà không có vol bán lớn Nó cũng sẽ là một cao trào bán BC, trong trường hợp này mà không có vol cực lớn thì đó là một chuyển động dừng lại do kiệt sức Chúng ta sẽ nói về nó khi chúng ta phát triển sự kiện này
Trên thực tế, Hỗ trợ sơ bộ theo quan điểm phương pháp Wyckoff, Hỗ trợ sơ bộ là nỗ lực để ngăn chặn xu hướng giảm (cuối cùng sẽ là cao trào bán) Do đó, tốt nhất nên gắn nhãn chúng
Trang 39lũy, tất cả các cổ phiếu đang được bán ra Chúng ta ghi nhớ rằng mặc dù đây chưa hẳn là quá trình tích lũy nhưng cũng có khả năng cao nhất, chúng ta nên chú ý với sự kiện này
Nguồn cung cấp sơ bộ:Preliminary Supply
Trước khi nguồn cung cấp sơ bộ diễn ra, điều hợp lý nhất là thấy nỗ lực trước đó Những nỗ lực này nên được chú ý là cung cấp sơ bộ tiềm năng
Thực tế của việc nhìn thấy sự lặp lại của nguồn cung cấp sơ bộ PS gợi ý rằng CO đã loại bỏ nhu cầu mua của thị trường và đạt đến mức tối đa cuối cùng sẽ có rất ít người sẵn sàng mua và điều này có thể khiến giai đoạn tích lũy xảy ra mà không có khối lượng đáng kể
Chương 15 - Sự kiện # 2: Cao trào:Climax
Đây là sự kiện thứ hai của phương pháp luận và xuất hiện sau nỗ lực dừng trong hỗ trợ / Cung cấp sơ bộ PS
Trong các ví dụ tích lũy, chúng ta sẽ gọi nó là cao trào bán ( SC) trong khi đối với các cấu trúc phân phối, chúng tôi sẽ gắn nhãn nó cao tròa mua ( BC)
Sau khi xuất hiện một khối lượng lớn sau một xu hướng kéo dài (tiềm năng đứng yên), chúng
ta sẽ chú ý đến việc có thể xảy ra trong giai đoạn tích lũy Như chúng ta thấy đây là một trong những tác dụng của phương pháp Wyckoff: nó cung cấp cho chúng ta bối cảnh thị trường Chúng ta biết được những gì cần tìm kiếm
Nhưng điều quan trọng cần lưu ý là hỗ trợ / Cung cấp sơ bộ là các chuỗi sự kiện không phải lúc nào cũng xuất hiện và chức năng của chúng có thể được thực hiện cùng lúc bởi sự kiện cao trào Đó là lý do tại sao chúng ta nhấn mạnh hết lần này đến lần khác về tầm quan trọng của sự linh hoạt với TT Chúng ta có bối cảnh và trình tự cơ bản nhưng cần phải cho phép thị trường
tự do thể hiện bản thân, không cố ép nó vào suy nghĩ của chúng ta, chúng ta muốn kiểm soát thị trường đó sẽ là một sai lầm Xác định mấu chốt của vấn để là xác định giá tại Climax, cần phải thấy một phản ứng mạnh mẽ (Sự kiện số 3) và một sự kiểm tra (Sự kiện số 4) cho thấy sự kết thúc của giai đoạn A đó là dừng xu hướng trước đó
Chìa khóa của cao trào: Keys to climax
Hai điều có thể xảy ra sau sự kiện
Một là phản ứng (AR/phản ứng) hoặc một chuyển động mạnh Nếu một phản ứng xuất hiện,
nó sẽ được kiểm tra lần 2 (ST)
Trang 40Ngược lại, nếu một chuyển động ngang diễn ra, thị trường rất có thể sẽ tiếp tục theo hướng của xu hướng trước đó
Một khía cạnh rất phù hợp là sự kiện này cần được kiểm tra để xác minh tính xác thực của nó (với Thử nghiệm thứ cấp ST) Khối lượng thấp hơn nhiều trong đợt kiểm tra tiếp theo cho thấy
Tâm lý phía sau cao trào: The psychology behind the climax
Chúng ta nên nhớ rằng bản chất của thị trường là để một người nào đó có thể bán được thì phải
có người khác sẵn lòng mua Vì vậy, tốt hơn hết là bạn nên tự hỏi mình ngay bây giờ, chẳng hạn như ai sẽ đảm nhận tất cả việc bán hàng diễn ra trong cao trào bán SC hoặc cao trào mua
Kẻ tham lam Sẽ có một nhóm nhìn thấy sự chuyển động của giá và tham gia vào thị trường
vì sợ mất cơ hội
Kẻ sợ hãi Một nhóm khác, với các vị thế trung và dài hạn, họ tích trữ và giữ lại cổ phần trong
diễn ở xu hướng trước đó Họ đang thua lỗ và khi họ nhìn thấy TT đang chống lại họ, họ quyết định đóng các vị thế của mình để tránh bị thiệt hại lớn hơn
Những người thông minh Một nhóm nhà giao dịch họ tin rằng mình là người thông minh
nhất TT, họ dự đoán trước xu hướng vào thời điểm này, họ có thể đã tìm thấy các vị thế để
mở Loại đối tác thứ ba này xuất hiện khi việc dừng lỗ của các vị thế đc thực hiện
Sử dụng của Climax: Uses of Climax
Việc xác định sự kiện này là rất quan trọng vì nó báo hiệu sự tham gia của các CO và do đó nó
là một hành động có chất lượng
Chúng ta có thể đạt được lợi thế khi xác định đúng sự kiện này Vì nó là một hành động dừng lại của xu hướng trước đó và chỉ ra sự tham gia của CO, chúng ta có thể rút ra hai kết luận Chúng ta phải ngừng suy nghĩ về việc tiếp tục giao dịch theo xu hướng trước đó Ít nhất là cho đến khi chúng ta xác nhận xem cấu trúc là đảo chiều hay tiếp tục
Chúng ta đang đứng trước cơ hội cuối cùng để kiếm lời từ các vị thế mới
Không nên bắt đầu các vị thế tại thời điểm này vì rủi ro sẽ cao Tuy nhiên, đúng là một số nhà giao dịch Wyckoff có kinh nghiệm tận dụng bối cảnh này để thực hiện các giao dịch trong ngắn hạn nhằm tìm kiếm sự phục hồi cho sự kiện # 3 ( Tự động tập hợp / phản ứng)
Cao trào bán: Selling Climax