1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

9 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 25,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự và nêu một số giải pháp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc này. Hòa giải là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự. Là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự (VADS)

Trang 1

3 Phân tích nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự và nêu một số giải pháp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc này.

MỞ ĐẦU

Hòa giải là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự Là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết

vụ án dân sự (VADS) Việc hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí cho Nhà nước và công dân, giảm bớt giai đoạn tố tụng kéo dài, vừa giải quyết triệt để các mâu thuẩn giữa các đương sự… Do đó, nếu chế định hòa giải không được quan tâm trong việc giải quyết VADS thì quyền và lợi ích của các bên đương sự sẽ không được bảo đảm

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác hòa giải trong việc giải quyết các vụ án dân sự, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ: “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài…” Ngày 3/10/2017 Chánh án TANDTC ban hành Chỉ thị số 04/2017/CT-CA về việc tăng cường công tác hòa giải tại TAND Để việc hòa giải trong thực tiễn thực sự có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đặt ra thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về hòa giải là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành với nhiều nội dung mới, quan trọng, tiến bộ

Trang 2

NỘI DUNG

I Một số quy định về hòa giải vụ án Dân sự (VADS)

1 Khái niệm

Sau khi thụ lý vụ án, để giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận về việc giải quyết các vấn

đề của VADS có tranh chấp Hoạt động này của tòa án được gọi là hòa giải VADS Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự

Cơ sở của hòa giải VADS là quyền tự định đoạt của các đương sự Để giải quyết VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tòa án không chỉ xét

xử mà còn hòa giải VADS Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) quy định, tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật này

Hoạt động hòa giải được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm VADS Tuy vậy, theo các Điều 220, 270 BLTTDS thì tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, tòa án cũng hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết VADS không? Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết VADS thì toà án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Như vậy, việc hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc, trừ những việc không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải Quy định này xuất phát từ tầm quan trọng của hòa giải Nếu hòa giải thành cũng có nghĩa là tòa án đã hoàn thành việc giải quyết vụ án mà không cần mở phiên tòa

2 Phạm vi hòa giải VADS

* Những vụ án dân sự không được hòa giải

– Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước:

Vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước chỉ có thể được giải quyết bằng phán quyết của Tòa án thông qua phiên tòa xét xử Pháp luật không thừa nhận thỏa thuận của các bên vì tính chất của loại tài sản này thuộc

sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu nên một cá nhân không thể theo ý chí chủ quan của mình để thỏa thuận việc bồi thường Quy định này nhằm phòng ngừa trường hợp lợi dụng việc hòa giải để thỏa thuận, thương lượng gây thiệt hại, thất thoát tài sản của Nhà nước Khi áp dụng điều luật này, cần lưu ý trường hợp tài

Trang 3

sản của Nhà nước nhưng được Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó thì trường hợp này không thuộc trường hợp không được hòa giải theo quy định tại khoản 1 Điều

206 BLTTDS 2015

– Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội: Giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức

xã hội thì đương nhiên vô hiệu Về mặt bản chất thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập Do vậy, khi giải quyết các vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Tòa án không tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của họ trong giao dịch này Bởi nếu tiến hành hòa giải là đồng nghĩa với việc tạo điều kiện để các bên tiếp tục thực hiện giao dịch Tuy nhiên, trong vụ án mà các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu thì Tòa án vẫn tiến hành thủ tục hòa giải theo thủ tục chung

* Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

– Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt: Theo nội dung điều luật, Chủ thể được xác định là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được Thực tiễn áp dụng trường hợp trên gặp nhiều khó khăn, việc áp dụng không thống nhất bởi trong nội dung điều luật đã ẩn chứa những quy định mang tính định tính, được hiểu theo nhiều cách khác nhau và không có sự thống nhất giữa các điều luật quy định cùng nội dung

– Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng: Chủ thể được xác định trong trường hợp này là “đương sự” (bao gồm nguyên đơn, bơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) không thể tham gia phiên hòa giải vì lý

do chính đáng thì thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án sẽ ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử Lý do chính đáng được xác định là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được (xác định tương tự theo

Trang 4

điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP); các sự kiện này xảy ra không phụ thuộc và chịu sự chi phối của con người VD: Bão lụt, thiên tai, sạt lở

– Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành

vi dân sự: Quan hệ hôn nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao hay ủy quyền cho cá nhân khác đại diện tham gia Khi giải quyết vụ

án ly hôn mà một bên là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được bởi một người mất năng lực hành

vi dân sự là một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi và có Quyết định của Tòa án tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Người mất năng lực hành vi dân sự không thể hiện được ý chí, suy nghĩ của bản thân nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng không có giá trị và không đạt được mục đích của hòa giải

– Một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải: Để đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên đương sự, xuất phát từ thực tiễn xét xử, BLTTDS

2015 đã bổ sung trường hợp khi giải quyết vụ án dân sự mà một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải thì Tòa án không phải tiến hành hòa giải Quy định này là phù hợp, tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, thể hiện rõ bản chất của vụ án dân sự “Việc dân sự cốt ở đôi bên” Bởi khi đương sự có đề nghị không tiến hành hòa giải đã thể hiện ý chí không thiện chí hòa giải nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng mang tính hình thức không có hiệu quả trong thực tiễn

3 Thành phần và thủ tục hòa giải

a Thành phần phiên hòa giải

Theo quy định tại Điều BLTTDS, thành phần phiên hòa giải bao gồm:

- Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải

- Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải

- Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự

Trong một vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải

đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên tòa

Trang 5

hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì thẩm phán hoãn phiên hòa giải

- Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt

Việc hòa giải là nhằm giúp cho các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của họ và làm cho việc giải quyết vụ án được hiệu quả cao mà không phải xét xử

Vì vậy, BLTTDS quy định rất rõ là người tiến hành hòa giải là thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, còn thư ký chỉ là người giúp việc và phải có mặt trong phiên hòa giải để ghi biên bản hòa giả Việc quy định này là cần thiết vì hòa giải là

để cho các đương sự giải quyết với nhau trước, bằng cách thương lượng, thỏa thuận

và sự thỏa thuận này phải được tòa án công nhận bằng một quyết định và quyết định này có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự và nó cũng đòi hỏi cả sự tôn trọng của xã hội Vì lẽ đó, BLTTDS quy định bắt buộc người đứng ra tổ chức hòa giải và chủ trì phiên hòa giải phải là thẩm phán và đương sự phải có mặt đầy đủ

b Thủ tục tiến hành hòa giải

Theo quy định của Điều 208 BLTTDS, trước khi tiến hành phiên hòa giải, tòa án phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải

Theo Điều 210 BLTTDS, khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án

để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Khi đã có đầy đủ điều kiện để tiến hành hòa giải thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có cán bộ thư ký tòa án giúp việc ghi biên bản sẽ tiến hành giải phiên hòa giải Thẩm phán công bố nội dung vụ án tranh chấp, phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án

để các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình Thẩm phán phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành hoặc không thành để các bên đương sự tự nguyện thương lượng thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Sau khi được thẩm phán hướng dẫn và nghe giải thích pháp luật có liên quan đến vụ án đang tranh chấp, đến lượt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan phát biểu quan điểm của họ về vấn đề đang tranh chấp và đưa ra định hướng giải quyết Đối với những ý kiến của đương sự đưa ra cách giải quyết bất

Trang 6

hợp lý như khởi kiện tài sản không có căn cứ, yêu cầu bồi thường quá đáng thì thẩm phán chủ trì phải kịp thời phân tích, thẳng thắn chỉ cho họ biết yêu cầu của họ đưa

ra là không hợp lý để họ cân nhắc lại

4 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì đây là căn cứ suy đoán nội dung thỏa thuận tại biên bản hòa giải thành đã thể hiện đúng ý chí, mong muốn của chủ thể tham gia nên cần được công nhận Việc ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có thể do Thẩm phán trực tiếp chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự Đây là một quy định rất linh hoạt của pháp luật bởi thực tiễn xét xử rất nhiều trường hợp tại thời điểm phải ban hành quyết định công nhận

sự thỏa thuận nhưng vì lý do khách quan mà Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải không thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận, trong trường hợp này Chánh án TAND có thể phân công một thẩm phán khác ban hành quyết định

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay khi được ban hành và có giá trị pháp lý “tối thượng” khi không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO

NGUYÊN TẮC HOÀ GIẢI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1 Thực tiễn hiện nay

Trong BLTTDS 2015, chế định hòa giải đã được hoàn thiện trên cơ sở kế thừa các quy định về hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự trước đây, pháp điển hóa thành chuẩn mực chung điều chỉnh các quan hệ pháp luật tố tụng phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Việc hoàn thiện chế định về hòa giải trong BLTTDS tiếp tục khẳng định ý nghĩa quan trọng của hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, đánh dấu bước phát triển mới của chế định này trong giai đoạn hiện nay

Trang 7

Khác với vụ án không được hòa giải, những vụ án không tiến hành hòa giải được về bản chất lại là những loại việc pháp luật quy định cần phải tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự khi giải quyết vụ án Yếu tố dẫn đến việc hòa giải không thực hiện được là những lý do thực tế pháp luật chấp nhận là cơ sở cho việc không cần tiến hành hòa giải giữa các đương sự và tiến hành tiếp tục giải quyết vụ án ở những bước tiếp theo

Theo đó, trong trường hợp cụ thể các bên đương sự không cần tiến hành hòa giải: là trường hợp liên quan đến việc vắng mặt của đương sự và liên quan đến năng lực hành vi đương sự trong trường hợp được xác định Quy định này góp phần rất tích cực giúp giải quyết vụ án được nhanh chóng, thuận tiện và chính xác Vì trong thực tế, có nhiều trường hợp, tuy loại việc pháp luật quy định cần hòa giải nhưng các bên đương sự không thể tham gia được phần hòa giải vì cố tình trốn tránh hay

có lý do chính đáng, cũng không có khả năng tham gia hòa giải, nếu pháp luật không quy định về những trường hợp này, việc giải quyết vụ án sẽ vướng mắc, kéo dài và khó giải quyết

2 Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự.

Một là, tổ chức công tác giải quyết các vụ án dân sự, hành chính theo tinh thần mới Với các vụ án này, công lý không chỉ đơn giản là việc tuyên ai thắng, ai thua, mà quan trọng là tìm ra được phương án phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và nguyện vọng thực sự của hai bên, để cả hai bên cùng thắng Do đó, hòa giải, đối thoại phải là hướng ưu tiên để quyết liệt triển khai thực hiện Đây chính là thước đo

sự tiến bộ của nền tư pháp Điều này đặt ra trách nhiệm đối với mỗi tòa án là phải

đề ra các biện pháp cụ thể; giao chỉ tiêu tới từng thẩm phán; hỗ trợ các điều kiện để thẩm phán hoàn thành tốt nhiệm vụ; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời, sâu sắc để nâng cao chất lượng và số lượng các vụ, việc hòa giải, đối thoại thành công

Hai là, với mỗi thẩm phán, phải toàn tâm, toàn ý, kiên trì, sáng tạo, trách nhiệm, nhiệt huyết, đáp ứng những đòi hỏi đặc biệt về kiến thức, kỹ năng mới đạt được thành công Theo đó, trước mỗi phiên hòa giải, thẩm phán phải có sự chuẩn bị thật chu đáo, kỹ lưỡng Phải nghiên cứu cụ thể hồ sơ vụ, việc; xác định những vấn

đề mấu chốt của tranh chấp, mâu thuẫn để tập trung tháo gỡ; xây dựng môi trường

để các bên có thể lắng nghe, đàm phán, tôn trọng lẫn nhau; nắm bắt tâm lý các bên,

Trang 8

đi sâu phân tích có tình, có lý, sát hợp với diễn biến vụ, việc; kiên trì tìm kiếm các giải pháp khả thi mà hai bên cùng chấp nhận Thái độ, tác phong, sự đồng cảm, chia

sẻ của thẩm phán cũng là những yếu tố quan trọng làm nên thành công của hòa giải, đối thoại

Ba là, các đơn vị tham mưu thuộc Tòa án Nhân dân tối cao sớm hoàn thành việc biên soạn giáo trình và sổ tay thẩm phán về công tác hòa giải, đối thoại để thuận lợi cho các thẩm phán tham khảo; tổ chức tập huấn chuyên sâu các quy định của pháp luật, các quy chế, quy trình, kỹ năng hòa giải, đối thoại, kết hợp với thảo luận, giải đáp vướng mắc qua thực tiễn thực hiện; chú trọng hoạt động sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm để nhân rộng những cách làm sáng tạo, hiệu quả, đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém; kịp thời thông tin, biểu dương những tòa án và thẩm phán có tỷ lệ hòa giải, đối thoại cao; tăng cường hợp tác quốc tế nhằm trao đổi, học tập những kinh nghiệm tốt của các nước

Trang 9

KẾT LUẬN

Từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy, thực hiện hiệu quả

cơ chế hòa giải, đối thoại có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính, cụ thể là góp phần tăng cường sự đồng thuận trong

xã hội; giảm tải số lượng các vụ, việc phải đưa ra xét xử, khắc phục tình trạng quá tải án, tạo điều kiện để tòa án tập trung các nguồn lực nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử

Do đó, cải cách toàn diện công tác hòa giải, đối thoại, đề xuất thành lập mô hình hòa giải bên cạnh tòa án như cách làm của quốc tế là hướng đi đúng, nhất là trong điều kiện hiện nay số lượng các tranh chấp, khiếu kiện ngày càng gia tăng nhưng biên chế phải tinh giản Giảm áp lực án nhưng không làm tăng biên chế sẽ đạt được kết quả tốt trong điều kiện cơ chế hòa giải, đối thoại được tổ chức và triển khai đúng hướng

Ngày đăng: 22/12/2021, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w