Khái niệm tái thẩm Cùng với giám đốc thẩm, tái thẩm cũng không phải là cấp xét xử mà thay vào đó tái thẩm là một thủ tục đặc biệt xét lại bản án, quyết định của Tòa án, có nhiệm vụ kiểm
Trang 1KHOA LUẬT BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 – 2015 THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM –
LÝ LUẬN & THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Trương Thanh Hùng Nguyễn Thị Bé Năm
MSSV: 5115821 Lớp: Luật Tư pháp 1 – K37
Cần Thơ, 11/2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thấm thoát đã hơn ba năm kể từ ngày em bước chân vào giảng đường đại học, những tháng ngày đầu tiên với em mọi thứ đều xa lạ – xa cả về môi trường sống lẫn phương pháp học tập Ngần ấy thời gian, trên con đường chinh phục tri thức bên cạnh sự
nổ lực của bản thân quý Thầy (Cô) Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ là những người
đã không ngừng đồng hành, chỉ dẫn cũng như truyền đạt một cách tận tình cho em những kiến thức về chuyên ngành lẫn xã hội Để ngày hôm nay em có thể tích lũy được một vốn kiến thức nhất định và đó trở thành hành trang giúp em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này Chính vì thế, để bày tỏ lòng biết ơn của mình lời đầu tiên em xin gửi đến quý Thầy (Cô) Khoa Luật lời cảm ơn chân thành nhất
Quan trọng hơn hết, em xin gửi đến Thầy Trương Thanh Hùng lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất Cảm ơn Thầy đã chỉ dẫn tận tình cũng như truyền đạt cho em nguồn kiến thức vô cùng quý giá Cảm ơn Thầy vì trong khoảng thời gian thực hiện Luận văn vừa qua Thầy đã tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành một cách tốt nhất Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật của mình
Và sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến tác giả các quyển giáo trình, sách chuyên khảo cũng như tác giả các bài viết trên báo, tạp chí, trên các trang thông tin điện
tử bởi đó cũng là một trong những nguồn tài liệu hỗ trợ cho em trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Đến đây, em xin gửi đến quý Thầy (Cô) Khoa Luật cũng như Thầy Trương Thanh Hùng lời chúc sức khỏe và thành công trong công tác giảng dạy./
Cần Thơ, ngày tháng năm
Nguyễn Thị Bé Năm
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 5
DANH MỤC TƢ̀ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
5 Bố cục của đề tài 2
CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm có liên quan 4
1.1.1 Khái niệm về Luật tố tụng dân sự 4
1.1.2 Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm 8
1.1.2.1 Khái niệm giám đốc thẩm 8
1.1.2.2 Khái niệm tái thẩm 10
1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của giám đốc thẩm, tái thẩm 11
1.2.1 Đặc điểm của giám đốc thẩm, tái thẩm 11
1.2.1.1 Bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị phải là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 11
1.2.1.2 Giám đốc thẩm và tái thẩm là thủ tục “xét lại” chứ không phải “xét xử” 11
1.2.1.3 Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được tiến hành không mang tính chất công khai… 12
1.2.2 Vai trò của giám đốc thẩm, tái thẩm 13
1.2.3 Ý nghĩa của giám đốc thẩm và tái thẩm 14
1.2.3.1 Ý nghĩa về mặt pháp lý 14
1.2.3.2 Ý nghĩ a v ề mặt xã hội 15
1.3 Giám đốc thẩm, tái thẩm trong quan hệ pháp luật so sánh 15
1.3.1 Giám đốc thẩm, tái thẩm trong quan hệ pháp luật so sánh với phúc thẩm 15
1.3.1.1 Sự giống nhau giữa giám đốc thẩm, tái thẩm với phúc thẩm 15
1.3.1.2 Sự khác nhau giữa giám đốc thẩm, tái thẩm với phúc thẩm 15
1.3.2 Giám đốc thẩm trong quan hệ pháp luật so sánh với tái thẩm 17
Trang 71.3.2.1 Sự giống nhau giữa thủ tục giám đốc thẩm với tái thẩm 17
1.3.2.2 Sự khác nhau giữa thủ tục giám đốc thẩm với tái thẩm 18
1.4 Sơ lược về sự hình thành và phát triển những quy định pháp luật về giám đốc thẩm và tái thẩm 19
1.4.1 Sự hình thành và phát triển của giám đốc thẩm, tái thẩm trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân 20
1.4.2 Sự hình thành và phát triển của những quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác 21
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 2.1 Những quy định về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 28
2.1.1 Chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 29
2.1.2 Đối tượng bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 32
2.1.3 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 34
2.1.3.1 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm 35
2.1.3.2 Căn cứ kháng nghị tái thẩm 40
2.1.4 Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 43
2.1.5 Thủ tục nhận và xem xét đề nghị xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 45
2.1.5.1 Đơn đề nghị, văn bản thông báo về việc đề nghị xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực 45
2.1.5.2 Thủ tục nhận và xem xét đơn đề nghị của đương sự 47
2.1.5.3 Thủ tục nhận và xem xét văn bản thông báo của Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác 50
2.1.6 Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm 50
2.2 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 51
2.2.1 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 51
2.2.2 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm 53
2.3 Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 53
2.3.1 Một số quy định chung về phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 54
2.3.1.1 Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm 54
2.3.1.2 Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm 55
Trang 82.3.1.3 Người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 58
2.3.1.4 Phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm 60
2.3.1.5 Chuẩn bị phiên tòa 61
2.3.2 Thủ tục tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 62
2.3.3 Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm 63
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THI ỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM 3.1.Tình hình chung về hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm trong những năm gần đây (giai đoạn 2009 – 2013) 66
3.2 Một số hạn chế về mặt pháp lý và đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 70
3.2.1 Quy định về tính chất giám đốc thẩm, tái thẩm chưa rõ ràng, thống nhất với căn cứ kháng nghị 70
3.2.1.1 Hạn chế về quy định tính chất của giám đốc thẩm và tái thẩm 71
3.2.1.2 Đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 282 và Điều 304 BLTTDS hiện hành 72
3.2.2 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm quy định quá chung chung dẫn đến thiếu thống nhất trong cách hiểu và áp dụng 73
3.2.2.1 Về mặt hạn chế 73
3.2.2.2 Đề xuất hoàn thiện 76
3.2.3 Hạn chế trong việc áp dụng quy định phát hiện bản án, quyết định cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và đề xuất hoàn thiện 76
3.2.3.1 Về mặt hạn chế 76
3.2.3.2 Đề xuất sửa đổi Điều 284 BLTTDS hiện hành theo hướng thu hẹp phạm vi chủ thể gửi đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm 77
3.2.4 Hạn chế về mặt nội dung của quy định phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm 77
3.2.4.1 Về mặt hạn chế 77
3.2.4.2 Đề xuất sửa đổi Điều 296 BLTTDS hiện hành 78
3.2.5 Hạn chế về thẩm quyền hủy án của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm 78
3.2.5.1 Về mặt hạn chế 78
3.2.5.2 Đề xuất hoàn thiện 81
3.3 Một số hạn chế về mặt thực tiễn và đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 82
3.3.1 Tình trạng ngâm án ở Tòa án nhân dân các cấp hiện nay 82
Trang 93.3.1.1 Về mặt hạn chế 82
3.3.1.2 Đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng 84
3.3.2 Tình trạng lạm dụng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm gây khó khăn cho công tác thi hành án 84
3.3.2.1 Về mặt hạn chế 84
3.3.2.2 Đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng 86
3.3.3 Một số hạn chế và đề xuất nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật khác 86
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10hộ, có hiệu lực pháp luật và phải được thi hành Nhưng sẽ là không công bằng và vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa nếu các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có sự vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của đương sự không được sửa chữa mà vẫn bị đem ra thi hành Việc đó không những tạo nên sự không hài lòng trong việc giải quyết của Tòa án trong nhân dân, làm cho niềm tin công lý trong
họ bị giảm sút mà còn không đảm bảo được mục đích tối thượng của pháp luật tố tụng dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong vụ án
Để khắc phục tình trạng trên pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng dân
sự nói riêng đã cho ra đời cơ chế đặc biệt kiểm soát, phát hiện những thiếu sót, sai lầm của ngành Tòa án, đó là thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm – thủ tục đặc biệt xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Theo đó, một vụ việc được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm hoặc là đã qua sơ thẩm và phúc thẩm nhưng có căn cứ kháng nghị thì những vụ việc đó có thể bị kháng nghị để được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Tuy nhiên hiện nay, do sự phát triển của xã hội nên những tranh chấp dân sự ngày một phức tạp làm cho công tác xét xử trở nên khó khăn hơn, một số lượng không nhỏ vụ việc dân sự cần được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm một cách nhanh chóng và kịp thời Hơn nữa, thực tiễn giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời gian qua cũng bộc lộ không ít những hạn chế cả về mặt pháp lý lẫn thực tiễn cho nên ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Vậy nên, việc tìm hiểu để làm rõ vấn đề và đưa ra các đề xuất hợp lý nhằm giải quyết, khắc phục những hạn chế của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là cấp thiết và vô cùng quan trọng
Trang 11Chính vì lý do trên, người viết chọn: “Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật của mình
2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này , người viết tập trung nghiên cứu các vấn đề xoay quanh hai thủ tục là giám đốc thẩm và tái thẩ m vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Với đề tài này người viết tập trung làm rõ những vấn đề về mặt lý luận cũng như những quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm , tái thẩm từ kháng nghị cho đến thủ tục tại phiên tòa để thông qua đó phát hiện những hạn chế về mặt pháp lý cũng như thực tiễn và đưa ra những đề xuất hợp lý nhằm khắc phục hạn chế trên
3 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận và làm sáng rõ các nội dung cần nghi ên cứu của đề tài , người viết đã sử dụng một số phương pháp sau : phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu , sách vở; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp đánh giá, thống kê tổng hợp số liệu thực tế Bên cạnh đó nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
4 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó cùng với việc tìm hiểu quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự mục tiêu mà người viết hướng tới khi thực hiện đề tài nghiên cứu này là xây dựng vững chắc
cơ sở lý luận và lấy đó làm nền tảng để đi đến việc phân tích những quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm một cách cụ thể và chặt chẽ Hơn thế nữa, trước những hạn chế đang tồn tại trên thực tế một mục tiêu không kém phần quan trọng đối với
đề tài này là qua quá trình phân tích làm rõ cơ sở lý luận, quy định pháp luật cũng như đánh giá thực tiễn xét xử phát hiện những hạn chế, tồn tại và theo đó đưa ra đề xuất hợp
lý nhằm hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng
5 Bố cục của đề tài
Ngoài các phần mục lục , lời mở đầu , kết luận và danh mục tài liệu th am khảo thì nội dung của đề tài bao gồm 3 chương sau:
Chương 1 Nhận thức chung về thủ tục giám đốc thẩm , tái thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Ở Chương này, để có nhận thức chung nhất về thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm thì trước hết người viết sẽ đi vào phân tích những khái niệm liên quan đến giám đốc thẩm, tái thẩm cũng như các đặc điểm, vai trò, ý nghĩa; đặt giám đốc thẩm, tái thẩm vào trong quan hệ pháp luật so sánh và sau cùng là sơ lược sự hình thành
và phát triển của quy định pháp luật về hai thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 12Chương 2 Quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm , tái thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Chương này, người viết sẽ tập trung làm rõ ba vấn
đề lớn: Trước hết người viết sẽ đi phân tích những quy định về việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Cụ thể là, chủ thể kháng nghị, đối tượng bị kháng nghị, căn cứ kháng nghị Phân tích những quy định về việc phát hiện bản án, quyết định cần được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; làm rõ thủ tục nhận và giải quyết đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện ra sao – đây là quy định mới được ghi nhận và áp dụng trong khoảng thời gian gần đây, sau đó là ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Tiếp đến, phân tích thời hạn kháng nghị của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Và sau cùng là đi sâu vào phân tích làm rõ những quy định về thủ tục tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm , tái thẩm Với Chương này, người viết sẽ trình bày, làm rõ ba
nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, tình hình giám đốc thẩm, tái thẩm trong giai đoạn gần đây mà cụ thể là từ năm 2009 – 2013; Thứ hai, là làm rõ những hạn chế về mặt pháp lý
và đưa ra đề xuất hoàn thiện: Thứ ba, làm rõ hạn chế từ thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và từ đó đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của pháp luật
Trang 13CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
thẩm Một cách cụ thể nhất Chương 1: Nhận thức chung về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được thể hiện sinh động với các nội dung
cơ bản sau:
1.1 Một số khái niệm có liên quan
Khi nhắc đến giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự là người ta có thể liên tưởng đến đó
là một thủ tục tố tụng đặc biệt trong tố tụng dân sự, thế nên để việc làm rõ thế nào là thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thuận tiện hơn thì đòi hỏi trước hết cần định nghĩa
được thế nào là “Luật tố tụng dân sự” Và đó chính là lý do trong phần đầu tiên của
Chương 1, người viết không chỉ đưa ra định nghĩa về giám đốc thẩm, tái thẩm mà còn
làm rõ thế nào là “Luật tố tụng dân sự” như đã đề cập
1.1.1 Khái niệm về Luật tố tụng dân sự
Để hiểu đúng về khái niệm Luật tố tụng dân sự thì trước hết chúng ta cần hiểu
được thế nào là “tố tụng” cũng như “dân sự”
Việc hiểu đúng và chính xác thuật ngữ “tố tụng” có ý nghĩa quan trọng Về mặt lý
luận, việc làm rõ hai thuật ngữ trên giúp các nhà khoa học luật gặp thuận lợi hơn trong
việc xây dựng cũng như giải thích pháp luật Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của hai từ
Trang 14“tố” và “tụng” tác giả Đào Duy Anh đã đưa ra cách giải thích thuật ngữ “tố tụng” tương đối đơn giản, theo đó “tố tụng” được hiểu là việc thưa kiện (procès), không những vậy ông còn đưa ra định nghĩa về “tố tụng pháp lý”, khi đó “tố tụng pháp lý” là việc pháp
luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocésduer) Không riêng gì từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh mà các sách hoặc là từ điển Tiếng Việt khác cũng có những
cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “tố tụng” một trong những số đó là sách Tiếng
nói nôm na của tác giả Lê Gia, theo đó tác giả đã dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường
dùng để giải thích rõ hơn cho khái niệm “tố tụng”, cụ thể “tố tụng” là vạch tội và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ “tố” là vạch tội; chữ “tụng” là thưa kiện ở cửa
công để phân phải trái1
Bên cạnh đó, dưới góc nhìn lịch sử pháp luật Việt Nam trước giờ không đặt ra quy
định định nghĩa về “tố tụng” nhưng đổi lại từ thời kỳ Pháp thuộc người ta đã dùng “tố tụng” để lý giải cho “procedure” nghĩa là trình tự, thủ tục; cũng trong giai đoạn này “tố
tụng” xuất hiện trong tên của hai Bộ luật Bắc kỳ dân sự, thương tố tụng và Trung kỳ dân
sự tố tụng, Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng (năm 1972) Tuy nhiên, ở thời điểm lúc bấy giờ - trước khi Bộ luật tố tụng dân sự ra đời giới khoa học luật chưa có sự phân định
rõ ràng giữa thuật ngữ “tố tụng” và “thủ tục”, người ta vẫn thường sử dụng lẫn lộn giữa
hai thuật ngữ này bởi tính chất tương tự nhau của nó là buộc phải tuân thủ theo một việc nhất định đã định trước, sự thật là ở các văn bản như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hay Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các tranh chấp lao động, thuật ngữ “thủ tục” được sử dụng để đặt tên cho văn bản thay vì
“tố tụng” Vậy nên, cần hiểu rằng mặc dù cũng dùng để chỉ định một cách thức tiến hành bắt buộc nhưng “thủ tục” mang nghĩa rộng hơn nhiều vượt ra ngoài giới hạn của trình tự giải quyết vụ việc tại Tòa án, khi đó một cách thích hợp nhất “tố tụng” là sự lựa chọn
không thể thay thế cho vị trí chủ thể của nội dung khái niệm trình tự giải quyết vụ việc tại Tòa án
Từ những cách lý giải trên có thể hiểu một cách đơn giản rằng “tố tụng” là hình
thức pháp lý quy định về thủ tục thưa kiện tại Tòa án
Thứ hai, “dân sự” đây là thuật ngữ dùng để chỉ lĩnh vực luật tư, xuất phát từ bản
chất thỏa thuận, bình đẳng của các bên trong việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phạm vi giải quyết các
1
Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, Pháp luật về tố tụng dân sự, Đặc san tuyên truyền
pháp luật, Hà Nội, Số 04, năm 2013, trang 3
2Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, Pháp luật về tố tụng dân sự, Đặc san tuyên truyền
pháp luật, Hà Nội, Số 04, năm 2013, trang 3
Trang 15tranh chấp tại Điều 1 thì các ngành luật nội dung khi có tranh chấp sẽ được giải quyết theo trình tự quy định tại Bộ luật này bao gồm Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình,
Luật Thương mại, Luật Lao động thì “dân sự” trong “tố tụng dân sự” được dùng như
một bộ phận của lĩnh vực tư pháp
Qua đó, có thể rút ra một định nghĩa tương đối đơn giản về “tố tụng dân sự”, theo
đó “tố tụng dân sự” là một quy trình, thủ tục do pháp luật quy định buộc mọi chủ thể tiến
hành và tham gia phải tuân theo nhằm giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng và chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước và công dân
Song song với việc lý giải hai thuật ngữ “tố tụng” và “dân sự” trong tố tụng dân
sự thì việc hiểu rõ thế nào là “tố tụng dân sự” cũng không kém phần quan trọng Ở nước
ta quá trình giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án là một quá trình phức tạp Vụ
việc dân sự ở đây được hiểu là “vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động tại Tòa án do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của nhà nước, của tập thể hay của người khác”3 Quá trình giải quyết các vụ việc dân sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và những người có liên quan đến đến việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự Các chủ thể này tham gia vào quá trình giải quyết với những mục đích, động cơ, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau và giữa họ nảy sinh các quan hệ khác nhau như quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án với nhau và quan hệ giữa các đương sự với những người liên quan Để bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự được đúng đắn cũng như nhanh chóng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước, pháp luật quy định cụ thể quyền và các nghĩa vụ chủ thể tham gia vào các quan hệ đó Khi đó, trong khoa học pháp lý trình tự do pháp luật quy định cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự được gọi là “tố tụng dân sự”.4
Từ những phân tích trên, đi từ khái niệm “tố tụng” cho đến “tố tụng dân sự” việc
tập hợp các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự
sẽ hình thành ngành luật được gọi là Luật tố tụng dân sự Hiện nay, ở một số tài liệu phục
vụ mục đích học tập giảng dạy pháp luật người ta đưa ra những cách định nghĩa về “Luật
tố tụng dân sự” không giống nhau Chẳng hạn như: Thứ nhất, Giáo trình Trường Đại
Trang 16học Luật Hà Nội năm 2003 trình bày “Luật tố tụng dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa Tòa án, Viện kiểm sát,
cơ quan thi hành án và những người tham gia tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và thi hành bản án, để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” 5 ; Thứ hai, theo tác giả Nguyễn Ngọc Diệp “Luật tố
tụng dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng phát sinh giữa Tòa án với những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức xã hội và
cá nhân” 6 v.v…
Đối với cách định nghĩa thứ nhất tuy tương đối đầy đủ về mặt nội dung nhưng có
thể thấy nó chưa lột tả hết nhiệm vụ của “Luật tố tụng dân sự”, bởi nó thiếu đi nhiệm vụ
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong khi đó, đối với cách định nghĩa thứ hai bên cạnh việc chưa nêu lên nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa mà quan hệ tố tụng phát sinh giữa các chủ thể cũng chưa thể hiện rõ ràng
Chính vì thế, thông qua những phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm cơ bản về
“Luật tố tụng dân sự” như sau:
“Luật tố tụng dân sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là tổng hợp tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, của Nhà nước và giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân”
Hơn nữa, khi đặt trong mối quan hệ với các ngành luật khác nếu như các ngành luật như Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình v.v…là những ngành luật nội dung thì khác hẳn, Luật tố tụng dân sự lại là một ngành luật hình thức, là hành lang pháp lý bảo đảm cho các ngành luật nội dung được bảo đảm thực thi trên thực tế hay nói cách khác luật nội dung và luật hình thức là hai mặt không thể tách rời nhau Khi mà, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được ghi nhận bằng những quy định ở những ngành luật nội dung thì Luật Tố tụng dân sự là ngành luật có tác dụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đó
Trang 171.1.2 Khái niệm giám đốc thẩm, tái thẩm
Ở nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , quyền con người không những được tôn trọng mà còn được quan tâm một cách sâu sắc, từ trong Hiến pháp cho đến các văn bản luật khác, có liên quan một cách trực tiếp hoặc là gián tiếp thì hầu như đều dành
ra các chế định cơ bản nhất để ghi nhận những quy định về quyền con người Khi đó, nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức nói chung và đương sự trong tố tụng dân sự nói riêng là quan trọng và vô cùng thiết thực
Dễ dàng để thấy rằng bản án, quyết định của Tòa án là sản phẩm của quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền thực thi công lý bảo đảm quyền cũng như lợi ích hợp pháp cho đương sự Và trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa
án một khi đã có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc mọi công dân cũng như cơ quan, tổ chức hữu quan phải chấp hành cùng với một thái độ nghiêm chỉnh để những bản án, quyết định đó được thực thi một cách thực sự trên thực tế Tuy nhiên, trong một số trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại không đúng với quy định của pháp luật hoặc bản chất vốn dĩ của sự việc nếu được đem ra thi hành sẽ gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Chính vì thế, để khắc phục cũng như sửa chữa sai lầm, bảo vệ một cách tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì cần lắm một thủ tục đặc biệt để xem xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, khi đó thủ tục đặc biệt giúp xét lại bản án, quyết định bị kháng nghị ra đời như một lẽ tất nhiên
Dựa trên tính chất của các căn cứ xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhà lập pháp Việt Nam đã phân hóa các căn cứ này thành hai loại trên cơ sở thiết lập hai thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật tương ứng đó là thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm
1.1.2.1 Khái niệm giám đốc thẩm
Để bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác xét xử của Tòa án; bảo đảm được việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì đối với bản án, quyết định của Tòa án có sai lầm mặc dù đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn phải bị kháng nghị
để xét lại Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp này được gọi là giám đốc thẩm dân sự
Về mặt lý luận, theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thì giám đốc thẩm là
việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị do phát hiện ra có sự vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý vụ án Bản thân từ giám đốc thẩm là
Trang 18từ ghép trong đó, “giám đốc” là việc kiểm tra, đôn đốc; “thẩm” là xét xử và “giám đốc thẩm” là xử lại để kiểm tra bản án cũ7
Về mặt pháp lý, trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời các văn bản như Pháp lệnh
TTGQCVADS năm 1989, Pháp lệnh TTGQCVAKT năm 1994 hay Pháp lệnh TTGQCTCLĐ năm 1996 không đặt ra quy định định nghĩa về giám đốc thẩm Thế nên, nhận thấy sự thiếu sót trong quy định về giám đốc thẩm ở các văn bản trước đó cho nên tại Điều 282 BLTTDS hiện hành các nhà làm luật đã đưa ra một quy định mang tính chất
định nghĩa về giám đốc thẩm Theo đó,“Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” Với quy định này có thể thấy, “giám đốc thẩm” được xây dựng trên nền tảng với bản chất là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự
tiến hành trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền vì phát hiện có sai lầm của Tòa
án trong việc giải quyết vụ việc dân sự Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm là do Tòa án có thẩm quyền thực hiện và bên cạnh
đó nội dung của nó là việc Tòa án kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
Tuy nhiên, do giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết
Và những sai lầm, thiếu sót của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc tồn tại ở hai dạng cơ bản là sai lầm về các tình tiết, sự kiện của vụ việc hoặc sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và pháp luật tố tụng dân
đủ và không lột tả được hết bản chất của thủ tục giám đốc thẩm Mặt khác, quy định này cũng không thể hiện đầy đủ các căn cứ kháng nghị theo Điều 283 BLTTDS hiện hành
Thế nên, từ những phân tích trên ta có thể đưa ra định nghĩa về “giám đốc thẩm”
một cách khái quát như sau:
“Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện những sai lầm của Tòa án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ án hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết
vụ án”
77
Lê Thu Hà, Một số suy nghĩ về cơ chế xét xử vụ án dân sự, NXB Chính trị quốc gia, năm 2003, trang 67
8Trần Anh Tuấn, Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những vấn đề đặt ra cho việc thi hành, Tạp chí luật
học, Đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự, trang 96 – 97
Trang 191.1.2.2 Khái niệm tái thẩm
Cùng với giám đốc thẩm, tái thẩm cũng không phải là cấp xét xử mà thay vào đó tái thẩm là một thủ tục đặc biệt xét lại bản án, quyết định của Tòa án, có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị do phát hiện có tình tiết mới mà những tình tiết này có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó nhằm bảo đảm việc xử lý vụ án được chính xác cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Về mặt lý luận, theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, tái thẩm là xét lại bản
án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó Bản thân từ tái thẩm là hai
từ ghép bởi “Tái” là làm lại hay còn gọi là mới, “thẩm” là xét xử và “tái thẩm” là xử lại
như một vụ án mới9
Về mặt pháp lý, BLTTDS hiện hành quy định “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương
sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó” 10 Với quy định này, tái thẩm là
một thủ tục xét lại mà trong đó, Tòa án có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị Việc xét lại bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục này là dựa trên cơ sở mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án chứ không phải trên cơ sở phát hiện được sai lầm, vi phạm pháp luật của Tòa án trong việc giải quyết vụ án
Tuy nhiên, một lần nữa quy định mang tính chất định nghĩa trong BLTTDS này
chưa có sự thống nhất với căn cứ kháng nghị tái thẩm:“Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án” 11
Bởi lẽ, ở đây căn cứ kháng nghị tái thẩm sử dụng thuật ngữ “đương sự đã không thể biết được” thay vì “các đương sự không biết được” như ở quy định về tính chất tái thẩm, có
thể thấy ý nghĩa của hai thuật ngữ này rõ ràng là không giống nhau Vậy nên, một cách khái quát ta có thể hiểu:
“Tái thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung
Trang 20của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự đã không thể biết được khi Tòa án đã ra quyết định đó”
1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của giám đốc thẩm, tái thẩm
Thông qua khái niệm về giám đốc thẩm, tái thẩm tính chất của hai thủ tục này phần nào đã được thể hiện Và trên cơ sở đó, người viết xây dựng phần thứ hai của
Chương 1: Nhận thức chung về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam với những nội dung xoay quanh đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của giám
đốc thẩm, tái thẩm Trong đó, vai trò được hiểu là tầm quan trọng của giám đốc thẩm, tái thẩm, khi đó sự tồn tại của hai thủ tục này mang lại hiệu quả như thế nào; ý nghĩa được trình bày trên hai khía cạnh là ý nghĩa về mặt pháp lý và về mặt xã hội Tuy nhiên, đặc điểm của giám đốc thẩm, tái thẩm là nội dung không kém quan trọng và được trình bày trước hết với 3 đặc điểm cơ bản được thể hiện như sau:
1.2.1 Đặc điểm của giám đốc thẩm, tái thẩm
Giám đốc thẩm và tái thẩm là hai thủ tục đặc biệt trong hoạt động tố tụng dân sự, tính chất đặc biệt này được hình thành bởi những đặc trưng riêng và thông qua đó có thể phân biệt được hai thủ tục này với các thủ tục tố tụng khác Theo đó, giám đốc thẩm và tái thẩm có các đặc điểm cơ bản sau:
1.2.1.1 Bản án, quyết định của Tòa án bị kháng n ghị phải là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Trước hết, bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý được Tòa
án có thẩm quyền tuyên xử hoặc quyết định theo một trình tự tố tụng do luật định về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi hoặc quan hệ pháp luật phát sinh từ một vụ án
cụ thể Bên cạnh đó, đối với một bản án, quyết định của Tòa án không phải lúc nào cũng
có hiệu lực pháp luật ngay lập tức, mà tùy vào từng loại bản án, quyết định mà có thời hạn khác nhau theo luật định Chẳng hạn, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương
sự sẽ có hiệu lực pháp luật ngay hay bản án dân sự sơ thẩm nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án sẽ có hiệu lực pháp luật
Với giám đốc thẩm , tái thẩm chỉ đặt ra vấn đề kháng nghị đối với những bản án , quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Nghĩa là, bản án, quyết định bị kháng nghị để được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì cơ bản phải thỏa điều kiện là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đã có thể được thi hành trên thực tế
1.2.1.2 Giám đốc thẩm và tái thẩm là thủ tục “xét lại” chứ không phải “xét xử”
Về mặt lý luận, giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục đặc biệt xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay nói cách khác thì đây là hoạt động xem xét lại chứ không phải là hoạt động xét xử, bởi đơn giản nhà nước ta Hiến pháp quy định chỉ có hai
Trang 21chế độ xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm12 Hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm tập trung vào việc xem xét quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, thay vì tập trung vào những nội dụng chi tiết của vụ tranh chấp Do vậy, khách thể của hoạt động giám đốc thẩm là hành vi của các cơ quan tư pháp, không phải là hành vi của người dân Vậy nên, có thể nói rằng giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân
Đồng thời, xuất phát từ đặc điểm giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại đã dẫn đến thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm cũng tương đối đặc biệt theo đó
họ chỉ có thẩm quyền không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên án hoặc hủy án chứ không có quyền sửa án, tức là ra phán quyết về quyền lợi trực tiếp của đương sự, bởi lẽ hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm được thiết lập để Tòa án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp trong hành động của Tòa án cấp dưới nên hoạt động xét lại này chỉ xem xét khía cạnh áp dụng pháp luật mà không tập trung vào nội dung cụ thể của vụ việc tranh chấp
Do vậy, giám đốc thẩm, tái thẩm không phán về nội dung tranh chấp mà chỉ phán về tính hợp pháp của việc áp dụng pháp luật Hay nói cách khác là giám đốc thẩm, tái thẩm không thực hiện chức năng xét xử mà là xét lại
1.2.1.3 Thủ tục g iám đốc thẩm , tái thẩm được tiến hành không mang tính chất công khai
Có thể thấy, giám đốc thẩm và tái thẩm là thủ tục chỉ được thực hiện khi có kháng nghị của các quan chức đứng đầu cơ quan tư pháp cấp tỉnh và cấp tối cao hay nói cách khác hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện giới hạn trong nội bộ hệ thống tư pháp, không mở rộng ra đối với dân chúng – những người dân không có quyền yêu cầu kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm, bởi một lẽ đơn giản rằng việc kháng cáo của công dân được điều chỉnh bởi chế độ xét xử phúc thẩm13 Đồng thời, về bản chất phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện như một phiên họp chứ không phải phiên tòa xét xử Vậy vấn đề đặt ra nếu hoạt động giám đốc thẩm, tái thẩm không thực hiện công khai thì có vi
phạm nguyên tắc hiến định “Tòa án xét xử công khai” hay không Theo quan điểm của
người viết cũng như phần đông các nhà khoa học luật thì việc giám đốc thẩm, tái thẩm không thực hiện công khai là phù hợp với quy định của Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, bởi vì, theo Hiến pháp chỉ hoạt động xét xử, tức là hoạt động xem xét
và ra phán quyết về quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự, mới phải tiến hành công khai Giám đốc thẩm là hoạt động kiểm tra nội bộ của ngành tư pháp, không phải là hoạt động
12Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo”
13
Nguyễn Thị Phượng, Giám đốc thẩm – “Xét” chứ không “Xử”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử
http://www.nclp.org.vn/thuc tien_phap_luat/giam-111oc-tham-xet-chu-khong-xu [truy cập ngày 6/7/2014]
Trang 22xét xử, cho nên không nhất thiết phải công khai, đối với tái thẩm cũng thế cũng là hoạt động kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Vì vậy, chúng ta có thể cho rằng việc không tổ chức công khai phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là hợp hiến hay nó i cách khác là phiên tòa giám đốc thẩm , tái thẩm không mở công khai như sơ thẩm và phúc thẩm
1.2.2 Vai trò của giám đốc thẩm, tái thẩm
Đối với một bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bị xâm phạm thì các bản án, quyết định đó có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm, khi quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự bị xâm phạm thì thủ tục nào sẽ được thực hiện để giải quyết vấn đề quyền và lợi ích cho đương sự trong khi Tòa án ở nước ta chỉ thực hiện hai
chế độ xét xử đương nhiên là sơ thẩm và phúc thẩm Và sự ra đời cũng như tồn tại của
hai thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giúp trả lời cho vấn đề vừa nêu trên Vậy nên, có thể thấy giám đốc thẩm, tái thẩm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp ở nước ta
Về nguyên tắc, khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì sẽ được mang ra thi hành trên thực tế Tất nhiên, không phải mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là hợp pháp và được phép thi hành ngay mà thay vào đó nếu bản án, quyết định đã có hiệu lực mà có những sai phạm nhất định thì giám đốc thẩm và tái thẩm
là một trong những công cụ hữu hiệu nhất giúp nội bộ ngành tư pháp kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất sai lầm xảy ra trong hoạt động tư pháp
Không những vậy, dưới góc nhìn khoa học luật, thông qua thủ tục giám đốc thẩm giúp Tòa án khắc phục những vi phạm nghiêm trọng của Tòa án cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án do đánh giá không đúng về các tình tiết, các chứng cứ của vụ án; do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật dân sự Với thủ tục tái thẩm giúp Tòa án cấp trên khắc phục sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án do phát hiện được tình tiết mới mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định mà những tình tiết này có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó14
Ngoài ra, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm giữ vai trò không kém phần quan trọng trong việc phát triển án lệ ở Việt Nam, mặc dù án lệ không được thừa nhận một cách chính thức như những nguồn luật khác nhưng nó vẫn được áp dụng trong bối cảnh nước ta hiện nay Một khi các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân
14
Nguyễn Đức Mai, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011,
NXB Chính trị quốc gia, năm 2012, trang 540
Trang 23tối cao đảm bảo được tính mẫu mực theo đúng quy định của pháp luật thì đó sẽ là cơ sở, tiền đề để phát triển án lệ hay nói cách khác đó là cơ sở để các Tòa án khác nghiên cứu, tham khảo và làm theo
1.2.3 Ý nghĩa của giám đốc thẩm và tái thẩm
1.2.3.1 Ý nghĩ a về mặt pháp lý
Các quyết định của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ sở pháp lý để khẳng định tính đúng đắn của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vô hiệu hóa bản án, quyết định hoặc là khôi phục lại trình tự tố tụng giải quyết vụ án
Đối với giám đốc thẩm, có thể nói giám đốc thẩm không chỉ đơn giản là một thủ
tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Mặc dù không trực tiếp khắc phục những sai lầm mà Tòa án mắc phải nhưng xuất phát từ mục đích của giám đốc thẩm nên việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa giúp cho Tòa
án cấp trên thấy được những sai lầm của Tòa án cấp dưới trong việc giải quyết từng vụ án
cụ thể Trên cơ sở đó có hướng sửa chữa những sai lầm của Tòa án cấp dưới, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác xét xử của Tòa án Không những thế, thông qua thủ tục giám đốc thẩm Tòa án cấp trên còn có thể tổng kết, rút kinh nghiệm công tác xét xử, hướng dẫn Tòa án cấp dưới thực hiện việc xét xử đúng pháp luật15 Do vậy, thủ tục giám đốc thẩm còn là phương tiện hướng dẫn hoạt động xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới; bảo đảm việc
áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động xét xử của các Tòa án
Đối với tái thẩm, là một trong hai thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật, thế nên sự tồn tại của những quy định về thủ tục tái thẩm mang ý nghĩa không kém phần quan trọng so với thủ tục giám đốc thẩm Việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm giúp cho Tòa án khắc phục được những thiếu sót trong những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không phụ thuộc vào thời gian của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được thi hành từ bao giờ16 Cũng chính vì thế mà có thể nói rằng tái thẩm dân sự bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa của công tác xét xử Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ
và hợp pháp, từ đó có tác dụng bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án
Trang 241.2.3.2 Ý nghĩ a v ề mặt xã hội
Sự xuất hiện của các quy định về giám đốc thẩm cũng như tái thẩm về bản chất không mang tính tuyên truyền, giáo dục pháp luật thế nhưng nó góp phần đảm bảo công bằng trong xã hội, tạo dựng niềm tin công lý trong nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, từ đó góp phần đảm bảo uy tín của ngành tư pháp Bởi lẽ, pháp luật tố tụng dân
sự nói chung và giám đốc thẩm, tái thẩm nói riêng trao cho người dân quyền đề nghị kháng nghị một khi phát hiện những căn cứ làm cho việc xét xử trước đó là sai lầm dẫn đến quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm
1.3 Giám đốc thẩm, tái thẩm trong quan hệ pháp luật so sánh
Giám đốc thẩm, tái thẩm cũng như phúc thẩm là những thủ tục quan trọng của pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng Ở các thủ tục này có những điểm tương đồng và khác biệt tạo nên đặc trưng riêng cho mỗi thủ tục Vì thế,
trong phần thứ ba của Chương 1 – Giám đốc thẩm, tái thẩm trong quan hệ pháp luật so sánh, người viết thực hiện việc so sánh giữa hai thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm với phúc
thẩm và tiếp đó là giữa nội bộ thủ tục đặc biệt giám đốc thẩm với tái thẩm
1.3.1 Giám đốc thẩm, tái thẩm trong quan hệ pháp luật so sánh với phúc thẩm
Về nguyên tắc, khi các đối tượng được đặt vào trong quan hệ so sánh thì mặc nhiên sự giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng sẽ là nội dung được phân tích và làm rõ Vì thế, khi đặt giám đốc thẩm, tái thẩm vào trong quan hệ pháp luật so sánh với phúc thẩm thì những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng sẽ được thể hiện như sau:
1.3.1.1 Sự giống nhau giữa giám đốc thẩm, tái thẩm với phúc thẩm
Xét trên phương diện giống nhau có thể thấy giám đốc thẩm, tái thẩm cùng với phúc thẩm là những quy định được pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận tại các chương khác nhau, cả ba thủ tục này là ba trong những công cụ hữu hiệu giúp bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thông qua hoạt động xét và xử của Tòa án, đồng thời thông qua đó quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bị xâm phạm cũng được bảo vệ một cách tương đối nhất
Song bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự về sự có mặt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa thì đối với cả phiên tòa giám đốc thẩm , tái thẩm và phúc thẩm thì sự góp mặt của đại diện Viện kiểm sát là bắt buộc
1.3.1.2 Sự khác nhau giữa giám đốc thẩm, tái thẩm với phúc thẩm
Xét trên phương diện khác nhau thì giữa giám đốc thẩm, tái thẩm với phúc thẩm tồn tại không ít sự khác biệt về mặt pháp lý Việc so sánh được thể hiện qua các tiêu chí về tính chất; đối tượng của kháng cáo, kháng nghị; chủ thể yêu cầu; tính công khai và phạm vi
Trang 25Về tính chất: Giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định như là một thủ tục đặc biệt trong pháp luật tố tụng dân sự, theo đó, giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trong khi đó, phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai sau thủ tục xét xử sơ thẩm, là việc mà Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án
thông qua tiêu chí so sánh này có thể thấy rằng giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại nhằm kiểm tra tính hợp pháp của các bản án, quyết định của Tòa án chứ không phải là thủ tục xét xử như phúc thẩm
Về đối tượng bị kháng cáo, kháng nghị: Một cách chắc chắn rằng đối tượng kháng nghị của giám đốc thẩm và tái thẩm là những bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, có nghĩa là những bản án này được tuyên và có thể đem ra thực thi trên thực tế Trong khi đó, đối với thủ tục phúc thẩm đối tượng của kháng cáo, kháng nghị là những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà vẫn chưa có hiệu lực pháp luật Hay nói cách khác, sự khác nhau này xuất phát từ tính có hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án
Về chủ thể yêu cầu: Do không phải là cấp xét xử thứ ba cho nên cơ sở để tiến hành thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoàn toàn khác với thủ tục xét xử phúc thẩm bởi lẽ, đối với giám đốc thẩm, tái thẩm pháp luật chỉ quy định những người có trách nhiệm nhất định mới có quyền kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật, hay nói cách khác giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ được tiến hành trên cơ sở có kháng nghị mà kháng nghị này xuất phát từ chủ thể là người đứng đầu cơ quan xét xử và kiểm sát tỉnh cũng như tối cao, một cách cụ thể chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là Chánh án Tòa án nhân dân các cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp Về phía thủ tục phúc thẩm, nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm đương sự hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của mình tiến hành kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm; hoặc là, khi phát hiện có sai sót trong việc xét xử thì Viện kiểm sát tiến hành kháng nghị phúc thẩm trong một thời gian luật định Tuy nhiên, lưu ý rằng đối với phúc thẩm thì đương sự, tổ chức xã hội đã khởi kiện
vì lợi ích chung không có quyền yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án đó
Về tính công khai của phiên tòa: Về nguyên tắc việc xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm được tiến hành một cách công khai, mọi công dân đều có quyền tham dự, trừ những trường hợp cần giữ bí mật nên phải xét xử kín18 Trái lại, phiên tòa giám đốc thẩm
và tái thẩm do là việc kiểm tra lại tính hợp pháp của bản án, quyết định tòa án hay nói
Trang 26cách khác đó là việc kiểm tra trong nội bộ hệ thống tư pháp nên không cần tiến hành một cách công khai Bên cạnh đó, kết quả của phiên tòa phúc thẩm là cho ra một bản án, quyết định mới trực tiếp giải quyết vụ án, trong khi phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ đưa ra quyết định giám đốc thẩm và quyết định tái thẩm
Về phạm vi: Mặc dù cả ba thủ tục tố tụng này đều giống nhau ở chổ chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định bị kháng nghị (kháng cáo, kháng nghị đối với phúc thẩm) hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, phạm vi giám đốc thẩm và tái thẩm còn được mở rộng ra thêm, theo đó hai thủ tục này còn xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án, trong khi đó phúc thẩm thì không19
1.3.2 Giám đốc thẩm trong quan hệ pháp luật so sánh với tái thẩm
Về bản chất , giám đốc thẩm và tái thẩm đều là thủ tục tố tụng đặc bi ệt trong pháp luật tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng, thế nhưng giữa giám đốc thẩm với tái thẩm vẫn có những điểm tương đồng cũng như khác nhau cơ bản sau:
1.3.2.1 Sự giống nhau giữa thủ tục giám đốc thẩm với tái thẩm
Khi đi phân tích mặt giống nhau giữa hai thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm thì trước hết tính chất sẽ là tiêu chí được tuyệt đại đa số giới khoa học luật quan tâm và mang ra so sánh Khi đó, pháp luật tố tụng dân sự dành ra hai điều luật 282 và 304 BLTTDS hiện hành để nói đến tính chất của hai thủ tục này và một cách rõ ràng nhất ta
có thể thấy thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm đều là thủ tục xét lại các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền
Về phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm: Theo quy định tại Điều 296 và 310 BLTTDS thì hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm “chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị” Ngoài ra, hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm còn có quyền “xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án” Đây cũng là một điểm mới trong BLTTDS hiện hành, bỡi lẽ trước khi BLTTDS ra đời thì việc vận dụng quy định pháp luật về phạm vi giám đốc thẩm và tái thẩm ở các văn
19
Xem thêm: Điều 263 và Điều 296 BLTTDS hiện hành
Trang 27bản pháp luật trước để giải quyết các vụ tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động chưa có sự thống nhất20
Về chủ thể có thẩm quyền kháng nghị: Giám đốc thẩm và tái thẩm được xem như hoạt động kiểm tra nội bộ của ngành tư pháp về tính đúng đắn và hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thế nên, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị trong trường hợp này là những người đứng đầu các cơ quan có thẩm quyền Cụ thể
là, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Tòa án nhân dân tối cao
các chủ thể này đều không có quyền kháng nghị giám đốc thẩm hay tái thẩm đối với quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm: Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận thẩm quyền giám đốc thẩm và tái thẩm khá cụ thể tại Điều 291 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành Theo đó, Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh giám đốc thẩm, tái thẩm lại bản
án cũng như quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa chuyên trách
Về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm: Xuất phát từ thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cho nên thủ tục để tiến hành giám đốc thẩm cũng như tái thẩm không có nhiều sự khác biệt Cụ thể, ở hai thủ tục này người kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị; người kháng nghị có quyền rút một phần hay toàn bộ kháng nghị trước phiên tòa hay tại phiên tòa giám đốc thẩm cũng như tái thẩm; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm có hiệu lực kể
từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm ra quyết định
1.3.2.2 Sự khác nhau giữa thủ tục giám đốc thẩm với tái thẩm
Cũng xuất phát điểm từ tính chất của giám đốc thẩm và tái thẩm khi đi sâu vào phân tích ta có thể thấy giám đốc thẩm được tiến hành trên cơ sở bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì có vi phạm nghiêm trọng trong việc giải quyết Còn đối với tái thẩm là trên cơ sở bản án, quyết định quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị do phát hiện những tình tiết mới, mà những tình tiết đó khi giải quyết vụ án Tòa án hoặc đương sự không thể biết được Bên cạnh đó, về phía tái thẩm việc bản án, quyết định bị kháng nghị không xuất phát từ lỗi chuyên môn của cá nhân mà thay vào đó là do
20
Trần Anh Tuấn, Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những vấn đề đặt ra cho việc thi hành, Tạp chí
Luật học, Đặc san về góp ý sửa đổi BLTTDS
21 Điều 285 và Điều 307 BLTTDS hiện hành
Trang 28tình tiết trong vụ án, ở đây cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã làm hết trách nhiệm để giải quyết vụ án và không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đồng thời các đương sự cũng đã xuất trình đầy đủ chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình
Về căn cứ và thời hạn kháng nghị: Mặc dù đều là thủ tục xét lại tuy nhiên căn cứ
để kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm cũng sẽ khác nhau, cụ thể là căn cứ để kháng nghị tái thẩm sẽ không phải là những sai lầm, vi phạm pháp luật khi xét xử của Tòa án như đối với giám đốc thẩm mà là việc phát hiện mới những tình tiết quan trọng làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là ba năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật trong khi đối với tái thẩm là một năm kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ kháng nghị Sở dĩ, thời hạn kháng nghị của tái thẩm là một năm thay vì ba năm giống như giám đốc thẩm là do khi đã phát hiện được căn cứ để kháng nghị người có thẩm quyền phải sớm kháng nghị để sửa chữa kịp thời những thiếu sót của Tòa án trong bản án, quyết định của đã có hiệu lực pháp luật, khi đó sẽ giúp nêu cao được tinh thần trách nhiệm của những người có thẩm quyền kháng nghị Đồng thời, một lý do đơn giản rằng thời hạn kháng nghị giữa hai thủ tục này khác nhau là do sự khác biệt về căn cứ kháng nghị
Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm: Hội đồng giám đốc thẩm cũng như tái thẩm đều có quyền không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã bị kháng nghị; hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm; hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án Tuy nhiên, sự khác biệt ở đây thể hiện ở chỗ đối với tái thẩm thì Hội đồng tái thẩm không có thẩm quyền giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đúng pháp luật đã bị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị sửa án hay hủy án
Dưới góc nhìn lý luận, một cách khách quan mà nói việc so sánh này mang ý nghĩa thiết thực và không kém sự quan trọng, bỡi lẽ nó góp phần làm rõ những nét tương đồng cũng như khác biệt giữa các thủ tục để từ đó giúp cho việc lựa chọn thủ tục để giải quyết vụ án được thuận tiện và thực hiện một cách nhanh chóng hơn
1.4 Sơ lược về sự hình thành và phát triển những quy định pháp luật về giám đốc thẩm và tái thẩm
Từ sau cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã vẽ nên một trang sử mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Cũng
từ đó một loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã ra đời Một lẽ tất nhiên những quy định
Trang 29về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cũng dần xuất hiện, tuy nhiên sự xuất hiện của hai thủ tục này có phần muộn hơn các thủ tục tố tụng khác
1.4.1 Sự hình thành và phát triển của giám đốc thẩm, tái thẩm trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Những quy định về giám đốc thẩm cũng như tái thẩm trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân là những quy định liên quan đến vấn đề thẩm quyền giải quyết kháng nghị cũng như xét lại bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án các cấp, từ Tòa án nhân dân tối cao cho đến các Tòa án địa phương khác
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 là Luật tổ chức Tòa án nhân dân đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, những quy định về giám đốc thẩm được ghi nhận một cách chính thức và đầu tiên tại văn bản này Theo đó, xét về thẩm quyền của Tòa án Luật tổ chức TAND năm 1960 trao cho Tòa án nhân dân tối cao thẩm quyền xét lại những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị phát hiện
là có sai lầm Các Tòa án cấp dưới chỉ được quyền xét lại đối với những bản án, quyết định của Toà án địa phương và việc xét lại chỉ được thực hiện một khi các Tòa án cấp dưới này được Tòa án nhân dân tối cao phân, giao nhiệm vụ xét lại Một cách cụ thể Điều
12 Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định:
“Những bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có sai lầm thì được xét lại
Đối với bản án và quyết định của các Tòa án nhân dân địa phương đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì Tòa án nhân dân tối cao có quyền xét lại hoặc giao cho Tòa án nhân dân cấp dưới xét lại
Đối với những bản án và quyết định của Tòa án nhân dân tối cao đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có sai lầm thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đưa
ra Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét định
Đối với những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mình hoặc Tòa án cấp dưới nếu phát hiện có sai lầm thì Tòa án nhân dân địa phương
có quyền nêu lên để Tòa án nhân dân tối cao xét định.”
Mặc dù Điều luật này không quy định cụ thể việc xét lại thực hiện theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm, tuy nhiên căn cứ vào tính chất của giám đốc thẩm thì đây là quy định dành cho thủ tục giám đốc thẩm chứ không phải tái thẩm Bởi lẽ, ở văn bản này
cơ bản quy định về tái thẩm vẫn chưa xuất hiện
Đến năm 1981, sau khi bản Hiến pháp năm 1980 ra đời Luật tổ chức TAND năm
1981 cũng theo đó mà ra đời, đây là văn bản không chỉ thay thế mà căn bản nó còn kế thừa những quy định của Luật Tổ chức TAND năm 1960 Đặc biệt đến giai đoạn này lần
Trang 30đầu tiên cụm từ “thủ tục tái thẩm” xuất hiện trong một văn bản luật chính thức Đồng thời, những quy định về giám đốc thẩm và tái thẩm cũng trở nên rõ ràng hơn, một cách cụ
thể nhất Điều 12 Luật tổ chức TAND năm 1981 quy định: “Những bản án và quyết định
đã có hiệu lực pháp luật được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu thấy có vi phạm pháp luật, hoặc được xét lại theo thủ tục tái thẩm, nếu phát hiện những tình tiết mới”
Thông qua quy định này có thể thấy, việc xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm sẽ được thực
hiện nếu như có vi phạm pháp luật chứ không phải là “phát hiện có sai lầm” như ở Luật
tổ chức TAND năm 1960 Việc thay đổi này có chăng sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển của những quy định về giám đốc thẩm cũng như tái thẩm ở các văn bản sau này Ở Luật tổ chức TAND năm 1981 Tòa án nhân dân tối cao vẫn mang thẩm quyền cao nhất trong việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên thẩm quyền xét lại được mở rộng ra đối với các Tòa án cấp dưới Chẳng hạn: Theo quy định tại khoản
4 Điều 33 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 thì Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương được trao cho
thẩm quyền “Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” Thêm vào
đó, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án nhân dân cấp dưới, tạm đình chỉ việc thi hành án nếu thấy cần thiết (theo khoản 4 Điều
35 Luật tổ chức TAND năm 1981) Như vậy, nhìn chung những quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm ngày càng trở nên cụ thể và nguyên tắc hơn Việc mở rộng thẩm quyền xét lại bản án cũng như quyết định đã có hiệu lực pháp luật mang ý nghĩa quan trọng bởi lẽ, trong khi xã hội ngày càng phát triển nhu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện của người dân cũng ngày một nhiều hơn, khi đó việc xét xử gặp sai sót dẫn đến kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là điều không thể tránh khỏi thế nhưng việc thẩm quyền xét lại bản án, quyết định của Tòa án chỉ tập trung vào Tòa án nhân dân tối cao sẽ dẫn đến tình trạng quá tải trong hoạt động giải quyết kháng nghị, cho nên việc trao cho các Tòa án cấp dưới thêm thẩm quyền kháng nghị và giải quyết kháng nghị là kịp thời và cần thiết
Sau đó, Luật tổ chức TAND năm 1992 và năm 2002 cũng lần lượt ra đời thay thế các Luật tổ chức TAND trước đó Ở hai văn bản những quy định về giám đốc thẩm và tái thẩm không có nhiêu đổi khác so với Luật tổ chức TAND năm 1981
1.4.2 Sự hình thành và phát triển của những quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác
Trước hết, xuất phát từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (Pháp lệnh TTGQCVADS) đây là Pháp lệnh đầu tiên được ban hành với mục đích quy định về trình tự, thủ tục để giải quyết các vụ án dân sự nói chung và trình tự, thủ tục giám
Trang 31đốc thẩm, tái thẩm đối với các vụ án dân sự nói riêng Pháp lệnh TTGQCVADS được ban hành vào ngày 29/11/1989 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1990 Ở văn bản này thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm được quy định lần lượt tại hai chương khác nhau đó là Chương XII và Chương XIII Theo đó,
Đối với giám đốc thẩm, Pháp lệnh TTGQCVADS quy định có 4 căn cứ để kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đó là: “Việc điều tra chưa đầy đủ; kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm trong nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” 22
Về người có thẩm quyền kháng nghị bao gồm Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tối cao và cấp tỉnh Ngoài ra, thẩm quyền kháng nghị còn được trao cho Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với những bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới (Theo Điều 72 Pháp lệnh TTGQCVADS) Bên cạnh đó, Pháp lệnh còn quy định về thời hạn kháng nghị, thời hạn xét xử giám đốc thẩm, phạm vi giám đốc thẩm và một số quy định khác Trong đó, việc kháng nghị giám đốc thẩm chỉ được tiến hành trong thời hạn 3 năm,
kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; đặc biệt, đối với những trường hợp kháng nghị theo hướng mà không gây thiệt hại cho bất kỳ đương sự nào thì không bị hạn chế về vấn đề thời gian kháng nghị (Điều 73 Pháp lệnh TTGQCVADS) Về thời hạn xét xử giám đốc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm phải được tiến hành sau sáu tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị Đồng thời, việc giải quyết kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cũng không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị do
khoản 1 Điều 76 Pháp lệnh TTGQCVADS quy định “Hội đồng giám đốc thẩm có thể xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị” Có thể
thấy, đây là những quy định tương đối cụ thể, rõ ràng và không trái với quy định của Luật
tổ chức Tòa án lúc bấy giờ về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự
Đối với tái thẩm, Điều 78 Pháp lệnh TTGQCVADS quy định 4 căn cứ để bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Theo
đó căn bản 4 căn cứ đó là: “Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương
sự không thể biết được; đã xác định là lời khai của người làm chứng, kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc đã có sự giả mạo bằng chứng; thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ
án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật; bản án hình sự, dân sự, quyết định của cơ quan,
tổ chức mà Tòa án đã dựa vào để giải quyết vụ án đã bị hủy”
22
Điều 71 Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989
Trang 32Với những căn cứ này, một khi bản án cũng như quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có một trong những căn cứ kháng nghị trên thì có thể sẽ bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Về thời hạn kháng nghị tái thẩm, theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Pháp lệnh TTGQCVADS thì thời hạn kháng nghị tái thẩm là một năm kể từ ngày phát hiện được những căn cứ để kháng nghị tại Điều 78 của Pháp lệnh này Theo đó, khi hết thời hạn kháng nghị thì mọi kháng nghị điều trở nên vô căn cứ, tuy nhiên, trong trường hợp kháng nghị theo hướng không gây bất lợi cho bất kỳ đương sự nào thì thời hạn kháng nghị sẽ không bị giới hạn Về người có quyền kháng nghị, khác với thủ tục giám đốc thẩm, quyền kháng nghị tái thẩm chỉ được Pháp lệnh TTGQCVADS trao cho Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tối cao và cấp tỉnh (Theo Điều
79 Pháp lệnh TTGQCVADS) chứ không bao gồm thêm Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao hay Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Bên cạnh đó, những quy định về thẩm quyền tái thẩm, thời hạn xét xử, phạm vi tái thẩm được Pháp lệnh TTGQCVADS ghi nhận tương tự như thủ tục giám đốc thẩm
Sau sự ra đời của Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989 đến năm 1994 Pháp lệnh TTGQCVAKT được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/3/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/7/1994 Đây là văn bản ra đời nhằm giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế, thế nhưng cũng giống với Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989, Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1994 cũng dành ra hai chương để quy định về thủ tục giám đốc thẩm cũng như tái thẩm, cụ thể là tại Chương XI và Chương XII Ở văn bản này:
Đối với giám đốc thẩm, quy định về căn cứ kháng nghị có sự đổi khác Theo đó, Điều 75 của Pháp lệnh chỉ quy định có 3 căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thay vì 4 căn cứ đối với Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989, khi đó căn cứ “Việc điều tra không đầy đủ” không xuất hiện trong Pháp lệnh này Cụ thể, Điều 75 Pháp lệnh
TTGQCVAKT quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có một trong những căn cứ sau: có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.”
Sở dĩ quy định như vậy là do, về bản chất suy cho cùng việc điều tra không đầy đủ cũng
là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Vậy nên, việc không quy định căn cứ thứ tư này của Pháp lệnh TTGQCVAKT là tương đối hợp lý, cũng thông qua quy định trên có thể thấy rằng đây là một trong những điểm tiến
bộ, điểm sáng trong Pháp lệnh TTGQCVAKT năm 1994 Tuy nhiên, cũng chính vì vậy
mà tạo nên sự không đồng bộ giữa hai văn bản có giá trị pháp lý ngang nhau này
Về người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, quy định của Pháp lệnh TTGQCVAKT năm 1994 không có gì khác nhiều so với Pháp lệnh TTGQCVADS năm
Trang 331989, tuy nhiên bên cạnh quyền tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật người đã kháng nghị giám đốc thẩm vụ án kinh tế còn có quyền hoãn hoặc là rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa (bao gồm cả những người có
giám đốc thẩm nói chung và chủ thể kháng nghị nói riêng được quy định ngày một cụ thể hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật được tiến hành một cách thuận lợi hơn ở bối cảnh lúc bấy giờ Về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, khoản 1 Điều 77 ghi nhận thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 9 tháng kể từ ngày bản án, quyết định Tòa án
có hiệu lực pháp luật Khoảng thời gian này ngắn hơn so với thời gian 03 năm của Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989 Một cách đơn giản, ta có thể lý giải cho trường hợp này rằng, xuất phát từ bản chất vụ việc phát sinh thêm vào đó là đặc tính của từng vụ án cho nên các nhà làm luật giới hạn thời gian kháng nghị giám đốc thẩm là 9 tháng đối với các
vụ án kinh tế là nhằm vừa tạo động lực cũng như áp lực để những người có thẩm quyền nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình hơn trong hoạt động giám đốc thẩm nói riêng và hoạt động tố tụng dân sự nói chung Ngoài ra, các quy định khác về giám đốc thẩm trong Pháp lệnh này cũng được quy định một cách tương tự như ở Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989
Đối với tái thẩm, có thể thấy những quy định về tái thẩm được Pháp lệnh TTGQCVAKT năm 1994 quy định không khác nhiều so với văn bản ra đời trước đó là Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989 Sự khác biệt đến từ căn cứ kháng nghị tái thẩm, theo đó, khoản 2 Điều 82 Pháp lệnh TTGQCVAKT năm 1994 quy định căn cứ kháng
nghị tái thẩm thứ hai là “Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng” thay vì “Đã xác định được là lời khai của người làm chứng, kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc đã có sự giả mạo bằng chứng” như ở khoản 2
Điều 78 của Pháp lệnh TTGQCVADS Như vậy có thể thấy, ở Pháp lệnh TTGQCVAKT
đã bỏ đi phần căn cứ là lời khai của người làm chứng không đúng sự thật hoặc giả mạo bằng chứng Có thể lý giải cho trường hợp này rằng xuất phát từ bản chất là những vụ án kinh tế cho nên không phải lúc nào cũng có sự góp mặt, tham gia của người làm chứng thế nên việc không đưa chi tiết lời khai của người làm chứng vào căn cứ kháng nghị là hợp lý
Đến năm 1996 Pháp lệnh TTGQCTCLĐ cũng ra đời, cùng với hai Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989 và Pháp lệnh TTGQCVAKT năm 1994 giải quyết các vấn đề phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau như dân sự, kinh tế hay lao động Ở văn bản này, những quy định về giám đốc thẩm và tái thẩm có hai vấn đề lớn cần mổ xẻ đó là: giống
23
Khoản 2, 3 Điều 76 Pháp lệnh TTGQCVAKT năm 1994
Trang 34với Pháp lệnh TTGQCVAKT về căn cứ kháng nghị vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm chỉ được đặt ra khi có một trong 3 căn cứ quy định tại Điều 75 Pháp lệnh TTGQCVAKT Có nghĩa là “việc điều tra không đầy đủ” cũng không phải là căn cứ thứ tư để kháng nghị Còn về phần căn cứ kháng nghị tái thẩm, những căn cứ ở văn bản này nếu không tính đến câu chữ của quy định thì căn bản căn cứ kháng nghị là giống với Pháp lệnh TTGQCVADS năm 1989 Nghĩa là, lời khai của người làm chứng không rõ ràng cũng là căn cứ để kháng nghị tái thẩm và điều này khác với Pháp lệnh TTGQCVAKT Qua đó có thể thấy sự không thống nhất trong các quy định tại 3 Pháp lệnh lúc bấy giờ
Về thời hạn kháng nghị thì thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là sáu tháng kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; nếu việc kháng nghị có lợi cho người lao động thì thời hạn đó là một năm (Khoản 1 Điều 75 Pháp lệnh TTGQCTCLĐ năm 1996) Ngoài ra, trước khi 3 Pháp lệnh trên ra đời giám đốc thẩm và tái thẩm còn được quy định tại các Thông tư, chẳng hạn như: Thông tư số 01/TTLN ngày 01/02/1982 hướng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm hình sự, giám đốc thẩm dân sự ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Thông tư số 83/TATC ngày 02/8/1982 hướng dẫn thủ tục giám đốc thẩm ở Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư 02/TTLN hướng dẫn thủ tục tái thẩm hình sự, tái thẩm dân sự ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Nhìn chung, các Pháp lệnh trên là những cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự, vụ án kinh tế hay các tranh chấp lao động nói chung và thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nói riêng Những quy định về giám đốc thẩm, tái thẩm được thể hiện rõ nét, tuy nhiên, các Pháp lệnh này mới chỉ dừng lại ở việc quy định những nguyên tắc, thủ tục cơ bản mà còn thiếu nhiều những quy định cụ thể phát sinh trong quá trình giải quyết, nhiều quy định không đồng bộ và thống nhất với các văn bản pháp luật hiện hành
Chính vì sự không đồng bộ, thống nhất trong những quy định tại Pháp lệnh TTGQCVADS, Pháp lệnh TTGQCVAKT và Pháp lệnh TTGQCTCLĐ thêm vào đó với chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế trong những quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới đã dẫn đến một vấn đề cấp bách đó
là phải hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp Trước bối cảnh đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời như một tất yếu khách quan, là liều thuốc kích thích sự phát triển pháp luật quốc gia
Trên cơ sở kế thừa và phát triển ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Cộng hoà Pháp, Mỹ,
Úc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore… năm
2004, nhà lập pháp Việt Nam đã xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự chung thống nhất Khi
đó các vấn đề tố tụng về dân sự, kinh tế hay lao động đều được giải quyết thông qua văn
Trang 35bản là Bộ luật tố tụng dân sự Về căn cứ kháng nghị, Bộ luật tố tụng dân sự đưa ra 3 căn
cứ chung về kháng nghị giám đốc thẩm và 4 căn cứ đối với tái thẩm theo quy định tại các Điều 283 và 305 BLTTDS hiện hành Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định cụ thể và rõ ràng hơn Theo đó, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 03 năm
kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên đối với một số trường hợp mặc dù đã hết thời hạn kháng nghị nhưng nếu có một trong căn cứ tại khoản 2 Điều 288 BLTTDS hiện hành thì được kéo dài thêm 02 năm Trong khi đó, thời hạn kháng nghị của tái thẩm là 01 năm kể từ ngày phát hiện căn cứ để kháng nghị Như vậy, ở BLTTDS thời hạn kháng nghị bị giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định chứ không việc không giới hạn về thời gian đối với việc kháng nghị theo hướng không gây bất lợi cho bất kỳ đương sự nào trong vụ án ở 3 Pháp lệnh trước đó Việc quy định này nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo đảm tính hợp pháp cho bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, nội dung BLTTDS còn xuất hiện thêm quy định mới để làm rõ hơn về thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm chẳng hạn như: quy định về phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm tại Điều 284 BLTTDS năm 2004 hay đơn
đề nghị xét lại bản án, quyết định Tòa án đã có hiệu lực pháp luật tại Điều 284a v.v…
Tiếp đó, đến năm 2010 BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung lần đầu tiên Theo đó, việc sửa đổi, bổ sung những quy định về giám đốc thẩm cũng như tái thẩm chỉ được thực hiện đối với một số quy định tại Điều 284, 288, 298 và Điều 299 Trong đó,
Điều 284 BLTTDS năm 2004 quy định: “Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, Tòa án, Viện kiểm sát có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo bằng văn bản đến những người có thẩm quyền kháng nghị”, không quy định thời hạn gửi thông báo đến người có thẩm
quyền kháng nghị trong thời hạn bao lâu Nhận thấy sự thiếu sót hiện nay Điều 284 đã
được sửa đổi, bổ sung cụ thể và chi tiết hơn, theo đó, “đối với đương sự nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Thời hạn đề nghị giám đốc thẩm của đương sự là một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật”, đồng thời “đối với Tòa án, Viện kiểm sát hoặc các nhân, cơ quan, tổ chức khác, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị” Việc quy định đương sự gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm trong
thời hạn một năm là nhằm để nâng cao trách nhiệm và quyền định đoạt của đương sự
Trang 36trong việc đề nghị giám đốc thẩm24 Ngoài ra, đối với các sự sửa đổi, bổ sung còn lại trong BLTTDS hiện hành đa số đều mang tính chất làm rõ hơn quy định trước đó
Như vậy, tính đến thời điểm hiện nay có thể thấy rằng những quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm phát triển từng ngày theo sự phát triển của dòng chảy lịch sử Từ những quy định còn mang tính nguyên tắc, phân bố tản mạn, chồng chéo giờ đây các quy định đó đã được tập hợp và pháp điển hóa một cách cụ thể, chi tiết cũng như rõ ràng hơn, khi đó việc áp dụng pháp luật vào trong việc giải quyết các vụ việc dân sự trở nên dễ
dàng và thống nhất có hiệu quả hơn
Tóm lại, thông qua những nội dung đã được phân tích ở trên có thể thấy những nhận thức chung về thủ tục giám đốc thẩm , tái thẩm được xem như cơ sở hạ tầ ng cho việc đi sâu vào phân tích hai thủ tục này ở Chương 2 của đề tài nghiên cứu Từ khái niệm giám đốc thẩm , tái thẩm cho đến đặc điểm , vai trò, ý nghĩ a , lược sử và cả việc so sánh giữa giám đốc thẩm, tái thẩm, phúc thẩm với nhau cơ bản đã được làm rõ Trong đó, việc phân tích khái niệm của giám đốc thẩm , tái thẩm mang ý nghĩ a giúp chúng ta có thể hiểu và nắm rõ thế nào là giám đốc thẩm và thế nào là tái thẩm để từ đó tạo đ iều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu các nội dung khác của thủ tục Có thể nói, mỗi đối tượng cụ thể sẽ mang những đặc điểm khác nhau và giám đốc thẩm , tái thẩm cũng thế các đặc điểm của hai thủ tục này đã được tr ình bày khá cụ thể với ba đặc điểm chung và cơ bản nhất Không dừng lại ở đó , tầm quan trọng và ý nghĩa tồn tại của thủ tục giám đốc thẩm , tái thẩm cũng được làm rõ thông qua hai tiểu mục vai trò và ý nghĩa của giá m đốc thẩm, tái thẩm Đặc biệt bằng phương pháp so sánh , đối chiếu sự giống và khác nhau giữa ba thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và phúc thẩm cũng được làm rõ và trình bày một cách cụ thể nhất trong mối quan hệ pháp luật so sánh Và, sau cùng đó là phần trình bày sơ lược về sự hình thành và phát triển của quy định giám đốc thẩm , tái thẩm Nhìn chung, hai thủ tục xét lại bản án , quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là hai thủ tục không thể tách rời và tồn tại ngoài hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
24
Tòa án nhân dân tối cao, Tài liệu tập huấn sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự, NXB Tòa án nhân
dân tối cao, năm 2011, tr36-37
Trang 37CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Pháp luật tố tụng dân sự thời gian qua đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng cũng như bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong giải quyết vụ việc dân sự và để có thể bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp đó cũng như đảm bảo việc xét xử của Tòa án được đúng đắn, pháp luật tố tụng dân sự đã xây dựng được một cơ chế tố tụng tương đối thích hợp Bên cạnh sự tồn tại của những quy định về thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm hai thủ tục tố tụng giám đốc thẩm và tái thẩm cũng được pháp luật tố tụng quy định một cách khá chặt chẽ chính vì thế thông qua đó mà mục đích của tố tụng dân sự được đảm bảo thực hiện Không riêng gì sơ thẩm và phúc thẩm, Bộ luật tố tụng dân sự cũng dành ra hai chương đó là Chương XVIII và Chương XIX với khoảng 31 Điều luật để quy định về thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm Khi đó, việc tìm hiểu và làm rõ những quy định về hai thủ tục đặc biệt này là thiết thực và không kém phần quan trọng Trong Chương 2 của Luận văn này người viết đi sâu vào phân tích 3 nội dung chính sau: quy định của pháp luật về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
2.1 Những quy định về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Đối với một bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để được xem xét lại hay nói cách khác là để được kiểm tra lại tính đúng đắn và hợp pháp theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc là tái thẩm thì trước hết bản án, quyết định đó phải bị kháng nghị bởi người có thẩm quyền Kháng nghị là hoạt động diễn ra trước khi mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là điều kiện cần và đủ để phiên tòa được tiến hành trên cơ sở tồn tại của quyết định kháng nghị Do đó, việc phân tích những quy định của pháp luật tố tụng dân
sự về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là tiền đề cho việc tìm hiểu thủ tục tại phiên tòa Với người viết khi phân tích quy định về kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm người viết sẽ đi phân tích từ những quy định mang tính chất chung nhất cho đến riêng biệt nhất
về giám đốc thẩm và tái thẩm Cụ thể, trước hết là việc làm rõ ai là người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thông qua quy định về chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Tiếp đó là đối tượng bị kháng nghị, căn cứ kháng nghị, việc phát hiện bản án, quyết định cần được xét lại, thủ tục nhận và xem xét đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và sau cùng là ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
Trang 38Như vậy, chủ thể nào lại mang quyền hạn kháng nghị như vậy và với quyền đó họ
có những nhiệm vụ cũng như quyền hạn trong việc thực hiện kháng nghị là như thế nào?
Và những phân tích sau đây sẽ làm rõ hai vấn đề cơ bản vừa kể trên
Trước hết, Bộ luật tố tụng dân sự ra đời mang ý nghĩa vô cùng quan trọng Là công cụ hữu hiệu giúp người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi quyền
và lợi ích đó bị xâm phạm Khác với sơ thẩm hay phúc thẩm, theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự hiện hành thì đương sự, các tổ chức xã hội đã khởi kiện vì lợi ích chung không được quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm một cách trực tiếp
mà thay vào đó nếu phát hiện được căn cứ kháng nghị các chủ thể này phải thực hiện việc kháng nghị thông qua những người có thẩm quyền để những người này tiến hành xem xét
và đưa ra quyết định kháng nghị Ngoài ra, trong trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát khác phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với giám đốc thẩm hay phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa
án, Viện kiểm sát này cũng không được quyền kháng nghị mà phải thông báo bằng văn bản cho những người có thẩm quyền để những người này xem xét kháng nghị bản án, quyết định đó trong thời gian luật định25
Giữ vai trò quan trọng trong việc kháng nghị và được pháp luật tố tụng dân sự quy định tại Điều 285 và 307 của BLTTDS hiện hành, những chủ thể có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bao gồm:
Thứ nhất, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Đây là một trong những chủ thể đứng đầu ngành Tòa án cũng như Kiểm sát,
bên cạnh những thẩm quyền về chuyên môn họ còn được pháp luật trao cho thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Theo quy định tại khoản 1 Điều 285 cũng như khoản 1 Điều 307 Bộ luật tố tụng dân sự hiện
25 Xem thêm: Điều 284 và 306 BLTTDS hiện hành
Trang 39hành thì Chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp Tòa án nhân dân các cấp ở đây được hiểu là bao gồm: các Tòa phúc thẩm, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động của Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tòa án nhân dân cấp huyện Mặc dù vậy, đối với quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì chủ thể này không có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bởi lẽ trường hợp này đã có thủ tục tố tụng khác để điều chỉnh26
Thứ hai, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh Theo quy định tại khoản 2 Điều 285 và Điều 307 thì hai chủ thể này có
quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện Đặc biệt, với thẩm quyền của mình các chủ thể có quyền kháng nghị này không chỉ thực hiện việc kháng nghị mà còn có trách nhiệm xem xét những đề nghị xét lại bản án cũng như quyết định đã có hiệu lực pháp luật được gửi đến từ các chủ thể khác theo quy định tại Điều 284 cũng như 306 của BLTTDS hiện hành Chẳng hạn: Việc TAND quận Ninh Kiều (TP Cần Thơ) xét xử một vụ án dân sự và ra bản án sơ thẩm Sau đó, do không có
ai hay Viện kiểm sát nào kháng cáo hay kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm cho nên theo quy định của pháp luật sau 15 ngày bản án sơ thẩm này trở thành một bản án sơ thẩm đã
có hiệu lực pháp luật Và sau đó bên phía nguyên đơn cho rằng bản án sơ thẩm xử sai (hay nói cách khác là vi phạm một trong những căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm) nên làm đơn yêu cầu xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Trong trường hợp này, Chánh
án TAND Thành phố Cần Thơ cũng như Chánh án TAND tối cao đều có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với trường hợp trên
Tuy nhiên hiện nay mà cụ thể là tại Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Luật tổ chức TAND năm 2002 có hai luồng ý kiến bàn về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm , tái thẩm của Chánh án TAND cấp tỉnh Theo đó:
Ý kiến thứ nhất, đây là ý kiến đề nghị theo hướng không quy định thẩm quyền
kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Chánh án TAND cấp tỉnh vì TAND cấp tỉnh không còn Ủy ban thẩm phán; không thực hiện chức năng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
26
Xem thêm:
Khoản 1 Điều 285 BLTTDS hiện hành quy đinh: “Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”
Khoản 1 Điều 307 BLTTDS hiện hành quy định: “Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”
Trang 40mà chỉ thực hiện việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm các loại vụ việc theo quy định của pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ xét xử đối với các Tòa án cấp dưới
Ý kiến thứ hai, TAND cấp tỉnh vẫn phải báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh nên TAND cấp tỉnh vẫn thực hiện một số chức năng giám đốc, kiểm tra đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới Theo đó, cần quy định theo hướng khi phát hiện có sai sót, Chánh án TAND cấp tỉnh có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới nhưng không thực hiện chức năng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Các bản án, quyết định bị Chánh án TAND cấp tỉnh kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ do các
Trước những ý kiến như vậy, Dự thảo sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân dân chỉ quy định Chánh án TAND cấp tỉnh có quyền kiến nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thay vì kháng nghị trực tiếp như quy định hiện tại Đồng thời , Dự thảo cũng xuất hiện quy định Chánh án TAND cấp cao được quyền kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án , quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa sơ thẩm khu vực thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ tại Điểm
c khoản 2 Điều 34 Dự thảo sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Với người viết, qua quá trình tìm hiểu cũng đồng tình với quan điểm thứ nhất nghĩa là chỉ quy định Chánh án TAND tối cao thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bởi các lý do:
Thứ nhất, bản chất của việc xem xét kháng nghị để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị là hoạt động kiểm tra nội bộ của hệ thống ngành tư pháp khi
đó, việc trao cho người đứng đầu ngành Tòa án cũng như kiểm sát để tiến hành kháng nghị là hợp lý, tạo điều kiện để Chánh án quản lý được công tác xét xử của Tòa án cấp
dưới được thuận lợi hơn Thứ hai, việc chỉ trao cho Chánh án TAND tối cao giúp hạn chế
được sự nhọc nhằn trong việc phân chia nhiệm vụ đâu là việc kháng nghị của Chánh án TAND cấp tối cao, đâu là của Chánh án TAND cấp tỉnh bởi trên thực tế áp dụng quy định pháp luật đang tồn tại khó khăn trong việc xác định chủ thể có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Như vậy, một cách tổng thể ta có thể thấy rằng chỉ có Chánh án TAND cấp trên, Viện trưởng VKSND cấp trên, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao mới có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cũng như tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Đồng thời, thông qua các quy định của pháp luật mà
cụ thể là quy định tại Điều 285 cũng như Điều 307 của BLTTDS hiện hành đã làm nổi bật lên việc phân cấp thẩm quyền kháng nghị Tuy nhiên, việc phân cấp thẩm quyền kháng nghị này chỉ mang nghĩa tương đối bởi lẽ, trên thực tế Chánh án TAND tối cao,
27
Dự thảo Tờ trình về dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), Tòa án nhân dân tối cao, trang 15