1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BAI GING TRIT HC

127 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 207,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bách thư khoa triết học mới của Việnhàn lâm khoa học Nga 2001 có viết “ Triết học là hình thức đặc biệt của nhận thức và ý thức xã hội về thế giới, được thể hiện thành hệ thống các tri t

Trang 1

BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC

TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

I TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1 Khái lược về triết học

a Nguồn gốc của triết học

Nguồn gốc nhận thức.Triết học chỉ ra đời khi tư duy của con người đã phát triển có

thể khái quát những sự việc, sự vật đơn lẻ thành những cái chung, có thể đưa rađược khái niệm phạm trù của các sự vật hiện tượng trong tự nhiện, xã hội và tư duycủa con người

Nguồn gốc xã hội Triết học xuất hiện khi xã hội đã có sự phân công lao động, đã

có sự phận công thành lao động trí óc và chân tay, có những người có khả năng vàđiều kiện nghiên cứu khái quát những vấn đề trong tự nhiên, xã hội thành nhữngkhái niệm, phạm trù, các học thuyết và xuất hiện giai cấp, xuất hiện nhà nước, cáclực lượng xã hội cần định hướng hoạt động của mình trong cuộc đấu tranh xã hội

b.Khái niệm triết học

Ở Trung Quốc, chữ triết có từ sớm, triết học với nghĩa là truy tìm bản chất củađối tượng nhận thức Đó là con người, xã hội, vũ trụ và tư tưởng

Ở Ấn Độ thuật ngữ Đarsra với ý nghĩa chiêm ngưỡng các sự vật bằng lý trí, dẫndắt con người tới đến lẽ phải

Ở phương Tây triết học được hiểu với nghĩa yêu thích sự thông thái Thuật ngữ Philosophia mang ý nghĩa giải thích vũ trụ,định hướng nhận thức, khát vọng tìmkiếm chân lý của con người

Ngày nay triết học được hiểu là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhấtcủa tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Bách thư khoa triết học mới của Việnhàn lâm khoa học Nga 2001 có viết “ Triết học là hình thức đặc biệt của nhận thức

và ý thức xã hội về thế giới, được thể hiện thành hệ thống các tri thức về nhữngnguyên tắc cơ bản và nền tảng của tồn tại người, về những đặc trưng bản chất nhấtcủa mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với đời sống tinh thần”

Trang 2

Tóm lại: Có nhiều định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều thể hiện những

nội dung cơ bản sau:

- Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ảnh tồn tại xã hội, được kháiquát từ tồn tại xã hội

- Khách thể khám phá của triết học là thế giới ( bao gồm thế giới bên ngoài vàbên trong của con người)

- Triết học giải thích tất cả các sự vật, hiện tượng, quá trình và những quan hệcủa thế giới với mục đích tìm ra những quy luật chung nhất, phổ biến nhất,chi phối, quy định, quyết định sự vận động của thế giới, con người và tư duycủa con người

- Với tính cách là loại hình nhận thức đặc thù, độc lập với khoa học , khác biệtvới tôn giáo, tri thức triết học mang tính hệ thống, khái quát, trừu tượng vềthế giới, bao gồm những nguyên tắc cơ bản, những đặc trưng bản chất,những quản điểm nền tảng về tồn tại

- Triết học là hạt nhân cơ bản của thế giới quan

Với sự ra đời của triết học Mác- Lênin, triết học được khẳng định là hệ thống lýluận chung nhất về thế giới,vị trí của con người trong thế giới đó, là khoa học vềnhững quy luật vận động và phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duycon người

Quan hệ giữa triết học và các khoa học khác: Triết học được khái quát từ nhữngkhoa học khác, trên cơ sở tổng kết lịch sử Tri thức triết học mang tính khái quátcao dựa trên sự trừu tượng, khái quát về thế giới về bản chất con người Phươngpháp nghiên cứu triết học của triết học MLN, nghiên cứu thế giới như một chỉnhthể thống nhất trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Triết học là sự diễn tảthế giới quan bằng lý luận

Không phải mọi triết học đều là khoa học, song các học thuyết triết học đều cóđóng góp ít nhiều cho sự hình thành tri thức triết học trong lịch sử

c.Vấn đề đối tượng của triết học trong lịch sử

Ngay từ khi ra đời triết học được xem là hình thức cao nhất của tri thức bao gồmtri thứ của nhiều ngành khoa học, nhiều lĩnh vực Từ thế kỷ thứ XV-XVII mới dầntách ra thành các ngành khoa học riêng

Trang 3

Ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học thường cũng là các nhà khoa học tựnhiên như: Thalet, Aristot v.v , triết học tự nhiên, do vậy sau này Cantơ cho rằng,triết học là khoa học của các khoa học,

Thời kỳ trung cổ, tôn giáo giữ vai trò thống trị trong xã hội, triết học đi vào giảithích những tin điều trong tôn giáo, phục vụ cho tôn giáo Do vậy thời kỳ này triếthọc tự nhiên bị thay bằng triết học kinh viện Đối tượng triết học kinh viện tậptrung vào vào các vấn đề niềm tin tôn giáo, thiên đường địa ngục, những nội dungmang tính tư biện

Từ thế kỷ XV cùng với sự hình thành, phát triển của CNTB, các ngành khoa học

tự nhiên phát triển, đặc biệt là cơ học, nhằm phục vụ cho sự hình thành và pháttriển phương thức sản xuất TBCN Thời kỳ này đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệtgiữa CNDV và CNDT, tôn giáo Triết học thời kỳ này đã tạo điều kiện cho sự rađời của các khoa học tự nhiên Những thành tựu trong khoa học tự nhiên, cùng vớinhững sự phát triển kinh tế- xã hội của CNTB đã tạo điều kiện cho sự ra đời chủnghĩa Mác, phá bỏ quan điểm triết học là khoa học của các khoa học Triết họcMác xác định đối tượng nghiên cứu triết học là giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại

và tư duy, giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để, nghiên cứunhững quy luật chung nhất trong tự nhiên, xã hội và tư duy

d Triết học – hạt nhân của thế giới quan

+ Thế giới quan

Khái niệm thế giới quan ngắn gọn nhất là quan niệm của con người về thế giới.Đầy đủ là khái niệm triết học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềmtin, lý tưởng xác định về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó Thế giớiquan quy định nguyên tắc, thái độ, giá trị trong định hướng trong hoạt động nhậnthức và hoạt động thực tiễn của con người

Những thành phần chủ yếu trong thế giới quan:

Tri thức là cơ sở trực tiếp hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ trở thànhthế giới quan khi được kiểm nghiệm trong thực tiễn và trở thành niềm tin của conngười Lý tưởng là trình độ cao nhất của thế giới quan Với tư cách là hệ quanđiểm chỉ dẫn tư duy và hành động, thế giới quan là phương thức để con người

Trang 4

chiếm lĩnh hiện thực Thiếu thế giới quan con người sẽ không có phương hướnghành động

Về phương diện các lĩnh vực có thể chia thành: thế giới quan tôn giáo, thế giớiquan khoa học, thế giới quan triết học

Về phạm vi có thế giới quan dân tộc, giai cấp, nhóm người, cá nhân Việc phânchia thế giới quan dựa trên lợi ích, mức độ

Về thời gian có thể phân chia theo các thời đại khác nhau, dựa trên trình độ pháttriển của tư duy, của trình độ phát triển của xã hội

+ Hạt nhân lý luận của thế giới quan

*Triết học là hạt nhân của thế giới quan bởi:

-Bản thân triết học là thế giới quan- thế giới quan triết học

- Trong các loại thế giới quan khác như thế giới quan các khoa học cụ thể, thế giớiquan dân tộc, giai câp triết học bao giờ cũng là thành phần quan trọng nhất đóngvai trò cốt lõi

-Các loại thế giới quan tôn giáo, thế giới quan kinh nghiệm, thông thường bao giờthế giới quan cũng ảnh hưởng

- Thế giới quan triết học như thế nào sẽ quy định các loại thế giới quan khác nhưthế

* Thế giới quan duy vật biện chứng được coi là đỉnh cao của thế giới quan triếthọc, vì thế giới quan này đòi hỏi nghiên cứu sự vật hiện tượng trong quan hệ phổbiến, trong sự phát triển, với quan điểm toàn diện, lịch sử- cụ thể

* Thế giới quan có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người và xã hộiloài người bởi:

- Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm cách giải quyêt trước hết là vấn đề thếgiới quan

- Thế giới quan đúng đắn là tiền đề cho tư duy đúng đắn, hợp lý; cho nhân sinhquan tích cực trong khám phá và chinh phục thế giới

Trang 5

- Trình độ phát triển thế giới quan đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân, mỗicộng đồng.

Thế giới quan tôn giáo cũng là thế giới quan chung nhất, có ý nghĩa phổ biếntrong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, nhưng do bản chất của thếgiới quan này là tin vào các tín điều, coi tín ngưỡng cao hơn lý trí, phủ nhận tínhkhách quan và tính khoa học, do vậy không được ứng dụng trong khoa học vàthường dẫn người ta đến những sai lầm, tiêu cực trong hoạt động thực tiễn

2.Vấn đề cơ bản của triết học

a Nội dung vấn đề cơ bản của triết học

Ph Ăngghen khẳng định: “ Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt làcủa triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”

Vấn đề cơ bản của mọi triết học có 2 mặt, trả lời 2 câu hỏi lớn:

Mặt thứ nhất, quan hệ giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau và

cái nào quyết định cái nào? Có nghĩa mọi sự vật hiện tượng thì nguyên nhân vậtchất hay nguyên nhân tinh thần giữ vai trò quyết định

Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không Cách trả

lời hai câu hỏi trên quyết định lập trường của các trường phái triết học

b Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề triết học cho chúng ta phân biệt thành 2trường phái triết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

- Những người cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau được gọi là những nhàduy vật

Chủ nghĩa duy vật cho đến nay có :

+ Chủ nghĩa duy vật tho sơ chất phác thời kỳ cổ đại Chủ nghĩa duy vật này thừanhận tính thứ nhất của vật chất, nhưng lại đồng nhất vật chất với những dạng cụ thểcủa nó Ví dụ cho vật chất là nước ( Talet), lửa ( Hêraclit), không khí ( Anaximen).Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này cơ bản là đúng đắn vì nó lấy bản thân thế giới đểgiải thích thế giói, không viện tới bât cứ một vị thần thánh nào

Trang 6

+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XV-XVIII Điều kiện ra đời, các ngành khohọc tự nhiên có sự phát triển, đặc biệt là cơ học Các nhà kho học có xu hướng côlập, tách biệt các sự vật để nghiên cứu Phương pháp tư duy trong khoa học tựnhiên đã ảnh hưởng đến tư duy triết học, họ cũng cô lập, tách biệt các sự vật hiệntượng để nghiên cứu.

Đóng góp của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã đấu tranh quyết liệt với chủnghĩa duy tâm, tôn giáo, song chưa phản ánh hiện thực một cách toàn cục Các nhàkinh điển CNM cho rằng chỉ thấy cây mà chưa thấy rừng

+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng Điều kiện ra đời , khi các ngành khoa học tựnhiện có sự phát triển, đòi hỏi sự nghiên cứu liên ngành, liên kết các sự vật, hiệntượng lại Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời vào những năm 40 thế kỷ XIX đã

kế thừa những tri thức triết học trước đó, sử dụng triệt để những thành tựu khoahọc tự nhiên Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục những hạn chế của CNduy vật thô sơ, chất phác thời kỳ cổ đại, những hạn chế CN duy vật siêu hình thế

kỷ XV-XVIII, trở thành thế giới quan, phương pháp luận kho học trong hoạt độngnhận thức và hoạt động thực tiễn

Về mặt nhận thức chủ nghĩa duy vật gắn liền với khoa học Về mặt xã hội CNduy vật gắn liền với những giai cấp, lực lượng tiến bộ trong xã hội

- Chủ nghĩa duy tâm khẳng định yếu tinh thần là tính thứ nhất, tinh thần quyếtđịnh vật chất CNDT có CNDT chủ quan và CN duy khách quan

+CNDTKQ thừa nhận tinh thần là tính thứ nhất, nhưng coi đó là thứ tinh thần cótrước và tồn tại độc lập với con người

+ CNDTCQ cho rằng sự vật là phức hợp cảm giác của con người

Nguồn gốc nhận thức của CNDT là nhận thức một cách phiến diện, đề cao mộtmặt, một quá trình nào đó, không chú ý tới những mặt khác Về mặt xã hội, CNDTthường gắn với những thế lực lạc hậu, phản động

Bên cạnh đó còn có trường phái nhị nguyên luận cho rằng cả vật chất và tinhthần cùng xuất hiện và không cái nào quyết định cái nào Điển hình trường pháinày là Đề-các-tơ

Trang 7

c.Thuyết có thể biêt ( khả tri), không thể biết ( bất khả tri) Đây là kết quả giải

quyết mặt thứ 2 của vấn đề cơ bản triết học.

- Thuyết khả tri, cho rằng con người có khả năng nhận thức đước các sự vật, hiệntượng, đi từ nông đế sâu, từ bản chất tới hiện tượng, từ chưa biết đến biến, từ biệtnông tới biết sâu

- Bất khả tri luận phủ nhận khả năng nhận thức của con người đối với các sự vật,hiện tượng Họ cho rằng nếu nhận thức được cũng chỉ là mặt bề ngoài không thểnhận thức được bản chất sự vật hiện tượng

- Ngoài ra cò hoài nghi luận Họ hoài nghi tất cả các tri thức của con người thờitrung cổ hoài nghi luận đã tích cực đấu tranh chống uy quyền của tôn giáo, họ hoàinghi cả kinh thánh và các tín điều tôn giáo

3.Biện chứng và siêu hình

a.Khái niệm biện chứng và siêu hình trong lịch sử

Khái niệm biệm chứng ban đầu quan niệm là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân

lý bằng cách phát hiện ra mâu thuẫn trong lập luận Siêu hình dùng để chỉ triết họcsiêu cảm tính, phi thực nghiệm

* Sự đối lập giữa 2 phương pháp tư duy

+ Nhận thức đối tượng trong trạng thái vận động biến đổi không ngững Sự vậnđộng này từ thay đổi về lượng dẫn tới thay đổi về chất

Trang 8

b.Các hình thức của phép biện chứng trong lịch sử

-Phép biện chứng tự phát thời kỳ cổ đại Thời kỳ này khoa học phát triển còn hạnchế, các nhà triết học quan niệm thế giới thế nào họ mô tả thế giới như vậy thời kỳnày chưa có kết quả nghiên cứu và thực nghiệm khoa học

-Phép biện chứng duy tâm mà đỉnh cao là triết học Cổ điển Đức, Biện chứng theo

họ bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần Thế giới hiện thực chỉ là phản ánhcủa thế giới ý niệm tuyệt đối,là sự tha hóa của ý niệm tuyệt đối Thế giới vật chấtvận động, phát triển và mất đi lại trở lại ý niêm tuyệt đối nhưng trình độ cao hơn -Phép biện chứng duy vật, khẳng định các sự vật hiện tượng tồn tại trong mối quan

hệ, liên hệ, tồn tại bên cạnh nhau tác động nhau, luôn vận động và phát triển không

có cái gì là đứng yên, luôn chuyển hóa lẫn nhau

III TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN, VAI TRÒ TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1.Sự ra đời và phát triển của triết học Mác- Lênin

a.Những điều kiện lịch sử cho sự ra đời của triết học Mác

*Điều kiện kinh tế- xã hội

Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học nền kinh tế TBCN ở các nướcphương Tây đã đạt được những thành tựu rực rỡ Phương thức sản xuất TBCN vớinền sản xuất ớn đại công nghiệp đã hình thành đội ngũ công nhân đông đảo, mâuthuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản ngày càng tăng Những cuộc đấu tranh của giaicấp công nhân chống lại giai cấp tư sản nổ ra ở nhiều nước phương Tây, nhưngcuối cùng đều thất bại đòi hỏi phải có một triết học mới để chỉ đạo phong trào côngnhân Thực tiễn phong trào công nhân là điều kiện cho Mác và Ăngghen tổng kết

để xây dựng một triết học mới

*Nguồn gốc lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên

- Nguồn gốc lý luận

Nguồn gốc lý luận trực tiếp của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng của Hêghen.Mác đã tiếp thu phép biện chứng của Hêgghen, khắc phục thế giới quan duy tâm,

Trang 9

xây dựng nên phép biện chứng mới là phép biện chứng duy vật Mác cũng tiếp thuchủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, đưa cả duy vật vào trong xã hội

Thứ hai là Mác đã tiếp thu những giá trị hợp lý của kinh tế chính trị Cổ điển Anh

và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp thế kỷ XVII-XVIII

-Tiền đề khoa học tự nhiên

Những phát minh trong khoa học tự nhiên đã làm bộc lộ rõ những tư duy siều hìnhtrong các triết học trước đây Tư duy triết học cũ đã hạn chế sự phát triển của khoahọc tự nhiên, mặt khác cũng đã cung cấp cho Mác những tư liệu khoa học để xâydựng một triết học mới những phát minh khoa học tự nhiên tạo điều kiện cho sự rađời triết học Mác là học thuyết tiến hóa Đacuyn, Học thuyết tế bào, định luật bảotoàn chuyển hóa vật chất và năng lượng

*Nhân tố chủ quan trong sự hình thành triết học Mác

C Mác sinh năm 1818 mất năm 1883 trong một gia đình quyền quý, cha là luật

Ph Ăngghen sinh 1820 mất 1895 trong một gia đình tư sản, cha ông là một chủxưởng dệt Tóm lại 2 ông đều thuộc tầng lớp trên của xã hội Tuy nhiên các ông đã

từ bỏ lập trường giai cấp của mình để tham gia vào phong trào công nhân

Thời trẻ hai ông đều đứng trên quan điểm duy tâm vì rất mến mộ Hêghen và lậptrường dân chủ cách mạng Quan điểm giai cấp tư sản nêu lên chống phong kiếnvới khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái

Hai ông đã lao động tổng kết phong trào công nhân, tiếp thu những thành tựukhoa học tự nhiên, kế thừa những di sản tư tưởng tri thức của nhân loại để xâydựng nên triết học nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung

b.Những thời kỳchủ yếu trong sự hình thành và phát triển triết học Mác

*Thời kỳ hình thành

- Bước chuyển của C Mác, Ph Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm sang duy vật, dânchủ cách mạng sang CNCS từ 1841-1844

Trang 10

Thán 4 năm 1841 sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sỹ, Mác dự định trở vềtrường đại học để giảng dạy triết học, dự định xuất bản tạp chí với tên tư liệu củachủ nghĩa vô thần Nhưng sau đó không thực hiện được, do chính sách phản độngcủa nhà nước chuyên chế Phổ Ông cùng với những người thuộc nhóm Hêghen trẻ

đã chuyển sang hoạt động chính trị Đầu năm 1842 tờ báo Sông Ranh ra đời, Mác

là biên tập viên, tờ báo nói lên tiếng nói của những người dân chủ cách mạng

Từ 1-4-1843 tờ báo Sông Ranh bị đình chỉ xuất bản, C.Mác tập trung nghiên cứu

Triết học Pháp quyền của Hêghen Trong Ông đã xuất bản tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, trong đó ông đã phê phán triết học duy

tâm của Hêghen và trình bày quan điểm của mình xung quanh vấn đề nhà nước Năm 1844 C Mác có sự chuyển biến từ lập trường dân chủ cách mạng sang lậptrường cộng sản, khi phê phán tự do, bình đẳng trong xã hội tư bản chỉ là giả hiệu.Nguyên nhân do chế độ tư hữu về TLSX Muốn thực hiện tự do bình đẳng thực sựphải xóa bỏ chế độ tư hữu về TLSX

*Thời kỳ đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Tác phẩm Bản thảo kinh tế- triết học, Mác đã trình bày khái lược những nguyên lý

khinh tế, triết học thông qua việc tiếp tục phê phán những quan điểm duy tâm củaHeeghen Ông phân tích phạm trù lao động tự tha hóa Xem tha hóa của lao động

là một tất yếu lịch sử trong xã hội TBCN

Từ sự phân tích những mâu thuẫn trong xã hội tư bản, C.Mác đã nêu lên tính tấtyếu của CNCS

1845 Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã làm rõ vai trò quyết định của thực tiễnđối với đời sống xã hội, đề xuất tư tưởng về cải tạo thế giới

1848 Tuyên ngôn của ĐCS ra đời đã trình bày một cách cơ bản những nguyên lý

cơ bản của triết học Mác nói riêng và CNM nói chung

*Giai đoạn C Mác và Ph Ăngghen phát triển nhưng nguyên lý triết học

Những nguyên lý triết học Mác được phát triển qua các tác phẩm Ngày 18tháng sương mù của Pônap actơ, Đấu tranh giai cấp ở Pháp Bộ tư bản của C.Mácvừa là công trình trình bày những quan điểm kinh tế, vừa phát triển những nguyên

Trang 11

lý Triết học như cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng 1871 Mác viết Nộichiến ở Pháp để tổng kết Công xã Pari, phát triển những vấn đề về cách mạng nóichung, cách mạng XHCN nói riêng 1875 Mác viết tác phẩm Phê phán cương lĩnhGôta Trong tác phẩm này Mác trình bày các giai đoạn CNCS và những đặc điểmcủa chúng.

c.Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng triết học do C Mác và Ph Ăng ghen

Triết học giờ đây không chỉ giải thích thế giới bằng những cách khác nhau màquan trọng là cải tạo thế giới

Lần đầu tiên các ông thừa nhận tính đảng, tính giai cấp của triết học Triết họcMác có sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học

d.Giai đoạn Lênin trong sự phát triển triết học Mác

* Hoàn cảnh lịch sử trong giai đoạn Lênin CNTb từ tự do cạnh tranh chuyển sang

độc quyền, CNTB chuyển thành CNĐQ, tính phản động của CNTB bộc lộ rõ Hoàn cảnh lịch sử của nước Nga cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

*Giai đoạn 1893-1907 Lênin bảo vệ, phát triển CNM, xây dựng chính đảng cáchmạng ở Nga, chuẩn bị cho cuộc cách mạng DCTS lần thứ nhất 1905

*Giai đoạn Lênin phát triển toàn diện học thuyết Mac, lãnh đạo phong trào côngnhân và chuẩn bị cho cuộc các mạng XHCN

Trang 12

* Giai đoạn 1917-1924 Lênin đấu tranh chống lại những quan điểm cơ hội, xét lại,bảo vệ cách mạng và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH ở Nga.

2.Đối tượng và chức năng của triết học Mac-Lênin

a Khái niệm triết học Mác-Lênin

Triết học Mác- Lênin là hệ thống quan điểm biện chứng về tự nhiên, xã hội và

tư duy- thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những lực lượng tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới.

Triết học MLN là triết học DVBC theo nghĩa rộng là hệ thống quan niệm biệnchứng cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy, CNDV và phép BC thống nhất với nhau Triết học MLN là thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức và cải tạo thếgiới

b.Đối tượng của triết học MLN

Đối tượng triết học MLN là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường DVBC và nghiên cứu những quy luật vân động phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

Có sự phân biệt đối tượng nghiên cứu của triết học MLN với đối tượng nghiêncứu các khoa học chuyên ngành Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhấtcủa sự vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Các khoa học cụ thểnghiên cứu các quy luật riêng biệt của ngành đó

c.Chức năng của triết học MLN

- Chức năng thế giới quan

Thế giới quan DVBC có vai trò quan trọng cho con người nhận thức đúng đắncác sự vật hiện tương

Hình thành những quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động của conngười

Nâng cao vai trò chủ động, tích cực của con người

Trang 13

- Chức năng phương pháp luận

Trang bị nguyên tắc, phương pháp luận trong hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn

Trang bị những khái niệm, phạm trù trở thành công cụ cho con người nhận thứckhoa học, phát triển tư duy khoa học

Không được tuyệt đối hóa phương pháp luận triết học, cũng như phương pháp cáckhoa học cụ thề Nếu tuyệt đối hóa phương pháp khoa học cụ thể sẽ mất phươnghướng, nếu tuyệt đối hóa phương pháp luận triết học sẽ rơi vào chủ nghĩa giáođiều, dễ bị vấp pháp thất bại

3.Vai trò triết học MLN trong đời sống xã hội và sự nghiệp đổi mới hiện nay

*Triết học MLN là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

* Triết học MLN là cơ sở thế giứi quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng

để phận tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang phát triển mạnh mẽ

* Triết học MLN là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cách mạng, khoa học trong xây dựng CNXH trên thế giới và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

Chương 2 CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

I VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

1Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất

Vật chất là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật triết học Trong lich sửtriết học vấn đề này luôn diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa CNDT và CNDV

a.Quan niệm của CNDT và CNDV trước C.Mác về phạm trù vật chất.

CNDT cho rằng tinh thần có trước tinh thần quyết định vật chất CNDT kháchquan cho rằng vật chất là sự tha hóa của tinh thần tuyệt đối, vật chất cũng chỉ làmột dạng tinh thần

CNDT chủ quan cho rằng vật chất là phức hợp cảm giác Vật chất phụ thuộc từng

cá nhân con người do cảm giác của con người, tùy thuộc cảm giác của con người Chủ nghĩa duy vật thừa nhận sự tồn tại khách quan của vật chất

CNDV thời cổ đại đã đồng nhất vật chất với dạng cụ thể, cảm tính của vật chất

Họ cho rằng vật chất là nước ( Talet), lửa ( Hêraclit ), không khí (Anaximen),Nguyên tử ( Đemocrit)

Thế kỷ XV- XVIII, với sự phát triển khoa học tự nhiên, người ta chứng minh sựtồn tại của nguyên tử, đã khẳng định sự tồn tại của vật chất

b.Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX sự

phá sản quan điểm duy vật siêu hình về vật chất

Cuối thế kỷ XVIII hàng loạt phat minh khoa học tự nhiên, phát hiện ra tia X, rahiện tượng phóng xạ Các nhà duy vật hoang mang trước sự tấn công của các nhàduy tâm cho rằng vật chất biến mất Điều đó làm cho nhiều nhà khoa học tự nhiênhoang mang dao động

c.Quan niệm triết học Mác- Lênin về vật chất

Ph Ăngghen đã đấu tranh chống lại CNDT về vật chất, ông chỉ ra cần phân biệtphạm trù vật chất là kết quả của tư duy với vật chất tồn tại trong hiện thực Ôngcũng cho rằng vật chất có thể tác động đến các giác quan

Trang 15

Lênin đã đưa ra định nghĩa vật chất : “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác”.

Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan- cái tồn tại bên ngoài ý thức con người,

không phụ thuộc ý thức con người

Thứ hai, vật chất là cái khách quan, khi mà tác động đến các giác quan con người

gây cho chúng ta cảm giác

Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chỉ là sự phản ảnh của nó

Ý nghĩa phương pháp luận quan niệm vật chất của triết học Mác-Lênin:

-Góp phần giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biệnchứng Cung cấp thế giới quan phương pháp luận chống lại CNDt, thuyết khôngthể biết và CNDV siêu hình và mọi biểu hiện của nó trong triết học tư sản hiện đại.-Là cơ sở khoa học xác định vật chất trong xã hội, đó là các điều kiện sinh hoạt vậtchất và các quan hệ vật chất trong xã hội

- Là cơ sở cho chủ nghĩa duy vật lịch sử, trước hết là sự vận động phát triển củaphương thức sản xuất, quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, quan hệ quyluật khách quan của lịch sử và ý thức chủ quan của con người

d Các hình thức tồn tại của vật chất

* Vận động Theo quan niệm triết học, vận động là sự biến đổi nói chung.

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.

Không ở đâu có vật chất mà lại không vận động Vận động là phương thức tồn tạicủa vật chất Vận động gắn liền với vật chất, không có vật chất không vận động,vận động là vận động của vật chất Tinh thần vận động cũng do chính vật chất vậnđộng Vận động của vật chất là tự thân vận động, là kết quả đấu tranh các mặt đốilập Thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình ra bên ngoài.Những đặc điểm, thuộc tính của vật chất chỉ có thể nhận biết được thông qua vậnđộng

Trang 16

Các hình thức vận động của vật chất Căn cứ vào đặc điểm tính chất các loại vận

động, Ph Ăngghen chia vận động thành 5 hình thức là vận động cơ giới, vật lý,hóa học, sinh học và vận động xã hội Vận động xã hội là hình thức vận động caonhất Các hình thức vận động đan xen nhau, một sự vật, hiện tượng có thể cùngmột lúc đồng thời tồn tại nhiều hình thức vận động

Vận động và đứng im Đứng im là vận động trong cân bằng Vận động là tuyệtđối và đứng im là tương đối bởi 2 lý do sau:

Thứ nhất một sự vật hiện tượng bao gồm nhiều hình thức vận động cho nên có thể

hình thức vận động này đang đứng im, nhưng hình thức vận động khác vẫn đangdiên ra

Thứ hai, có thể trong quan hệ này là đứng im nhưng trong quan hệ khác là vận

động

*Không gian và thời gian

Không gian và thời gian là hình là hình thức tồn tại của vật chất vận động Vậtchất vạn động trong không gian và thời gian Không có không gian và thời gianthuần túy Vật chất vận động trong không gian và thời gian không tách rời nhau.Không có vật chất vận động trong không gian thuần túy tách rời thời gian và cũngkhông có vật chất vận động trong thời gian tách rời không gian Không gian vàthời gian là vô tận Không gian 3 chiều: chiều cao, chiều dài và chiều rộng Thờigian là một chiều quá khứ, hiện tại và tương lai

e.Tính thống nhất vật chất của thế giới

* Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới

Sự thống nhất của thế giới phải lấy sự tồn tại của nó làm tiền đề

Tồn tại theo nghĩa chung nhất là phạm trù dùng để chỉ tính có thực của thế giớixung quanh chúng ta Khẳng định sự tồn tại là gạt bỏ quan niệm về tính hư vô, tínhkhông có thực

Sự tồn tại của thế giới là đa dạng ,phong phú, có tồn tại vật chất, tinh thần, kháchquan, chủ quan Có tồn tại của tự niên và tồn tại của xã hội

Vậy bản chất của tồn tại là gì? Xung quanh vấn đề này có 2 trường phái:

Trang 17

Chủ nghĩa duy vật hiểu sự tồn tại của thế giới như một chỉnh thế mà bản chất của

nó là vật chất Các nhf duy tâm khẳng định chỉ có tinh thần mới tồn tại, nên bảnchất của tồn tại là tinh thần Chủ nghĩa duy vật cho rằng, cơ sở cho sự thống nhấtcủa thế giới là tính vật chất của nó

*.Thế giới thống nhất ở tính vật chất

Thế giới thống nhất ở tính vật chất được thể hiện ở những điểm sau:

-Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Vật chất tồn tại khách quan độclập với ý thức của con người

-Mọi bộ phận của thế giới có mối qan hệ vật chất thống nhất với nhau, vì đều làdạng cụ thể của vật chất

-Thế giới vật chất không do ai sinh ra, không mất đi, tồn tại vĩnh viễn, vô cùng, vôtận

Những phát minh trong khoa học, thiên văn, hóa học, sinh học đều chứng minhthế giới là vật chất vô cùng, vô tận có quan hệ với nhau

2 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

a.Nguồn gốc của ý thức

Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm

Các nhà duy tâm cho rằng ý thức ti nh thần là cái có trước chi phối mọi hoạt độngđời sống của con người, tinh thần là nguyên thể đầu tiên tồn tại vĩnh viễn Chủnghĩa duy tâm khách quan cho rằng, ý niệm hay ý niệm tuyệt đối là bản thể sinh ratoàn bộ thế giới hiện thực Chủ nghĩa duy tâm chủ quan tuyệt đối hóa vai trò cảmgiác, cho rằng cảm giác là tồn tại duy nhất

Quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình

Các nhà duy vật siêu hình phủ nhận tính siêu tự nhiên của ý thức, họ xuất phát từthế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức Tuy nhiên các nhà duy vật siêuhình đã đồng nhất vật chất với ý thức, họ cho rằng ý thức chỉ là một dạng cụ thểcủa vật chất, một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra Đêmôcrit quan

Trang 18

niệm ý thức do những nguyên tử nhỏ hình cầu, đặc biệt, nhẹ, linh động tạo nên.Các nhà duy vật thế kỷ XVIII cho rằng, óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.

Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm về ý thức “ Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất đem chuyển vào trong bộ óc con người và được cải biến đi ở trong đó”

Chủ nghĩa duy vật biện chứng nêu lên nguồn góc tự nhiên và nguồn góc xã hội của

ý thức

-Nguồn gốc tự nhiên:

+ Bộ óc con người Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Đơngiản nhất là vật lý, hóa học Phản ánh này tồn tại trong giới vô sinh Tiếp theo làphản ánh sinh học Giới thực vật là phản ánh kích thích Động vật có hệ thần kinh

là phản xạ, ở động vật cấp cao có bộ óc là tâm lý Phản xạ tâm lý của động vật lại

có phản xạ không có điều kiện và có điều kiện Tuy nhiêm tâm lý chưa phải là ýthức mà vấn là phản ánh mang tính bản năng Chỉ tới con người với sự phát triểncủa bộ óc trình độ cao có sự phân khu mới hình thành ý thức Quá trình hình thành

ý thức của bộ óc con người diễn ra vô cùng phức tạp

+ Thế giới khách quan Chỉ khi có sự tác động thế giới khách quan vào trong bộ óccon người thông qua quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn thì ý thức mới hìnhthành trong bộ óc con người Như vậy sự xuất hiện bộ óc con người có năng lựcphản ánh thế giới khác quan mới hình thành ý thức

-Nguồn góc xã hội của ý thức

+ Lao động là một nguồn góc xã hội của ý thức Lao động là đặc trưng chỉ có ở conngười và xã hội loài người Lao động làm cho các giác quan của con người ngàycàng tinh xảo, lao động, bằng lao động con người làm cho các sự vật, hiện tượngbộc lộ bả chất từ đó con người nhận thức được thế giới khách quan

+ Ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Ngônngữ trở thành “ vỏ vật chất” của tư duy Ngôn ngữ có ngôn ngữ nói, viết, hình thể

Có ngôn ngữ con người mới có điều kiện khái quát thành các khái niệm phạm trù

để biểu hiện các sự vật hiện tượng Có ngôn ngữ con người mới truyền đạt được

Trang 19

những thông tin cho nhau, mới tổng kết được những kinh nghiệm trong hoạt độngthực tiễn, mới truyền đạt được tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hiệkhác.

ý thức, tách rời thực tiễn xã hội

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người

Vật chất là hiện thực khách quan, còn ý thức là hiện thực chủ quan Ý thức khôngphải là sự vật mà chỉ là hình ảnh của hiện thực khách quan

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nội dung của ý thức phảnánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan Ý thức là cái vật chất dichuyển vào trong óc người và được cải biến trong đó Kết quả phản ánh phụ thuộcđối tượng phản ánh, điều kiện kinh tế-xã hội, năng lực chủ quan của chủ thể phảnánh ( tri thức, kinh nghiệm và năng lực chủ thể phản ánh)

Ý thức là sự phản ánh một cách tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan vào óccon người Đây là khác biệt ý thức với phản ánh tâm lý của động vật Ý thức là sựphản ánh hiện thực khách quan có định hướng, có chọn lọc, có mục đích rõ ràng Ýthức hình thành , phát triển cùng với hoạt động thực tiễn của con người

Ý thức phản ánh ngày càng sâu sắc, ngày càng xâm nhập vào bản chất của sựvật, hiện tượng, là điều kiện đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn Ý thứcngày càng phát triển cùng với hoạt động thực tiễn của con người

Sự phản ánh ý thuwcslaf quá trình thống nhất ba mặt:

Một là, Trao đổi thông tin giữa chủ thể nhận thức và đối tượng phản ánh.Đây là quá trình trao đổi 2 chiều, có định hướng, có chọn lọc thông tin Hai là, mô hình

Trang 20

hóa đối tượng nhận thức trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Đây là quá

trình sáng tạo lại hiện thực khách quan Ba là, chuyển hóa mô hình từ tư duy ra

hiện thực khách quan, tức quá trình hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt độngthực tiễn, biến cái tư tưởng thành cái hiện thực biến cái ý tưởng phi vật chất thànhcác dạng vật chất ngoài hiện thực

Từ nguồn gốc và bản chất của ý thức có thể nói ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của bộ óc người về hiện thực khách quan, trên cơ sở thực tiễn xã hội- lịch sử.

c.Kết cấu của ý thức

Ý thức có thể có thể phân chia thành nhiều lớp khác nhau như tri thức, tình cảm,niềm tin, ý chí

Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất của ý thức Tri thức của co người có được

qua học tập, qua hoạt động thực tiễn Có tri thức quá khứ, hiện tại trên nhiềuphương diện Tri thức có nhiều cấp độ như tri thức kinh nghiệm, tri thức lý luận; trithức cảm tính, tri thức lý tính Ý thức phải dựa trên tri thức Ý thức mà không dựatrên tri thức thì chỉ là ý thức trừu tượng hư vô không giúp ích gì cho con ngườitrong hoạt động thực tiễn

Tình cảm là sự phản ánh đặc biệt hiện thực khách quan, phản ánh quan hệ giữa

người và người hay người với tự nhiên

Niềm tin có vị trí quan trọng trong ý thức, giúp con người vươn lên trong cuộc

sống Nếu niềm tin đúng đắn sẽ giúp con người vươn lên trong cuộc sống Nếuniềm tin không đúng đắn sẽ làm cho con người thiếu quyết tâm vươn lên trongcuộc sống

Ý chí là quyết tâm, nghị lực của con người hay cộng đồng người để vượt qua

những khó khăn thử thách, những điều kiện mà bình thường không thể vượt qua đểthực hiện mục đích, lý tưởng đặt ra Bằng ý chí con người hay cộng đồng người cóthể làm được những việc mà bình thường không thể làm được

Các cấp độ của ý thức

Tự ý thức là ý thức hướng về tự nhận thức về bản thân mình trong mối quan hệ với

ý thức bên ngoài Trong quan hệ với thế giới bên ngoài con người cần tự tách mình

Trang 21

ra để nhận thức về bản thân trong sự so sánh đối chiếu với những yêu cầu chungcủa xã hội, từ đó thấy được điểm mạnh để phát huy, thấy điểm yếu trong từng lĩnhvực để khắc phục tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ý thứccủa nhóm người.

Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể nhận thức có được từ trước gần như thànhbản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềmnăng

Vô thức là những hoạt động tâm lý không do lý trí điều khiển, nằm ngoài phạm

vi lý trí mà ý thức không kiểm soát được trong một lúc nào đó Chúng thuộc về bảnnăng, thói quen trong con người thông qua phản xạ không điều kiện Vô thứcbiểu hiện ra thành ham muốn, giấc mơ, bị thôi miên, lỡ lời, nói nhịu

Vấn đề “ Trí tuệ nhân tạo”

Trí tuệ nhân tạo không phải là ý thức Người máy “ thông minh” thực ra chỉ là

một quá trình vật lý Hệ thống thao tác của máy tính do con người đã lập trìnhtrước phỏng theo thao tác tư duy của con người Trí tuệ nhân tạo không phải làphản ánh một cách sáng tạo hiện thực khách quan

3Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

a.Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình về vật chất

và ý thức

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng tinh thần là tính thứ nhất là nguồn gốc mọi sự vật,

hiện tượng trên thế giới, là bản sao của tinh thần Tinh thần của con người đượctrừu tượng hóa, tách thành lực lượng siêu nhiên.CNDT phủ nhận tính khách quan,cường điệu hóa nhân tố chủ quan

Chủ nghĩa duy vật siêu hình tuyệt đối hóa yếu tố vật chất, cho rằng, vật chấtquyết định ý thức, phủ nhận tính độc lập tương đối của ý thức, không thấy được tácđộng trở lại của ý thức đối với vật chất

b.Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Vật chất quyết định ý thức, ý thức tác động tích cực trở lại vật chất

*Vật chất quyết định ý thức

Trang 22

Vật chất quyết định ý thức thể hiện như sau:

Một là, ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người Con

người và bộ óc người là sản phẩm của tự nhiên Vật chất có trước, ý thức có sau

Hai là, vật chất quyết định nội dung của ý thức Ý tức là sản phẩm phản ánh hiện

thực khách quan Ý thức mà nội dung của nó chẳng qua chỉ là phản ánh hiện thựckhách quan vào trong bộ óc con người Thế giới khách quan mà trước hết là hoạtđộng thực tiễn quyết định nội dung của ý thức

Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức Chủ nghĩa duy vật biện chứng

xem thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính hoạtđộng thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới Hoạt động thực tiễn

là cơ sở hình thành ý thức con người

Thứ tư, Vật chất quyết định sự vận động của ý thức Vật chất thay đổi thì trước

sau ý thức cũng sẽ thay đổi Điều kiện kinh tế- xã hội thay đổi, từ chế độ CSNT tớinay đã có nhiều thay đổi là cơ sở cho sự biến đổi của ý thức Ý thức con ngườihiện nay khác với ý thức người nguyên thủy Ý thức thế hệ này khác ý thức thế hệkhác do điều kiện vật chất đã thay đổi Loài người có thể nhận biết được quá khứ,

dự báo được tương lai

*Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất.

Điều này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, Ý thức là phản ánh của vật chất, nhưng khi đã ra đời có quy luật vận

động riêng, không phụ thuộc máy móc vào vật chất, tác động trở lại vật chất

Thứ hai, ý thức tác động trỏ lại vật chất nhưng phải thông qua hoạt động thực tiễn

con người làm thay đổi hiện thực khách quan Tự ý thức không làm thay đổi đượcvật chất Ý thức chỉ làm thay đổi vật chất, khi thâm nhập vào con người giúp conngười xác định được mục đích, định ra phương hướng, xây dựng quyết tâm cải tạo,thay đổi thế giới

Thứ ba, ý thức tác động thay đổi vật chất thể hiện ở những quyết định con người

đưa ra Quyết định đúng giúp đạt kết quả tốt, ngược lại kết quả sai sẽ gây ra tổnthất

Trang 23

Thứ tư, xã hội càng phát triển thì tác động của ý thức đối với vật chất sẽ càng to

lớn Thời đại ngày nay là thời đại công nghệ thông tin thì tri thức khoa học, hoạtđộng chính tri, tư tưởng càng trở nên quan trọng

Ý nghĩa phương pháp luận

Tôn trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan của con người Quan điểm, đường lối của Đảng, mọi chính sách , pháp luật của nhà nước phảixuất phát từ thực tiễn khách quan, phù hợp với thực tiễn khách quan,

Phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Nhận thức phản ánh hiệnthực khách quan phải chân thực, khách quan, tránh tô hồng, bôi đen Nếu làm nhưvậy, những quan điểm, đường lối chính sách, mục tiêu, biện pháp thực hiện sẽ thấtbại

Phải phát huy tính năng động chủ quan của con người Coi trọng công tác tưtưởng, nâng cao tinh thần tích cực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của conngười, chống lại tư tưởng ỷ nại, trông chờ, thái độ tiêu cực nhất là trong những lúckhó khăn

II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1.Hai loại hình biện chứng và phép biện chứng duy vật

a.Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan

Biện chứng là quan điểm, phương pháp “ Xem xét những sự vật và những phản ánh

của chúng trong tư tưởng trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sựràng buộc, sự vận động, phát triển và tiêu vong của chúng”

Biện chứng khách quan là khái niệm chỉ biện chứng của bản thân thế giới kháchquan, độc lập với ý thức của con người

Biện chứng chủ quan là khái niệm chỉ biện chứng của tư duy, là biện chứng củaquá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người

Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan có mối quan hệ với nhau, tạonên cơ sở phương pháp luận của cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội

b.Khái niệm phép biện chứng duy vật

Trang 24

Ph Ăngghen khẳng định “ Phép biện chứng chẳng qua là môn khoa học về nhữngquy luật phổ biến của sự vận động, phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người vàcủa tư duy”

Đặc điểm và vai trò của phép biện chứng duy vật:

Về đặc điểm:

-Phép biện chứng duy vật hình thành từ sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quanduy vật và phương pháp luận biện chứng;giữa lý luận nhận thức và lôgic biệnchứng; mỗi quy luật, phạm trù , khái niệm đều được lý giải một cách khoa học

Về vai trò của phép biện chứng duy vât

-Phép biện chứng duy vật trang bị phương pháp luận chung nhất cho nhận thức vàhoạt động thực tiễn Dựa trên phép biện chứng duy vật con người đề ra các nguyêntắc, phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

2.Nội dung của phép biện chứng duy vât

a.Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật

Nguyên lý ( Princip) tiếng la tinh( Principium) với nghĩa là đầu tiên nhất, trên cơ

sở đó các định luật và lý thuyết khoa học, các văn bản pháp lý ra đời Như vậynguyên lý là khởi điểm xuất phát hay những luận điểm xuất phát chi phối các đốitượng trong linh vực quan tâm

*Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Khái niệm liên hệ “Mối liên hệ” là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối

ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố bộ phận trongmột đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Liên hệ là quan hệ giữa các đốitượng mà sự thay đổi một trong các đối tượng đó làm cho đối tượng khác cũngthay đổi theo Cô lập là sự thay đổi của đối tượng này không ảnh hưởng đến đốitượng khác Trên thế giới mọi đối tượng vừa ở trạng thái cô lập, vừa ở trạng tháiliên hệ

Mối liên hệ phổ biến là nói tính phổ biến của các mối liên hệ Khi nói mối liệ hệ

mới giới hạn trong các đối tượng hữu hình Khi mở rộng cả sang lĩnh vực tinh thầnthì gọi là mối liên hệ phổ biến

Trang 25

CNDV siêu hình đã phủ nhận mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Phươngpháp siêu hình ngiên cứu các sự vật hiện tượng trong trạng thái cô lập, tách biệt,không có liên hệ, quan hệ với nhau.

Tính chất của mối liên hệ phổ biến

Tính khách quan Liên hệ giữa các sự vật hiện tượng vật chất với nhau, tinh thần

với nhau, vật chất và tinh thần là khách quan, là vốn có Các sự vật hiện tượng liên

hệ, quan hệ với nhau do tính thống nhất vật chất của thế giới

Tính phổ biến Trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy đều có mối liên hệ với nhâu.

Không có một lĩnh vực nào lại không có mối liên hệ Các mối liên hệ này có vaitrò, vị trí khác nhau

Tính đa dạng phong phú của mối liên hệ phổ biến Có mối liên hệ chung, liên hệriêng; liên hệ bên trong, liên hệ bên ngoài; liên hệ cơ bản và không cơ bản; liên hệchủ yếu, liên hệ thứ yếu

Nguyên tắc toàn diện Từ nguyên lý mối liên hệ phổ biến cần có quan điểm toàndiện Nguyên tắc toàn diện yêu cầu:

Một là, Nghiên cứu bất cứ một sự vật hiện tượng nào phải nghiên cứu trong mối

quan hệ với sự vật hiện tượng khác, xét tất cả các mặt, các khâu, các quá trình

Hai là, Cần nghiên cứu sự vật, hiện tượng một cách toàn diện, măt khác phải thấy

được những mặt, những khâu chủ yếu, cơ bản

Ba là, Cần nghiên cứu đối tượng trong quan hệ với đối tượng khác, với môi

trường xung quanh kể cả mối quan hệ trung gian, gián tiếp, đặt trong hoàn cảnh cụthể, trong thời gian cụ thể

Bốn là, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chủ

nghĩa chiết trung Phiến diện là chỉ thấy được một mặt nào đó Chủ nghĩa chiếttrung lắp ghép các mối liên hệ một cách vô nguyên tăc Thuật ngụy biện đánh tráocác mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản

*Nguyên lý về sự phát triển

Trang 26

Phát triển là vận động theo hướng đi lên Tiến hóa là một dạng của phát triển, tiếnhóa diễn ra một cách từ từ Tiến bộ đề cập tới sự phát triển có giá trị tích cực Tiến

bộ nói tới thực trạng xã hội từ chưa hoàn thiện tới hoàn thiện

Quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển, hướng tới cái ổn định Phát triển chỉ

là sự tăng, giảm về lượng không có sự thay đổi về chất

Phát triển theo quan điểm biện chứng là sự vận động đi lên từ thấp tới cao, từchưa hoàn thiện tới hoàn thiện, từ thấp tới cao, từ thay đổi về lượng

Nguồn gốc của sự phát triển là giải quyết những mâu thuẫn bên trong các sự vật,hiện tượng, là đấu tranh giữa các mặt đối lập

Đặc điểm sự phát triển theo hình xoáy ốc, phát triển dường như lặp lại cái cũnhưng trên trình độ cao hơn

Tính chất sự phát triển :

-Tính khách quan vì nguyên nhân sự phát triển nằm trong chính sự vật hiện tượng

là đấu tranh giữa các mặt đối lập

-Tính phổ biến, phát triển diễn ra trong tất cả các sự vật, trong tự nhiên, xaxhooij

và tư duy

-Tính kế thừa, sự vật hiện tượng mới ra đời không xóa bỏ tất cả những cái cũ mà

kế thừa những cái gì hợp lý nâng lên tầng cao mới

-Tính đa dạng phong phú Mỗi sự vật có sự phát triển khác nhau, các giai đoạnkhác nhau có sự phát triển khác nhau

Ý nghĩa nghiên cứu nguyên lý phát triển Các sự vật, hiện tượng luôn luôn có sựphát triển Nguyên tắc phát triển đối lập với tư tưởng bảo thủ trì trệ Nguyên tắcnày yêu cầu:

Thứ nhất, khi nhận thức cần đặt đối tượng trong sự vận động và phát triển, trong

xu hướng vận động, phát triển

Thứ hai, phát triển là một quá trình, trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có

đặc điểm, tốc độ, nhịp điệu khác nhau

Thứ ba, có thái độ ủng hộ cái mới, cái tiến bộ, chống lại sự bảo thủ trì trệ.

Trang 27

Thứ tư, cái mới ra đời thay thế cái cũ phải tiếp thu cái hợp lý nâng lên tâng cao

mới, tránh tư tưởng xóa bỏ toàn bộ những cái cũ

Nguyên tắc lịch sử cụ thể Xem xét sự vật hiện tượng phải đạt trong bối cảnh cụthể, đạt trong hoàn cảnh cụ thể, trong giai đoạn cụ thể

b.Các cặp phạm trù của phép biện chứng

* Cái riêng và cái chung

Cái ritêng là phạm trù triết học chỉ một sự vật, hiện tượng nhất định Cái đơn nhất

là khái niệm triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm, các thuộc tính chỉ tồn tạitrong một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng khác

Cái riêng và cái chung, cái đơn nhất không tồn tại độc lập mà trong quan hệ với

nhau Cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại trong cái riêng như là một mặt của cáiriêng

Cái chung là cái tồn tại ở trong nhiều sự vật, hiện tượng Cái chung không tồn tại

độc lập mà tồn tại trong cái riêng là một mặt của cái riêng và tồn tại liên hệ với cáiđơn nhất Mọi cái riêng đều là sự thống nhất các mặt đối lập của cái chung và cáiđơn nhất

Mối quan hệ giữa cái đơn nhất với cái chung thể hiện ở mối liên hệ lẫn nhau,thống nhất gồm các mặt, các yếu tố đơn lẻ vốn có trong một sự vật, hiện tượng này

và các mặt, các yếu tố, các mặt lặp lại trong nhiều sự vật hiện tượng khác

Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng biểu hiện ở mối quan hệ giữa những thuộctính, những mặt cùng tồn tại ở nhiều đối tượng với từng đối tượng đó được xét nhưcái toàn bộ Cái riêng là cái toàn bộ, cái chung là cái bộ phận, bên cạnh cái chung

là cái đơn nhất trong cái riêng Cái chung là cái bản chất, là cái bộ phận nhưng sâusắc

Ý nghĩa phương pháp luận

Thứ nhất, trong nhân thức và hoạt động thực tiễn phải thấy được mối quan hệ giữa

cái chung và cái riêng, không được tách biệt Mỗi cái chung trong cái riêng lại có

sự khác biệt Mọi cái chung trong cái riêng có những biểu hiện khác với trongnhững cái riêng khác Quá nhấn mạnh cái chung sẽ không thấy được cái riêng để

Trang 28

nhận thức và giải quyết, sẽ dẫn tới giáo điều Quá nhấn mạnh cái riêng sẽ mấtphương hướng khi gặp khó khăn.

Thứ hai, bất cứ phương pháp nào cũng bao hàm cái chung và cái đơn nhất, do vậy

khi sử dụng kinh nghiệm của người khác, sự vật khác phải thay đổi, phải vận dụngcho phù hợp

Thứ ba, cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau Tạo điều kiện cho

cái đơn nhất có lợi biến thành cái chung và biến những cái chung bất lợi thành cáiđơn nhất

*Nguyên nhân và kết quả

Khái niệm : Nguyên nhân là khái niệm chỉ sự tác động của các mặt các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây nên những biến đổi Kết quả là

những biến đổi xuất hiện do tác động các mặt, các yếu tố trong một sự vật hay sựtác động lẫn nhau giữa các sự vật

Phân biệt nguyên nhân với điều kiện Nguyên nhân là cái tạo ra kết quả, cònđiều kiện là cái nếu thiếu nó nguyên nhân không dẫn tới kết quả nhưng nó khôngtham gia vào kết quả Nguyên cớ là những yếu tố thúc đẩy cho nguyên nhân xảy ranhanh hơn

Nguyên nhân và kết quả cần xét trong mối quan hệ cụ thể Một nguyên nhân nhấtđịnh trong điều kiện nhất định chỉ gây ra một kết quả nhất định

Một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả nếu xét trong những điều kiện khácnhau và một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân tạo ra

Có thể chia thành nhiều loại nguyên nhân như: nguyên nhân bên trong, nguyênnhân bên ngoài, nguyên nhân chủ yếu và thứ yêu, cơ bản và không cơ bản

Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi, trong mối quan hệ này có thể là nguyênnhân nhưng trong mối quan hệ khác có thể là kết quả

Cần phê phán quan điểm cho rằng nguyên nhân của sự biến đổi nào đó lại nằmngoài sự vật hiện tượng đó, hoặc nguyên nhân biến đổi nằm ở lực lượng siêu nhiênnào đó

Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 29

Thứ nhất, bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng có nguyên nhân của nó Để nhận thức

được sự vật hiện tượng nhất thiết phải tìm ra nguyên nhân của nó Muốn loại bỏmột sự vật hiện tượng nào đó nhất thiết phải loại bỏ nguyên nhân sinh ra nó

Thứ hai, xét về thời gian nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả nên tìm

nguyên nhân một sự vật, hiện tượng nào đó phải tìm ở những sự kiện, sự vật, mốiliên hệ xảy ra trước khi xuất hiện sự vật, hiện tượng đó

Thứ ba, Một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, do vậy khi

xem xét nguyên nhân của các sự vật hiện tượng cần làm rõ nguyên nhân nào sinh

ra sự vật hiện tượng đó,làm rõ nguyên nhân chủ yếu thuews yếu, cơ bản không cơbản Muốn có sự vật nào theo mong muốn cần tạo ra nguyên nhân, điều kiện để sựvật, hiện tượng đó hình thành

*Tất nhiên và ngẫu nhiên

Khái niệm Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ mối liên hệ bản chất, do

nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật, hiện tượng quy định và trong điều kiệnnhất định nó phải xảy ra đúng như thế không thể khác

Ngẫu nhiên là khái niệm triết học chỉ mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân,

hoàn cảnh bên ngoài tạo ra nên có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thểxuất hiện thế này hoặc xuất hiện thế khác

Quan hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sựthống nhất biện chứng với nhau, tất nhiên bao giờ cúng vạch đường đi cho mìnhthông qua vô vàn cái ngẫu nhiên, còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cáitất nhiên

Vai trò của tất nhiên và ngẫu nhiên Tất nhiên chi phối sự vận động, phát triển của

sự vật hiện tượng, còn cái ngẫu nhiên làm cho sự vật hiện tượng phát triểnnhanh,hoặc chậm Các sự vật hiện tượng đều có tất nhiên và ngẫu nhiên Trongmối quan hệ này có thể là tất nhiên, mối quan hệ khác có thể là ngẫu nhiên

Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa lẫn nhau, cho nên ranh giới giữa tấtnhiên và ngẫu nhiên chỉ là tương đối tất nhiên liên hệ với cái chung, nhưng khôngphải mọi cái chung đều là tất nhiên

Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 30

Thứ nhất, tất nhiên là cái tất yếu nó phải xảy ra thế này chứ không xảy ra thế khác

trong điều kiện nhất định, nên trong nghiên cứu khoa học cần dựa vào cái tất nhiên,không dựa vào cái ngẫu nhiên

Thứ hai, tất nhiên không tồn tại dưới dạng thuần túy, nên trong nhận thức chỉ có

thể tìm ra cái tất nhiên thông qua cái ngẫu nhiên mà tất nhiên phải đi qua

Thứ ba, Ngẫu nhiên có thể làm thay đổi tốc độ phát triển của sự vật hiện tượng

nên không được bỏ qua cái ngẫu nhiên, cần phái có những phương án dự phòng đềphòng những sự cố bất ngờ

Thứ tư, tất nhiên và ngẫu nhiên là tương đối, nên cần tạo ra điều kiện để cái ngẫu

nhiên phù hợp với thực tiễn thành cái tất nhiên và cái tất nhiên không phù hợpthành cái ngẫu nhiên

*Nội dung và hình thức

Khái niệm Nội dung là phạm trù triết học chỉ tất cả các mặt, các yếu tố tạo nên sựvật, hiện tượng

Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại, biểu hiện và phát triển của sự vật;

là hệ thống các mối liên hệ, quan hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấu thànhnội dung sự vật hiện tượng, không chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài mà còn là cáichỉ cấu trúc bên trong của sự vật, hiện tượng

Quan hệ giữa nội dung và hình thức Nội dung và hình thức tồn tại trong sựthống nhất, không có nội dung nào mà lại không có hình thức Không có hình thứcnào mà lại không bao hàm nội dung Nội dung quyết định hình thức Khi hìnhthành hình thức tác động trở lại nội dung theo hai hướng tích cực và tiêu cực Khihình thức phù hợp trở thành động lực thúc đẩy nội dung phát triển Hình thứckhông phù hợp sẽ hạn chế sự phát triển của nội dung

Một nội dung có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức và cùng một hình thức cóthể biểu hiện cho mtj số nội dung Nội dung thay đổi trước sau hình thức cũng phảithay đổi theo, hình thức biến đổi chậm hơn nội dung

Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 31

Thứ nhất, Nội dung quyết định hình thức, do vậy muốn thay đổi sự vật trước hết

phải làm thay đổi nội dung của sự vật đó

Thứ hai, Hình thức tác động đến nội dung, do vậy khi hình thức không phù hợp

cần thay đổi hình thức để tạo điều kiện cho nội dung phát triển

Thứ ba, một nội dung có nhiều hình thức, do vậy cần phối hợp các hình thức để tạo

điều kiện cho nội dung phát triển Cần phê phán tư tưởng bảo thủ chỉ muốn dùnghình thức cũ khi nó đã lạc hậu Cần phê phán cả tư tưởng nóng vội muốn xóa bỏhình thức cũ khi nó vẫn còn phù hợp với nội dung

* Bản chất và hiện tượng

Khái niệm

Bản chất là phạm trù chỉ tổng thể các mối liên hệ khách quan, tất nhiên,

tương đối ổn định bên trong, quy định sự vận động, phát triển của đối tượng và thểhiện mình qua các hiện tượng tương ứng của đối tượng

Hiện tượng là sự biểu hiện của các mặt, mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn

định ở bên ngoài; là mặt dễ biến đổi hơn và là hình thức biểu hiện của bản chất đốitượng

Quan hệ giữa bản chất và hiện tượng Bản chất và hiện tượng đều tồn tại

khách quan trong mối liên hệ hữu cơ, cái này không thể tồn tại thiếu cái kia Về cơbản, bản chất và hiện tượng có xu hướng phù hợp với nhau, bởi mỗi đối tượng đều

là sự thống nhất giữa bản chất với hiện tượng và sự thống nhất đó được thể hiện ởchỗ, bản chất tồn tại trong sự thể hiện mình thông qua hiện tượng còn hiện tượngphải là sự thể hiện của bản chất; bản chất “được ánh lên” thông qua hiện tượng(Hêghen)

Tuy vậy, trong những điều kiện nhất định, bản chất thể hiện dưới hình thức đã

bị cải biến, xuyên tạc những yếu tố thực sự của bản chất bằng cách bổ sung vàohay bớt đi từ bản chất một vài tính chất, yếu tố do hoàn cảnh cụ thể và các mối liên

hệ ngẫu nhiên quy định, làm hiện tượng phong phú hay nghèo nàn hơn bản chất Bản chất luôn là cái tương đối ổn định, ít biến đổi hơn, còn hiện tượng “động”hơn, thường xuyên biến đổi Bản chất gắn bó chặt chẽ với cái phổ biến , phản ánhcái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiệntượng; còn hiện tượng phản ánh cái riêng, cái đơn nhất Bản chất cũng có tính quyluật, bởi nói đến bản chất là nói đến tổng số các quy luật quyết định sự vận động vàphát triển của sự vật, hiện tượng

Trang 32

Ý nghĩa phương pháp luân

Thứ nhất, bản chất chỉ thể hiện mình thông qua hiện tượng và hiện tượng lại biểu

hiện bản chất thường trong hình thức đã bị cải biến nên trong mọi hoạt động,không nên dừng lại ở sự biểu hiện bên ngoài (hiện tượng), mà cần đi sâu vào bêntrong để tìm hiểu và làm sáng tỏ bản chất

Thứ hai, bản chất là sự thống nhất giữa các mặt, các mối liên hệ tất nhiên vốn có

của sự vật, hiện tượng, bản chất là địa bàn thống lĩnh của các mâu thuẫn biệnchứng và chúng được giải quyết trong quá trình phát triển dẫn đến sự biến đổi củabản chất, tạo ra sự chuyển hoá của đối tượng từ dạng này sang dạng khác nên cácphương pháp đã được áp dụng vào hoạt động cũ trước đây cũng phải thay đổi bằngcác phương pháp khác, phù hợp với bản chất đã thay đổi của đối tượng

* Khả năng và hiện thực

Khái niệm

Khả năng là cái hiện chưa xẩy ra, nhưng nhất định sẽ xẩy ra khi có điều kiện

thích hợp

Hiện thực là cái đang có, đang tồn tại gồm tất cả các sự vật, hiện tượng vật chất

đang tồn tại khách quan trong thực tế và các hiện tượng chủ quan đang tồn tạitrong ý thức Hiện thực có hiện thực khách quan và chủ quan Hiện thực kháchquan và hiện thực chủ quan được dùng để phân biệt các hiện tượng vật chất với cáchiện tượng tinh thần

Ý nghĩa phương pháp luận

Thứ nhất, khả năng và hiện thực tồn tại trong mối liên hệ không tách rời nhau và

luôn chuyển hoá cho nhau; do hiện thực được chuẩn bị bằng khả năng còn khảnăng hướng tới sự chuyển hoá thành hiện thực, nên trong hoạt động nhận thức vàhoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực chứ không thể dựa vào khả năng Tuynhiên, vì khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng trongtương lai nên khi đề ra kế hoạch, phải tính đến mọi khả năng để kế hoạch đó sátvới thực tiễn Nhiệm vụ của hoạt động nhận thức là phải xác định được khả năngphát triển của sự vật, hiện tượng và tìm ra khả năng ấy trong chính bản thân nó, bởikhả năng nảy sinh vừa do sự tác động qua lại giữa các mặt bên trong, vừa do sự tácđộng qua lại giữa sự vật, hiện tượng với hoàn cảnh bên ngoài

Thứ hai, phát triển là quá trình mà trong đó khả năng chuyển hoá thành hiện thực,

còn hiện thực này trong quá trình phát triển của mình lại sinh ra các khả năng mới,các khả năng mới ấy trong điều kiện thích hợp lại chuyển hoá thành hiện thực, tạo

Trang 33

thành quá trình vô tận; do vậy, sau khi đã xác định được các khả năng phát triểncủa sự vật, hiện tượng, thì mới nên tiến hành lựa chọn và thực hiện khả năng

Thứ ba, trong quá trình thực hiện khả năng đã lựa chọn, cần chú ý là trong một

sự vật, hiện tượng có thể chứa nhiều khả năng khác nhau, do vậy cần tính đến mọikhả năng để dự kiến các phương án thích hợp cho từng trường hợp có thể xẩy ra

Thứ tư, cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật, hiện tượng có thể

tồn tại một số khả năng và ngoài một số khả năng vốn có, thì khi có điều kiện mới

bổ sung, ở sự vật, hiện tượng sẽ xuất hiện thêm một số khả năng mới Bởi vậy,trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải lựa chọn khả năng trong sốhiện có, trước hết là chú ý đến khả năng gần, khả năng tất nhiên vì đó là chúng dễchuyển hoá thành hiện thực hơn

Thứ năm, khả năng chỉ chuyển hoá thành hiện thực khi có đầy đủ các điều kiện

cần thiết nên cần tạo ra các điều kiện đó để nó chuyển hoá thành hiện thực Cầntránh sai lầm, hoặc tuyệt đối hoá vai trò của nhân tố chủ quan, hoặc xem thườngvai trò ấy trong quá trình biến đổi khả năng thành hiện thực

c Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Đó là các quy luật khái quát nguyên nhân, cách thức và khuynh hướng vậnđộng, phát triển của sự vật, hiện tượng, chúng phản ánh bản chất biện chứng củathế giới khách quan vốn được con người rút ra từ trong lịch sử của giới tự nhiên vàlịch sử của xã hội loài người Các quy luật này định hướng việc nghiên cứu cácquy luật đặc thù, mối liên hệ giữa chúng tạo ra cơ sở khách quan cho mối liên hệgiữa triết học duy vật biện chứng với khoa học chuyên ngành

* Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại

Vị trí Quy luật này chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động và phát triển.

Quy luật cũng chỉ ra tính chất của sự vận động và phát triển, khi cho thấy sự thayđổi về lượng của sự vật, hiện tượng diễn ra từ từ kết hợp với sự thay đổi nhảy vọt

về chất làm cho sự vật, hiện tượng vừa tiến bước tuần tự, vừa có những bước độtphá vượt bậc

Nội dung quy luật (các khái niệm diễn đạt quy luật và mối quan hệ giữa chúng).

Chất là tên gọi tắt của chất lượng, là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách

quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu

tố tạo nên sự vật, hiện tượng làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải là sự

Trang 34

vật, hiện tượng khác (trả lời cho câu hỏi sự vật, hiện tượng đó là gì? và giúp phânbiệt nó với sự vật, hiện tượng khác)

Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng

về mặt quy mô, trình độ phát triển, các yếu tố biểu hiện ở số lượng các thuộc tính,

ở tổng số các bộ phận, ở đại lượng, ở tốc độ và nhịp điệu vận động và phát triểncủa sự vật, hiện tượng Lượng còn biểu hiện ở kích thước dài hay ngắn, lớn haynhỏ, tổng số ít hay nhiều, trình độ cao hay thấp, tốc độ vận động nhanh hay chậm,màu sắc đậm hay nhạt Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối,tuỳ theo từng mối quan hệ mà xác định đâu là lượng và đâu là chất; cái là lượngtrong mối quan hệ này, lại có thể là chất trong mối quan hệ khác

Mối quan hệ giữa các khái niệm của quy luật chỉ ra rằng, mỗi sự vật, hiệntượng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng, chúng tác động biện chứnglẫn nhau theo cơ chế khi sự vật, hiện tượng đang tồn tại, chất và lượng thống nhất

với nhau ở một độ; nhưng cũng trong phạm vi độ đó, chất và lượng đã tác động

lẫn nhau làm cho sự vật, hiện tượng dần biến đổi bắt đầu từ lượng Quá trình thayđổi của lượng diễn ra theo xu hướng hoặc tăng hoặc giảm nhưng không lập tức dẫnđến sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng; chỉ khi nào lượng thay đổi đến giớihạn nhất định (đến độ) mới dẫn đến sự thay đổi về chất Như vậy, sự thay đổi vềlượng tạo điều kiện cho chất đổi và kết quả là sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật,hiện tượng mới ra đời

Các khái niệm độ, điểm nút, bước nhảy, xuất hiện trong quá trình tác động lẫnnhau giữa chất và lượng

Độlà khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và quy định lẫn nhau giữa

chất với lượng; là giới hạn tồn tại của sự vật, hiện tượng mà trong đó, sự thay đổi

về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất; sự vật, hiện tượng vẫn là nó, chưachuyển hoá thành sự vật, hiện tượng khác

Điểm giới hạn mà tại đó, sự thay đổi về lượng đạt tới chỗ phá vỡ độ cũ, làmcho chất của sự vật, hiện tượng thay đổi, chuyển thành chất mới, thời điểm mà tại

đó bắt đầu xảy ra bước nhảy, gọi là điểm nút Độ được giới hạn bởi hai điểm nút và

sự thay đổi về lượng đạt tới điểm nút trên sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Sựthống nhất giữa lượng mới với chất mới tạo ra độ mới và điểm nút mới

Bước nhảylà khái niệm dùng để chỉ giai đoạn chuyển hoá cơ bản về chất của sự

vật, hiện tượng do những thay đổi về lượng trước đó gây ra, là bước ngoặt cơ bảntrong sự biến đổi về lượng Bước nhảy kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, là

sự gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật, hiện tượng

Trang 35

Sự vật, hiện tượng mới xuất hiện là do bước nhảy được thực hiện; trong sựvật, hiện tượng đó lượng lại biến đổi, đến điểm nút mới, lại xảy ra bước nhảy mới.

Cứ như thế, sự vận động của sự vật, hiện tượng diễn ra, lúc thì biến đổi tuần tự vềlượng, lúc thì nhảy vọt về chất, tạo nên một đường dài thay thế nhau vô tận sự vật,hiện tượng cũ bằng sự vật, hiện tượng mới Quy luật lượng đổi - chất đổi còn nóilên chiều ngược lại, nghĩa là khi chất mới đã khẳng định mình, nó tạo ra lượng mớiphù hợp để có sự thống nhất mới giữa chất với lượng

Như vậy, quy luật chỉ ra rằng quan hệ lượng - chất là quan hệ biện chứng.Những thay đổi về lượng chuyển thành những thay đổi về chất và ngược lại; chất

là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt dễ biến đổi hơn Lượng biến đổi, mâu thuẫnvới chất cũ, phá vỡ độ cũ, chất mới hình thành với lượng mới; lượng mới lại tiếptục biến đổi, đến độ nào đó lại phá vỡ chất cũ đang kìm hãm nó Quá trình tác độngqua lại lẫn nhau giữa lượng và chất tạo nên sự vận động liên tục Tuỳ vào sự vật,hiện tượng, tuỳ vào mâu thuẫn vốn có của chúng và vào điều kiện, trong đó diễn ra

sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng, có nhiều hình thức bước nhảy

Căn cứ vào quy mô và nhịp độ của bước nhảy, có bước nhảy toàn bộ vàbước nhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ làm cho tất cả các mặt, các bộ phận, các yếutố của sự vật, hiện tượng thay đổi Bước nhảy cục bộ chỉ làm thay đổi một sốmặt, một số yếu tố, một số bộ phận của chúng Sự phân biệt bước nhảy toàn bộhay cục bộ chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi chúng đều là kết quả của quá trình thayđổi về lượng

Căn cứ vào thời gian của sự thay đổi về chất và dựa trên cơ chế của sự thayđổi đó, có bước nhảy tức thời và bước nhảy dần dần Bước nhảy tức thời làm chấtcủa sự vật, hiện tượng biến đổi mau chóng ở tất cả các bộ phận của nó Bước nhảydần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng cách tích luỹ dần những yếu tốcủa chất mới và loại bỏ dần các yếu tố của chất cũ, trong trường hợp này sự vật,hiện tượng biến đổi chậm hơn

Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật lượng đổi - chất đổi

Thứ nhất, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết tích luỹ

về lượng để có biến đổi về chất; không được nôn nóng cũng như không được bảothủ

Thứ hai, khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu

khách quan của sự vận động của sự vật, hiện tượng; tư tưởng nôn nóng thườngbiểu hiện ở chỗ không chú ý thỏa đáng đến sự tích luỹ về lượng mà cho rằng, sựphát triển của sự vật, hiện tượng chỉ là những bước nhảy liên tục; ngược lại, tưtưởng bảo thủ thường biểu hiện ở chỗ không dám thực hiện bước nhảy, coi sự phát

Trang 36

triển chỉ là những thay đổi về lượng Do vậy, cần khắc phục cả hai biểu hiện trên.

Thứ ba, sự tác động của quy luật này đòi hỏi phải có thái độ khách quan, khoa học

và quyết tâm thực hiện bước nhảy; tuy đều có tính khách quan, nhưng quy luật xãhội chỉ diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người; do vậy, khi thực hiệnbước nhảy trong lĩnh vực xã hội, tuy vẫn phải tuân theo điều kiện khách quan,nhưng cũng phải chú ý đến điều kiện chủ quan Nói cách khác, trong hoạt độngthực tiễn, không những cần xác định quy mô và nhịp điệu bước nhảy một cáchkhách quan, khoa học, chống giáo điều, rập khuôn, mà còn phải có quyết tâm vànghị lực để thực hiện bước nhảy khi điều kiện đã chín muồi, chủ động nắm bắt thời

cơ thực hiện kịp thời bước nhảy khi điều kiện cho phép, chuyển thay đổi mang tínhtiến hoá sang thay đổi mang tính cách mạng

Thứ tư, quy luật yêu cầu phải nhận thức được sự thay đổi về chất còn phụ thuộc

vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng; do đó, phảibiết lựa chọn phương pháp phù hợp để tác động vào phương thức liên kết đó trên

cơ sở hiểu rõ bản chất, quy luật của chúng

* Quy luật thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập (Quy luật mâu thuẫn)

Quy luật mâu thuẫn thể hiện bản chất, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật,bởi nó đề cập tới vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật -vấn đề nguồn gốcvà động lực của sự vận động, phát triển

Nội dung quy luật (các khái niệm diễn đạt quy luật và mối quan hệ giữachúng)

Trong phép biện chứng duy vật, mâu thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ

sự liên hệ, tác động theo cách vừa thống nhất, vừa đấu tranh; vừa đòi hỏi, vừa loại

trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập Yếu tố tạo thành mâu thuẫn biện

chứng là các mặt đối lập, các bộ phận, các thuộc tính có khuynh hướng biến đổitrái ngược nhau, nhưng cùng tồn tại khách quan trong mỗi sự vật, hiện tượng của tựnhiên, xã hội và tư duy

Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranhlẫn nhau tạo nên trạng thái ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng

Thống nhất giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ giữa chúng

và được thể hiện ở:

thứ nhất, các mặt đối lập cần đến nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đề cho nhau

tồn tại, không có mặt này thì không có mặt kia;

Trang 37

thứ hai, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau thể hiện sự đấu

tranh giữa cái mới đang hình thành với cái cũ chưa mất hẳn;

thứ ba, giữa các mặt đối lập có sự tương đồng, đồng nhất do trong các mặt đối

lập còn tồn tại những yếu tố giống nhau Do sự đồng nhất này mà trong nhiều trườnghợp, khi mâu thuẫn xuất hiện và tác động ở điều kiện phù hợp, các mặt đối lậpchuyển hoá vào nhau Đồng nhất không tách rời với sự khác nhau, với sự đối lập,bởi mỗi sự vật, hiện tượng vừa là bản thân nó, vừa là sự vật, hiện tượng đối lập với

nó nên trong đồng nhất đã bao hàm sự khác nhau, đối lập

Đấu tranh giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại theo

hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng và sự tác động đó cũng không tách rời

sự khác nhau, thống nhất, đồng nhất giữa chúng trong một mâu thuẫn Trong sựthống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập thì thống nhất có tính tạm thời, tươngđối, là có điều kiện, nghĩa là sự thống nhất đó chỉ tồn tại trong trạng thái đứng imtương đối của sự vật, hiện tượng; còn đấu tranh có tính tuyệt đối, nghĩa là đấu tranhphá vỡ sự ổn định tương đối của chúng dẫn đến sự chuyển hoá về chất của chúng.Tính tuyệt đối của đấu tranh gắn với sự tự thân vận động, phát triển diễn ra khôngngừng của sự vật, hiện tượng

Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi lĩnh vực của thế giới và vô cùng đadạng Sự đa dạng đó phụ thuộc vào đặc điểm của các mặt đối lập, vào điều kiện màtrong đó sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập triển khai, vào trình độ tổ chứccủa sự vật, hiện tượng mà trong đó mâu thuẫn tồn tại Mỗi loại mâu thuẫn có đặcđiểm riêng và có vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiệntượng

Căn cứ vào sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, hiện tượng, có mâuthuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

Mâu thuẫn cơ bản bám theo suốt quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng; nó

quy định bản chất, sự phát triển của chúng từ lúc hình thành đến lúc tiêu vong

Mâu thuẫn không cơ bản đặc trưng cho một phương diện nào đó, chỉ quy định sự

vận động, phát triển của một hoặc vài mặt nào đó của sự vật, hiện tượng, nó chịu

sự chi phối của mâu thuẫn cơ bản

Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật,hiện tượng trong mỗi giai đoạn nhất định, có thể phân chia thành mâu thuẫn chủyếu và mâu thuẫn thứ yếu

Trang 38

Mâu thuẫn chủ yếu luôn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn phát triển của sự vật,

hiện tượng, có tác dụng quy định đối với các mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn

đó của quá trình phát triển Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu sẽ tạo điều kiện để giảiquyết các mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn, còn sự phát triển, chuyển hoá của sựvật, hiện tượng từ hình thức này sang hình thức khác phụ thuộc vào việc giải quyếtmâu thuẫn chủ yếu

Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định trong sự vận

động, phát triển của sự vật, hiện tượng Tuy vậy, ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu,thứ yếu chỉ là tương đối, tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể, có mâu thuẫn trong điềukiện này là chủ yếu, song trong điều kiện khác lại là thứ yếu và ngược lại

Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập với một sự vật, hiện tượng, có mâuthuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài

Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng

đối lập nằm trong chính mỗi sự vật, hiện tượng; có vai trò quy định trực tiếp quátrình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

Mâu thuẫn bên ngoài xuất hiện trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng

với nhau; tuy cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chúng, nhưng phảithông qua mâu thuẫn bên trong mới phát huy tác dụng Các mâu thuẫn cơ bản vàchủ yếu đều là những mâu thuẫn giữa các mặt, các bộ phận, yếu tố bên trong cấu

thành sự vật hiện tượng nên có thể gọi chúng là mâu thuẫn bên trong Song các đối

tượng còn có những mối liên hệ và quan hệ với các đối tượng khác thuộc về môi

trường tồn tại của nó, những mâu thuẫn loại này được gọi là các mâu thuẫn bên ngoài Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối, bởi trong quan

hệ này hoặc so với một số đối tượng này, nó là bên trong; nhưng trong quan hệkhác, so với một số đối tượng khác, nó lại là bên ngoài

Căn cứ vào tính chất của lợi ích cơ bảnlà đối lập nhau trong mối quan hệgiữa các giai cấp ở một giai đoạn lịch sử nhất định, trong xã hội có mâu thuẫn đốikháng và mâu thuẫn không đối kháng

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người, xu hướng

xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau và không thể điều hoà được Đó là mâuthuẫn giữa các giai cấp bóc lột và bị bóc lột, giữa giai cấp thống trị và giai cấp bịtrị

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người,

xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản không đối lập nhau nên là mâu thuẫn cục bộ,tạm thời

Trang 39

Nói về vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển, Ph Ăngghennhấn mạnh, nguyên nhân chính và cũng là nguyên nhân cuối cùng tạo nên nguồngốc của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là sự tác động (theo hướngphủ định, thống nhất) lẫn nhau giữa chúng và giữa các mặt đối lập trong chúng Cóhai loại tác động dẫn đến vận động là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật, hiệntượng (bên ngoài) và sự tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập của cùng một sựcủa sự vật, hiện tượng (bên trong); nhưng chỉ có sự tác động lẫn nhau giữa các mặtđối lập (bên trong) mới làm cho sự vật, hiện tượng phát triển.

Giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự vận động, phát triển Bởi vậy, sựvận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là tự thân

Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật mâu thuẫn

Thứ nhất, thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng; từ

đó giải quyết mâu thuẫn phải tuân theo quy luật, điều kiện khách quan Muốn pháthiện mâu thuẫn, cần tìm ra thể thống nhất của các mặt đối lập trong sự vật, hiệntượng; từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động nhận thức vàthực tiễn

Thứ hai, phân tích mâu thuẫn cần bắt đầu từ việc xem xét quá trình phát sinh,

phát triển của từng loại mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa cácmâu thuẫn và điều kiện chuyển hoá giữa chúng Phải biết phân tích cụ thể một mâuthuẫn cụ thể và đề ra được phương pháp giải quyết mâu thuẫn đó

Thứ ba, phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các

mặt đối lập, không điều hoà mâu thuẫn cũng không nóng vội hay bảo thủ, bởi giảiquyết mâu thuẫn còn phụ thuộc vào điều kiện đã đủ và chín muồi hay chưa

* Quy luật phủ định của phủ định (Quy luật phủ định biện chứng)

Là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, quy luật phủ định chỉ

ra khuynh hướng (đi lên), hình thức (xoáy ốc), kết quả (sự vật, hiện tượng mới rađời từ sự vật, hiện tượng cũ) của sự phát triển của chúng thông qua sự thống nhấtgiữa tính thay đổi với tính kế thừa trong sự phát triển

Nội dung quy luật (các khái niệm diễn đạt quy luật và mối quan hệ giữachúng)

Phủ định biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự phủ định làm tiền đề, tạo

điều kiện cho sự phát triển Phủ định biện chứng làm cho sự vật, hiện tượng mới rađời thay thế sự vật, hiện tượng cũ và là yếu tố liên hệ giữa sự vật, hiện tượng cũ

Trang 40

với sự vật, hiện tượng mới Phủ định biện chứnglà tự phủ định, tự phát triển của sựvật, hiện tượng; là “mắt xích” trong “sợi dây chuyền” dẫn đến sự ra đời của sự vật,hiện tượng mới, tiến bộ hơn so với sự vật, hiện tượng cũ

- Phủ định biện chứng còn có tính phổ biến (diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên,

xã hội và tư duy)

Tính đa dạng, phong phú của phủ định biện chứng thể hiện ở nội dung, hình thứccủa nó

Đặc điểm cơ bản của phủ định biện chứng là sau một số (ít nhất là hai) lần phủđịnh, sự vật, hiện tượng phát triển có tính chu kỳ theo đường xoáy ốc mà thực chấtcủa sự phát triển đó là sự biến đổi, trong đó giai đoạn sau vẫn bảo tồn những gì tíchcực đã được tạo ra ở giai đoạn trước Với đặc điểm này, phủ định biện chứngkhông chỉ khắc phục hạn chế của sự vật, hiện tượng cũ; mà còn gắn chúng với sựvật, hiện tượng mới; gắn sự vật, hiện tượng được khẳng định với sự vật, hiện tượng

bị phủ định Vì vậy, phủ định biện chứng là vòng khâu tất yếu của sự liên hệ và sựphát triển

Kế thừa biện chứng là khái niệm dùng để chỉ việc sự vật, hiện tượng mới ra

đờivẫn giữ lại có chọn lọc và cải tạo yếu tố còn thích hợp để chuyển sang chúng;loại bỏ các yếu tố không còn thích hợp của sự vật, hiện tượng cũ đang gây cản trởcho sự phát triển của sự vật, hiện tượng mới Đặc điểm của kế thừa biện chứng làduy trì các yếu tố tích cực của sự vật, hiện tượng bị phủ định dưới dạng vượt bỏ,các yếu tố chọn giữ lại sẽ được cải tạo, biến đổi để phù hợp với sự vật, hiện tượngmới Giá trị của sự kế thừa biện chứng chịu sự quy định bởi vai trò của yếu tố phùhợp được kế thừa; do vậy, việc giữ lại yếu tố tích cực của sự vật, hiện tượng bị phủđịnh làm cho sự vật, hiện tượng mới có chất giàu có hơn, phát triển cao hơn, tiến

bộ hơn

Đường xoáy ốclà khái niệm dùng để chỉ sự vận động của những nội dung

mang tính kế thừa có trong sự vật, hiện tượng mới nên không thể đi theo đườngthẳng, mà diễn ra theo đường tròn không nằm trên một mặt phẳng tựa như đườngxoáy trôn ốc Đường xoáy ốc là hình thức diễn đạt rõ nhất đặc trưng của quá trìnhphát triển biện chứng ở tính kế thừa, tính lặp lại, nhưng không quay lại và tính tiến

Ngày đăng: 21/12/2021, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w