Giáo trình nhân trắc học có đầy đủ về số đo cơ thể người, cách phối đồ,cách ăn mặc sao cho hợp lí nhất tính toán rõ ràng hơn giúp ta tạo ra những sản phẩm đẹp vừa khớp với dáng người thích hợp cho tự thiết kế hay làm trong các công ty
Trang 2Chương mở đầu : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN TRẮC HỌC
I KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TRẮC HỌC.
1 Khái niệm:
Nhân trắc học là một môn khoa học dùng các phương pháp toán học và thống kê để nhận định và phân tích đánh giá sự đo đạc các kích thước của cơ thể con người nhằm rút ra các kết luận phục vụ thực tiễn hằng ngày như :
a/ Y tế:
- Điều tra, đánh giá sự phát triển thể lực, chẩn đoán các bệnh làm thay đổi hình thái cơ thể
- Đánh giá thể lực trong tuyển quân, vận động viên thể dục thể thao
b/ Sản xuất:
- Xây dựng các tiêu chuẩn kích thước người để thiết kế máy móc, phương tiện sản xuất (máy kéo sợi, ô tô,…)
- Sản xuất các phương tiện sinh hoạt (giường, tủ, quần áo, giày dép, …)
c/ Ngoài ra còn giúp tìm:
- Qui luật phát triển cơ thể
- Phân loại dạng người
- Phân loại chủng tộc
- Tìm hiểu nguồn gốc loài người
2 Phân loại:
Tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta chia ra:
- Nhân trắc học chuyên nghiên cứu hình thái và các chủng tộc loài người
- Nhân trắc học đường: nghiên cứu thể lực và các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe học sinh
- Nhân trắc thể dục thể thao: nghiên cứu các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe vận động viên
- Nhân trắc nghề nghiệp: xác định thiên hướng nghề nghiệp thích hợp cho từng đối tượng
- Nhân trắc y học: nghiên cứu sự phát triển cơ thể người qua từng thời kỳ, xác định các thay đổi hình thái do bệnh lý, phân loại các dạng người và đánh giá đúng tình trạng bình thường hay bệnh tật của một người
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN:
Nhân trắc học là một môn học đã có từ lâu, có thể nói rằng ngay từ khi con người biết đo chiều cao và cân nặng của mình bao nhiêu là đã bắt đầu làm nhân trắc học
Nhưng mãi đến đầu thế kỷ 20, khi Fisher, một trong những người sáng lập môn di truyền học quần thể đã xây dựng được môn thống kê toán học ứng dụng vào sinh học thì nhân trắc học mới thật sự trở thành một môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác của nó
Ở Việt Nam, năm 1930 đã có một số công trình lẻ tẻ vẽ, đo đạc một số kích thước chiều cao, cân nặng vòng ngực của học sinh Hà Nội nhưng các công trình này chưa vận dụng được vào
hệ thống kê toán học, vào việc nhận định kết quả đo đạc nên giá trị phần nào khi bị hạn chế
Hiện nay, do nhu cầu phát triển nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân, nhân trắc thống kê đã
có điều kiện phát triển và tiến lên những bước đáng kể Nhiều đối tượng người ở hầu hết các lứa tuổi, ở nhiều thành phần đã được điều tra nghiên cứu Số thông số đo đạc cho mỗi đối tượng lên tới hàng trăm và số người viện nghiên cứu ngày một tăng Các tính toán thống kê đã được cố
Trang 3- Thể dục thể thao.
- Thiết kế máy móc
- Đóng bàn ghế
- Sản xuất quần áo, giày dép
Trang 4Chương I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CẦN THIẾT VỀ THỐNG KÊ DÙNG TRONG NHÂN TRẮC
Thống kê hình thái học cũng như thống kê sinh vật học nói chung là áp dụng các phương pháp toán học xác suất trong việc tính toán các số liệu đo đạc hay thu thập được và bằng phương pháp quy nạp suy ra các nguyên tắc chung và quy luật
Ví dụ: đo và thống kê chiều cao của 42 em học sinh 5 tuổi, 42 chiều cao ấy thường không hoàn toàn như nhau Cho nên nếu ghi 42 số đo vào 1 bảng thì cồng kềnh mà lại không ích lợi lắm
vì làm người đọc khó nhìn thấy một khái niệm chính xác Vì vậy người ta tìm cách để chỉ nêu một vài đặc trưng như số trung bình, độ lệch tiêu chuẩn là ta có ngay một khái niệm chính xác về chiều cao ấy Việc tìm ra những đặc trưng ấy chính là một phần của phép thống kê
Những nội dung cơ bản của nó sẽ được trình bày tóm tắt dưới đây:
I TẬP HỢP VÀ SẮP XẾP CÁC SỐ ĐO:
Trước khi tính toán các đặc trưng, chúng ta phải tập hợp và sắp xếp các số đo Muốn vậy phải hiểu các khái niệm sau đây:
1 Phân phối thực nghiệm :
Là tập hợp các dãy trị số theo một trật tự nhất định từ nhỏ đến lớn hoặc ngược lại
Ví dụ : Đo một nhóm 42 em học sinh mẫu giáo 5 tuổi ở ngoại thành Hà Nội, kích thước chiều cao mặt (đơn vị tính là mm) có các trị số rải rác từ 74mm lớn dần đến 100mm ta được một dãy số gọi là phân phối thực nghiệm
- Các số đặc trưng xác định vị trí là trị số
- Số nhỏ nhất là số cực tiểu (min)
(max)
Trong ví dụ trên:
74: cực tiểu 100: cực đại
Là khoảng các số nằm giữa 2
Trong ví dụ trên khoảng biến
Trong 1 phân phối thực nghiệm, 1 trị số có thể lập lại
đó
Trang 5Trong ví dụ trên số 80 lặp lại 3 lần, 81 lặp lại 2 lần, 82 lặp lại 2 lần Vậy 3,2,2 gọi là tần suất của trị số 80, 81, 82
4 Lớp :
Thay vì ghi tất cả các trị số của phân phối thực nghiệm vào 1 bảng, ta xếp các trị số gần nhau lại thành tcó khoảng cách đều nhau, mỗi nhóm trị số như vậy gọi là 1 lớp
Khoảng biến thiên bây giờ không phải chỉ gồm 1 dãy trị số nữa mà gồm 1 dãy lớp
5 Khoảng của lớp (h) :
Là biên độ của lớp nghĩa là khoảng cách từ trị số bé nhất đến trị số lớn nhất của một lớp Lưu ý: Khoảng cách của tất cả các lớp trong một phân phối thực nghiệm phải bằng nhau
Sự chia lớp và chọn khoảng của lớp có một tầm quan trọng đặc biệt Nó hoàn toàn do ta chọn cốt làm sao cho sự tính toán được gọn gàng nhưng vẫn giữ nguyên kết quả tính toán các đặc trưng của một phân phối thực nghiệm và làm nổi bật các đặc tính của phân phối
Nếu chọn khoảng của lớp lớn quá thì số lớp của một phân phối ít đi: các đặc tính của sự phân phối không hiện lên rõ ràng
Nếu chọn khoảng của lớp nhỏ quá thì số lớp của một phân phối nhiều lên: khó phát hiện các đặc tính của sự phân phối
Nên chọn khoảng sao cho số lớp từ 8 – 15 lớp là vừa
6 Tần suất của lớp (fi):
Là tổng số lần lặp lại của tất cả các trị số nằm trong lớp đó
7 Trị số giữa của lớp (Xi):
Là nửa tổng số của số cực tiểu và số cưc đại
Trong ví dụ trên nếu xếp thành từng lớp có khoảng là 3mm thì ta có thể xếp thành phân phối thực nghiệm đó gồm 9 lớp
Lớp thứ nhất gồm các tri số 74, 75, 76mm
Lớp thứ hai gồm các tri số 77, 78, 79mm
………
Lớp thứ chín gồm các tri số 98,99,100mm
Vậy:
75 là trị số giữa của lớp thứ nhất
78 là trị số giữa của lớp thứ hai
Xi = Xmax của lớp + Xmin của lóp
2
Trang 699 là trị số giữa của lớp thứ chín
Tần suất gặp của lớp thứ nhất là 2
Tần suất gặp của lớp thứ hai là 3
Tần suất gặp của lớp thứ chín là 1
Ta ghi lại theo bảng dưới đây:
n = 42 học sinh
II NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA SỰ PHÂN PHỐI.
1 Đặc tính trung tâm:
Đặc tính trung tâm của một phân phối thực nghiệm được biểu hiện bằng các đặc trưng sau đây:
- Số trung bình cộng
- Số giữa
- Quactin
- Dexil
- Số trung bình nhân
- Số trung bình điều hòa
Số trung bình cộng là một đặc trưng hay được tính nhất để biểu hiện khuynh hướng trung tâm của sự phân phối Nó là một đại lượng phổ biến nhất, điển hình nhất trong bất kỳ một thống
kê nào
Các phương pháp tính (X ):
- Phương pháp trực tiếp:
Ta có số trung bình cộng bằng tổng Sigma () trị số của các số đo và tần suất của từng giá trị chia cho tổng số các số đo (n)
X =
n
x f x
f x
f1 1 2 2 n n
=
n
x
f i i
X : trung bình cộng
Trang 7n = f1 + f2 + …… + fn
X =
42
99 96 93 3 90 4 87 7 84 14 81 7 78 3 75
= 85
Phương pháp này trên thực tế thường ít làm, nhất là đối với những mẫu quá lớn (n từ hàng trăm trở lên) Để đơn giản người ta dùng một phương pháp gọi là chọn một đại lượng trung bình chỉ định tùy ý
- Phương pháp dùng đại lượng trung bình chỉ định tùy ý.
Gọi M là đại lượng trung bình chỉ định chỉ định tùy ý
Thông thường nên chọn M là số giữa của lớp có tần suất lớn nhất vì như vậy M sẽ gần X
nhất, do vậy các phép tính sẽ đơn giản đi nhiều
Chọn x’ là độ chênh lệch của số giữa của mỗi lớp so với số trung bình chỉ định tùy ý M chia cho khoảng của lớp
Xi - M x’ =
h
h : khoảng của mỗi lớp (tức số giá trị của mỗi lớp)
Khoảng của các lớp trong 1 phân phối thực nghiệm luôn bằng nhau (thông thường là 3 hay 1)
f : tần suất của mỗi lớp
Ta có công thức :
_ fx’
X = M + h n
Ví dụ: chọn M = 84 (trong bảng bên) ta lập bảng tính X
lớp Xi
_ 14
X = 84 + 3 = 85
Trang 842
Kết quả vẫn cho ta thấy giống phương pháp tính trực tiếp