- Đặc trưng thứ nhất: trong giao tiếp sư phạm, giáo viên chủ thể giáo tiếp không chỉ giao tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng, tri thức khoa học, mà còn là tấm gương sáng mẫu mực về
Trang 1CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO TIẾP SƯ PHẠM
I Khái niệm giao tiếp, giao tiếp sư phạm trong tâm lí học.
1 Khái niệm giao tiếp và giao tiếp sư phạm
a Giao tiếp`
- Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
- Hiểu theo cách khác: Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa mối quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác
b Giao tiếp sư phạm
Giao tiếp giữa con người với con người trong hoạt động sư phạm được gọi là giao
tiếp sư phạm.
Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính nghề nghiệp, trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục, có chức năng
sư phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lí, xây dựng không khí tâm lí thuận lợi, cùng các quá trình tâm lí khác (chú ý, tư duy v.v…) Có thể tạo ra kết quả tối ưu của quan hệ thầy trò, trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học
2 Những đặc trưng cơ bản của giao tiếp và giao tiếp sư phạm
a Những đặc trưng cơ bản của giao tiếp
- Khi giao tiếp con người ý thức được mục đích, nội dung và những phương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác
- Giao tiếp luôn diễn ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm thế giới quan, nhân sinh quan, nhu cầu… của những người tham gia vào quá trình giao tiếp
- Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội Giao tiếp có nội dung
xã hội cụ thể được thực hiện trong hoàn cảnh xã hội nhất định
- Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân thực hiện Dù ở loại giao tiếp nào, nội dung giao tiếp gì? cũng đều do cá nhân thực hiện Trong giao tiếp cá nhân vừa là chủ thể vừa là khách thể
- Giao tiếp của con người không chỉ xảy ra trong hiện tại, mà bao hàm, chứa đựng cả quá khứ, tương lai
- Giao tiếp luôn có sự kế thừa, chọn lựa những gì quá khứ trải qua Thông qua các phương tiện giao tiếp như ngôn ngữ, các phương tiện kĩ thuật nhằm ghi chép, giữ gìn những di sản văn hóa tinh thần vật chất, các công cụ sản xuất
- Giao tiếp luôn được phát triển nhưng không phải chỉ đối với cá nhân mà còn đối với xã hội, cộng đồng, dân tộc, tập thể, nhóm, v.v… hòa quyện vào nền văn minh nhân loại
b Những đặc trưng cơ bản của giao tiếp sư phạm.
- Đặc trưng thứ nhất: trong giao tiếp sư phạm, giáo viên (chủ thể giáo tiếp) không chỉ giao tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng, tri thức khoa học, mà còn
là tấm gương sáng mẫu mực về nhân cách cho học sinh noi theo (thầy luôn có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm trong cuộc sống và công việc)
- Đặc trưng thứ hai của giao tiếp sư phạm là thầy giáo dùng các biện pháp giáo dục tình cảm, thuyết phục vận động với học sinh, gần gũi học sinh, chân thành tôn
Trang 2trọng học sinh biết đi vào tâm hồn của các em; đoán trước được những phản ứng
có thể xảy ra ở học sinh …biết đề ra những yêu cầu đúng đắn và phù hợp với từng học sinh để trẻ dễ dàng cởi mở tâm hồn với người lớn
- Đặc trưng thứ ba của giao tiếp sư phạm là sự tôn trọng của nhà nước và xã hội đối với giáo viên
Điều 14 - Dự thảo luật giáo dục có ghi:
Nhà nước có chính sách và tạo điều kiện để xã hội quý trọng nhà giáo, tôn trọng nghề dạy học; đảm bảo các điều kiện vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình.
Điều 76 - Dự thảo luật giáo dục có ghi:
Cấm người học có các hành vi vô lễ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, công nhân viên nhà trường
Kết luận sư phạm:
- Để giao tiếp sư phạm đạt được hiệu quả phải tạo được bầu không khí tâm lý thuận lợi trong giao tiếp giữa giáo viên và học sinh
- Giáo viên phải thực sự là chủ thể có ý thức tổ chức xây dựng mối quan hệ thân thiện, bình đẳng giữa giáo viên và học sinh, không nên tạo ra ở học sinh những rào cản tâm lý trong quá trình tiếp xúc với giáo viên
3 Giao tiếp sư phạm và sự phát triển nhân cách học sinh
- Cuộc sống tâm lý của mỗi con người đều bắt đầu từ giao tiếp Giao tiếp nói
chung, giao tiếp sư phạm nói riêng là điều kiện tất yếu hình thành và phát triển nhân cách cá nhân
- Trong giao tiếp sư phạm, nét riêng biệt của sự khéo léo đối xử sư phạm là ở chỗ: giáo viên có ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển những hành vi, thái
độ của những con người (học sinh) mà họ quan hệ
- Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên đã xây dựng, phát triển ở học sinh đức tính tự đánh giá mình, qua đó giúp các em tự giải quyết nhiệm vụ có kết quả trong học tập, tổ chức sinh hoạt đời sống:
+ Giáo dục học sinh lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm trước tập thể và tổ quốc
+ Phát triển tính tích cực của học sinh trong quá trình lĩnh hội các cơ sở khoa học trong giờ lên lớp, tính tích cực trong hoạt động lao động, trong công tác xã hội công ích trong vui chơi giải trí
+ Xây dựng và kích thích sự phát triển ở học sinh những tri thức, kĩ năng, đối
xử khéo léo với mọi người trong gia đình, với mọi người xung quanh, với người lớn, bạn bè và những em bé
- Để việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh có kết quả thì giáo viên phải đi sâu vào thế giới tâm hồn của học sinh, phải biết cư xử một cách khéo léo với các em để khêu gợi ở các em lòng mong muốn trở thành những con người
có ích cho xã hội Tổ chức đúng đắn tính quá trình sư phạm trong giờ lên lớp, giáo viên sẽ kích thích học sinh tích cực lắng nghe, suy nghĩ tìm hiểu sâu tài liệu học tập Khuyến khích các em ra sức khắc phục khó khăn tự mình hoàn thành những nhiệm vụ học tập
- Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên thiết lập được quan hệ mật thiết với học sinh, gạt bỏ hàng rào tâm lí giữa giáo viên và học sinh thì sẽ giúp giáo viên loại bỏ tính chủ nghĩa hình thức trong công tác giáo dục học học sinh
Trang 3Kết luận: Giao tiếp sư phạm sẽ tạo điều kiện thuận lợi, là điều kiện tất yếu để
hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Để việc hình thành nhân cách của học sinh có kết quả thì giáo viên phải đi sâu vào thế giới tâm hồn của học sinh, biết được cái gì đã kích thích các em, cái gì làm các em xúc cảm, phải đối xử các em như thế nào để khêu gợi ở các em lòng mong muốn trở thành con người có ích cho
xã hội
4 Các hình thức giao tiếp sư phạm
4.1 Giao tiếp sư phạm trong nhà trường
- Mục đích chủ yếu của giao tiếp sư phạm
+ Mục đích chủ yếu của giao tiếp sư phạm trong nhà trường là truyền thụ tri thức khoa học có tính chất bài bản theo chương trình nội dung sách giáo khoa giáo trình quy định lượng tri thức tối thiểu của tiết học Học sinh phải lĩnh hội, hiểu nội dung tri thức đó, làm các bài tập thực hành tương ứng
+ Kích thích sự phát triển trí tuệ, phát triển tư duy sáng tạo ở học sinh, từng bước cung cấp phương pháp học và tự học ở trên lớp và ở nhà
- Đối tượng của giao tiếp sư phạm:
+ Đối tượng của giao tiếp sư là học sinh tiểu học Đây là lứa tuổi rất hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, bản tính của trẻ luôn thể hiện ra bên ngoài không hề che giấu, không hề “ đóng kịck” Trong mỗi trẻ em luôn tiềm tàng khả năng phát triển
+ Trẻ ở tuổi tiểu học là lứa tuổi đang hình thành và phát triển rất nhanh về thể chất, tâm lý, nhưng nó chưa đạt tới độ chín muồi như người trưởng thành Trẻ tiểu học chưa đủ ý thức, phẩm chất và năng lực để tồn tại như một công dân trong xã hội, các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của nhà trường, gia đình và
xã hội
Kết luận: Từ phân tích trên, việc tiếp xúc của thầy, cô giáo đối với học sinh
cần tế nhị, tôn trọng nhân cách của các em, nhẹ nhàng nhưng vẫn đòi hỏi cao, nghiêm khắc nhưng lại phải khoan dung, nhân ái
*Nội dung giao tiếp sư phạm
Nội dung giao tiếp sư phạm chủ yếu là tri thức khoa học về lĩnh vực tự nhiên,
xã hội và con người Do đó trong giảng dạy và giao tiếp với học sinh giáo viên cần trình bày nội dung bài dạy và những vấn đề cần trao đổi với học sinh khi tiếp xúc một cách rõ ràng, khúc chiết, dễ hiểu … làm sao để kích thích được sự phát triển trí tuệ, tư duy sáng tạo, và hình thành ở học sinh những phẩm chất tâm lý tốt
*Phương tiện giao tiếp sư phạm
Các phương tiện chủ yếu sử dụng trong giao tiếp sư phạm là: Phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
* Giao tiếp sư phạm được tiến hành trong điều kiện đặc biệt có trường lớp,
bàn, ghế, bảng đen theo những quy cách phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh
lí trẻ, lớp học sạch sẽ, đủ ánh sáng, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, không gian và quan hệ thấy trò đảm bảo cho học sinh có cảm giác an toàn, tự tịn, thoải mái…
4.2 Giao tiếp sư phạm ngoài nhà trường.
- Mục đích giao tiếp sư phạm ngoài nhà trường: truyền đạt và lĩnh hội những vốn sống kinh nghiệm xã hội, cung cách hành vi ứng xử trong các quan hệ xã hội
mà nhà trường chưa đề cập đến hoặc ít chú ý đến
Trang 4- Đối tượng giao tiếp: Các thành viên trong các nhóm xã hội (gia đình, xóm, làng, phố phường, các đoàn thể mà giáo viên sinh hoạt ở đó)
- Nội dung giao tiếp: Là hệ thống các thao tác hành vi ứng xử, các tư thế, phong cách, nhận thức, biểu cảm, tổ chức đời sống cá nhân, cộng đồng với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
- Phương tiện giao tiếp: Phương tiện giao tiếp sư phạm ngoài nhà trường chủ yếu là ngôn ngữ nói và hành vi cử chỉ, điệu bộ tư thế, phong cách Tất cả các phương tiện giao tiếp khác được sử dụng tùy theo hoàn cảnh, đối tượng và điều kiện nội dung và mục đích giao tiếp
- Giao tiếp sư phạm nhà trường được tiến hành trong điều kiện bình thường, rất linh hoạt và phức tạo hơn nhiều, bởi lẽ, nội dung, mục đích và đối tượng giao tiếp khác nhau Ngay cả đối với học sinh, việc tiếp xúc thầy - trò ngoài nhà trường cũng sinh động, phong phú, có khi những nghi thức giao tiếp cũng đơn giản hơn, tự nhiên hơn
5 Đặc điểm giao tiếp của học sinh tiểu học:
- Việc đi học ở trường phổ thông là một bước ngoặt trong đời sống của các em Những mối quan hệ mới với người lớn, với bạn được hình thành Trẻ được tham gia vào các tập thể (trường, lớp, tổ, sao, đội…) Tham gia vào hoạt động học tập (hoạt động chủ đạo) buộc trẻ phải làm cho cuộc sống của mình phục tùng tổ chức, quy tắc và chế độ sinh hoạt chặt chẽ tất cả những vấn đề trên ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và củng cố các mối quan hệ với hiện thực xung quanh, với tập thể, với mọi người
- Ở lứa tuổi tiểu học thông qua các hoạt động và giao tiếp với thầy, cô giáo với bạn….học sinh tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và quy tắc đạo đức xã hội, tạo nên
ý thức đạo đức, ý thức tập thể, tình cảm đạo đức …
- Thông qua giao tiếp trẻ hình thành ý thức tự khẳng định mình tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ về hứng thú, tình cảm, tính cách…
- Phạm vi giao tiếp của học sinh tiểu học hẹp, chủ yếu trẻ quan hệ với những người thân trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn cùng lớp, một số bạn gần nhà, hoạt động trong nhà trường…Nội dung giao tiếp của trẻ chủ yếu xung quanh vấn đề học tập và cuộc sống trong nhà trường và những vấn đề gần gũi liên quan đến cuộc sống hàng ngày của trẻ
II Các giai đoạn trong quá trình giao tiếp sư phạm.
1 Mở đầu quá trình giao tiếp sư phạm (giai đoạn định hướng quá trình giao
tiếp)
Chức năng cơ bản của giai đoạn này là nhận thức
- Khi chưa quen biết, những thông tin về nhận thức cảm tính như dáng người, nét mặt, đôi mắt y phục … Những thông tin về nhận thức cảm tính thường mang tính áp đặt nhưng nó giúp ta có được những thông tin về đối tượng Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn định hướng
- Mở đầu quá trình giao tiếp có sự tham gia của trực giác (gọi là trực cảm giác), nghĩa là sau khi nhìn, nghe, sờ, nếm, ngửi một vật gì đó hoặc tiếp xúc với người lạ…là cơ sở giúp cho chủ thể giao tiếp biết được sự tốt, xấu, lành, dữ hoặc có một
dự báo quan trọng để cuộc giao tiếp diễn biến theo chiều hướng nào
- Trực giác được hình thành bằng vốn sống kinh nghiệm nghề nghiệp của giáo viên khi tiếp xúc với học sinh
Trang 5- Trong giao tiếp sư phạm mục đích của giai đoạn này phải tạo ra được sự thiện cảm và tin yêu của học sinh đối với giáo viên Muốn vậy từ y phục đến ánh mắt, nụ cười, cách đi đứng, tư thế, phong cách cần đĩnh đạc đàng hoàng; tự tin để tạo cảm giác an toàn cho học sinh, tạo ở các em một sự gần gũi, nhưng kính trọng thầy cô
- Mở đầu quá trình giao tiếp thường diễn ra khi thầy cô giáo tiếp nhận lớp mới, học trò mới, lần tiếp xúc đầu tiên, cũng có thể xảy ra những sự kiện mới như giảng viên mới, tiết học mới, nhận nhiệm vụ mới, vai trò vị trí mới…
- Mở đầu quá trình giao tiếp sư phạm, được chuẩn bị chu đáo nên nói những gì? thông thường cần giới thiệu vài nét về thầy cô để làm quen với các em, sau đó đến những nội dung cần nói, cố gắng nói gọn, rõ ràng, mạch lạc Nếu là giới thiệu môn học mới, chương trình mới, cần định hướng rõ với học sinh môn học bao nhiêu tiết, mỗi tuần học bao nhiêu tiết, có mấy lần kiểm tra, thi vào thời gian nào ? Nếu là các giáo viên chủ nhiệm thì nội dung giao tiếp lần đầu phong phú hơn, phức tạp hơn Mọi thói quen ứng xử với thầy cô, ở học sinh được hình thành ngay từ buổi ban đầu
- Mở đầu quá trình giao tiếp nếu:
+ Thầy cô dễ dãi quá mức - các em sẽ xem thường khinh nhờn
+ Thầy cô cứng rắn quá - Các em sẽ sợ hãi
+ Thầy cô lúng túng - Các em coi thường v.v…
- Ấn tượng ban đầu là cửa ngõ quan trọng của quá trình giao tiếp, nó chỉ đạo, định hướng suốt quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh.Tuy nhiên những ấn tượng ban đầu cũng không quyết định sự thành công của quá trình giao tiếp sư phạm Sự thành công của quá trình giao tiếp sư phạm còn tùy thuộc vào nhiều yếu
tố và cả một quá trình tiếp xúc lâu dài
2 Diễn biến quá trình giao tiếp sư phạm.
- Mọi mục đích giao tiếp được thực hiện ở giai đoạn này Sự thành công hay thất bại của quá trình giao tiếp do giai đoạn này quyết định
- Bản chất giai đoạn này là sự bộc lộ bản chất của chủ thể giao tiếp với đối tượng giao tiếp một cách sinh động và chân thực nhất
- Phương pháp giao tiếp, ứng xử tùy thuộc vào đối tượng, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tùy nhiệm vụ và nội dung giao tiếp…
- Nội dung giao tiếp tiếp sư phạm trong nhà trường chủ yếu là những tri thức khoa học của bộ môn: bao gồm những phạm trù, khái niệm, công thức, tiên đề, sự kiện, quy luật … là điểm tựa , là cái khung Còn ngôn ngữ nói của thầy cô là phương tiện chủ yếu chuyển tải những nội dung bài giảng, sao cho các em dễ hiểu,
dễ nhớ, ghi chép được, có thể vận dụng sáng tạo, để làm bài tập, thực hành được trong đời sống sinh hoạt một cách tự giác
- Để thu hút sự chú ý của học sinh giọng nói của giáo viên cần được thay đổi lên bổng, xuống trầm, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, tư thế đứng, ngồi sao cho hợp lí với thói quen cá nhân, phù hợp với khung cảnh không gian, thời gian,lời giảng cấn súc tích, chứa đựng nhiều thông tin kích thích được sự động não của học sinh Việc lên lớp và kết thúc tiết giảng, cần đúng giờ Các bước lên lớp ở mỗi loại tiết học, nên theo một trình tự khoa học nghiệp vụ sư phạm, các phương tiện nghe nhìn, giáo cụ trực quan cần được đưa ra trình bày đúng chỗ, những thắc mắc, câu hỏi học sinh lien quan đến bài giảng cần được giải đáp rõ rang, dễ hiểu
Trang 63.Kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm
- Mục đích kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm phải được cả giáo viên và học sinh đều nhận thức được: đã thực hiện được nội dung, nhiệm vụ giao tiếp và đều hiểu được điểm dừng tại đó
- Mỗi thầy cô thường có tín hiệu riêng để kết thúc bài giảng, buổi giao tiếp Kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm không phải là không gạp lại mà còn là hẹn gặp lại tiếp theo, do vậy cần thiết nên có các tín hiệu (bằng lời nói, cử chỉ, điệu
bộ, tư thế, hoặc hành vi như xóa bảng, cho sách vở, giáo án vào cặp, hoặc xem đồng hồ…) chuẩn bị kết thúc quá trình giao tiếp Không nên tạo ra một sự hụt hẫng đột ngột, khi nội dung bài giảng còn đang dở dang, hoặc dừng mà mục đích yêu cầu giao tiếp chưa đạt được
- Có thể dừng giao tiếp nhưng để lại sự lưu luyến cho đối tượng giao tiếp, biết tạo cho các em tâm thế chờ đợi quá trình giao tiếp (giờ học) tiếp theo
- Nên kết thúc quá trình giao tiếp làm sao để học sinh luôn có mong muốn gặp lại thầy cô cả về sự mẫu mực nhân cách, chiều sâu về năng lực chuyên môn, sự bản lĩnh về trí tuệ
4 Sự thống nhất các giai đoạn trong tình huống giao tiếp sư phạm.
Ba giai đoạn này bao giờ cũng thống nhất tác động qua lại lẫn nhau trong một tình huống giao tiếp cụ thể Không ít những trường hợp chính khi diễn biến quá trình giao tiếp thầy cô mới hiểu rõ học sinh, thay đổi quan điểm, đánh giá, nhận xét học sinh Khi kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm mới có đủ thông tin về học sinh Điều chỉnh, định hướng, đánh giá học sinh xảy ra liên tục ở các giai đoạn giao tiếp
sư phạm… Mỗi tình huống giao tiếp sư phạm, học sinh lại bộc lộ một phần bản chất của mình Sẽ là ngộ nhận chủ quan nếu chỉ qua một vài tình huống sư phạm
mà đánh giá nhân cách các em Nhưng nếu không có mô hình định hướng nhân cách của học sinh giáo viên sẽ sử dụng các phương pháp giao tiếp không phù hợp dẫn đến hiệu quả và giáo dục sẽ thấp
III Các phương tiện giao tiếp sư phạm
1 Ngôn ngữ trong giao tiếp sư phạm
a Đặc điểm của ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ là sản phẩm văn hóa, xã hội của loài người, được phát triển trên nền tảng sinh học qua hàng nghìn năm tiến hóa
- Ngôn ngữ mang tính chất tổng hợp tượng trưng, có thể truyền đi bất cứ một loại thông tin nào, đặc biệt để diễn tả các trạng thái tâm lí, đời sống tinh thần… của con người Nhờ có đặc điểm này mà con người mới hợp tác với nhau để tổ chức xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ và văn minh
- Ngôn ngữ mang tính chất lịch sử phát triển xã hội, bao giờ nó cũng mang tính
kế thừa và phát triển liên tục, cùng với sự phát triển văn hóa, văn minh của xã hội
- Trong các loại ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp sư phạm thì ngôn ngữ nói giữ một vị trí hàng đầu trong quá trình dạy học và giáo dục
a.1.Đặc điểm ngôn ngữ nói trong giao tiếp sư phạm
- Ngôn ngữ nói bao giờ cũng có các thành phần ngữ pháp, ngữ âm
- Ngôn ngữ nói chứa đựng nghĩa xã hội
- Ngôn ngữ nói được xã hội và cá nhân sử dụng trong giao tiếp với những người xung quanh, do vậy, khi cá nhân sử dụng ngôn ngữ nó hàm chứa ý cá nhân ở đó
Trang 7- Ngôn ngữ nói được sử dụng trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể, do vậy ít nhiều mang tính chất tình huống cụ thể
a.2 Đặc điểm cá nhân về ngôn ngữ nói.
- Đặc điểm rõ nhất về ngôn ngữ nói của cá nhân là phát âm, giọng điệu lời nói,
tốc độ nói đã tự nó phản ánh chân thật tình cảm của thầy cô, nó thực hiện chức năng trong giao tiếp sư phạm như: khuyến khích, động viên, răn đe, ngăn cấm… Giọng nói, nhịp điệu tác động trực tiếp vào nhận thức, chú ý, cảm xúc ở các em, kích thích sự phát triển trí tuệ ở học sinh
- Ngôn ngữ của thầy cô trên lớp mạch lạc, khúc chiết, rõ ràng, gọn, dễ hiểu, đúng chuẩn tiếng việt, bởi lẽ học trò không chỉ học cốt hiểu bài, mà còn học cách diễn đạt chuẩn tiếng Việt để cho giáo viên và người khác hiểu được Lời giảng của giáo viên thực hiện chức năng nhận thức đối với học sinh, chức năng định chuẩn mẫu lời nói để học sinh bắt chước
- Trong giao tiếp sư phạm mỗi giáo viên có phong cách lời nói khác nhau tùy thuộc vào sự rèn luyện cá nhân, vào bộ môn mình giảng dạy, nhưng phải luyện tập mới có được
- Để giao tiếp sư phạm thành công mỗi giáo viên cần phát huy thế mạnh, những đặc điểm cá nhân về ngôn ngữ nói của mình, để tạo ra những ấn tượng cần thiết, giúp học sinh hiểu được những nội dung tri thức khoa học và dễ dàng bắt chước những hành vi ngôn ngữ nói, mang tính chuẩn mực xã hội đương thời
b.Ngôn ngữ viết
- Chữ viết của giáo viên dễ đọc, dễ hiểu, đúng ngữ pháp và chuẩn tiếng việt, lời văn trong sáng, mạch lạc, chính xác, rõ ý và nghĩa để học sinh phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm bài viết của mình lần sau viết tốt hơn
- Khi sửa câu, lời văn đường nét hoặc kiểu chữ, cần viết mực đỏ để học sinh dễ nhận ra những sai sót của mình Giáo viên luôn thường trực trong ý thức là viết mẫu cho học sinh noi theo
2 Hành vi, cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp sư phạm.
a Giao tiếp sư phạm qua nét mặt
- Nhờ có năng lực biểu cảm qua nét mặt, làm cho tiến trình giao tiếp sư phạm của giáo viên với học sinh càng nhạy cảm, tinh tế, sâu sắc hơn
- Giao tiếp bằng đôi mắt: khi giao tiếp sư phạm trên lớp và đặc biệt nghe học sinh trả lời, phảm ứng đôi mắt của thầy cô và của các em thể hiện rất linh hoạt, nhạy cảm Thường khi học sinh thuộc bài các em nhìn thầy cô tự tin hơn khi không thuộc bài Ánh mắt dịu hiền, trìu mến, tự tin của thầy cô càng đem lại nhiều thành công trong giao tiếp…
- Ánh mắt thực hiện các chức năng giao tiếp và giao tiếp sư phạm sau:
+ Tín hiệu về sự đồng ý hay không đồng ý
+ Tín hiệu về tình cảm ( yêu, quý, ghét, giận…)
+ Tín hiệu về mức độ nhận thức ( hiểu bài hay không hiểu bài, hứng thú nghe….)
+ Tín hiệu về nhu cầu, lòng mong muốn
+ Tín hiệu điều chỉnh hành vi thái độ của hai bên
b Điệu bộ, cử chỉ, tư thế, dáng đứng, đi…
Trang 8- Điệu bộ, cử chỉ tay chân, tư thế, dáng đứng… vô cùng phong phú nhưng cũng vô cùng quan trọng Mỗi cử chỉ, điệu bộ, tư thế, dáng đứng… là một trạng thái xúc cảm, một tín hiệu của giao tiếp sư phạm của thầy giáo đối với học trò
- Đối với giáo viên các cử chỉ điệu bộ cần mang ý nghĩa giáo dục (thậm chí cả thói quen tốt) đối với học sinh, ý nghĩa giáo dục thường thể hiện qua nhịp điệu hài hòa hợp lí, cường độ và tốc độ của cử chỉ điệu bộ phù hợp với đối tượng hoàn cảnh
cụ thể
- Tư thế của con người tác động trực tiếp vào nhận thức cảm tính, vì thế tư thế của giáo viên cần được rèn luyện đĩnh đạc, đường hoàng, ung dung, thư thái, tự tin…để xây dựng cho học sinh những phản ứng, hành vi, tư thế đáp ứng lại tương
tự, để rèn cho học sinh những hành vi và thói quen tốt
c Hành vi
- Hành vi được hiểu là sự phối hợp vận động của toàn bộ các bộ phận, giác quan, tư thế của cơ thể hướng vào một đối tượng nhất định
- Hành vi giao tiếp sư phạm trước hết thể hiện thái độ của thầy cô đối với học sinh và ngược lại Vì vậy thái độ nhân hậu, khoan dung, hết lòng thương yêu học sinh là nguồn gốc tâm lí của hành vi giao tiếp sư phạm của giáo viên Học sinh có thái độ tôn trọng thầy cô, tôn sư trọng đạo, lễ phép, cung kính đối với giáo viên là nội dung tâm lí chủ đạo, thường trực ở các em khi tiếp xúc với giáo viên
- Hành vi giao tiếp sư phạm còn thể hiện ở nội dung nhận thức về các vấn đề: làm thế nào để các em hiểu bài trên lớp, nắm vững được các tri thức khoa học, tập được những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, xây dựng nhân cách con người mới… Những nội dung này thường chỉ đạo hành vi của giáo viên
- Hành vi giao tiếp sư phạm của giáo viên hướng vào mục tiêu giáo dục của bậc tiểu học xây dựng đạo đức, phát triển trí tuệ, thể lực và năng lực thẩm mĩ của các em, phù hợp với sự đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn hiện nay
- Hành vi của giáo viên và học sinh phụ thuộc vào đối tượng giao tiếp cụ thể, hoàn cảnh cụ thể….Hành vi của giáo viên trong giao tiếp với học sinh phải linh hoạt, mềm dẻo, tinh tế
d Trang phục trong giao tiếp sư phạm
- Trang phục trong giao tiếp thường được thể hiện qua các đặc trưng: kiểu, sắc mầu, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, vị trí xã hội, dân tộc…
- Trong giao tiếp sư phạm, trang phục của thầy cô giáo cần: đúng kiểu cách, sắc màu trang nhã, hài hòa lịch sự, văn minh, chu đáo, cẩn thận, gọn gàng… để học sinh noi theo và học tập
IV Nguyên tắc giao tiếp sư phạm
1 Khái niệm nguyên tắc giao tiếp sư phạm
Nguyên tắc giao tiếp sư phạm được hiểu là hệ thống những quan điểm nhận thức chỉ đạo, định hướng hệ thống thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên đối với học sinh và ngược lại
2 Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm
a Nhân cách mẫu mực trong giao tiếp sư phạm (Tính mô phạm trong giao tiếp).
- Nhân cách của giáo viên phải là nhân cách mẫu mực cho các em noi theo
- Những biểu hiện của nhân cách mẫu mực:
Trang 9+ Sự mẫu mực về trang phục, hành vi cử chỉ, hành vi ngôn ngữ nói… tất cả những biểu hiện này phải thống nhất
+ Thái độ và những biểu hiện của thái độ phù hợp với các phản ứng hành vi + Đặc biệt khi sử dụng hành vi ngôn ngữ, cách dùng từ, chọn từ… có phong cách ngôn ngữ phong phù hợp với tình huống, nội dung và đối tượng giao tiếp
- Nhân cách mẫu mực phải thường xuyên rèn luyện mới có được Nhân cách mẫu mực của giáo viên, tạo ra uy tín, đảm bảo thành công trong giao tiếp sư phạm
b Tôn trọng nhân cách trong giao tiếp.
- Trong giao tiếp với các em, coi các em là con người với đầy đủ các quyền được vui chơi, học tập, lao động, nhận thức… với những đặc trưng tâm lý riêng, bình đẳng với mọi người trong các quan hệ xã hội Giáo viên không nên áp đặt, ép buộc thái quá bắt các em phải theo ý thầy cô một cách máy móc, duy ý chí
- Tôn trọng nhân cách học sinh được biểu hiện:
+ Biết lắng nghe học sinh nói chuyện, trình bày diễn đạt ý muốn, nhu cầu nguyện vọng của mình…
+ Biết thể hiện các phản ứng biểu cảm của mình một cách chân thành, trung thực, khi tiếp xúc với các em với mục đích khích lệ hoặc ngăn cấm các em một cách rõ ràng
+ Tôn trọng nhân cách các em, thể hiện rõ nét nhất qua hành vi, ngôn ngữ Bất luận trong trường hợp nào cũng không được dùng những từ, những câu xúc phạm đến nhân cách của các em
+ Hành vi, cử chỉ điệu bộ… phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ luôn giữ ở trạng thái cân bằng có nhịp điệu khoan hòa, cần tránh những cử chỉ bột phát, ngẫu nhiên, nóng giận… khi tiếp xúc với các em
+ Tôn trọng các em còn thể hiện ở trang phục gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách
c Có thiện ý trong giao tiếp sư phạm.
- Bản chất cái thiện trong giao tiếp sư phạm là dành những điều kiện thuận lợi, dành những tình cảm tốt đẹp cho học sinh, khuyến khích các em học tập tốt, lao động tốt, chăm học chăm làm, đem lại niềm vui cho các em
- Thiện ý của giáo viên thể hiện rõ nét nhất trong đánh giá, nhận xét, sự công bằng trong đối sử, luôn cố gắng, phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm, khích lệ học sinh cố gắng vươn lên…
- Thiện ý trong khi giao các công việc của lớp Tuỳ từng hoàn cảnh, tình huống, thiện ý phải đặt đúng chỗ thì mới đảm bảo giao tiếp sư phạm thành công: ngược lại thì rất có hại
d Đồng cảm trong giao tiếp
- Nguyên tắc này được hiểu là thầy, cô giáo biết đặt vị trí mình vào vị trí của học sinh trong quá trình giao tiếp sư phạm Nhờ có sự đồng cảm, thầy cô mới có hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của các em
- Đồng cảm tạo ra sự gần gũi, thân mật, tạo ra cảm giác an toàn cho học sinh Đồng cảm là cơ sở hình thành mọi hành vi ứng xử nhân hậu, độ lượng, khoan dung…
- Để thực hiện hành vi ứng xử với học sinh theo nguyên tắc này, giáo viên phải quan tâm, tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh gia đình các em
3 Một số thủ thuật khéo léo đối xử sư phạm:
Trang 10- Thành thật, quan tâm chú ý đến học sinh trong sinh hoạt hàng ngày
- Biết mỉm cười chân thật khi tiếp xúc với các em
- Giọng nói thể hiện thái độ thiện cảm, dịu hiền, ôn tồn,ngay cả lúc bực dọc nhất
- Biết chăm chú lắng nghe, khuyến khích mọi người quan tâm đến học sinh
- Biết gợi lên những suy nghĩ, nói ra được những điều học sinh mong muốn hoặc khó nói, giúp các em biết tự đánh giá, vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để có được những thành công
- Tạo ra cảm giác an toàn, vui vẻ cho học sinh khi tiếp xúc
- Cần có những lời khen thành thật khi bắt đầu nói chuyện với học sinh đặc đặc biệt là học sinh cá biệt
V Phong cách giao tiếp sư phạm
1 Bản chất phong cách và phong cách giao tiếp sư phạm:
a Khái niệm phong cách giao tiếp sư phạm
Phong cách giao tiếp sư phạm là toàn bộ hệ thống những phương pháp thủ thuật tiếp nhận, phản ứng, hành động tương đối ổn định, bền vững của học sinh và giáo viên trong quá trình tiếp xúc nhằm truyền đạt, lĩnh hội tri thức khoa học, vốn sống kinh nghiệm kĩ năng kĩ xảo nghề nghiệp, xây dựng tòan diện nhân cách ở học sinh
b Bản chất phong cách
* Phong cách bao gồm ba dấu hiệu cơ bản đó là:
- Hệ thống những phương pháp thủ thuật, tiếp nhận, phản ứng hành động tương đối ổn định, bền vững của cá nhân Nghĩa là cá nhân hoạt động, ứng xử… tương đối như nhau trong tình huống khác nhau
- Hệ thống những phương pháp thủ thuật… quy định những đặc điểm khác biệt giữa các cá nhân
- Hệ thống những phương tiện có hiệu quả giúp cá nhân thích nghi với những thay đổi của môi trường (nhất là môi trưỡng xã hội) Dấu hiệu này nói lên sự linh hoạt, cơ động, mềm dẻo của các phương pháp, thủ thuật… ứng xử của cá nhân
* Phong cách cá nhân gồm có hai phần:
- Phần ổn định: quy định sự khác biệt cá nhân, chính cấu tạo và chức năng hoạt động của các giác quan, hệ thần kinh, biểu hiện thói quen phản ứng trả lời kích thích tác động
- Phần linh hoạt cơ động của phong cách, giúp cá nhân thích ứng với môi trường sống thay đổi
+ Con người sống trong hiện thực khách quan rất sinh động, sự thay đổi của tự nhiên xã hội thường xảy ra hàng ngày hàng giờ Sự thay đổi của môi trường sống
là nguyên nhân trực tiếp làm thay đổi phong cách của con người
+ Phong cách thay đổi theo lứa tuổi, sự phát triển cơ thể ở giai đoạn khác nhau của lứa tuổi và đồng thời với các quan hệ xã hội làm cho phong cách con người thay đổi theo.Ngay một giai đoạn phát triển của một lứa tuổi Phong cách cũng thay đổi trong quan hệ con người
+ Sự thay đổi nghề nghiệp, cách làm ăn sinh sống…làm thay đổi phong cách ứng xử con người