1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO ẢNH HƯỞNG của tư TƯỞNG TRIẾT học NHO GIÁO đến xây DỰNG đạo đức CÁCH MẠNG của đội NGŨ cán bộ QUÂN sự địa PHƯƠNG QUÂN KHU 5 HIỆN NAY

93 496 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 543 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) đòi hỏi phải có con người mới hội tụ những phẩm chất cần thiết, được xây dựng trên nền tảng đạo đức cách mạng (ĐĐCM), trong đó, đội ngũ cán bộ có vị trí, vai trò rất quan trọng. Vì thế, xây dựng ĐĐCM cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ quân đội nói riêng để đáp ứng yêu cầu khách quan của thực tiễn đất nước trong giai đoạn hiện nay đã trở thành vấn đề thường xuyên và cấp bách.

Trang 1

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN)đòi hỏi phải có con người mới hội tụ những phẩm chất cần thiết, được xâydựng trên nền tảng đạo đức cách mạng (ĐĐCM), trong đó, đội ngũ cán bộ có

vị trí, vai trò rất quan trọng Vì thế, xây dựng ĐĐCM cho đội ngũ cán bộ nóichung, cán bộ quân đội nói riêng để đáp ứng yêu cầu khách quan của thực tiễnđất nước trong giai đoạn hiện nay đã trở thành vấn đề thường xuyên và cấp bách Hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đội ngũ cán bộ quân sựđịa phương (QSĐP) Quân khu 5 luôn trau dồi phẩm chất ĐĐCM, đây là mộttrong những nhân tố cơ bản, đảm bảo cho Quân khu luôn hoàn thành tốt nhiệm

vụ công tác quốc phòng, quân sự địa phương (QP,QSĐP) Hiện nay, trước sựphát triển về yêu cầu nhiệm vụ, đòi hỏi phẩm chất ĐĐCM của đội ngũ cán bộQSĐP Quân khu 5 phải được xây dựng, nâng lên tầm cao mới

ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 là kết quả tổng hợp củanhiều hoạt động, trong đó có sự phủ định biện chứng ảnh hưởng của tư tưởngtriết học Nho giáo, bởi lẽ: tuy là sản phẩm của xã hội Trung Hoa cổ đại,nhưng Nho giáo lại có mặt rất sớm ở Việt Nam, để lại dấu ấn sâu đậm trongđời sống tinh thần, đạo đức của nhân dân ta Hiện nay, mặc dù Nho giáokhông còn cơ sở kinh tế - xã hội để tồn tại, song với tư cách là một học thuyết

về chính trị- xã hội và đạo đức được tiềm ẩn trong văn hoá truyền thống dântộc, những tàn dư của nó vẫn còn ảnh hưởng nhất định, cả tích cực lẫn tiêucực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, qua đó ảnh hưởng đến xâydựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5

Xác định đúng thực trạng ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo, đềxuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnhhưởng tiêu cực của nó đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quânkhu 5 là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, không chỉ đáp ứng yêu cầu

Trang 2

xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP, hoàn thành tốt nhiệm vụ côngtác QP,QSĐP của Quân khu 5, mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp xâydựng quân đội, củng cố quốc phòng, phát triển đất nước trong giai đoạn hiệnnay.

Chương 1 THỰC CHẤT ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO ĐẾN XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUÂN SỰ ĐỊA PHƯƠNG QUÂN KHU 5 HIỆN NAY 1.1 Quan niệm về ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5

1.1.1 Nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Nho giáo

Nho giáo ra đời vào thế kỷ VI tr.CN, tư tưởng triết học của nó là hệ thốngquan điểm về tự nhiên, xã hội và con người, về lẽ sống và cách ứng xử củacon người với tự nhiên, xã hội và giữa con người với nhau Đây là sản phẩmvăn hoá đặc thù của xã hội Trung Hoa cổ đại, gắn liền với tên tuổi của KhổngTử

Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo có nguồn gốc từ quan niệm của dângian Trung Hoa Khổng tử đã hệ thống lại những tư tưởng đó và khái quátthành học thuyết, gồm các tác phẩm: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc và viết sáchXuân Thu để tỏ rõ quan điểm của mình (nền tảng của Ngũ Kinh) Các thế hệhọc trò kế tiếp đã dựa vào quan điểm ấy để viết sách Luận Ngữ, Đại Học,Trung Dung, Mạnh Tử (Tứ thư) “Tứ thư” và “Ngũ kinh” đã trở thành kinhđiển của Đạo Nho, là con đường mà đi theo đó, nhân loại sẽ đạt tới một xã hộihoà mục, một thế giới đại đồng giống như thời Tây Chu

Kinh điển Nho giáo chủ yếu phản ánh thực trạng của xã hội Trung Hoa,

vì thế, nó xuất hiện và tồn tại với tư cách là một học thuyết về chính trị - xãhội và đạo đức rõ nét hơn với tư cách của một tôn giáo Đặc điểm nổi bật của

Trang 3

Nho giáo là triết lý về “thiên mệnh” và “nhân sinh” được thể hiện một cách sâu sắc.

“Thiên mệnh” luôn được gắn chặt với “nhân sinh”, cái vĩ đại của “nhân sinh”được thăng hoa vào “thiên mệnh”, làm cho “thiên mệnh” và “nhân sinh” hoàhợp, quyện vào nhau thành một thể thống nhất, tuy bình thường nhưng vĩ đại,tuy thực tế nhưng lại rất cao xa [01,tr26]

Tư tưởng triết học Nho giáo thể hiện trên các phương diện cơ bản sauđây:

Tư tưởng về thế giới quan:

Nho giáo cho trời đất và vạn vật là nhất thể, lưu hành khắp vũ trụ, theo cái

lẽ tương đối, tương điều hoà mà sinh sinh hoá hoá Trong vũ trụ luôn có cái lý

vô hình, linh diệu là Thái cực Con người không thể biết rõ chân tính và chântướng của thiên lý (lẽ trời), song qua sự biến hoá của vạn vật mà biết đượcthiên lý với hai thể khác nhau là động và tĩnh Động là dương, tĩnh là âm.Dương lên đến cực độ lại biến ra âm, âm lên đến cực độ lại biến ra dương, haithể ấy luôn gắn bó với nhau, tác động, chuyển hoá lẫn nhau mà sinh ra trời đất,vạn vật

Khởi điểm của tạo hoá là do âm và dương biến hoá, đạo của trời đất cũng

khởi đầu từ sự biến hoá ấy, bởi vì “Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”: đạo Dịch có Thái cực, Thái cực sinh

ra hai nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ (Dịch: Hệ từ thượng) Dịch là biến đổi, trong trời đất không có cái gì là bất biến Nguồn gốc

của sự biến đổi là do động và tĩnh, cứng và mềm, tức là âm và dương tương tác

lẫn nhau, như Nho giáo đã đúc kết “Cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá”: cứng mềm đun đẩy nhau mà sinh ra biến hoá (Dịch: Hệ từ thượng) Đạo của trời

đất (thiên lý) có khởi đầu rất đơn giản nhưng càng biến đổi thì càng phức tạp.Vạn vật sinh sinh, hoá hoá vô cùng vô tận, song căn nguyên của nó cũng bởi do

âm dương tương tác lẫn nhau mà thôi Do đó, hiểu được lẽ âm dương là hiểu

Trang 4

được vạn vật, biết được lẽ giản dị ấy thì biết được cái lý của thiên hạ 40].

[22,tr38-Theo Nho giáo, “Nhân giả kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí giã”: người là cái đức của trời đất, là sự giao

hoà của âm dương, là sự hội tụ của quỷ thần, là cái khí tinh tú của ngũ hành

(Lễ ký: Lễ vận, IX) Trời đất sinh ra người, người bẩm thụ hoàn toàn cái đức

của trời nên sáng suốt hơn các loài khác Nhờ đó mà con người hiểu đượcphải trái, hay dở và cùng với trời đất chiếm được địa vị tôn quý trong vũ trụ,

vì thế đạo người phải theo đạo Trời mà tiến hoá Vả lại, người luôn được Trời

giám sát “Hoàng hỹ Thượng đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc”: đức Thượng đế rất lớn, soi xuống đất rõ ràng, xem xét bốn phương để tìm sự khốn khổ của dân mà cứu giúp (Kinh Thư: Thiên cáo), nên

người phải kính và sợ Trời, phải lấy phép tắc tự nhiên của Trời làm mô phạmcho mình và xem thiên luân là nhân luân, thiên đạo là nhân đạo Hơn nữa, do

“Thiên sinh chúng dân, hữu vật hữu tắc, dân chi bĩnh di, hiếu thị ý đức”: Trời sinh ra dân có hình phép, dân giữ tình thường, muốn có đức tốt (Kinh Thư: Thiên cáo) nên người phải lấy Trời làm gốc và phải theo cái bản tính của Trời

đã phú cho để ứng xử hợp với đạo Trời [22,tr08-10]

Nho giáo rất coi trọng sự sinh của trời đất nên lấy bốn cái đức lớn của

trời là nguyên, hanh, lợi, trinh để nói lên sự sinh thành của vạn vật “Nguyên giả thiện chi trưởng giã, hanh giả gia chi hội giã, lợi giả nghĩa chi hoá giã, trinh giả sự chi cán giã”: nguyên là đầu mối của điều thiện, hanh là tụ hội

mọi cái tốt đẹp, lợi là sự hoà hợp với điều nghĩa, trinh là gốc của mọi sự

(Dịch: Văn ngôn truyện) Vì cái đức của trời đất là sự sinh, nên đạo người

phải theo đạo trời đất mà bồi dưỡng sự sinh Từ bốn đạo lớn của trời đất mà

con người có bốn đức nhân, nghĩa, lễ, trí Nguyên là nhân đứng đầu các điều thiện, hanh là lễ tụ hội các cái đẹp, lợi tức là nghĩa định rõ các phận cho điều hoà, trinh là trí giữ vững cái chính để làm gốc mọi sự Bởi vậy, Nho giáo

Trang 5

quan niệm “Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hoà nghĩa, trinh cố túc dĩ cán sự”: quân tử có nhân là đủ làm cho

người trưởng thành, hội các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là

đủ làm hoà cái nghĩa, biết cái trinh chính mà cố giữ là đủ làm gốc cho mọi sự

(Dịch: Văn ngôn truyện) Vì thế, nhân là đầu mối của thiện, là chủ sự sinh của

trời đất

Nho giáo cho rằng, Trời là chủ thể của vũ trụ, có ý chí lớn để khiến sựbiến hoá trong thế gian cho hợp lẽ điều hoà Cái ý chí ấy được gọi là “Thiênmệnh” hay “Đế mệnh” Một khi Trời đã định thì con người không thể cưỡng

lại được, vì thế “Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã”: không biết mệnh trời thì không đáng là người quân tử (Luận ngữ: Nghiêu viết, XX) Thành hay bại của

công việc, thịnh hay suy của thế cục đều do mệnh Trời Một khi đã biết mệnh

Trời thì phải làm cho phải đạo và phải “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh”: trên không oán trời, dưới không trách người, cứ bình

dị mà đợi mệnh (Trung dung) Tuy nhiên, khi lưu hành theo Thiên lý, bao giờ

con người cũng thể hiện năng lực của mình, hành động một cách sáng suốt,không nhu nhược hay an bài đợi mệnh, con người phải tự thân phấn đấu liên

tục theo quan niệm “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”: việc hành

động của trời rất mạnh, người quân tử phải theo mà tự cường không nghỉ

(Dịch: Tượng, thượng truyện) [22,tr55-57].

Nho giáo xem quỷ thần là khí thiêng của trời đất, tuy con người không thể

nhìn thấy, nghe thấy, nhưng quỷ thần vẫn luôn ở quanh họ “Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu”: quỷ thần dường như ở trên đầu, bên trái bên phải ta (Trung dung) Do vậy, con người phải tỏ thái độ “Tế thần như thần tại”: tế thần như có thần ở đó (Luận ngữ: Bát dật, III) Tế quỷ thần là lấy sự tận

thành để tỏ lòng tôn kính chứ không phải để cầu phúc cho riêng mình Conngười ở đời cứ theo lẽ phải mà làm thì sẽ được quỷ thần chứng giám, hà tấtphải nay cầu mai nguyện Những việc mà chính nhân quân tử làm đã bao hàm sự

Trang 6

cầu nguyện, nếu là người bất nhân bất nghĩa, làm những điều trái đạo, mắc tội với

Trời thì dẫu có cầu nguyện quanh năm cũng không ích gì, vì “Hoạch tội ư thiên,

vô sở đảo giã”: Phải tội với Trời thì còn cầu nguyện vào đâu được (Luận ngữ: Bát dật, III) Nho giáo còn cho rằng, “thần” tức là “thành” (thành thực) nằm ngay

trong lòng của mỗi con người Một khi con người khiêm tốn, thành thực thì “thần”luôn hiện hữu trong họ, lúc ấy “nhân”, “thần” hoà hợp làm một Con người tudưỡng đạt được điều đó thì sẽ thấy âm dương không khoảng cách, sinh tử làchuyện thường tình và có quan hệ mật thiết với nhau [01,tr44]

Trời đất và quỷ thần không hề thiên vị, người và vạn vật sinh ra trong thếgian cùng bẩm thụ lý khí của Trời, nên Trời và người có thể cảm ứng được

“thiên nhân tương dữ”, vả lại “Duy thiên vô thân, khắc kính duy thân, quỷ thần vô thường hưởng, hưởng vu khắc thành”: Trời không thân với ai, chỉ

thân với người hay kính, quỷ thần không chứng giám cho ai, chỉ chứng giám

cho kẻ hay thành (Kinh Thư: Thái giáp hạ), có kính và thành mới làm cho trời đất, quỷ thần cảm động được Vì thế, Nho giáo quan niệm “Quân tử uý thiên mệnh”: người quân tử sợ mệnh Trời (Luận ngữ: Quý thị, XVI) Con người có

sợ Trời, có giữ lòng kính cẩn thì mới giữ được cái tâm ngay thẳng để làmnhững điều nhân nghĩa, hiếu đễ Như vậy, kính và thành là cái gốc luân lý củaNho giáo Có kính thì mới giữ được bản tính của mình cho thuần nhất và cóthành thì người với Trời và quỷ thần mới tương cảm được với nhau

Đạo Trời là chí thiện, chí mỹ nên đạo người phải theo đạo Trời, muốn

theo đạo Trời, trước hết phải theo đạo thành, bởi lẽ “Thành giả thiên chi đạo giã, thành chi giả nhân chi đạo giã”: thành thực là đạo Trời, giữ cho được thành thực là đạo người (Trung dung) Thành là bản tính tự nhiên của thiên lý,

cái tính ấy luôn chân thực, có thể sinh sinh, hoá hoá nuôi dưỡng muôn vật.Con người một khi đạt đến bậc chí thành thì có thể giúp ích cho việc hoá dụccủa trời đất và đạo làm người sẽ có ý nghĩa rất sâu xa

Trang 7

Những nội dung trên cho thấy, Trời đất và quỷ thần có vai trò quan trọngtrong thế giới quan Nho giáo, vừa duy vật, vừa duy tâm, vừa vô thần, vừa hữuthần, song yếu tố duy tâm nổi trội hơn Thời gian càng về sau thế giới quanNho giáo càng đậm nét duy tâm thần bí do được bổ sung những tư tưởng triếthọc của Phật giáo và Đạo giáo

Tư tưởng về nhân sinh quan:

Mục đích chủ yếu của Nho giáo là “tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chươngVăn Võ”, đề cao “lễ nhạc” và “nhân nghĩa”, chủ xướng đạo “trung thứ” vàđạo “trung dung”, chủ trương thi hành “đức trị” và “nhân chính”, coi trọnggiáo dục luân lý cũng như sự tu tâm, dưỡng tính cho con người, nên nhân sinhquan Nho giáo thể hiện khá rõ nét và giữ vị trí trung tâm trong học thuyết này.Nổi bật trong nhân sinh quan Nho giáo là triết thuyết về đạo lý làm ngườisao cho phù hợp với tôn ti trật tự trong xã hội phong kiến Do quan niệm bảnchất tâm lý, đạo đức của con người là “nhân”, nên Nho giáo coi “nhân” làxuất phát điểm, là yếu tố cốt lõi tạo nên các phạm trù khác, liên quan chặt chẽvới nhau Trong đó, ba phạm trù “nhân”, “lễ” và “chính danh” có ý nghĩaquan trọng nhất, tạo nên một triết lý nhân sinh có bản sắc hết sức độc đáo.Theo Nho giáo, “nhân” là chuẩn mực đạo đức hoàn thiện nhất nên luôn

đề cao “đức nhân”, bản thể hoá “đạo nhân” Các chuẩn mực đạo đức khácnhư: lễ, nghĩa, trí, tín, trung, hiếu… đều là biểu hiện của “nhân” “Nhân” mangtính nhân loại, đại biểu cho con người, để con người tự giác phân biệt với cầmthú Do vậy, Nho giáo không chỉ yêu cầu con người đối với đồng loại củamình phải có nhân ái, mà còn phải đạt đến Thiên đức Điều này chứng tỏ nhânsinh quan Nho giáo luôn gắn chặt với thế giới quan [15,tr19-20] Nho giáocòn quan niệm, tuy thực hiện “nhân ái” là việc riêng của mỗi người, nhưng docon người sống trong xã hội, nên “nhân ái” luôn được thực hiện trong mốiquan hệ giữa người với người, qua đó mà thể hiện “nhân đức” Vì thế, đạo

“trung thứ” của Nho giáo luôn lấy vấn đề này làm phương hướng thiết yếu

nhất Nội dung của nó bao gồm hai phương diện, một là “Kỷ sở bất dục vật

Trang 8

thi ư nhân”: cái gì mình không muốn thì không làm cho người (Luận ngữ: Vệ Linh công XV), hai là “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”: cái

mà mình thành lập thì cũng lập cho người, mình thành đạt thì cũng giúp người

khác thành đạt (Luận ngữ: Ung giã, VI) “Trung” là sự tận tâm, tận lực đến

mức cao nhất để thành người toàn vẹn “Thứ” là sự suy bụng ta ra bụngngười, là sự đồng cảm để hiểu được hoàn cảnh của người khác Đạo “trungthứ” là nguyên tắc ứng xử cơ bản trong quan hệ giữa người với người, yêucầu con người trong mọi lời nói và việc làm phải tuân theo “nhân ái” Đồngthời, thông qua thực hiện nhân ái mà đạt đến một sự cảm thông chan hoà để cóđược một khung cảnh lý tưởng: “Thiên hạ quy tụ ở nhân ái” Như vậy, côngdụng của đạo “trung thứ” được thể hiện qua thành tựu “nhân đức”, nó khôngchỉ thích hợp với bên dưới mà còn thích hợp cả với bề trên Đó là đạo “một lẽ

mà quán thông tất cả” của Nho giáo Bởi thế, Nho giáo yêu cầu “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”: vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con (Luận ngữ: Nhan Uyên, XII) và “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”: vua lấy

lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua (Luận ngữ: Bát dật, III) Có thể nói, đạo

“trung thứ” là bậc thềm nhập đức của sự tu dưỡng cá nhân, là chuẩn mực cơ bản

để xử lý các quan hệ nhân luân [15,tr91] Bên cạnh đó, Nho giáo còn nhấnmạnh: “làm điều nhân là do mình”, qua đó nêu cao tính tự chủ đạo đức của conngười, có tác dụng chỉ đạo khai thác thế giới nội tại của nhân cách và khơi dậykhả năng thông qua tự tu dưỡng đạo đức để hoàn thiện nhân cách của từng cánhân Chính điều này đã thể hiện trí tuệ nhân sinh từ “nội thánh” đến “ngoạivương” của học thuyết ấy [15,tr27-28] Để đạt “nhân”, Nho giáo khuyên con

người phải thực hiện 5 điều cơ bản theo quan niệm “Năng hành ngũ giả ư thiên

hạ vi nhân hỹ Viết cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung tắc bất vũ, khoan tắc đắc chúng, tín tắc nhân nhiệm yên, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ sử nhân”: làm

được năm điều trong thiên hạ là nhân, đó là cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung thìkhông khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì được tin cậy, mẫn thì có

Trang 9

công lao, huệ thì khiến được người (Luận ngữ: Dương hoá, XVII) Như vậy,

“nhân” là kết tinh cao nhất trong triết lý nhân sinh, là cơ sở lý luận cho đường lối

“đức trị” của Nho giáo

Nho giáo cho rằng, để thi hành đường lối “đức trị” thì phải thi hành “lễ”;bởi vì, “nhân” được biểu hiện trước hết thông qua “lễ”, “lễ” là phương tiện đểđạt tới điều “nhân” và là căn nguyên quan trọng tạo nên sự ổn định của xãhội Nhờ có lễ mà hành vi của con người luôn có chừng mực, lúc nào cũng

phù hợp với đạo trung “Cung nhi vô lễ tắc lao, thận nhi vô lễ tắc tỉ, dũng nhi

vô lễ tắc loạn, trực nhi vô lễ tắc giảo”: cung kính mà không có lễ thì phiền

phức, cẩn thận mà không có lễ thì sợ hãi, dũng mà không có lễ thì loạn, trực

mà không có lễ thì vội vã (Luận ngữ: Thái bá, XIII) Vì thế, Nho giáo yêu cầu

“Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động”: Không trông

điều trái lễ, không nghe điều trái lễ, không nói điều trái lễ, không làm điều trái

lễ (Luận ngữ: Nhan Uyên, XII) Hơn nữa, trong xã hội mỗi người đều có một

chức năng, địa vị nhất định, trong mối quan hệ nhất định, với một “danh” cụthể, muốn thực hiện đúng “lễ” thì một mặt phải nắm được “lễ”, mặt khác phải

xác định đúng vị trí và danh phận của mình (“chính danh”), bởi lẽ, “Chính giả chính giã, tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính”: chính trị là làm mọi việc cho

ngay thẳng, bề trên mà lấy ngay thẳng để khiến thì ai dám không ngay thẳng

(Luận ngữ: Nhan Uyên, XII), hơn nữa “Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành, kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng”: mình ngay chính thì không sai khiến người

ta cũng làm, mình không ngay chính thì tuy có sai khiến cũng không ai theo

(Luận ngữ: Tử Lộ, XIII) Vả lại, muốn chính danh thì phải lấy “lễ” làm chuẩn

mực và phải hành động sao cho tương xứng giữa “thực” với “danh” Danh thực tương xứng vừa là điều kiện, vừa là kết quả của việc thực hiện đúng “lễ”

-Vì thế, “chính danh” cũng là con đường để đạt tới điều “nhân”

Nho giáo quan niệm “thiện” cũng là bản chất của con người, thể hiện quacác đức lớn là: “nhân”, “nghĩa”, “lễ”, “trí”, “tín”, được bắt nguồn từ “tứ đoan”

Trang 10

(bốn đầu mối của thiện, còn gọi là “thiện đoan”); “thiện” là bản nguyên tinhthần, là đức “tính” do trời phú cho con người; nó luôn biến đổi vì chịu tác độngcủa môi trường xã hội; bản tính “thiện” còn được xuất phát từ “tâm” của conngười và cái “tâm” ấy cũng do trời phú Hơn nữa, trong mỗi người, bên cạnh

“tính” và “tâm” còn có “khí”, vì “khí” lưu hành khắp vũ trụ, ngưng tụ lại tạo nênvạn vật và con người; “tâm”, “tính” là phần tinh thần điều khiển cái “khí”, còn

“khí” là phần vật chất để cho “tâm” và “tính” cư ngụ, hai phần ấy được điều hoàthì con người mới tồn tại Vì thế, Nho giáo khuyên mọi người tích cực tu dưỡngđạo lý nhằm làm cho cái tâm sâu rộng, cái trí sáng suốt, cái khí điều hoà, vớimục đích chủ yếu là để bảo tồn tính “thiện”

Nhân sinh quan Nho giáo luôn chú trọng đến ý nghĩa và giá trị sinh mệnh

cá nhân trong quan hệ giữa người với người Theo Nho giáo, con người có nămmối quan hệ chính (ngũ luân): vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn;từng mối quan hệ phải được giải quyết theo tiêu chí riêng trong ngũ thường.Ngũ thường là kỷ cương của nhân luân, nó không chỉ là năm dáng vẻ của đứcthường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), mà còn là chuẩn mực giải quyết các quan hệ nóitrên theo yêu cầu: vua nhân tôi trung, cha hiền con hiếu, chồng biết điều vợ nghe

lẽ phải, anh tốt em ngoan, bạn bè tín nghĩa; trong đó, Nho giáo đặc biệt coi trọngquan hệ vua tôi và quan hệ cha con Trong quan hệ vua tôi, Nho giáo yêu cầunhà vua phải có đức, có tài, thương yêu dân như con, dân phải đối với vuanhư cha mẹ mình; vì thế, nội dung phạm trù “trung” của quan hệ này đòi hỏiphải có sự tận tuỵ và thành tâm, thật ý của mỗi người trong quá trình thựchiện Trong quan hệ cha con, Nho giáo đề cao phạm trù “hiếu” và lấy cái “tâm”

để đánh giá mức độ hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, vì hiếu thảo khôngchỉ là phụng dưỡng, mà trước hết là phải có thái độ thành kính Như vậy, đểthực hiện tốt “trung”, “hiếu” phải trên cơ sở hai chiều: vua có nhân thì tôi mớitrung, cha có từ thì con mới có hiếu, bề trên có rộng rãi thì bề dưới mới kínhtrọng

Trang 11

Là học thuyết mang đậm màu sắc đạo đức, mục đích của Nho giáo làmuốn mỗi người đều trở thành một người quân tử (quân: cai trị, quân tử: ngườicai trị), nối gót theo thánh nhân để đạt đến đỉnh cao của nhân luân Theo Nho

giáo, muốn thành quân tử thì trước hết phải “tu thân” để đạt ba yếu tố: “đạt đạo” thông qua ứng xử “trung dung”, “đạt đức” thông qua hành vi chuẩn mực và

“đạt trí” thông qua học tập “Tu thân” xong phải “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” theo phương châm: “đức trị” - người cầm quyền phải nêu gương, cảm hoá người dưới bằng đạo đức, “lễ trị” - người cầm quyền cai trị bằng cách duy trì các chuẩn mực mà con người phải tuân theo, “văn trị” - người cầm quyền phải

coi trọng văn hiến để thu phục nhân tâm Do đó, Nho giáo luôn phê phán cácphương pháp trị nước theo tư tưởng “pháp trị”, “khiêm ái”, “vô vi” và cho rằng,

để thuận đạo trời và hợp lòng người thì nhà cầm quyền phải thi hành “nhânchính” với tinh thần cốt lõi là “trọng nhân”, “trọng dân”, dùng nhân nghĩa để trịnước, người cầm quyền phải theo ý dân để định ra đường lối theo tinh thần

“Dân chi sở hiếu, hiếu chi; dân chi sở ố, ố chi Thử chi vị dân chi phụ mẫu”:

phải thích cái thích của dân, phải ghét cái ghét của dân Thế mới là cha mẹ dân

Đồng thời phải “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”: lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” (Đại học)

Như vậy, từ “nhân” đến “nhân trị” trong nhân sinh quan Nho giáo đã thểhiện đường lối trị nước của học thuyết này Nho giáo đã xây dựng nên mộtkhuôn mẫu tư tưởng lý luận khá đặc sắc về an bang trị quốc, đó là chủ nghĩa

“đức trị” Trong đó luân lý và chính trị có sự liên quan mật thiết, luân lý là nềntảng của chính trị, chính trị là tiếp tục của luân lý Theo Nho giáo, một khi cánhân chú trọng tu dưỡng đạo đức, tuân theo luân lý thì cũng ảnh hưởng đếnngười khác và xã hội, đó cũng là việc chính sự Nho giáo còn đề ra phươngchâm “trị quốc bằng đức, điều hành bằng lễ” nhằm làm cho vua, bề tôi và dânchúng đạt đến sự hài hoà nhất thể, ai cũng phải phát huy đầy đủ tác dụng của họ,

và yêu cầu “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản”: từ vua

Trang 12

quan cho đến thứ dân đều phải lấy tu dưỡng bản thân làm gốc (Đại học)

[15,tr118-123] Đây cũng là nét độc đáo của triết lý phương Đông so với các họcthuyết phương Tây

Tư tưởng về phương pháp luận nhận thức:

Tuy triết học Nho giáo chủ yếu bàn về nhân sinh, nhưng trong học thuyết

ấy vẫn hàm chứa tư duy triết học logic thể hiện phương pháp luận nhận thức,trong đó thuyết “Trung dung” là tư duy chủ đạo, xuyên suốt [06,tr163]

Vốn tin chắc tình mẫu tử của nhân loại không thể mất đi, từ đó suy ra cácmối quan hệ con người bị băng hoại trong thời loạn cũng có thể cứu vãnđược, cùng với quan niệm phải theo đạo “trung dung” để luôn giữ cho được

“trung” và “hoà”, vì “trung hoà” là ngôi vị của trời đất, là nguồn nuôi dưỡngvạn vật Do đó, Nho giáo đã đưa quan niệm “trung hoà” vào vận dụng trongcác lĩnh vực của đời sống xã hội và xem đạo “trung dung” là nguyên tắc thựctiễn, là lý tưởng tối cao để đối nhân xử thế và lập quốc trị dân

Theo Nho giáo, đạo “trung dung” đại diện cho một loại đức tính tối cao(bên cạnh đức nhân và đức trí), đại biểu cho trí tuệ uyên thâm của quân tử.Trung là không thái quá, không thiên lệch và cũng không bất cập Dung là sựbình thường, không dịch đổi Có trung thì có chính đạo của thiên hạ, có dungthì có định lý của thiên hạ Trung dung là lấy đạo thường “không thái quá cũngkhông bất cập” làm định lý và chính đạo của thiên hạ [15,tr74] Trung luôn baohàm hoà, đã có trung ắt có hoà, có hoà thì mới trung, nhờ có trung và hoà mà

trời đất mới đứng vững, vạn vật mới sinh sôi “Trung giã giả, thiên hạ chi đại bản giã; hoà giã giả, thiên hạ chi đạt đạo giã Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên”: trung là gốc lớn của thiên hạ, hoà là cái đạo của thiên hạ Đạt trung hoà thì trời đất định vị, vạn vật hoá dục (Trung dung) Trung là gốc

của trời đất, người bẩm thụ cái tính của trời nên đương nhiên là người có

trung “Duy hoàng thượng đế, giáng trung vu hạ dân, nhược hữu hằng tính”:

Hoàng thượng đế giáng cái trung xuống cho hạ dân, dân có cái trung ấy như

Trang 13

có tính thường (Kinh Thư: Thang cáo) Vì thế, Nho giáo yêu cầu hành vi của

con người phải thích hợp, không bất cập, không thái quá, đây cũng là đặcđiểm cơ bản của phương pháp luận triết học Nho giáo

Cũng theo Nho giáo, muốn “trung hành” ắt phải có “thời trung” (biến hoá)

“Trung dung” tuy là chính đạo và là định lý của thiên hạ nhưng nó không nhấtthành bất biến Nó cũng hài hoà theo từng thời điểm, không ngừng tuỳ thời

mà tiến cho hợp lý Tư tưởng “thời trung” còn có ý nghĩa “thông quyền đạtbiến”, yêu cầu con người vận dụng vào cuộc sống phải linh hoạt, không máymóc, giáo điều Trong đối nhân xử thế, một mặt phải tuân thủ sự vừa phải,không thái quá và bất cập, mặt khác hy vọng với những sự khác biệt, thậm chíđối lập mà có được sự hài hoà tương hỗ “hoà mà bất đồng” Như vậy, đạo

“trung dung” của Nho giáo nhằm đem lại sự hài hoà giữa mình với người, giữangười với trời đất, tạo nên sự quán thông giữa con người với tự nhiên [15,tr85-87]

Mặt khác, từ quan niệm xem “hiếu đễ” là xuất phát điểm của “nhân ái” vàcủa quan hệ hài hoà, dựa trên lập luận “một người làm con trong gia đình màkhông có hiếu thì ra ngoài xã hội không thể trở thành một người bạn tốt vàcàng không thể là một bề tôi trung được”, nên Nho giáo cho rằng, tiêu chuẩnphải, trái của trung dung là “lễ”, nguyên tắc thực thi của nó là lấy “lễ” để tiếtchế “trung” và lấy “trung” để giữ “lễ” “Trung dung” là phương pháp, “hài

hoà” là biểu hiện, “nhân” và “lễ” là nội dung Vì thế, Nho giáo yêu cầu “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu

dư lực, tắc dĩ học văn”: mỗi người trong gia đình trước hết phải hiếu kính với

cha mẹ, hoà thuận với anh em; khi ra ngoài trước hết phải có hiếu với tông tộc,tôn trọng hàng xóm; được vậy rồi thì mới nói đến chuyện kết giao bạn hữu và

tham gia chính sự để vỗ yên dân lành (Luận ngữ: Học nhi, I) Hơn nữa, xuất

phát từ quan niệm xem con người là trung tâm của vũ trụ, nên Nho giáo chorằng, để cải tạo xã hội thì vấn đề đầu tiên là phải cải tạo con người, trước hết là

Trang 14

xây dựng cho được một mẫu người hài hoà, trong đó các tiêu chí “lễ” và

“nhân” phải đạt ở mức hoàn mỹ, đó là mẫu người quân tử có khả năng tudưỡng cao, suy nghĩ rộng, giữ nguyên tắc, biết tiến thoái, không bất cập vàcũng không thái quá cả trong nhận thức và hành động Một khi có được conngười hài hoà thì tất yếu sẽ có quan hệ con người và quốc gia hài hoà, trái lạithì ngược lại Để trở thành con người hài hoà thì phải có phẩm chất toàn diện

cả ba mặt: đạo đức, kiến thức và thực tiễn, trong đó, đạo đức có tầm quantrọng hàng đầu Vì thế, Nho giáo đòi hỏi mỗi người, bên cạnh thực hiện “lễ”còn phải tích cực học tập Từ yêu cầu này mà Nho giáo đã trở thành một họcthuyết đầu tiên của Trung Hoa cổ đại đưa ra quan niệm về giáo dục theo tưtưởng “trung dung”, thể hiện được những nội dung cơ bản của nhận thức luận.Riêng về phương pháp giáo hoá, Nho giáo chủ trương trước hết phải dạy

những điều đơn giản, sau đó dần dần dạy đến những điều phức tạp “Tiên chi

dĩ Thi Thư, nhi đạo chi dĩ hiếu đễ, thuyết chi dĩ nhân nghĩa, quan chi dĩ lễ nhạc, nhiên hậu thành chi dĩ văn đức”: trước hết dùng Thi Thư mà dạy, rồi

lấy hiếu đễ mà dẫn dắt người ta, lấy nhân nghĩa mà giảng dụ, lấy lễ nhạckhiến người ta xem xét, sau cùng mới lấy văn đức để dạy cho nên người

(Khổng Tử gia ngữ: Đệ tử hạnh, XII), bởi vì “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc”: Thi làm cho ý chí hứng khởi, lễ sửa sang cho phẩm cách đứng đắn, nhạc điều hoà cho tính tình hoàn hảo (Luận ngữ: Thái bá, VII) Khi dạy điều

gì cũng phải khơi dậy tính năng động tư duy của người học, người học phải

cố gắng suy nghĩ để tìm hiểu vấn đề thì sự học mới vững chắc, ngược lại thì

“Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát Cử nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã”: nếu không ham hiểu biết thì không dạy cho, không nói ra

được thì không bày cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra

được ba góc kia thì không dạy nữa (Luận ngữ: Thuật nhi, VII).

Theo Nho giáo, việc dạy học có hai phần Phần công truyền nói về luânthường đạo lý để dạy cho mọi người Phần tâm truyền nói về những điều cao

xa, chỉ dạy riêng cho người có tư chất đặc biệt, người học phải tự học để hiểu

Trang 15

lấy, người dạy không nhất thiết phải giảng giải nhiều Hơn nữa, con người aicũng có sẵn cái tính giống nhau do trời phú cho, nhưng vì tập nhiễm lâu ngàynên khác nhau, chỉ có tính của bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không hề thayđổi Thế nhưng, trong xã hội, bậc thượng trí và kẻ hạ ngu luôn là số ít, phần

đông là hạng trung nhân có thể dạy bảo được, nên Nho giáo chủ trương “Hữu giáo vô loại”: dạy cho tất cả mọi người (Luận ngữ: Vệ Linh công, XV).

Cũng theo Nho giáo, để nâng hiệu quả dạy học thì cả người dạy lẫn ngườihọc đều phải tuân theo chuẩn mực đức độ của thánh hiền Người dạy phảiluôn tự sửa mình, giữ lấy cái tâm của mình cho chính, vì “mình cong queo thìkhông thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”, càng không được xấu

hổ khi học hỏi người dưới, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, nhưthế mới là biết… Người học phải chuyên tâm, từ chí, khiêm tốn, cầu tiến, cầnmẫn, không tự thoả mãn, phải quan sát nhiều, nghe nhiều, hỏi nhiều, có tưduy sáng tạo, ôn cũ biết mới, học đi đôi với hành, hành lễ trước rồi mới họcvăn “Tiên học lễ, hậu học văn” là kết luận của Nho giáo rút ra từ quan niệm

đó

Nho giáo dựa vào các tiêu chí đức hạnh “nhân”, “trí”, “dũng” để phân biệtquân tử với tiểu nhân, đức hạnh đó phải được biểu hiện bằng sự nhất quán giữalời nói và việc làm, bằng sự xác định nguyên do của công việc và bày tỏ thái độtrong hành động Trong Luận ngữ chữ “nhân” được đề cập 109 lần, “quân tử”được đề cập 107 lần [15,tr44] Con người dẫu bần cùng, khổ sở nhưng có đứchạnh thì vẫn là người quân tử, người kém đức hạnh thì dù có quyền tước caosang cũng là kẻ tiểu nhân Với kẻ sĩ, Nho giáo cũng phân chia nho quân tử vànho tiểu nhân Nho quân tử là người học đạo thánh hiền để tự sửa mình thànhngười có phẩm hạnh, trong hoàn cảnh nào cũng không trái đạo Nho tiểu nhân

là người mượn tiếng học đạo thánh hiền để cầu danh, cầu lợi, miệng tuy nóiđạo đức mà bụng thì luôn tìm mưu tính kế để làm những việc bất nhân, bất

Trang 16

nghĩa Vì thế Nho giáo yêu cầu “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho”: nên làm nho quân tử, không nên làm nho tiểu nhân (Luận ngữ: Ung dã, VI).

Tư tưởng “trung dung” trong phương pháp luận nhận thức Nho giáo cònđược biểu hiện ở thái độ của con người đối với trời đất, quỷ thần và quanniệm về phương pháp quản lý, điều hành đất nước như đã trình bày ở cácphần trên Thực chất của tư tưởng “trung dung” là chủ trương “cầm hai đầu

mà dùng ở giữa”, là sự trừu tượng cao độ của lý tưởng hài hoà Đó là thái độluôn giữ ở lập trường trung chính, không thiên lệch bên nào, không nhữngkhông phản đối sự tồn tại của hai đầu mà còn tiếp thu những nhân tố hợp lýcủa hai đầu để ổn định chỉnh thể Biểu hiện ở con ngưòi là: “văn”, “chất” phảihài hoà, cung kính không thái quá, ham muốn phải chừng mực, tâm thế luôn

ổn định…

Tóm lại, tư tưởng triết học Nho giáo tuy mâu thuẫn về mặt thế giới quan vàthừa nhận đường lối chính trị đẳng cấp, nhưng lại chứa đựng triết lý hành độngđầy tính nhân văn, nặng đức nhẹ hình, khuyến khích tu thân để đạt tới xã hội tháibình thịnh trị, nên nó là triết học nhập thế, hành động, giàu ý nghĩa nhân sinh,được gọi là “Nội thánh, ngoại vương chi đạo” Đến nay, phương châm trị quốccủa Nho giáo không còn phù hợp, nhưng đạo lý làm người theo học thuyết ấy cómặt vẫn còn nguyên giá trị Mặt khác, nhờ triết lý đối nhân xử thế hài hoà nên dùtrải qua những lúc thăng trầm, nhưng Nho giáo vẫn luôn xuất hiện trong cáctriều đại phong kiến, để lại dấu ấn không chỉ trong sách vở mà cả trong cuộcsống của nhiều thế hệ ở các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam

1.1.2 Tính tất yếu ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5

Nho giáo ảnh hưởng đến đời sống xã hội Việt Nam

Từ khi giành được độc lập dân tộc, các vương triều phong kiến Việt Namluôn lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng để củng cố chế độ tông pháp và duy

Trang 17

trì vương quyền của mình Trong thời gian các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễntrị vì (từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX), vai trò của Nho giáo đối với xã hộiViệt Nam ngày càng tăng, Nho giáo được tôn là quốc giáo, Nho học được xem

là nội dung cơ bản của nền giáo dục nước nhà Vai trò của Nho giáo ở ViệtNam bắt đầu bị suy giảm khi thực dân Pháp bãi bỏ hoàn toàn nền giáo dụcNho học vào năm 1919 và nó chính thức bị hạ bệ vào năm 1945 cùng với sựtiêu vong của triều đình nhà Nguyễn

Đã từng có nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập đến vai trò của Nho giáotrong lịch sử dân tộc ta Có người cho rằng, do tính chất lạc hậu và bảo thủnên Nho giáo Việt Nam đã kìm hãm sự phát triển của đất nước lúc có cơ hộivào cuối thế kỷ XIX, đến nỗi đất nước ta phải cam chịu thất bại trước sự xâmlược của đế quốc Pháp Người khác lại cho rằng, Nho giáo Việt Nam đã giáodục con người tư duy theo lối giáo điều, bắt chước Có người còn khẳng định,nền quân chủ ở nước ta vừa mang tính ngoại sinh, vừa mang tính lạc hậu, dovay mượn của “cửa Khổng sân Trình”, nên Việt Nam không có sáng tạo màchỉ có vay mượn, chỉ có áp dụng và thích nghi Những ý kiến trên đây chỉđúng phần nào khi xem xét ảnh hưởng bởi mặt tiêu cực của Nho giáo Xétmột cách tổng thể thì Nho giáo Việt Nam trong một số giai đoạn cũng đã cóvai trò tích cực nhất định như thúc đẩy sự xuất hiện của chế độ phong kiếntrung ương tập quyền, một xu thế tất yếu ở thế kỷ XI Các nhà nho yêu nướccủa Việt Nam trong lịch sử đã biết sử dụng các yếu tố tích cực của Nho giáo

để đoàn kết quần chúng chống giặc ngoại xâm Một số nhà nho Việt Nam cótinh thần dân tộc đã lợi dụng nhiều tư tưởng trong Nho giáo để đấu tranh với

kẻ cầm quyền phương Bắc, đòi sự tôn trọng và công bằng trong quan hệ… Ngoài

ra, sau khi nắm vững Nho giáo, người Việt Nam đã nâng tư duy của mình lêntrình độ tư duy của khu vực Đông Á, và do đó, đã từng tranh luận với ngườiTrung Quốc đương thời về những vấn đề có liên quan tới quyền lợi dân tộc mình

Trang 18

và những vấn đề chung của khu vực Đó là những thực tế không thể phủ nhận![42,tr58-59].

Điều cần nhấn mạnh ở chỗ, tuy là một quốc gia trong “vành đai Nho giáo”,chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng của học thuyết ấy, song với tinh thần độclập tự chủ và lòng tự hào tự tôn dân tộc, người Việt Nam đã chủ động tiếp thutinh hoa văn hoá của kẻ xâm lược với âm mưu muốn đồng hoá mình để chốnglại sự xâm lược và làm thất bại âm mưu đen tối đó, điều này đã tỏ rõ sứcmạnh nội sinh của dân tộc ta, sức mạnh ấy được bắt nguồn từ khả năng luônbiết tự bồi đắp, tự nâng mình lên ngang tầm thời đại Bên cạnh đó, do xâmnhập vào nước ta từ lâu nên tư tưởng triết học Nho giáo đã ăn sâu, bám rễtrong tâm thức người Việt, góp phần tạo nên những giá trị văn hoá truyềnthống dân tộc Hiện nay, dù chỉ tồn tại với tư cách là một học thuyết chính trị

- xã hội và đạo đức, nhưng tư tưởng triết học của Nho giáo vẫn ảnh hưởngkhông nhỏ đến đời sống tinh thần, đạo đức của nhân dân và cán bộ ta Độingũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 không thể nằm ngoài thực trạng đó, do vậy,quá trình xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ này luôn chịu sự tác động vừatích cực, vừa tiêu cực bởi ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo

Quan niệm về xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5

Cán bộ QSĐP Quân khu 5 là những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệpgiữ chức như sĩ quan công tác ở các Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) tỉnh, cácBan CHQS huyện và tương đương trên địa bàn QK, phần lớn đã qua đào tạo ởcác nhà trường Quân đội, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu hoạtđộng trong lĩnh vực QP,QSĐP, giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức xây dựngnền quốc phòng toàn dân (QPTD), xây dựng LLVT nhân dân, xây dựng vàtích trữ các tiềm lực quốc phòng, chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhân dân ởđịa phương… Để hoàn thành tốt chức trách được giao, một trong những vấn

đề có tính cấp thiết thường xuyên đặt ra là ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐPQuân khu 5 phải được quan tâm xây dựng, đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ

Trang 19

Là cán bộ của Đảng, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, nên đạo đức củađội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 trước hết phải là ĐĐCM của cán bộ quânđội với những chuẩn mực cơ bản như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát:

“Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân”; “Đề cao tính kỷ luật”; “Dũngcảm trong chiến đấu”; “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; “Yêu thươngđồng chí đồng đội”; “Tinh thần quốc tế trong sáng”… Trong đó chuẩn mực

“Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân” là đặc trưng nổi bật nhất Mặtkhác, chức năng, nhiệm vụ và tính chất đặc thù trong lĩnh vực công tácQP,QSĐP ở một trong những địa bàn chiến lược trọng điểm của đất nước cũngđòi hỏi đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phải có những chuẩn mực đạo đứcđặc thù, cụ thể là:

Hoạt động trên địa bàn có 44 dân tộc anh em cùng sinh sống, phong tục,tập quán của từng dân tộc luôn có sự khác biệt, lại phải tham gia giải quyếtnhiều công việc liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân…,đòi hỏi cán bộ QSĐP Quân khu 5 không chỉ quán triệt sâu sắc và gương mẫuchấp hành, mà còn phải thật sự tôn trọng nhân dân, xây dựng tác phong gầndân, thực sự có thái độ cầu thị trong việc “học dân” để “hiểu dân” một cáchtường tận, nói đi đôi với làm, luôn ý thức nêu gương trước nhân dân và cán bộchiến sĩ trong đơn vị; qua đó, nâng chất lượng công tác dân vận, vận độngquần chúng nhân dân trên địa bàn thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách,quy định của cấp uỷ, chính quyền địa phương

Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao ở một địa bàn rộng vàphức tạp, có diện tích gần 1/4 cả nước, vừa có biên giới, hải đảo, vừa có thành thị,nông thôn, trung du và miền núi, lại thường xuyên xảy ra nhiều điểm nóng liênquan đến các vấn đề nhạy cảm hiện nay như vấn đề dân tộc và tôn giáo, nhất làtrước yêu cầu giải quyết theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoạt độngtrái pháp luật của “Tin Lành Đềga” và vấn đề ly khai của một số dân tộc bản địa ởTây Nguyên, đòi hỏi cán bộ QSĐP Quân khu 5 phải luôn tận tâm, tận lực, phát

Trang 20

huy cao tinh thần trách nhiệm trong việc tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địaphương xây dựng các chủ trương, chính sách liên quan đến nhiệm vụ quân sự,quốc phòng phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương và có tính khả thicao.

Điều kiện công tác và sinh hoạt gần dân, luôn phải trực tiếp tiếp xúc vớinhiều thành phần, nhiều đối tượng, dễ bị tiêm nhiễm bởi những thói hư, tật xấucủa một bộ phận nhân dân, thường xuyên chịu sự tác động mạnh mẽ bởi các hiệntượng tiêu cực, nhất là dễ bị sự lôi cuốn, sa ngã vào các tệ nạn xã hội hiện đang cóchiều hướng gia tăng…, đòi hỏi cán bộ QSĐP Quân khu 5 phải luôn kiên định lậptrường giai cấp công nhân, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm vàkiên quyết đấu tranh thắng lợi trước hết với chính mình trong mọi tình huống, tíchcực tham gia xây dựng địa bàn chính trị an toàn và đời sống văn hoá ở các khudân cư có liên quan, thiết thực góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.Các yêu cầu xây dựng đạo đức nêu trên là một thể thống nhất, có mốiquan hệ biện chứng, luôn luôn tác động và ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành hệthống các chuẩn mực đạo đức cơ bản của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5

Vì thế, trong xây dựng ĐĐCM, cán bộ QSĐP Quân khu 5 phải luôn coi trọngbồi dưỡng, rèn luyện để đạt được các chuẩn mực đạo đức một cách toàn diện

và đồng bộ, không nên coi nhẹ một chuẩn mực nào

Xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 là hoạt động cómục đích, có tổ chức hướng tới hoàn thiện các phẩm chất cần thiết, đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ QP,QSĐP trên địa bàn Quân khu Đó là sự thống nhất biệnchứng thông qua tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủquan trong quá trình giáo dục, rèn luyện, xây dựng ĐĐCM; là quá trình hoạtđộng tự giác của mỗi tổ chức và từng cá nhân nhằm nâng cao nhận thức, củng

cố tình cảm, tăng cường niềm tin, khả năng tự điều chỉnh hành vi, thói quenđạo đức của cán bộ, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và đáp ứng tốtvới yêu cầu nhiệm vụ được giao

Trang 21

Tiếp cận theo phương pháp hệ thống thì phẩm chất ĐĐCM của đội ngũcán bộ Quân đội nói chung, cán bộ QSĐP Quân khu 5 nói riêng, không “nhấtthành bất biến” mà là hệ thống “mở”, luôn có sự kế thừa, lọc bỏ, bổ sung vàphát triển Hơn nữa, theo quan điểm toàn diện thì trong xây dựng đã bao hàm

cả sự phát triển Vì thế, xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5

là một dạng vận động đặc biệt, theo xu hướng từ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Đó là một quá trình kháchquan, là sự “tự thân vận động” với nguồn gốc, động lực là sự đấu tranh giữacác mặt đối lập tồn tại trong mỗi cán bộ, trong từng tổ chức, là quá trình màtrạng thái tiến lên được thông qua các bước “nhảy vọt” để chuyển hoá từ

“lượng” sang “chất” và ngược lại, quá trình đó không phải theo con đườngthẳng tắp hay một chu kỳ khép kín, mà theo con đường “xoáy ốc”, có thể cóbước tụt lùi tạm thời nhưng cái mới sẽ ra đời, chiến thắng cái cũ, có yếu tốdường như lặp lại cái cũ nhưng ở trình độ cao hơn

Từ cấu trúc của đời sống đạo đức và đòi hỏi của thực tiễn, yêu cầu xâydựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện nay cần tập trungvào những vấn đề cơ bản là: giáo dục nâng cao nhận thức về các giá trị, chuẩnmực cơ bản của ĐĐCM, làm cơ sở xây dựng tình cảm, niềm tin và ý thức rènluyện hoàn thiện nhân cách; xây dựng phẩm chất ĐĐCM, trong đó đặc biệtchú trọng tăng cường bản lĩnh chính trị, kiên định lập trường, lòng trungthành vô hạn với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, mục tiêu chiến đấucủa quân đội nói chung, Quân khu 5 nói riêng; xây dựng phương pháp, tácphong rèn luyện ĐĐCM, trong đó đặc biệt chú ý nâng cao khả năng tự rènluyện, tự điều chỉnh hành vi đạo đức, thường xuyên thể hiện tính thống nhấtgiữa lời nói và việc làm, luôn nêu gương về đạo đức

Như vậy, thực chất của quá trình xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện nay là quá trình phát hiện và đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa các yếu tố tích cực và tiêu cực, giữa các giá trị và phản giá

Trang 22

trị đạo đức, giữa bảo tồn gắn với phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, hạn chế tiến tới loại bỏ những giá trị truyền thống chỉ phù hợp với thực tiễn trước đây nhưng nay đã lạc hậu, không còn phù hợp nữa, nhằm xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 luôn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Trong quá trình đó, nổi lên mâu thuẫn giữa yêu cầu xây dựng

ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 với những tác động đa chiềucủa các hình thái ý thức xã hội tàn dư, lạc hậu còn đan xen tồn tại trong môitrường kinh tế, chính trị, xã hội đang có những diễn biến phức tạp và khôngthuần nhất; mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao phẩm chất ĐĐCM của đội ngũcán bộ QSĐP Quân khu 5 với thực trạng đạo đức của họ trong hiện tại Chính

vì thế, xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 là quá trìnhthống nhất giữa hai mặt: một mặt cần tiếp nhận và phát triển những giá trị đạođức tiến bộ, tích cực; mặt khác, phải đấu tranh loại bỏ các yếu tố tiêu cực, phiđạo đức trong từng tập thể và cá nhân Trong đó có những yếu tố tiêu cực bởiảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo

Những vấn đề có tính quy luật trong sự ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5

Đội ngũ cán bộ, sỹ quan của Quân đội ta nói chung, cán bộ QSĐP Quânkhu 5 nói riêng, đều được đào tạo trong nền giáo dục mới - nền giáo dục cáchmạng Quá trình xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 luônđược sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên,như phần trên đã đề cập, Nho giáo với tư cách là một học thuyết về chính trị -

xã hội và đạo đức đang tồn tại khách quan, tiềm ẩn trong các giá trị văn hoátruyền thống dân tộc, nên tư tưởng triết học của nó vẫn còn ảnh hưởng đếnquá trình xây dựng ĐĐCM của họ Điều này đã đặt ra một trong những yêucầu cấp thiết là phải phủ định biện chứng ảnh hưởng của tư tưởng triết họcNho giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiệnnay

Trang 23

Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 là sự tác động, chi phối của thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận nhận thức Nho giáo, gây nên những biến đổi nhất định, vừa tích cực, vừa tiêu cực đối với nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi đạo đức của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5; đồng thời vừa tạo thuận lợi, vừa gây khó khăn trong quá trình xây dựng ĐĐCM của họ Đây là sự đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thông qua kết quả xây dựng các yếu tố cấu thành đời sống ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5.

Tính chất và mức độ ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xâydựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phụ thuộc vào những vấn

đề có tính quy luật sau đây:

Một là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phụ thuộc vào chất lượng công tác quản lý, giáo dục chính trị - tư tưởng của tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và các tổ chức quần chúng Mỗi cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện đang là thành viên của một hay

nhiều tổ chức 100% cán bộ là đảng viên, luôn chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của tổchức đảng và tổ chức chỉ huy ở đơn vị công tác, trong đó 36,5% là thành viêncủa các tổ chức quần chúng, phần lớn là đoàn viên Công đoàn quốc phòng (phụlục 1) Một khi các tổ chức nói trên được xây dựng trong sạch, vững mạnh,phát huy tốt các chức năng, nhiệm vụ, đặc biệt là chức năng quản lý, giáo dục

và giám sát, thì sẽ làm cho đội ngũ cán bộ này vừa nâng cao ý thức đạo đức,củng cố niềm tin, tình cảm đạo đức, biết trọng danh dự và luôn đánh thứclương tâm, vừa không có điều kiện tiếp xúc với các tệ nạn xã hội và cũngkhông có cơ hội thực hiện các hành vi sai trái ảnh hưởng xấu đến phẩm chấtđạo đức Cốt lõi của vấn đề này là phát huy hiệu quả tổng hợp của nhiều hoạtđộng, nhiều phương thức giáo dục khác nhau Qua đó, hệ tư tưởng của Đảng sẽ

Trang 24

phát huy tốt vai trò, tác động tích cực đến quá trình xây dựng phẩm chấtĐĐCM của cán bộ; các hành vi sai trái xuất phát từ ảnh hưởng tiêu cực của các

hệ tư tưởng tàn dư, trong đó có tư tưởng triết học Nho giáo sẽ được ngăn chặnkịp thời Điều này cho thấy, tính chất và mức độ ảnh hưởng tiêu cực của tưtưởng triết học Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quânkhu 5 luôn tỷ lệ nghịch với chất lượng công tác quản lý, giáo dục của các tổchức nói trên Ngược lại, một khi làm tốt công tác quản lý, giáo dục thì nhữngtinh hoa tư tưởng triết học Nho giáo sẽ ảnh hưởng tích cực đến xây dựngĐĐCM của họ

Hai là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phụ thuộc vào khả năng tự giáo dục, tự rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, trên cơ sở phẩm chất ĐĐCM vốn có của từng cán bộ Hiệu quả giáo dục của

chủ thể quản lý sẽ không cao nếu không được kết hợp chặt chẽ với khả năng

tự giáo dục của đối tượng Tự giáo dục là khả năng chủ quan hoá khách quan,

được thể hiện thông qua quá trình tự ý thức, rèn luyện, điều chỉnh hành vi đạođức dựa trên niềm tin đạo đức cá nhân và luôn chịu tác động bởi sức mạnh ámthị của phong tục tập quán, của dư luận xã hội và sự dằn vặt của lương tâm.Khả năng này có tác dụng như một phương thuốc đề kháng, tạo nên sự miễndịch cho đời sống đạo đức của mỗi người, chống lại sự xâm nhập của các yếu

tố phi đạo đức hình thành bởi những ảnh hưởng tiêu cực của các hệ tư tưởngkhác, trong đó có tư tưởng triết học Nho giáo Mặt khác, một khi phẩm chấtđạo đức cần thiết của cán bộ QSĐP Quân khu 5 được xây dựng đúng mức từtrước, thì trong hiện tại và tương lai, việc kế thừa, phát triển phẩm chất đạođức ấy sẽ đạt hiệu quả cao hơn Điều này cho thấy, một khi ĐĐCM của độingũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 được quan tâm xây dựng thường xuyên, khảnăng tự giáo dục, tự rèn luyện của họ luôn được đề cao, thì những ảnh hưởng

Trang 25

tích cực của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của họ sẽ đượcphát huy, những ảnh hưởng tiêu cực sẽ được hạn chế thấp nhất.

Ba là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 phụ thuộc vào tính chất môi trường sống, hoạt động và công tác của họ Rõ ràng, trong tính hiện thực của nó, phẩm

chất đạo đức của con người là sản phẩm tổng hoà của các quan hệ xã hội Cácquan hệ xã hội ấy được nảy sinh, biểu hiện và phải được giải quyết trong mộtmôi trường nhất định, có ý nghĩa quyết định đến nhân cách của mỗi conngười Nếu như môi trường sống, hoạt động và công tác của đội ngũ cán bộQSĐP Quân khu 5 được xây dựng trong sạch, lành mạnh, thì những ảnhhưởng tích cực của Nho giáo đến xây dựng ĐĐCM của họ sẽ được phát huy,tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho họ giữ vững và tăng cường các phẩm chấtđạo đức cần thiết Ngược lại, nếu môi trường ấy không được quan tâm xâydựng đúng mức, thì những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng triết học Nhogiáo sẽ gây khó khăn lớn trong quá trình xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộnày

Tóm lại, tư tưởng triết học Nho giáo đang còn ảnh hưởng đến đời sốngtinh thần, đạo đức của nhân dân ta và nhân các địa phương trên địa bàn Quânkhu 5, qua đó tác động đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP củaQuân khu là hiện tượng khách quan Đây là vấn đề cần được nghiên cứu mộtcách nghiêm túc để có nhận thức đúng và thái độ ứng xử khoa học, góp phầnxây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ này luôn ngang tầm với sự phát triểncủa yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới

1.2 Đặc điểm ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xây dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5

1.2.1 Tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5 là tư tưởng triết học Nho giáo đã được Việt Nam hoá

Trang 26

Nho giáo được truyền vào Việt Nam đã trải qua một quá trình, có sựchuyển hoá từ ngoại sinh sang nội sinh, từ cái của người thành cái của mình,

đó là Nho giáo Việt Nam (Nho Việt) Thực chất, đó là Nho giáo đã và đangảnh hưởng đến đời sống tinh thần, đạo đức của con người Việt Nam

Sự tiếp thu và cải biến Nho giáo ở Việt Nam được thể hiện rõ nhất thôngqua sự kiện vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu ở Thăng Long (nay là thủ

đô Hà Nội) vào năm 1070 Tại đây, không chỉ thờ Khổng Tử mà còn thờ cảChu Công, “Tứ phối” cùng “Thập triết” và “Thất thập nhị hiền”, sự thờ cúng

để tôn vinh các danh nhân này hoàn toàn khác với các Văn Miếu ở TrungQuốc và đã chứng minh khả năng vận dụng sáng tạo, phát triển các giá trị vănhoá ngoại lai của người Việt Nam

Riêng với nhân dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu 5, tuy văn hoá ứng

xử có tính đa dạng, thậm chí còn có nét rất khác biệt, nhưng nhìn tổng thể thì

nó luôn thống nhất với nền văn hoá chung của dân tộc Điều đó chứng tỏ tưtưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, đạo đức của nhândân Quân khu 5 nói chung, đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐPQuân khu 5 nói riêng, về cơ bản là tư tưởng triết học Nho giáo Việt Nam, vớinhững đặc trưng nổi bật sau đây:

Một là, tư tưởng triết học Nho giáo Việt Nam gần gũi với Nho giáo nguyên thuỷ ở Trung Hoa, đượm tính nhân văn và ít duy tâm thần bí hơn so với Tống Nho ở Triều Tiên và Minh Nho ở Nhật Bản

Nho giáo xâm nhập vào Việt Nam theo gót giày của quân xâm lược Hánnên không còn là Nho giáo Nguyên thuỷ, nó đã được bổ sung thêm nhiều khíacạnh đậm nét Hán Nho Khi giặc Minh xâm lược nước ta đầu thế kỷ XV, đểchấm dứt ảnh hưởng của Hán Nho, thay vào đó là tăng cường ảnh hưởng củaTống Nho có tính duy tâm thần bí trong đời sống tinh thần của nhân dân ta,nhằm thực hiện cuộc xâm lăng văn hoá với âm mưu xoá bỏ văn hoá nước ta,tiến tới đồng hoá, nô dịch dân tộc ta theo phương châm “muốn tiêu diệt một

Trang 27

dân tộc nào thì trước hết phải tiêu diệt văn hoá của dân tộc đó” Thế nhưng,

âm mưu và hành động của kẻ thù dù thâm hiểm đến đâu cũng không thể thắngđược bản lĩnh, ý chí của dân tộc ta Trong lịch sử, với truyền thống nhân văn, nhânđạo vốn có, người Việt chỉ tiếp nhận những giá trị văn hoá của Nho giáo nguyênthuỷ kết tinh trong Hán Nho, Tống Nho, gần gũi với phong tục tập quán và cảibiến nó để đáp ứng với nhu cầu phát triển văn hoá của dân tộc mình, không chấpnhận sự lai căng hay khuất phục trước hành động áp đặt của quân xâm lược Như vậy, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCMcủa đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 không phải là toàn bộ tư tưởng triếthọc Nho giáo nguyên thuỷ, càng không phải là tư tưởng triết học Nho giáo đãđược bổ sung các yếu tố duy tâm thần bí ở các giai đoạn sau, mà chỉ là nhữngtinh hoa tư tưởng triết học Nho giáo nguyên thuỷ đã được nhân dân ta tiếpthu, cải biến, phát triển Mặt khác, những tư tưởng ấy không ảnh hưởng trựctiếp mà chỉ ảnh hưởng gián tiếp thông qua các giá trị văn hoá truyền thốngdân tộc Do đó, hành vi đạo đức của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5, cũngnhư cán bộ Quân đội ta luôn đượm tính nhân văn, nhân đạo, không tàn bạo nhưcán bộ quân đội ở một số quốc gia trong khu vực cũng từng chịu ảnh hưởng củaNho giáo

Hai là, tư tưởng triết học Nho giáo Việt Nam luôn có sự hoà đồng với các trường phái tư tưởng khác, đặc biệt là tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chịu sự chi phối mạnh mẽ của tư tưởng văn hoá bản địa

Đây là hiện tượng lan toả, giao thoa và tiếp biến văn hoá có tính phổbiến, không chỉ xảy ra ở Việt Nam Ngay ở Trung Quốc cũng có sự hoà đồnggiữa Nho - Đạo - Phật, tạo nên tam giáo hợp nhất, nhưng ở Việt Nam, tamgiáo Nho - Đạo - Phật không chỉ hợp nhất mà đã đạt tới mức đồng nguyên,được thể hiện rõ nét trong tư tưởng triết học của phái “Trúc Lâm tam tổ”, gắnvới công lao của vua Trần Thái Tông

Ngay cả những lúc cực thịnh của Nho giáo dưới các triều đại Lê Nguyễn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, tuy học thuyết này được tôn là quốc

Trang 28

-giáo và hình thức xã hội Việt Nam được tổ chức gần như phiên bản của TrungHoa, nhưng các vua chúa dưới các triều đại đó không chỉ dựa vào Nho giáo

mà còn dựa vào Phật giáo và cả Đạo giáo để quản lý, điều hành xã hội Cácchùa chiền, điện thờ xây dựng trong thời kỳ này luôn gần cung điện để tiệncho giới cầm quyền thoả mãn nhu cầu tâm linh và cách bố trí ở những nơi thờ

tự ấy vẫn còn giữ nguyên đến ngày nay là những minh chứng rõ nét về điềuđó

Trên thực tế, các thế hệ người Việt Nam không chỉ tiếp thu mà còn sànglọc nội dung và cách thức biểu hiện tư tưởng của các học thuyết ngoại lai đểtìm ra cái chung, cái tương đồng, bản địa hoá nó để trở thành công cụ hữu ích,phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình Dĩ nhiên, trong sự tiếp biến ấy, vănhoá bản địa luôn giữ vai trò nền tảng, cộng với lòng khoan dung, cao thượng,nhân ái vốn có của người Việt, nên tuy có nhiều tôn giáo, nhiều dân tộc cùngtồn tại và phát triển qua các thời kỳ khác nhau, nhưng lịch sử Việt Nam không

hề có sự xung đột gay gắt hay sự kỳ thị và bài xích về tư tưởng và tôn giáo.Như vậy, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCMcủa đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 hiện nay là tư tưởng triết học Nho giáoViệt Nam, có sự đan xen, hoà đồng với các tư tưởng triết học ngoại lai khác.Điều này được thể hiện rõ nét qua đời sống đạo đức, nhất là qua hành vi ứng

xử hàng ngày của họ, như: lòng bao dung, độ lượng, ưa tĩnh, trọng tình, biết

hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của cộng đồng… của văn hoá bản địa đượcxen lẫn với lòng từ bi hỉ xả, sẵn sàng tha lỗi cho người khác khi họ biết ănnăn, hối cải theo quan điểm Phật giáo, kết hợp với cuộc sống hài hoà, gắn bóthân thiện cùng môi trường sống theo quan điểm của Đạo giáo Bên cạnh đó,

dù quê quán ở đâu, thành phần xuất thân thế nào, trong văn hoá đạo đức ởmỗi cán bộ QSĐP Quân khu 5 cũng thể hiện những thái độ và hành vi bộctrực đặc thù của con người trung - nam Trung bộ, sống trên dải đất mà thờitiết vốn khắt nghiệt và thường xuyên gánh chịu nhiều hậu quả hiên tai

Trang 29

Ba là, tư tưởng triết học Nho giáo Việt Nam là sản phẩm đã được tái cấu trúc trên cơ sở tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ của tư tưởng ngoại lai, là đạo đức thực hành, thiên về thực tiễn hơn là học thuật

Đây là nét đặc sắc và là biểu hiện “chủ nghĩa có thể vẫn thế nhưng cáchhiểu đã khác nhiều” của Nho giáo Việt Nam Trước khi tiếp thu Nho giáo,ngay từ sớm người Việt đã khẳng định bản sắc văn hoá nông nghiệp lúa nướcđặc thù của mình Bản sắc ấy đã tạo nên tâm thức và đó là môi trường, là nềntảng tạo nên sự khúc xạ của tư tưởng triết học Nho giáo Trung Hoa khi vàoViệt Nam qua lăng kính bản địa Biểu hiện:

Do coi trọng tình người nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt tâm đắcvới chữ “nhân” hơn cả “Nhân” được phát triển theo quan niệm của người Việtlà: “lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Nhiễu điều phủlấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” Theo người Việtthì “Nhân” phải được gắn liền với “nghĩa” vì “Việc nhân nghĩa cốt ở yêndân…” Với người bình dân thì “nhân” đồng nghĩa với “tình”… Như vậy, quanniệm “Nhân” của người Việt có nội hàm rộng hơn, đậm tính nhân văn hơn, thểhiện khả năng tiếp thu có gạn lọc tư tưởng “nhân” của Nho giáo Trung Hoa Trong giải quyết các quan hệ, do kết hợp với bản chất dân chủ vốn có,nên Nho giáo Việt Nam có tính khoan dung hơn, không cực đoan, hà khắcnhư Nho giáo Trung Hoa Điều này được thể hiện rõ qua tính chất của luậtpháp Luật Trung Hoa chú trọng nhiều đến quan hệ vua - tôi, cha - con (đẳngcấp, tôn ti), luật Việt Nam thiên về quan hệ vợ - chồng (bình đẳng) Đáng chú

ý là, tư tưởng tôn trọng phụ nữ thể hiện rõ trong luật Việt, thậm chí ngay cảcác luật ban hành thời phong kiến Hơn nữa, khi tiếp thu chữ “hiếu” của Nhogiáo, người Việt còn đặt nó trong mối quan hệ bình đẳng với cả cha lẫn mẹ vàbiết phân biệt rạch ròi giữa “đại hiếu” với “tiểu hiếu”

“Trọng văn”, “trọng kẻ sĩ” vốn là quan niệm chính thống của Nho giáo,thế nhưng ở Trung Hoa, quan văn nếu được coi trọng lắm thì cũng chỉ ngang

Trang 30

hàng với quan võ; còn ở Việt Nam, văn được coi trọng hơn võ Tuy luôn phảiđối phó với chiến tranh, nhưng người Việt ít quan tâm đến các kỳ thi võ màchỉ ham học chữ để thi văn, như quan niệm: “Gặp hội thái bình văn trước võ.

Võ đâu dám sánh khách văn chương”

Người Trung Hoa rất coi trọng tư tưởng “Trung quân” - một trong những

tư tưởng triết học trung tâm của Nho giáo, nhưng lại rất rất ít đề cập đến tưtưởng yêu nước Quan lại Trung Hoa dựa trên quan niệm “quân thần luận”,

“tông tộc luận” nên đều coi việc trung thành với nhà vua là chủ yếu và sẵnsàng xả thân vì họ, coi đó là nghĩa khí của người quân tử Trong khi đó,Người Việt Nam tiếp thu tư tưởng trung quân của Nho giáo trên cơ sở tinhthần yêu nước nồng nàn, ý thức tự cường và lòng tự hào tự tôn dân tộc, điềunày làm cho tư tưởng “trung quân” nguyên thuỷ biến đổi và gắn liền với quanniệm “cộng đồng luận”, “Tổ quốc luận” Người Việt xem lợi ích, vận mệnhcủa đất nước và dân tộc quan trọng hơn lợi ích, vận mệnh của triều đại

Về thái độ đối với thương nghiệp cũng khác nhau Ở Trung Hoa, Nhogiáo khuyến khích làm giàu, miễn là không được trái với lễ Ngược lại, ở ViệtNam, Nho giáo lại khinh rẻ thương nghiệp, khiến cho nó chậm phát triển.Điều đó được khái quát thành quan niệm “Dĩ nông vi bản”, “Dĩ thương vimạt” và “Trọng nông, ức thương” Người buôn bán thường bị xã hội coikhinh và xếp cuối cùng trong các tầng lớp dân cư “Sĩ, nông, công, thương”,luôn bị nghi ngờ về tính trung thực “Thật thà cũng thể lái buôn”…

Những đặc trưng trên đây đã thể hiện sự khác nhau cơ bản giữa Nhogiáo Việt Nam với Nho giáo Trung Hoa, nhất là Nho giáo đã được cải biến

từ đời nhà Hán trở về sau Từ đó, có thể khẳng định: Tư tưởng triết học Nho giáo Việt Nam là hệ thống quan điểm về tự nhiên, xã hội và con người; về cách ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và giữa con người với nhau, được tiếp thu từ tư tưởng triết học Nho giáo Trung Quốc, được hoà đồng với các trường phái tư tưởng ngoại lai khác và được cải biến trên nền tảng văn

Trang 31

hoá bản địa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam Chính tư tưởng đó đã và đang

ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5

1.2.2 Tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5 thông qua nhiều phương thức khác nhau

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội tàn dư, hiện nay tư tưởng triếthọc Nho giáo không tồn tại độc lập mà chỉ tiềm ẩn trong văn hoá truyền thốngdân tộc và trong phong tục tập quán của nhân dân; vì thế, ảnh hưởng của tưtưởng triết học Nho giáo đến xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ QSĐPQuân khu 5 hiện nay bằng nhiều con đường, cả trực tiếp và gián tiếp, thôngqua các quan hệ xã hội theo những phương thức sau đây:

Một là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 thông qua kế thừa, tiếp thu những giá trị văn hoá truyền thống dân tộc

Với tộc danh Hoa Hạ, người Trung Hoa tự cho mình là trung tâm của vũtrụ và có nhiệm vụ phải giáo hoá các dân tộc Man, Di, Nhung, Địch ở chungquanh Dựa vào ưu thế sẵn có, họ vận dụng chiến lược “viễn giao, cận công”(nước xa thì làm bạn, nước gần thì đánh chiếm), lấy đông đánh ít, dùng binh uygây áp lực, mua chuộc bằng của cải; kết hợp với chính sách “dĩ Di công Di”(dùng người Di đánh người Di), chinh phục đến đâu thì đồng hoá về văn hoáđến đó Theo gót giày của quân xâm lược Hán mà Nho giáo Trung Hoa truyền

bá vào Việt Nam, vì thế chữ Nho còn được gọi là chữ Hán

Là quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam đã sớm có nềnvăn minh nông nghiệp lúa nước Thế nhưng, do phải gánh chịu nhiều thiên tai,nên người Việt luôn đề cao tính cố kết cộng đồng, gần gũi lối sống dân dã,không thiên về triết lý cao siêu mà chỉ nặng về ứng xử Vì thế, khi Nho giáo dunhập vào nước ta, người Việt tìm thấy ở đó một số nét tương đồng với đạo lývốn có của dân tộc và đã tiếp thu nó thông qua lăng kính văn hoá bản địa với

Trang 32

thái độ có chọn lọc, phê phán Mặt khác, trải qua nghìn năm Bắc thuộc, ngườiViệt luôn tiếp thu tinh hoa Nho giáo trên nền tảng ý thức tự tôn dân tộc; ýthức đó được củng cố bởi tinh thần đấu tranh chống đồng hoá một cách kiêncường, hun đúc nên những phẩm chất anh hùng, nuôi dưỡng ý chí độc lập tựchủ Nhờ đó mà người Việt đã chủ động khai thác những quan điểm tích cựccủa Nho giáo để làm giàu thêm những giá trị trong đời sống tinh thần củamình

Trong quá trình mở nước, bảo vệ và dựng xây đất nước, cùng hoạt độngtrong môi trường và điều kiện chung của cả nước, nhân dân các dân tộc trênđịa bàn Quân khu 5 luôn có ý thức tôn vinh, giữ gìn và phát triển những giá trịvăn hoá truyền thống dân tộc Đặc biệt, trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ,cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống đó đãđược phát huy cao nhất Nếu như trong chiến tranh, Quân khu 5 là chiếntrường ác liệt, có Thương binh, Liệt sĩ và Mẹ Việt Nam anh hùng nhiều nhất

cả nước; thì trong hoà bình, Quân khu 5 là nơi hứng chịu nhiều thiên tai khắcnghiệt, người dân phải vươn lên trong gian khó Điều đó càng tôi rèn bản lĩnh,

ý chí và càng làm cho mỗi một người dân ở đây thấm thía sâu sắc hơn nhữnggiá trị văn hoá truyền thống dân tộc đã tạo nên; vì thế, trong bất cứ hoàn cảnhnào, họ cũng luôn kiên trì phấn đấu, hy sinh và làm nên thắng lợi để xứngđáng với danh hiệu “trung dũng, kiên cường” mà cả nước đã tôn vinh

Như vậy, trong lịch sử, tinh hoa tư tưởng triết học Nho giáo được ngườiViệt tiếp thu, cải biến, đã góp phần tạo nên những giá trị văn hoá truyền thốngdân tộc Ngày nay, đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 cùng nhân dân cả nước

kế thừa, tiếp thu và tiếp tục phát huy truyền thống ấy, qua đó những tinh hoa

tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, đạo đức củahọ

Hai là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 thông qua vai trò của thiết chế quan trọng

Trang 33

bậc nhất thuộc kiến trúc thượng tầng là nhà nước, trực tiếp là qua hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT của các đơn vị bộ đội địa phương Quân khu 5

Thực hiện âm mưu độc chiếm nước ta, ngoài việc truyền bá văn hoá,phong tục Trung Hoa, bọn đô hộ phương Bắc còn mở trường dạy học đểtruyền bá Nho giáo Thế nhưng, suốt thời kỳ Bắc thuộc, học thuyết ấy chỉ ảnhhưởng ở tầng lớp trên, nhân dân lao động vẫn sống dựa vào văn hoá bản địa.Một số tư tưởng Nho giáo tuy có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của họthông qua cưỡng bức nhưng rất mờ nhạt

Khi đất nước giành được độc lập vào thế kỷ X, trước nhu cầu xây dựngmột quốc gia ổn định và phát triển, đủ sức đối phó với nguy cơ thường xuyên

đe doạ nền độc lập dân tộc, các triều đại phong kiến Việt Nam bắt đầu nhậnthấy Nho giáo là học thuyết có lợi cho mình nên đã tiếp nhận, truyền bá vàđưa nó lên địa vị thống trị Đây là nguyên nhân làm cho Nho giáo từ chỗkhông được ưa thích trong các tầng lớp nhân dân đã dần dần giữ vị trí ngàycàng tăng và có ảnh hưởng ngày càng lớn trong đời sống tinh thần, đạo đứccủa người Việt Hơn nữa, bằng việc đề cao Nho giáo, các triều đại Phong kiếnnước ta đã tạo nên tầng lớp Nho sĩ, trong đó nhiều người có công lao to lớnvới quốc gia, dân tộc, nhân cách của họ luôn được các thế hệ người Việt tônvinh Với Nho giáo đã được Việt Nam hoá, tư tưởng triết học của nó đã đónggóp đáng kể vào quá trình xây dựng các nhà nước và các triều đại phong kiếnViệt Nam phát triển, từng trở thành một quốc gia - dân tộc mạnh ở Đông Nam

Á, giữ vững độc lập dân tộc, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn.Điều đó càng làm tăng thêm lòng tự hào tự tôn dân tộc của người Việt Nam.Trong thời đại ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo phát triển sựnghiệp giáo dục và đào tạo, thực sự xem đây là quốc sách hàng đầu Cùng vớiviệc nâng chất lượng giảng dạy các môn học, các nhà trường trong hệ thốnggiáo dục quốc dân còn chú trọng nâng chất lượng giáo dục đạo đức công dân.Thông qua môn sử học và các môn học có liên quan ở nhà trường mà người

Trang 34

học hiểu được cội nguồn lịch sử, biết trân trọng, tôn vinh các danh nhân vănhoá và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Bằng con đườngnày, tư tưởng triết học Nho giáo có ý nghĩa với sự phát triển trong tiến trìnhlịch sử dân tộc sẽ được họ tiếp thu Trước khi trưởng thành, đội ngũ cán bộQSĐP Quân khu 5 không ai không trải qua quá trình đó.

Mặt khác, với việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc, cơ chế về sự lãnhđạo của Đảng đối với QĐND Việt Nam, cùng với các đơn vị trong toàn quân,các đơn vị bộ đội địa phương Quân khu 5 luôn chú trọng nâng chất lượnghoạt động CTĐ, CTCT Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tácnày là làm cho đội ngũ cán bộ ngày càng giác ngộ sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nội dung cần thiết khác Đây làphương thức cơ bản làm cho đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 tiếp thunhững tinh hoa tư tưởng của nhân loại, trong đó có tư tưởng triết học Nhogiáo

Ba là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 thông qua sự tồn tại khách quan của cấu trúc văn hoá cộng đồng làng xã ở các địa phương trên địa bàn Quân khu 5

Không chỉ trong thời Bắc thuộc, mà ngay khi các triều đại phong kiếnViệt Nam độc tôn Nho giáo, thì tư tưởng làng xã vẫn là nền tảng của đời sốngtinh thần xã hội Thể chế bản địa đó được hình thành rất sớm và trở thành môitrường bền vững, củng cố đời sống tinh thần của nhân dân

Thể chế bản địa làng xã luôn gắn chặt với từng cộng đồng cụ thể củangười Việt, tạo nên những nét văn hoá tồn tại sau luỹ tre làng Với mỗi ngườiViệt Nam thì gia đình, dòng họ, xóm làng, dân tộc và Tổ quốc… là nhữngcộng đồng bền vững, trong đó có những quan hệ ổn định, thậm chí là bất biến

Đã là người thì tất phải có cha mẹ, do đó có chữ “hiếu”; có anh chị em, nên cóchữ “đễ”; có bạn bè, thì có chữ “tín”; có trên dưới, ắt có chữ “nghĩa” Các quan

hệ này một khi đạt đến mức thành tâm, trang trọng, thực hiện đúng chỗ, đúng

Trang 35

lúc thì nảy sinh chữ “lễ” và chúng đạt đến sự quảng bác thì hình thành chữ

“trí” Khi đạt đến mức tổng hoà thì có chữ “hoà” và chữ “nhân” Cái luỹ tre củavăn hoá làng tuy có sức cản trở rất lớn sự xâm nhập của cái ngoại lai, nhưngmột khi luân thường đạo lý của Nho giáo xâm nhập và hoà quyện, làm chotình cảm và nhu cầu quan hệ nói trên giữa các cá nhân với các cộng đồng vi

mô trong thể chế làng xã thêm sâu sắc, thì chính cái luỹ tre của văn hoá lànglại là thành trì bảo vệ thể chế ấy vững chắc nhất

Thể chế văn hoá làng xã truyền thống được bảo lưu là cơ sở khách quantạo điều kiện cho ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo vẫn còn tồn tại Ngàynay, tuy đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH), trọng tâm là CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, luỹ tre làng từngbước nhường chỗ cho đô thị, thế nhưng đại bộ phận nền kinh tế vẫn dựa trênnền sản xuất tiểu nông, mà đặc trưng của nền sản xuất này có mối liên quanmật thiết với tư tưởng Nho giáo Mặt khác, phong tục tập quán truyền thốngcủa dân tộc với những quan niệm, thói quen, lễ nghi cả tích cực và tiêu cựcđang hàng ngày, hàng giờ tác động, làm cho con người lẫn lộn giữa cái mới vàcái cũ, vì cái cũ mà xa lánh cái mới, do cái cũ mà làm chậm bước tiến của cáimới, hoặc vì “cái gọi là mới” mà đánh mất cái cũ có giá trị Dây là nhữngnguyên nhân cơ bản, là cơ sở khách quan làm cho Nho giáo vẫn còn tồn tại vàgây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần, đạo đức của người ViệtNam đương đại

Tuy địa bàn Quân khu 5 có hai di sản văn hoá thế giới trong cùng một điểmđến (Thánh địa Mỹ Sơn và Đô thị cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam), nhưng đókhông phải là những di sản văn hoá có bề dày truyền thống của người Việt; vảlại, trên địa bàn này rất hiếm khi gặp mô hình “cây đa, bến nước, sân đình”, lạicàng hiếm hơn những di tích cổ xưa của người Việt, song điều đó không cónghĩa là thể chế văn hoá làng xã hay nền sản xuất nhỏ ở các địa phương trên địabàn Quân khu 5 không còn tồn tại Vì thế, cũng như hiện thực chung của cả

Trang 36

nước, tư tưởng triết học Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, đạođức của nhân dân ở đây, trong đó có đội ngũ cán bộ QSĐP của Quân khu.

Bốn là, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 thông qua nhận thức các giá trị có tính phổ biến toàn nhân loại của triết lý đạo đức Nho giáo và nhân cách của Khổng Tử

Thực tiễn phát triển của lịch sử tư tưởng chứng tỏ rằng, tư tưởng do quákhứ để lại và trở thành cơ sở cho tư tưởng hiện tại tiếp nối, thì giữa chúng cóquan hệ hữu cơ với nhau Hơn nữa, các hạt nhân hợp lý, tuy còn ít ỏi, lẻ tẻ và

ở mức độ thấp của sản phẩm tư tưởng trong quá khứ, nhưng luôn phù hợp vớihiện thực, thì tư tưởng trong hiện tại và tương lai cần phải kế thừa Nho giáocũng vậy, tuy là sản phẩm tư tưởng của xã hội Trung Hoa cổ đại, nhưng tưtưởng triết học của nó vốn chứa đựng những hạt nhân hợp lý, xuyên suốt mọithời đại và vượt ra ngoài phạm vi Trung Hoa Đó là các giá trị phổ biến toànnhân loại của Nho giáo, không phai nhạt với thời gian Cụ thể là:

* Giá trị phổ biến toàn nhân loại thứ nhất của triết lý đạo đức Nho giáo là

quan niệm cho rằng “con người phải biết tự phân biệt với thế giới động vật”.

Theo thời gian, khoảng cách giữa con người với động vật ngày càng xa Đó làtiêu chí đánh giá sự tiến hoá của con người Giới hạn trong phạm vi gia đình,tông pháp, thì tiêu chí đánh giá sự tiến hoá của con người là thái độ của họ đối

xử với nhau khác với động vật Con người ngày càng phải phân biệt rõ hơn độngvật ở chỗ biết nhớ, biết suy nghĩ, tức là có ý thức về quá khứ (người sinh thành

ra mình), về tương lai (rồi bản thân mình cũng trở thành cha mẹ), để có cách xử

sự cho phù hợp Mặt khác, ý thức về gia đình ở mỗi người là cơ sở hình thànhnên tính người (biết kính trọng cha mẹ, biết yêu thương người thân, biết dõi theobước trưởng thành của con cái…), đây là một đặc trưng nhân văn được Nho giáorất mực coi trọng Từ tính người sẽ nảy sinh tình người để ứng xử với các quan

hệ trong phạm vi toàn nhân loại Như vậy, quan hệ nhân loại phải bắt đầu từquan hệ gia đình, nếu thiếu điểm xuất phát này thì con người không thể trở thành

Trang 37

người Vì thế, Nho giáo yêu cầu con người phải luôn luôn có ý thức về gia đình,

về cộng đồng, về quốc gia và về sự tiến hoá văn minh do các thế hệ nối tiếp nhautạo nên, đó là tiêu chí căn bản để phân biệt khoảng cách giữa con người với độngvật và là thước đo phẩm chất nhân cách của họ Thực tiễn đã chứng minh, trảiqua thời gian hàng bao thế kỷ, với biết bao biến loạn và hiểm nguy, con ngườivẫn tồn tại theo quy luật thế hệ sau kế thừa và phát triển cao hơn, khôn hơn thế

hệ trước

* Giá trị phổ biến toàn nhân loại thứ hai của triết lý đạo đức Nho giáo là

quan niệm “con người phải biết trân trọng sự sống và giá trị của sự sống” Vì tôn

trọng sự sống của con người nên trong phương thức cai trị, Nho giáo luônmong muốn thực hiện “thắng tàn khứ sát” (loại bỏ sự tàn bạo trong xã hộinhưng không cần dùng đến hình phạt xử giết nữa) và đòi hỏi mỗi con ngườikhi sinh ra thì phải sống cho ra người (thành nhân) Theo Nho giáo, con ngườisống không thể tách rời xã hội, tách khỏi đồng loại, họ phải là con người củacộng đồng và mang tính xã hội, nếu tách khỏi xã hội là hành vi tự phủ nhận ýnghĩa và giá trị làm người Do đó, con người biết trân trọng sự sống và giá trịcủa sự sống, trước hết phải là con người của bổn phận, của nghĩa vụ, khôngthể sống cẩu thả, cầu may, đơn độc Thực tiễn lịch sử nhân loại đã chứngminh điều đó

* Giá trị phổ biến toàn nhân loại thứ ba của triết lý đạo đức Nho giáo là

“chấp nhận khát vọng hạnh phúc của con người và hết sức tìm cách đáp ứng khát vọng đó” Hạnh phúc là trạng thái mà con người hoàn toàn thoả mãn với

cuộc sống của mình, gắn liền với hoạt động thực tiễn của họ, nó còn là độnglực thúc đẩy con người vươn lên, vượt qua mọi khó khăn để thực hiện mụctiêu đã định Đây là điều con người luôn vươn tới, là khát vọng muôn thưở mà

họ phải phấn đấu mãi mãi để đạt cho kỳ được Nho giáo cho rằng, hạnh phúccủa cá nhân phải luôn gắn bó với lợi ích của cộng đồng, coi việc đáp ứng khátvọng hạnh phúc của con người là điều kiện quyết định để duy trì sự ổn định

Trang 38

và phát triển của quốc gia và xã hội Vì thế, con người chỉ cảm nhận có hạnhphúc thực sự sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ của mình một cách tự giác vàđầy ý nghĩa Để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, con người càng phải hoạtđộng thực tiễn một cách sáng tạo và càng có nghĩa vụ phải đấu tranh vớinhững điều sai trái, không chỉ đem lại hạnh phúc cho mình mà còn đem lạihạnh phúc cho mọi người Thực tiễn đã chứng minh, ngay khi thoát khỏi loàivật, con người đã cảm nhận được nỗi niềm hạnh phúc và bất hạnh, từ đó họ đề

ra lý tưởng, tạo dựng niềm tin, tăng cường ý chí để vươn tới hạnh phúc tronghiện thực, nhờ đó mà con người và xã hội loài người ngày càng phát triển hoànthiện hơn

Ngày nay, nước ta đang trên đường đổi mới, từng bước thực hiện mụctiêu xây dựng thành công CNXH, CNCS Trong xã hội đó, con người có điềukiện phát triển toàn diện, được tôn vinh và luôn thoả mãn những khát vọngchân chính của mình Vì thế, những giá trị phổ biến mang tính toàn nhân loạicủa Nho giáo là những điểm tương đồng với mục tiêu vươn tới của nhân loạitiến bộ nói chung, của con người Việt Nam nói riêng

Thực hiện mục tiêu lý tưởng cộng sản, đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5càng có điều kiện nhận thức sâu sắc hơn những giá trị nói trên Hơn nữa, dù

có hay không có điều kiện nghiên cứu về Nho giáo, nhưng qua giao tiếp vàxuất phát từ nhu cầu giải quyết các mối quan hệ xã hội, mỗi một cán bộQSĐP Quân khu 5 đều đã từng nghe và tôn trọng nhân cách của Khổng Tử,người mà tên tuổi luôn được gắn liền với Nho giáo, từng được tôn vinh nhưmột vị thánh, vừa linh thiêng, vừa gần gũi và đang được thờ cúng ở một trongnhững di tích lịch sử nổi tiếng của quốc gia Thông qua những phương thứctrên đây mà tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến đời sống đạo đứccũng như quá trình xây dựng đạo ĐĐCM của họ

1.2.3 Tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ quân sự địa phương Quân khu 5 là một quá

Trang 39

trình lâu dài, phức tạp, luôn đan xen các yếu tố tích cực và tiêu cực, diễn ra không đều, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của chủ thể chịu ảnh hưởng

Đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết họcNho giáo ngay khi họ bắt đầu hình thành nhân cách Lúc trưởng thành cũng nhưkhi trở thành cán bộ, thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, họ vẫn tiếp tụcchịu sự ảnh hưởng đó Đây là quá trình tiếp nhận, từng bước xây dựng và hoànthiện ý thức, tình cảm đạo đức, tự điều chỉnh hành vi để giải quyết hài hoà cácquan hệ xã hội theo các chuẩn mực đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn;thông qua quá trình đó, đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 chịu ảnh hưởng của tưtưởng triết học Nho giáo, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội tàn dư, tồntại trong di sản văn hoá dân tộc, có những nét đặc thù riêng trên địa bàn Quânkhu

Mặt khác, quá trình ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo đến xâydựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 cũng là quá trình đấutranh giải quyết mâu thuẫn nội tại giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ vàcái bảo thủ lạc hậu, giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, tạo động lựcthúc đẩy sự tiến bộ trong đời sống đạo đức của họ Đây là cuộc đấu tranh gay

go, phức tạp, không kém phần quyết liệt trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đạođức và lối sống, là cuộc đấu tranh không giới tuyến, diễn ra hàng ngày, hànggiờ, ngay trong mỗi con người và trong từng tập thể Việc cải tạo những quanđiểm, thói quen, tập tục, lễ nghi lỗi thời lạc hậu do ảnh hưởng của tư tưởngtriết học Nho giáo, tác động đến xây dựng ĐĐCM của đội ngũ cán bộ QSĐPQuân khu 5 không dễ dàng và đơn giản, do cơ sở khách quan đảm bảo cho sựtồn tại của nó vẫn còn hiện hữu Bên cạnh đó, là hình thái ý thức thuộc đờisống tinh thần xã hội, tư tưởng triết học Nho giáo ảnh hưởng đến xây dựngđạo đức của đội ngũ cán bộ QSĐP Quân khu 5 còn kết hợp và phụ thuộc vàocác hình thái ý thức xã hội khác, như chính trị, văn hoá, tôn giáo, pháp luật…Điều này càng chứng tỏ tính chất phức tạp của sự ảnh hưởng đó

Trang 40

Tính hai mặt của Nho giáo không chỉ thể hiện trong toàn bộ học thuyết,

mà còn thể hiện ngay trong mỗi tư tưởng, mỗi phạm trù của nó Điều này thểhiện khá rõ nét trên các phương diện chủ yếu sau đây:

Trong thế giới quan Nho giáo, Trời đất và quỷ thần có vị trí trung tâm vàgiữ vai trò rất quan trọng, nhưng sự thể hiện không nhất quán, vừa duy vật,vừa duy tâm, vừa vô thần, vừa hữu thần; trong đó, yếu tố duy tâm, hữu thầnnổi trội hơn Thời gian càng về sau thế giới quan Nho giáo càng đậm nét duytâm thần bí do được bổ sung những tư tưởng triết học của Phật giáo và Đạo

giáo Với quan niệm “Thiên hà ngôn tai! Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên”: Trời có nói gì đâu! Bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh trưởng (Luận ngữ: Dương hoá, XVII), xem Trời như là giới tự nhiên, là quy luật, trật tự của

vạn vật, Nho giáo có ý nghĩa tích cực trong việc khuyên con người sống chanhoà với thiên nhiên, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi con người dựa vàotri thức và kỹ thuật để chinh phục tự nhiên với những hành động thái quá, dẫnđến nguy cơ mất cân bằng sinh thái Tuy nhiên, thế giới quan Nho giáo là triết

lý về thiên mệnh, cho rằng ý thức vận mệnh con người tương quan với trờiđất, vì vậy cuộc sống con người ở cõi đời phải tuân theo lẽ trời Mệnh trời đãsắp xếp, đã an bài thì mọi người phải ép mình tuân thủ, nhất nhất tuân theonhững luật định của Thiên mệnh Các bậc vua chúa từng lợi dụng triết lý ấy,

tự xưng là Thiên tử, coi mình như trời đất, bắt dân chúng phải phục tùng theo

ý muốn chủ quan của họ [40,tr74] Mặt khác, quan niệm Trời có ý chí, chiphối số phận và hoạt động của con người, dễ dẫn họ đến tư tưởng cầu an, thụđộng, tự trói buộc, không phát huy được tính năng động chủ quan của mình.Trong tư tưởng triết học về nhân sinh quan, do rất coi trọng và xem đạođức là tiêu chuẩn số một của con người, nên Nho giáo đề ra và yêu cầu mọingười phải tuân theo ngũ luân, ngũ thường, thực hiện nghĩa vụ trung hiếu, tiếtnghĩa… trong ứng xử với các quan hệ xã hội Danh hiệu kẻ sĩ, đại trượng phu,người quân tử luôn là mẫu người lý tưởng để con người trong thời kỳ phong

Ngày đăng: 16/02/2017, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w