1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO sự PHÁT TRIỂN tư DUY GIÁO dục và CHỈ đạo THỰC TIỄN GIÁO dục của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM

31 467 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 358,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra đề nghị: Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta. Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ. Đề nghị của Bác đã được Hội đồng Chính phủ thông qua thành quyết định. Ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chính phủ ký 3 sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ; tháng 10 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi chống nạn thất học

Trang 1

SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY GIÁO DỤC VÀ CHỈ ĐẠO THỰC TIỄN GIÁO DỤC

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

Ngay sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập,ngày 3 tháng 9 năm 1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra đề nghị: Nạn dốt là một trong những phươngpháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta Hơn 95% đồngbào chúng ta mù chữ Nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng

ta theo vần quốc ngữ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu vì vậy tôi đề nghị

mở chiến dịch chống nạn mù chữ Đề nghị của Bác đã được Hội đồng Chínhphủ thông qua thành quyết định Ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chính phủ ký 3sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ; tháng 10 năm 1945, Hồ Chủ tịch ralời kêu gọi chống nạn thất học Trong lời kêu gọi Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ tìnhtrạng gần như hoàn toàn mù chữ của nhân dân Việt Nam đó là một trở lực tolớn đối với sự tiến bộ và giàu mạnh của đất nước sau này, Người khẳng định:Một trong những công việc phải thực hiện tức tốc trong lúc này là nâng caodân trí, người khuyên mọi người Việt Nam “trước hết phải biết đọc, biết viếtchữ quốc ngữ” Người kêu gọi “những người biết chữ hãy dạy cho nghữngngười chưa biết chữ, những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học chobiết” Người đặc biệt chú ý đến phụ nữ và thanh niên Chỉ trong một thời gianngắn phong trào chống nạn mù chữ đã lan rộng khắp cả nước, tạo nên mộtchiến dịch với sự tham gia của đông đảo đồng bào

Trong những điều kiện cực kỳ khó khăn phức tạp của năm đầu tiêndưới chính quyền cách mạng, chiến dịch chống nạn mù chữ chưa đạt đượcmục tiêu mong muốn Nhưng những bài học thu được là vô cùng quý báu vàchúng ta có quyền tự hào về những kinh nghiệm có được từ chiến dịch chống

Trang 2

nạn mù chữ năm 1945 - 1946 sau này đã trở thành những kinh nghiệm quốc tếđến tận cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XI.

Theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam trải qua 65 năm nhân dân và Nhà nước ta đã vượt quamuôn vàn khó khăn, thử thách, đổ máu hy sinh đặc biệt là đánh thắng haicuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc hùng mạnh nhất của thời hiện đại

là Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ để giải phóng dân tộc; đổi mới đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Cùng với tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sáu mươi lăm năm qua trênđất nước ta đã hình thành một nền giáo dục hiện đại với cấu trúc hệ thống kháhoàn chỉnh, với mục tiêu đào tạo tiên tiến, với nội dung, chương trình vàphương pháp giáo dục ngày càng hoàn thiện hướng tới những xu thế giáo dụchiện đại của thời đại Nền giáo dục Việt Nam mặc dù còn có những vấn đềchưa đáp ứng được những mong muốn của xã hội cũng như chưa đáp ứngđược sự đòi hỏi của sự phát triển đất nước nhưng nền giáo dục Việt Nam đã

có một vị trí xứng đáng trên bản đồ giáo dục thế giới

Nền giáo dục cách mạng Việt Nam có được những thành tựu như ngàyhôm nay là nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam vàChủ tịch Hồ Chí Minh, đã vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,

kế thừa có chọn lọc, phát triển những tinh hoa văn hóa của nhân loại và củadân tộc, nắm chắc những quy luật phổ biến cũng như những quy luật đặc thùcủa sự vận động phát triển của khoa học giáo dục, để vận dụng một các linhhoạt, sáng tạo vào xây dựng, phát triển nền giáo dục Việt Nam phù hợp vớitiến trình phát triển của đất nước và xu thế phát triển của thời đại

Để cho chúng ta có cái nhìn toàn cảnh sự phát triển của nền giáo dụcnước nhà từ khi giành được độc lập đến nay, so sánh sự giống nhau và khácnhau của đường lối lãnh đạo, chỉ đạo quá trình phát triển lý luận và thực tiễnnền giáo dục Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ trướcđổi mới (từ năm 1945 - 1986) và sau khi đổi mới (1986 đến nay); Nghiên cứu

Trang 3

rút ra những quy luật, những vấn đề có tính quy luật và quy luật đặc thù củanền giáo dục Việt Nam từ đó cho chúng ta thấy được sự phát triển tư duy giáodục cũng như trong chỉ đạo thực tiễn giáo dục của Đảng ta.

NỘI DUNG

Phần thứ nhất

ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂNGIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 - 1986

I Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ 1945 đến năm 1975

1 Giáo dục Việt Nam trong những năm đầu giành được độc lập

Như trên đã nêu Ngày 8/9 1945 Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa

đã ký 3 sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ: Sắc lệnh số 17/SL thành lậpNha bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng, làng nào,thị trấn nào cũng phải có lớp học với ít nhất 30 người theo học; Sắc lệnh số20/SL cưỡng bách học chữ quốc ngữ và không mất tiền, hạn một năm tất cảngười Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ

Tháng 11/1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị “Khángchiến kiến quốc” vạch rõ những nhiệm vụ của giáo dục “mở đại học và trunghọc, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách học nhồi sọ” Thực hiệnlời dạy của Bác và chỉ thị của Đảng, sắc lệnh của Chính phủ năm học 1945 -

1946 nền giáo dục cách mạng trong bước phát triển đầu tiên của mình giữamuôn vàn khó khăn về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế đã có nhữngthành tựu đáng tự hào Theo thống kê (lưu trữ của Bộ Giáo dục) cuối năm họcđầu tiên đó, trên đất nước ta có 4.952 trường tiểu học với 284.314 học sinh; 29trường trung học với 2378 học sinh Riêng các trường đại học chưa có điềukiện tuyển học sinh mới vào các trường, nhưng ngày 15/11/1945 đã chính thứckhai giảng lại các trường Y dược, Văn khoa Bộ Giáo dục đã mở thêm lớpchính trị - xã hội thay thế cho trường Luật khoa dưới chế độ cũ Một thành tựuđáng tự hào của nền giáo dục Việt Nam dân chủ cộng hòa là ngay năm học đầu

Trang 4

tiên của Nhà trường dưới chế độ mới, chúng ta đã sử dụng tiếng Việt làm ngônngữ chính thức để giảng dạy trong nhà trường từ bậc tiểu học đến bậc đại học.

Nền giáo dục non trẻ của nước ta thời đó - thông qua tuyên bố của BộGiáo dục tháng 10/1945 - đã khẳng định mục đích cao cả của nền giáo dụcmới là: “tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng” của mọingười để “phụng sự đoàn thể góp phần vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại”

Phương pháp của nền giáo dục mới là xóa bỏ lối học nhồi sọ, lối học hìnhthức, chú trọng phần thực học, đề cao tinh thần khoa học Nhằm trau dồi cho họcsinh một lối nhận thức có quy củ, một phương pháp tư duy khoa học, phát triển ócphê bình, óc phân tích và tổng hợp, tinh thần sáng tạo và gắn liền với thực tế

Về cơ sở pháp lý, Chính phủ triển khai chính sách giáo dục mới bằngcác sắc lệnh số 146/SL; số 147/SL ngày 10/8/1946 khẳng định các nguyên tắccăn bản của nền giáo dục mới: đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa vàtheo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ và các bậc học trong hệthống giáo dục quốc dân, ấn định thêm những điều khoản pháp lý để thựchiện bậc học cơ bản: không phải trả tiền, các môn học dạy bằng tiếng Việt, kể

từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 7 đến 13 tuổi đều có thể vào các trườnghọc

Những sắc lệnh nói trên có ý nghĩa lịch sử lớn lao, nếu đặt trong hoàncảnh đất nước năm 1945 - 1946 (Sau này năm 1991 Nhà nước ta mới banhành “Luật phổ cập giáo dục tiểu học” và năm 1998, ban hành Luật Giáo dụcquy định hệ thống quốc dân, tất nhiên với nội dung đầy đủ hơn, sát với thực tế

xã hội ngày nay để điều chỉnh các hoạt động giáo dục trong cả nước) khẳngđịnh tính ưu việt của chế độ mới “ai cũng được học hành”, là cơ sở địnhhướng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục nước ta và vẫn còn giá trị đến ngàynay

Nhà trường trong chế độ mới bắt đầu chuyển hướng từ nền sư phạmquyền uy sang nền sư phạm dân chủ, cùng sự đổi mới về phương pháp giáo

Trang 5

dục, dạy học của các nhà giáo, bước đầu hình thành ý thức tự quản của họcsinh thông qua thành lập các tổ chức đoàn thể của học sinh Trong chế độ mớinhà giáo được quan tâm đặc biệt Để động viên giáo giới trong cả nước tíchcực tham gia vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc, vào việc xây dựng nềngiáo dục của chế độ mới, từ ngày 25 đến ngày 27/8/1946 Đại hội Giáo giớitoàn quốc đã được tiến hành tại Hà Nội đây là cuộc họp mặt đầu tiên gồm đủcác đại biểu giáo giới các bậc học trong cả nước từ Nam chí Bắc Đại hội làdiễn đàn đầu tiên của Giáo giới để trao đổi những vấn đề về quan điểm giáodục mới và khẳng định nguyên lý xây dựng nền giáo dục mới của nước ViệtNam là dân tộc, khoa học, đại chúng Một nguyên lý mà đến ngày nay chúng

ta vẫn hằng theo đuổi

Khi toàn quốc bước vào cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp quay lạixâm lược nước ta một lần nữa, thông qua các chính sách của Đảng và Nhànước ta về giáo dục trong thời kỳ cách mạng mới, thể hiện qua các Nghị quyếtHội nghị Trung ương lần thứ tư (tháng 4 năm 1947); Nghị quyết của Hội nghịBan chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tháng 1 năm 1948 Với tinh thầnvừa kháng chiến vừa kiến quốc, thành lập hệ thống trường học, lớp học khángchiến; xây dựng đội ngũ giáo viên công tác giáo dục của nước ta đã cónhững chuyển biến làm thay đổi rõ rệt tình trạng giáo dục thấp kém do chế độgiáo dục thực dân để lại Năm 1948 Bộ Giáo dục mở “Hội nghị giáo dục toànquốc” để tăng cường thống nhất trong toàn ngành về cải tổ chương trình, xâydựng nền nếp và phương pháp giảng dạy phù hợp với thời chiến và theo đúngtinh thần dân chủ mới Đây là cuộc họp đầu tiên của ngành giáo dục trongthời kỳ kháng chiến và hội nghị đã vinh dự đón nhận đồng thời quán triệtnhững chỉ thị trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo đường lối giáo dụcnước ta trong thời kỳ kháng chiến, đó là: Phải sửa đổi triệt để chương trìnhgiáo dục cho phù hợp với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc; phải có sáchkháng chiến và kiến quốc cho các trường; phải sửa đổi cách dạy cho hợp với

Trang 6

sự đào tạo nhân tài kháng chiến và kiến quốc; phải đào tạo cán bộ mới và giúp

đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ kháng chiến và kiến quốc; về bình dân học vụ, saukhi số đông đồng bào đã biết viết, biết đọc phải có một chương trình để nângcao thêm trình độ văn hóa phổ thông của đồng bào

Những chỉ thị của Người thực sự đã chỉ ra phương hướng cho một cuộccải cách giáo dục sẽ diễn ra vào đầu những năm 1950

2 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất năm 1950: Thay hệ thống giáo dục do thực dân Pháp để lại bằng chế độ giáo dục dân chủ cộng hòa

Cách mạng Tháng Tám và sự thành lập nhà nước Việt Nam dân chủcộng hòa ngày 2/9/1945 đã đặt nền tảng cho việc ra đời nền giáo dục mới -nền giáo dục cách mạng Chính quyền cách mạng đã thành lập Hội đồng cốvấn học chính để tiến hành một chương trình cải cách giáo dục triệt để thaythế giáo dục nô dịch thực dân Tuy nhiên, ngay từ tháng 9/1945 ở miền Nam

và tháng 12/1946 trên toàn quốc nổ ra cuộc kháng chiến chống thực dân Phápnên đến tháng 7/1950 Hội đồng Chính phủ mới thông qua đề án cải cách giáodục và thực hiện cuộc cải cách này một cách có hệ thống

Bối cảnh lịch sử, đầu năm 1950 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đãphá được thế bao vây của kẻ địch, thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước

xã hội chủ nghĩa Chiến tranh biên giới năm 1950 mở ra cục diện mới vềchính trị, quân sự Những tiến bộ về kinh tế, tài chính tăng thêm sức mạnh củachính quyền dân chủ nhân dân Toàn dân tộc bước vào một thời kỳ mới củacuộc kháng chiến chống xâm lược Trong đà chung đó ngành giáo dục phảiđược phát triển cho phù hợp với bước tiến của dân tộc

* Quan điểm và những chủ trương lớn của cuộc cải cách giáo dục năm 1950

Bản chất của nền giáo dục mới là: giáo dục mang bản chất giai cấp sâusắc Nhân dân Việt Nam nhất thiết phải xây dựng dược nền giáo dục dân chủ

Trang 7

nhân dân phù hợp với lới ích cơ bản của mình sau khi đã giành được quyềnlàm chủ của mình về chính trị.

Mục đích của cải cách giáo dục lần này là phải hủy bỏ triệt để nền giáodục nô lệ cùng với những tàn dư của nó về nội dung lẫn phương pháp, phảixây dựng cơ sở tư tưởng mới về nền giáo dục dân chủ nhân dân theo nhữngthiết chế giáo dục và hệ thống tổ chức giáo dục tương ứng

Tính chất nền giáo dục là của dân, do dân, vì dân

Nguyên tắc nền giáo dục: dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ lợi íchcủa nhân dân Việt Nam, đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, giành độclập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày

Mục tiêu đào tạo của nhà trường là giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ thànhnhững người “công dân lao động tương lai” trung thành với chế độ dân chủnhân dân và có đủ phẩm chất năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân

Nội dung giáo dục nhằm vào việc bồi dưỡng người học có tinh thần dântộc, lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần yêu chuộng lao động, tôn trọng củacông, tinh thần tập thể, phương pháp suy luận và thói quen làm việc khoa học

Như vậy, so với giai đoạn từ khi thành lập nước cho đến trước năm

1950 thì giáo dục nước ta đã có sự phát triển về mọi mặt, không chỉ là chốngnạn mù chữ mà còn là giáo dục, đào tạo những con người mới có đủ đức, tàivừa kháng chiến vừa kiến quốc, phục vụ nhân dân

* Xây dựng cơ cấu hệ thống giáo dục và nhà trường mới

- Hệ thống giáo dục phổ thông gồm ba cấp học Cấp I: 4 năm (lớp1,2,3,4) thay thế cho bậc tiểu học cũ; Cấp II: 3 năm (lớp 5,6,7) thay cho bậctrung học phổ thông cũ 4 năm; Cấp III: 2 năm (lớp 8,9) thay thế cho bậc trunghọc chuyên khoa cũ 3 năm

- Hệ thống bình dân học vụ phục vụ người lớn gồm: sơ cấp bình dân;

dự bị bình dân; bổ túc bình dân và trung cấp bình dân Thể hiện cụ thể chủtrương của Đảng, xóa mù chữ và nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân

Trang 8

- Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, đã cụ thể hóa đường lối cải cáchgiáo dục trong ngành chuyên nghiệp thực hiện “ chính sách giáo dục chuyênnghiệp” là phải thực hiện mục đích đào tạo những cán bộ chuyên nghiệp, nắmvững kỹ thuật, giàu tinh thần trách nhiệm, những cán bộ thực tiễn mới, phục

vụ kháng chiến và sản xuất, phục vụ nhân dân trước hết là công nông

- Về quản lý nhà trường đề án tháng 7/1950 lần đầu tiên xác địnhnguyên tắc lãnh đạo tập thể và dân chủ trong các nhà trường Ở mỗi nhàtrường - đặc biệt là các trường lớp có các hội đồng: Hội đồng chuyên môn;khen thưởng, kỷ luật; Hội đồng quản trị gồm có đại biểu giáo viên, đại biểucha, mẹ học sinh và đại biểu Hiệu đoàn học sinh Các hội đồng trên đều dohiệu trưởng làm chủ tịch các thành viên của Hội đồng đều có quyền thảoluận, biểu quyết như nhau

Nhà trường “cải cách” đã tạo ra những cơ sở thực tế để phói hợp giáodục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, phối hợp công tác của nhàtrường và công tác của địa phương tạo ra những nhân tố mới để thực hiệnđược sự lãnh đạo của Đảng đối với trường học Đây là một nội dung mà Đảng

ta đã vận dụng đúng đắn sáng tạo các nguyên tắc của một Đảng cầm quyền,lãnh đạo xã hội, và các nguyên lý giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin vào chỉđạo thực tiễn giáo dục ở nước ta lúc bấy giờ, mà vẫn còn giá trị đến ngày nay

Tháng 2/1951 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai họp đã xác địnhphương hướng nhiệm vụ, đào tạo con người mới: để đào tạo con người mới,cán bộ mới và đẩy mạnh kháng chiến, kiến quốc, phải bài trừ những tàn tíchvăn hóa giáo dục thực dân và phong kiến, phát triển nền văn hóa có tính chấtdân tộc khoa học đại chúng”

Nhiệm vụ chủ đạo của giáo dục là: thủ tiêu nạn mù chữ, cải cách chế độgiáo dục, mở các trường chuyên nghiệp

Trang 9

Phương châm giáo dục: Giáo dục phục vụ kháng chiến chủ yếu là tiềntuyến, giáo dục phục vụ nhân dân chủ yếu là công nông binh, giáo dục phục

vụ sản xuất chủ yếu là nông nghiệp

Nội dung giáo dục: Đại hội đề nghị chuyển các môn học sử, địa khoa họcthường thức ở các lớp cấp I thành môn học thống nhất là “Tập đọc” để tinh giảnnội dung giảng dạy và dễ cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với lứa tuổi

Về tổ chức nhà trường: Đại hội kiến nghị đưa “tăng gia sản xuất” và

“sinh hoạt tập thể” vào chính khóa, đề cao “Hiệu đoàn học sinh”, bỏ tổ chức

“Học sinh quân”, xây dựng “Công đoàn giáo dục”

Cuộc cải cách giáo dục được vạch ra từ tháng 7/1950 song trước đó 2 thángcuộc cải cách này may mắn được định hướng bằng một văn bản rất hữu ích Đó làtài liệu “Nói về công tác huấn luyện và học tập của Hồ Chí Minh” Bài nói khoảng

4000 từ bao quát toàn diện vấn đề huấn luyện (dạy) và học tập của phương thứcgiáo dục mới Chính ở tài liệu này Người đã kết hợp những ý tưởng sâu sắc củaKhổng Tử và Lênin với những lời dạy bất hủ “Học không biết chán, dạy khôngbiết mỏi” - “Học, học nữa, học mãi” để hun đúc một chí khí mới về sự học ở nước

ta trong bối cảnh của xã hội mới Bác đã làm sáng tỏ các vấn đề

*Huấn luyện ai

Ai huấn luyện

Huấn luyện thế nào

Điều kiện huấn luyện

*Học để làm gì

Học ở đâu

Bác còn có những lời bàn rất sâu sắc về việc phải biến quá trình đào tạothành quá trình tự đào tạo đối với người học Tài liệu của Bác là một “cươnglĩnh có ý nghĩa kim chỉ nam” cho việc tổ chức quá trình đào tạo, giáo dục ởmọi nhà trường với việc phân tích rất sâu sắc các nhân tố tạo ra quá trình này

Từ thực tiễn đã trải qua các hoạt động sư phạm và tư duy chính trị cách mạng

Trang 10

sâu sắc Tư tưởng về giáo dục của Bác chẳng những có giá trị chỉ đạo sự pháttriển đối với lý luận và thực tiễn giáo dục nước ta cho đến ngày hôm nay màcòn có giá trị thời đại sâu sắc.

3 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) đặt cơ sở cho việc thành lập hệ thống giáo dục quốc dân theo tính chất giáo dục xã hội chủ nghĩa

Tháng 3 năm 1956 Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc họp bàn việctriển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 của Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa II Đại hội đã thông qua đề án do Bộ Giáo dục khởithảo nêu nhiệm vụ sáp nhập hai hệ thống giáo dục 9 năm của vùng tự do và

12 năm của vùng mới giải phóng Đó chính là cuộc cải cách giáo dục lần thứhai Cuộc cải cách đặt cơ sở cho việc thành lập hệ thống giáo dụcphổ thông

10 năm theo tính chất nền giáo dục xã hội chủ nghĩa

* Mục tiêu và những nội dung cơ bản của cuộc cải cách giáo dục năm 1956

Tính chất nền giáo dục trong giai đoạn này được khẳng định là: giáodục mang tính chất xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng

tư tưởng nhằm phục vụ nhân dân lao động Phù hợp với tình hình đất nước talúc này là miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục sự nghiệpcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

Mục đích của giáo dục Việt Nam là nhằm: “đào tạo bồi dưỡng thế hệthanh thiếu niên trở thành những người phát triển về mọi mặt, những côngdân tốt trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt củanước nhà có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xâydựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đồng thời để thực hiện thống nhấtnước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ” Như vậy, mục đích giáo dục đã có

sự phát triển hợp với xu thế của thời đại đó là tiến lên xây dựng chế độ xã hộichủ nghĩa đồng thời nhằm mục đích thiết thực thể hiện khát vọng của dân tộc

là thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ

Nội dung giáo dục cũng toàn diện hơn gồm đức, trí, thể mỹ

Trang 11

Phương châm giáo dục là “Liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhàtrường với đời sống xã hội”, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễngiáo dục của nước ta.

Hệ thống giáo dục phổ thông được xác định rõ ràng và khoa học hơn kể

cả cấp học, thời gian học, đánh giá kết quả từng cấp học phù hợp với quy luậtkhách quan của nhận thức Phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước

Tháng 9 năm 1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của ĐảngLao động Việt Nam khai mạc tại Hà Nội Đại hội đã đánh giá chính xácnhững thành tựu mà ngành giáo dục cùng nhân dân cả nước đạt đượctrong những năm qua, Lúc này trên miền Bắc nạn mù chữ đã được thànhtoán Số người đi học bổ túc văn hóa là trên một triệu người, số học sinhcác cấp tăng gấp 7 lần; số sinh viên đại học tăng gấp 20 lần so với cảnước năm 1939 - 1940 Đây là một thành tựu rất to lớn của nhân dân tanói chung và của ngành giáo dục nói riêng nếu so với sáu năm trước đónăm 1945 nước ta còn hơn 95% dân là còn mù chữ; Nội dung, phươngpháp dạy học ở các nhà trường đã có những bước chuyển biến tốt, nhất làviệc bước đầu quán triệt việc kết hợp giáo dục và lao động sản xuất

Nghị quyết Đại hội đã đề ra phương hướng phát triển giáo dục nướcnhà trong tình hình mới

Công tác giáo dục văn hóa phải được phát triển theo quy mô lớn vàphải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng Sự nghiệp giáo dụccủa chúng ta phải nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người lao động làmchủ đất nước, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa và kỹ thuật, có sứckhỏe, những người phát triển toàn diện để xây dựng xã hội mới, đồng thờiphải phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ, xây dựng kinh tế và văn hóa xãhội chủ nghĩa và việc nâng cao không những trình độ văn hóa của nhân dânlao động

Trang 12

So với phương hướng, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo giai đoạn trước thì ởđây có sự cụ thể hóa nhiệm vụ là giáo dục - đào tạo cho thế hệ trẻ, cho nhân dânlao động mà còn đào tạo cán bộ xây dựng kinh tế và văn hóa xã hội chủ nghĩa.

Nguyên lý giáo dục, phương châm giáo dục một cách hệ thống và toàndiện hơn so với các chỉ thị trước đây Đó là: phải nằm vững nguyên lý giáodục kết hợp với lao động sản xuất và các phương châm: lý luận gắn liền vớithực tế, học đi đôi với hành, giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục của

xã hội Đây là bước phát triển mới của của nguyên lý giáo dục của Đảng ta vàđến ngày nay vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc

Về phương thức giáo dục, Đảng ta chỉ ra phát triển giáo dục theoquy mô lớn, phát triển vừa nhiều, vừa nhanh (đáp ứng yêu cầu thực tiễncủa chiến tranh) nhưng đồng thời phải luôn coi trọng việc nâng cao chấtlượng giáo dục đi đôi với giáo dục văn hóa phải thực hiện giáo dục kỹthuật (đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước)

Đại hội lưu ý việc phải tăng cường công tác đoàn thanh niên trong nhàtrường và trong giai đoạn này Đảng ta nhấn mạnh cần đặc biệt coi trọng côngtác “đào tạo bồi dưỡng thầy giáo về các mặt chính trị và tư tưởng cũng như vềmặt nghiệp vụ và văn hóa công tác” Cũng trong giai đoạn này vai trò củagiáo dục cũng được nhấn mạnh trong tương quan với phát triển kinh tế, đây lànét mới thể hiện sự phát triển tư duy về chỉ đạo giáo dục của Đảng ta đã đánhgiá toàn diện hơn về các chức năng của giáo dục so với thời kỳ đầu

Giáo dục đã góp phần quan trọng phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứunước thực thiện cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc; phát triển sự nghiệp giáo dục ở miền Nam Việt Nam và

sự chi viện của giáo dục xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cho miền Nam

Trong giai đoạn này, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chiến lượcchống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, xây dựng xã hội chủ nghĩa ởmiền Bắc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân giải phóng miền

Trang 13

Nam thống nhất tổ quốc Giáo dục nước ta cũng có sự phát triển đáp ứngyêu cầu của công cuộc kháng chiến, kiến quốc Các loại hình nhà trườngđược mở rộng, ngành giáo dục đã tìm mọi biện pháp vừa chống chiếntranh phá hoại của địch vừa tổ chức tốt công tác giáo dục - đào tạo trongmọi điều kiện hoàn cảnh, thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy đẩy mạnh phongtrào thi đua “Hai tốt”; thực hiện tốt, mục tiêu, phương châm, nguyên lý,các quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng Đồng thời tích cực chi việncho sự nghiệp giáo dục cách mạng ở miền Nam từ miền Bắc xã hội chủnghĩa Sự chi viện của giáo dục Bắc xã hội chủ nghĩa đối với giáo dụccách mạng ở miền Nam đã được đảm bảo liên tục và thường xuyên tạođiều kiện cho ngành giáo dục cách mạng miền Nam đứng vững trongnhững thời điểm gay go nhất Tính từ năm 1961, năm đầu tiên có cán bộngành giáo dục đi B, đến ngày 30/4/1975 đã có 4000 cán bộ giáo dụcmiền Bắc chi viện cho miền Nam Trong số cán bộ, giáo viên lên đườngvào Nam công tác, một số đã anh dũng hy sinh, số còn lại phần lớn đềutrở thành những người gương mẫu, được tôi luyện chắc chắn và đã trởthành cán bộ nòng cốt của giáo dục miền Nam sau ngày miền Nam hoàntoàn giải phóng Phải nói rằng thời kỳ 1957 - 1975 là một trong nhữngthời kỳ khó khăn, gian khổ, phức tạp nhất, nhưng cũng là một trong nhữngthời kỳ sôi nổi, đặc biệt nhất và để lại dấu ấn tốt đẹp cũng như nhữngthành tích vẻ vang nhất trong lịch sử nền giáo dục của nước Việt Nam ta.

II Tình hình giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1975 - 1985)

Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc Nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất

và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ tiến thẳng lênchủ nghĩa xã hội trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật

mà nhờ đó sức sản xuất phát triển với tốc độ cao chưa từng thấy, trongnhững thuận lợi mà sự đoàn kết hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa

Trang 14

anh em tạo lập cũng như trong những khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh

tế trong thế giới do chủ nghĩa tư bản gây ra Bối cảnh đó đòi hỏi Đảng,Nhà nước một mặt phải giải quyết yêu cầu cấp bách, gay gắt của cuộcsống hàng ngày, mặt khác phải nhanh chóng đưa đất nước vào quỹ đạocủa sự phát triển xã hội chủ nghĩa Vì lẽ đó, hơn bất cứ lúc nào trước đó,nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tầm quan trọng lớn lao, giáo dục quốcdân phải gắn chặt hơn với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Giáodục “là một bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng và văn hóa, mộtnhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa và khoa học kỹthuật của đất nước”

Với vai trò ngày càng tăng của giáo dục trong cách mạng xã hội chủnghĩa, Đảng, Nhà nước chăm lo xây dựng và phát triển nền giáo dục dựatrên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự phát triểncủa con người trong điều kiện xã hội chủ nghĩa Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam quy định:

“Nền giáo dục Việt Nam không ngừng được phát triển và cải tiếntheo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất,nhà trường gắn liền với xã hội, nhằm đào tạo có chất lượng những ngườilao động xã hội chủ nghĩa và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”

Nền giáo dục Việt Nam là một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, đặt dưới

sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam và do Nhànước thống nhất quản lý Nền giáo dục Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lêninlàm hệ tư tưởng chủ đạo và làm cốt lõi của nội dung giáo dục, lấy việcđào tạo những người lao động kiểu mới, phát triển toàn diện làm mụcđích, lấy việc kết hợp giáo dục với lao động sản xuất, học với hành, nhàtrường với đời sống làm phương thức đào tạo Hiến pháp nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam quy định “học tập là quyền lợi và nghĩa vụcủa công dân”, đây là tư tưởng “ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ

Trang 15

Chí Minh đã được luật hóa và trở thành tôn chỉ của mọi công dân ViệtNam nói chung và mục đích phấn đấu của ngành giáo dục nói riêng.

Đứng trước những yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hệ thống giáo dục được cải cách từnăm 1954 đã bộc lộ những thiếu sót mà những cải tiến cục bộ không thể

bổ sung được Cải cách toàn bộ hệ thống giáo dục trở thành một đòi hỏikhách quan Tháng 1 năm 1979, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục.Hai cuộc cải cách giáo dục trước đây xác định bản chất, mục đích; xác lậptính chất, nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nội dung giáo dục - đào tạocủa nền giáo dục mới thì cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này có bướcphát triển phù hợp với tình hình cách mạng trong thời kỳ mới thời kỳ cảnước đi lên chủ nghĩa xã hội, nên có mục tiêu, nhiệm vụ lớn hơn, rộnghơn, toàn diện hơn, nhưng cũng cụ thể hơn nhằm ba mục tiêu lớn:

- Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thủa ấu thơ chođến lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con ngườiViệt Nam mới, người lao động, người làm chủ tập thể và phát triển toàn diện

- Thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân, góp phần xây dựng quyền làmchủ tập thể của nhân dân lao động, tạo điều kiện cho việc tiến hành ba cuộccách mạng

- Đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn, đội ngũ lao độngmới có phẩm chất cách mạng, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý phùhợp với yêu cầu phân công lao động trong nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.Cải cách giáo dục dựa trên những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hộichủ nghĩa: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhàtrường gắn liền với xã hội

Cải cách về giáo dục là một sự thay đổi sâu sắc cả về cơ cấu hệ thốnggiáo dục và về phương pháp giáo dục, nội dung giáo dục

Ngày đăng: 16/02/2017, 21:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 1945 - 1975 - TÀI LIỆU THAM KHẢO   sự PHÁT TRIỂN tư DUY GIÁO dục và CHỈ đạo THỰC TIỄN GIÁO dục của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM
Bảng th ống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 1945 - 1975 (Trang 22)
Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 1985 - 1990. - TÀI LIỆU THAM KHẢO   sự PHÁT TRIỂN tư DUY GIÁO dục và CHỈ đạo THỰC TIỄN GIÁO dục của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM
Bảng th ống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 1985 - 1990 (Trang 23)
Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 1995 - 2000 - TÀI LIỆU THAM KHẢO   sự PHÁT TRIỂN tư DUY GIÁO dục và CHỈ đạo THỰC TIỄN GIÁO dục của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM
Bảng th ống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 1995 - 2000 (Trang 24)
Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 2000 - 2003. - TÀI LIỆU THAM KHẢO   sự PHÁT TRIỂN tư DUY GIÁO dục và CHỈ đạo THỰC TIỄN GIÁO dục của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM
Bảng th ống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại học) Giai đoạn 2000 - 2003 (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w