Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội các nước ASEANĐiều kiện tự nhiên Xét về vị trí địa lí, các nước ASEAN đều nằm trong khu vực Đông Nam Á, trừ Lào, đều tiếp xức với biển Thái Bình Dươn
Trang 1Đề Tài: Các nước ASEAN
Trang 2PHỤ LỤC
Chương 1: Đặc điểm và quá trình phát triển kinh tế
và thương mại các nước ASEAN
Chương 2: Đặc điểm phát triển kinh tế thương mai
Trang 3Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội các nước ASEAN
Điều kiện tự nhiên
Xét về vị trí địa lí, các nước ASEAN đều nằm trong khu vực Đông Nam Á, trừ Lào, đều tiếp xức với biển Thái Bình Dương
và Ấn Độ Dương, thuận lợi cho giao thương quốc tế và phát triển du lịch Diện tích của cáccs nước ASEAN là 4.604.866
km2, chiếm trên 3% diện tích thế giới Đông Nam Á là một trong những khu vực giàu có tài nguyên thiên nhiên như: dầu
mỏ, khí đốt tập trung ở Indonexia, Brunei, Việt Nam; thiếc trữ lượng lớn ở Malaixia, Thái Lan, Indonexia; đồng có nhiều ở
Philippin; vàng tập trung tại Philippin, Indonexia
Điều kiện văn hoá-xã hội
ASEAN có truyền thống văn hoá lâu đời, với 3 tín ngưỡng cơ bản là Phật giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo, càng làm tăng
thêm nét đa dạng và phong phú trong tập quán phong cách của người dân ASEAN Cùng với những danh lam tháng cảnh
do tạo hoá sinh ra như đảo Bali ở Indonexia, vịnh Hạ Long ở Việt Nam, các di tích lịch sử nổi tiếng như chùa Vàng, chùa
Bạc ở Thái Lan, chùa Bogo ở Indonexia, khu ruộng bậc thang hơn 1000 năm ở Philippin, lăng tâm Huế ở Việt Nam,
ASEAN là khu vực rất hấp dẫn khách du lịch.
Điều kiện kinh tế
• Với diện tích đất nông nghiệp chiếm 30% tổng diện tích tự nhiên, khí hậu nóng ẩm quanh năm, ASEAN là một vùng có
tiềm năng phát triển nông nghiệp nhất là cây trồng nhiệt đới như lúa gạo, cao su thiên nhiên, cà phê, hạt tiêu, điều, cọ
dầu,
• Về lâm nghiệp, các nước ASEAN có tiềm năng lớn về rừng với nhiều loại gỗ quý, dược liệu và các loài thú quý hiếm
• Về thủy sản với vị trí gần biển tại hệ thống sông ngòi kinh doanh chằng chịt, các nước ASEAN có nhiều tiềm năng việc
khai thác, nuôi trồng thuỷ sản; Thái Lan là 1 trong 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới
• Với dân số trên 600 triệu người chiếm trên 8,6% dân số thế giới, ASEAN là một thị trường cung cấp sức lao động với
giá nhân công rẻ mạt và trình độ chuyên môn của người lao động đang được nâng lên đặc biệt Với tốc độ tăng trưởng
tương đối khá, dân đông, ASEAN còn là một thị trường lớn để tiêu thụ hàng hoá, và là một địa bàn hấp dẫn đối với đầu
tư nước ngoài.
Trang 4Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế thương mại các nước ASEAN
ASEAN ra đời vào nữa sau những năm 60 của thế kỉ XX, trong bối cảnh các nước trong khu vực:
• Sau khi giành được độc lập, nhiều nước trong khu vực cần có sự hợp tác cùng nhau trong cùng
phát triển.
• Muốn hạn chế chế ảnh hưởng của các cường quốc ngoài đối với khu vực,nhất là khi cuộc chiến
tranh xâm lược VN của Mĩ ngày càng tỏ rõ ko tránh khỏi thất bại cuối cùng.
• Trên thế giới xuất hiện nhiều tổ chức hợp tác mang tính khu vực: Khối thị trường chung châu
Âu(EEC), cổ vũ các nước ĐNA tìm cách liên kết với nhau.
• 8.8.1967 Hiệp hội các quốc gia ĐNA (ASEAN) được thành lập tại Băng cốc (Thái Lan) với 5 nước đầu
tiên : Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan và Xingapo.
• Mở rộng thành viên của ASEAN, Brunây (1984), Việt Nam (7/1995), Lào và Miama (1997), Campuchia
(1999).
Hoàn cảnh ra đời của tổ chức ASEAN
Trang 5Các nước thành viên ASEAN
Begawan
Trang 6• Hiến chương ASEAN là một dạng hiến pháp dùng cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (ASEAN) Ý định của việc thảo ra hiến chương này được chính thức bàn đến ở Hội nghị
Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 11 diễn ra tại Kuala Lumpur, Malaysia Tháng 12 năm 2005
Mười lãnh đạo khối ASEAN đã được nhiệm vụ thảo hiến chương này.
• Hiến chương này được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 vào Tháng
Mười một năm 2007
• Hiến chương có hiệu lực tháng 12 năm 2008, ba mươi ngày sau khi Thái Lan cung cấp văn
kiện cuối cùng về việc phê chuẩn
Hiến chương ASEAN
Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế thương mại các nước ASEAN
Quá trình phát triển
Trang 7- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thong qua các
nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các
nước Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng
- Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lí và nguyên tắc luật pháp trong
quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của hiến chương Liên hợp quốc
- Thúc đẩy cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan quan tâm trong lĩnh
vực kinh tế, xã hội, văn hóa,khoa học- kĩ thuật và hành chính
Trang 8Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế thương mại các nước ASEAN
Quá trình phát triển
Nguyên tắc hoạt động
• Nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các quốc gia thành viên và
với bên ngoài
• Nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội
• Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số
nguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều
hiểu và tôn trọng áp dụngnhư: nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu,
thâm thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoàn kết
ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội
Trang 9Hệ thống các thiết chế pháp lý của ASEAN theo hiến chương ASEAN bao gồm :
• Hội nghị cấp cao ASEAN Sumit
• Hội đồng điều phối
• Các hội đồng Cộng đồng
• Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng
• Tổng thư kí và Ban thư kí
• Ủy ban đại diện thường trực bên cạnh ASEAN
• Ủy ban ASEAN ở nước thứ ba và các tổ chức quốc tế
Ngoài các cơ quan trên, Hiến chương còn quy định sẽ thành lập một Cơ quan nhân
quyền hoạt động theo quy chế do Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao quyết định để thúc
đẩy và bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản, phù hợp với mục tiêu và các
nguyên tắc của Hiến chương
Cơ cấu tổ chức
Trang 10Chương 2: Đặc điểm phát triển kinh tế thương mai các nước ASEAN
Về tự do hóa thương mại hàng hóa, trên cơ sở Hiệp định Thương mại Hàng
hóa ASEAN (ATIGA), đến hết năm 2016, ASEAN đã xóa bỏ thuế nhập khẩu với
96,01% tổng số dòng thuế, trong đó, tỷ lệ xóa bỏ thuế nhập khẩu của các nước
ASEAN-6 gồm Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái-lan và Phi-li-pin là
99,2%, của bốn nước Việt Nam, Lào, Mi-an-ma và Cam-pu-chia (CLMV) là 90,9% Đến
năm 2018, tỷ lệ xóa bỏ thuế nhập khẩu của các nước ASEAN-6, CLMV và trung bình
ASEAN sẽ lần lượt là 99,2%, 97,81% và 98,67%.
Về tự do hóa thương mại dịch vụ, trong khuôn khổ Hiệp định khung về Dịch
vụ ASEAN (AFAS), ASEAN đã có chín trong số 10 Gói cam kết về thương mại dịch
vụ chung, bảy Gói cam kết về dịch vụ tài chính, chín Gói cam kết về dịch vụ vận tải
hàng không với phạm vi rộng hơn và mức độ sâu hơn so với các cam kết trong
khuôn khổ WTO.
Về tự do lưu chuyển dòng đầu tư, các thành viên ASEAN đã nỗ lực loại bỏ dần các
biện pháp bảo lưu trong Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) ký vào năm 2009,
hướng tới mục tiêu xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn với các biện pháp, sáng kiến
xúc tiến, thúc đẩy, bảo hộ và thuận lợi hóa đầu tư, xây dựng Khuôn khổ ASEAN về hội
nhập ngân hàng với các biện pháp hài hòa hóa quy định và tiêu chuẩn ngân hàng, tăng
cường kết nối các thị trường chứng khoán trong và ngoài khu vực.
Thực hiện chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa
(MSMEs)
Các thành viên ASEAN tiếp tục xây dựng một ASEAN mở cửa, hội nhập vào nền kinh
tế toàn cầu thông qua việc thực thi và nâng cấp năm Hiệp định Thương mại tự do
(FTA).
Chiến lước phát triển kinh tế và thương mại các nước ASEAN
Trang 11• Thứ nhất, thể chế chính trị khác nhau giữa các quốc gia, sự đồng thuận trong khối chưa cao ASEAN chưa xây dựng được một thể chế chung, thể chế chính trị của các quốc gia thành viên rất khác nhau.
• Thứ hai, lợi ích quốc gia chưa thống nhất với lợi ích chung của cộng đồng
• Thứ ba, liên kết chính trị chưa đủ mạnh Đa số các nước thành viên ASEAN là các nước đang phát triển, trình độ phát triển kinh tế không đồng đều và có sự chênh lệch, vì vậy, nước nào cũng muốn thiết lập quan hệ với các đối tác lớn bên ngoài để có nhiều cơ hội phát triển
• Thứ tư, ASEAN hiện nay đang thiếu những quốc gia đóng vai trò trụ cột, có sức mạnh, kinh nghiệm, uy tín và bản lĩnh
• Thứ năm, các vấn đề xã hội (bất bình đẳng, chênh lệch giàu - nghèo) có sự khác biệt lớn và nhiều tầng nấc giữa các nước thành viên
Về chính trị
Nguyên nhân của những khó khăn, thách thức trên là:
Cơ chế chính trị của các nước thành viên đa dạng, ý thức hệ khác nhau, giai đoạn phát triển
cũng khác nhau Nội bộ ASEAN tồn tại những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, giữa một số nước thành viên cũng vẫn còn những mâu thuẫn lịch sử và hiện tại chưa giải quyết được.
Việc xây dựng cơ chế trong ASEAN khó có thể được coi là hoàn thiện do ASEAN thiếu hụt
các quy phạm cơ chế có hiệu quả mạnh mẽ, chủ trương không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, không có cơ chế ràng buộc, nên khó có thể kiểm soát hành vi của các nước thành viên, sự chấp hành và giám sát việc thực thi kế hoạch của cộng đồng không đầy đủ.
Một số nước ASEAN do rối ren về chính trị và sức ép chuyển đổi mô hình kinh tế cùng với
xu hướng hướng ngoại tăng lên nên sự đầu tư và mong muốn đối với việc xây dựng cộng đồng có hạn.
Trang 12Chương 2: Đặc điểm phát triển kinh tế thương mai các nước ASEAN Những vấn đề đang đặt ra với ASEAN
Về kinh tế
Thứ nhất, chênh lệch về trình độ phát triển Trong khi đó, bản thân nội bộ ASEAN chưa có
sự hỗ trợ hiệu quả, vẫn bị lợi ích quốc gia chi phối Việc hợp tác với bên ngoài gia tăng
cũng sẽ đi đôi với sự phụ thuộc ngày càng nhiều hơn.
Thứ hai, chênh lệch về thu nhập bình quân đầu người giữa các nước trong ASEAN quá
khác xa nhau, nhất là giữa hai nhóm nước ASEAN-6 và ASEAN-4
Thứ ba, khoảng cách về năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trong ASEAN
Thứ tư, thương mại, đầu tư nội khối và ngoại khối chênh lệch đáng kể
Trang 13Tương lai phát triển kinh tế và thương mại asean
Tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vẫn sẽ tiếp tục và các quốc gia đang phải cùng nhau vượt qua những thách thức, khó khăn theo những hướng sau:
Thứ nhất, ASEAN phải thể hiện được vai trò trung tâm trong đoàn kết nội khối cũng như các vấn đề cấu trúc hợp tác và môi trường an ninh khu vực
Thứ hai, ASEAN phải điều chỉnh về nguyên tắc hoạt động, có những cơ chế, biện pháp ràng
buộc nhất định mà các nước thành viên phải tuân thủ.
Thứ ba, ASEAN cần chung tiếng nói, có sự thống nhất và mạnh mẽ cần thiết trong ứng xử quan hệ với các quốc gia đang có can
dự trực tiếp vào quyền lợi của một số nước thành viên của khối
Thứ tư, mỗi quốc gia thành viên cần nhìn nhận, đánh giá lợi ích quốc gia hài hòa trong quyền lợi chung toàn khối.
Thứ năm, nhiệm vụ của ASEAN trong thời gian tới là phải thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước trong khu vực
Trang 14Chương 3 :Các liên kết kinh tế và thương mại giữa các nước châu Á –TBD
( Khu vực mậu dịch tự do AFTA) Quá trình hình thành và phát triển khu vực mậu dịch tự do ASEAN
• AFTA là tên viết tắt tiếng anh của khu vực mậu dịch Tự do ASEAN là một hiệp định thương mại tự do giữa
các quốc gia trong khối ASEAN theo đó sẽ giảm dần thuế quan xuống còn 0-5 % Loại bỏ hàng rào thuế quan đa phần với các nhóm hàng và thủ tục hải quan giữa các quốc gia.
• Vào đầu những năm 90 khi chiến tranh lạnh kết thúc những thay đổi trong môi trường chính trị kinh tế
quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN trước những thách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ và nỗ lực
• Để đối phó với những thách thức đó, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan, hội nghị thượng đỉnh ASEAN
học tại Singapore đã quyết định thành lập khu vực mậu dịch Tự do ASEAN ( gọi tắt là AFTA)
• Ban đầu chỉ có sáu nước là uni Brunei, Indonesia, Malaixia, Philippines, Singapore và Thái Lan Sau đó từ
năm 1995 đến 1998, ASEAN kết nạp thêm 4 nước thành viên mới là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar.
Trang 15Mục đích
Tự do hóa thương mại ASEAN bằng việc loại bỏ hàng rào thuế quan trong nội bộ khu vực và
cuối cùng là các hàng rào phi thuế quan.
Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối thị trường thống
nhất Đây là mục tiêu trung tâm của việc thành lập AFTA, AFTA Tạo ra một nền tảng sản
xuất thống nhất trong ASEAN, điều đó cho phép hợp lý hóa sản xuất, chuyên môn hóa trong
nội bộ khu vực và khai thác các thế mạnh của các nền kinh tế thành viên khác nhau.
Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là
trong sự phát triển của xu thế tự do hóa thương mại.
Trang 16Chương 3 :Các liên kết kinh tế và thương mại giữa các nước châu Á –TBD
( Khu vực mậu dịch tự do AFTA)Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động
Tự nguyện: các nước thành viên của ASEAN, có thể quyết định tham gia hoặc không tham gia vào AFTA, cũng như việc tham gia vào các chính sách dựa trên khả năng nội tại của chính nước đó chứ không ép buộc.
10-X: hai hay một nước thành viên có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án của AFTA nếu các nước còn lại chưa sẵn sàng tham gia.
Có đi- có lại: khi nước này đưa ra quyết định có lợi cho một nước hay nhóm nước nào đó thì ngược lại các nước ấy cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nước ấy.
Công khai, phân biệt đối xử: Tất cả mọi quyết định được đưa ra công khai theo hình thức đàm phán, biểu quyết Và các nước phát triển sẽ luôn là nước đi đầu, thực hiện lộ trình trước để các nước còn lại có thời gian chuẩn bị, nâng cao trình độ để thực hiện sau.
Nguyên tắc hoạt động
Trang 17Để thực hiện thành công Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, các nước ASEAN- cũng trong năm 1992, đã ký Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Common Effective Preferential Tariff), gọi tắt là CEPT CEPT là một thoả thuận chung giữa các nước thành viên ASEAN về giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn từ 0 - 5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn thành vào 1/1/2003 (đây là thời hạn đã có sự đẩy nhanh so với thời hạn ký Hiệp định ban đầu: từ 15 năm xuống còn 10 năm)
Hiệp định CEPT và các quy định chung của CEPT
Nói đến vấn đề xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN là nói tới việc thực hiện Hiệp định chung về thuế quan và phải hoàn thành 3 vấn đề chủ yếu, không tách rời dưới đây
Vấn đề về giảm thuế quan
Vấn đề loại bỏ các hạn chế định lượng (QRs) và các rào cản phi thuế quan khác (NTBs)
Vấn đề hợp tác trong lĩnh vực hải quan
- Thống nhất biểu thuế quan
- Thống nhất hệ thống tính giá hải quan
- Thống nhất thủ tục hải quan
Trang 18Chương 3 :Các liên kết kinh tế và thương mại giữa các nước châu Á –TBD
( Khu vực mậu dịch tự do AFTA)
Những vấn đề đặt ra đối với AFTA
- Thứ nhất, với tính chất là một tổ chức hợp tác kinh tế có thể chế, AFTA dường như một dạng của “mô hình phát triển rút ngắn” của liên kết kinh tế khu vực và trên thực tế nó không có những điều kiện chuẩn bị chín muồi về các bước liên kết khu vực như EU, NAFTA
- Thứ hai, sự mở rộng ASEAN từ ASEAN 6 lên ASEAN 10 đã tạo nên một cấu trúc kinh tế “song tầng” giữa một ASEAN 6 tương đối phát triển và một ASEAN 4 kém phát triển
- Thứ ba, các công ty đa quốc gia bên ngoài ASEAN sẽ chỉ đầu tư trực tiếp nhiều hơn vào những nước có môi trường đầu tư thuận lợi
- Thứ tư, thị trường bên trong ASEAN tương đối nhỏ và bản thân sự tăng trưởng của các nền kinh tế ASEAN lại lệ thuộc đáng kể vào các thị trường Mĩ, Nhật