1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyen d 2 1 e d 4 1 e c 0 1 e c c 1 e a

20 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 203 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lãnh đạo thường quan tâm đến những vấn đề chiến lược và những mục tiêu lâu dài của tổ chức Như vậy, lãnh đạo là quá trình khởi xướng, xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn ch

Trang 1

Chuyên đề 2 TỔNG QUAN VỀ KHOA HỌC QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Lý thuyết: 6; thực hành: 4; tự nghiên cứu: 03

1 Tổng quan về khoa học quản lý

1.1 Khái niệm lãnh đạo và quản lý

1.1.1 Lãnh đạo

Khái niệm lãnh đạo được hiểu là dẫn dắt tổ chức, phong trào theo một đường lối

cụ thể Lãnh đạo thường là người hoặc cơ quan tổ chức đề ra chủ trương, đường lối, chính sách và phương thức hoạt động cho một tổ chức, một đơn vị

Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell và Heniz Weihrich, lãnh đạo là một quá trình tác động đến con người sao cho họ sẽ tự nguyện và nhiệt tình phấn đầu để đạt được các mục tiêu đề ra

Các yếu tố cấu thành của sự lãnh đạo bao gồm: khả năng nhận thức được rằng con người có những động lực thúc đẩy khác nhau ở những thời gian khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau; Khả năng khích lệ người khác và khả năng hành động theo một phương pháp mà nó sẽ tạo ra một bầu không khí hữu ích cho sự hưởng ứng đáp lại và khơi dậy các động cơ thúc đẩy

Theo Nguyễn Hải Sản, lãnh đạo là khả năng tác động, thúc đẩy, hướng dẫn, chỉ đạo người khác để đạt được những mục tiêu đã đề ra Lãnh đạo bao gồm hàng loạt các hoạt động nối tiếp nhau

Một số tác giả khác cho rằng: lãnh đạo là định hướng dẫn dắt Đó là một quá trình mang tính xã hội, trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của mọi thành viên thuộc tổ chức vào các hoạt động nhằm đưa tổ chức đạt mục tiêu Lãnh đạo thường quan tâm đến những vấn đề chiến lược và những mục tiêu lâu dài của tổ chức

Như vậy, lãnh đạo là quá trình khởi xướng, xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chiến lược, tác động, ảnh hưởng tìm kiếm sự tự nguyện tham gia của mọi người nhằm tập hợp, điều hòa, phối hợp các mối quan hệ, dẫn dắt, tạo động lực để mọi thành viên trong tổ chức cùng thực hiện nhiệm vụ đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định

1.1.2 Quản lý

Ngày nay, khái niệm quản lý đã phổ biến nhưng chưa có định nghĩa thống nhất Theo từ điển Tiêng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003, quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định Quản lý nhân sự, quản lý trường học

Harol Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich cho rằng: "Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất."

Kotter (1990) cho rằng "Quản lý là một hệ thống các quá trình có thể góp phần duy trì một hệ thống phức tạp bao gồm nguồn nhân lực và kỹ thuật trong sự vận hành hiệu

Trang 2

quả Các khía cạnh quan trọng nhất của quá trình quản lý bao gồm lập kế hoạch, chi tiêu ngân sách, tổ chức, tuyển dụng, kiểm soát và giải quyết vấn đề”

Một khái niệm mạng tính phổ quát được nhiều nhà nghiên cứu về quản lý đưa ra: Quản lý là sự tác động hợp qui luật, có ý thức, có tính hướng đích của chủ thể quản

lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đã đề ra

Từ các quan niệm về quản lý nói trên, có thể định nghĩa: Quản lý sự tác động

có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra

1.1.3 Phân biệt lãnh đạo và quản lý

Mặc dù có những điểm khác biệt nhưng lãnh đạo và quản lý cũng hoàn toàn không phải là hai khái niệm đối lập, trái lại, giữa lãnh đạo và quản lý lại có nhiều chỗ tương đồng, gần như bổ sung cho nhau, công việc quan trọng quốc gia hay chỉ của một trường học cũng cần cả lãnh đạo và quản lý Lãnh đạo và quản lý là hai góc độ của một công việc, một công vụ, có liên quan mật thiết với nhau Hoạt động lãnh đạo tập trung những định hướng dài hạn cho các hoạt động của một tổ chức Còn quản lý tập trung giữ vững

và tăng cường hoạt động của tổ chức theo trật tự và sự nhất quán để đảm bảo đưa tổ chức đạt đến các mục tiêu đã xác định

Song trên thực tế khó phân biệt được một cách rạch ròi giữa lãnh đạo và quản lý Không ít trường hợp lãnh đạo và quản lý thâm nhập vào nhau Về lý thuyết, người ta phân biệt lãnh đạo và quản lý theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng, lãnh đạo theo nghĩa rộng bao gồm

cả quản lý (nghĩa hẹp), và trong khái niệm quản lý theo nghĩa rộng lại bao gồm cả lãnh đạo (nghĩa hẹp)

1.2 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu KHQL

1.2.1.Đối tượng nghiên cứu

Khoa học quản lý nghiên cứu gì? Khoa học quản lý lấy thực tiễn quản lý (ở tất cả các lĩnh vực và cấp độ) làm đối tượng nghiên cứu nhằm tìm ra cái chung, cái giống nhau, cái lặp lại của hoạt động quản lý ở tất cả các lĩnh vực và cấp độ của nó, tức là các quy luật quản lý

Đối tượng nghiên cứu của khoa học quản lý là các mối quan hệ trong quá trình quản lý Khoa học quản lý nghiên cứu các mối quan hệ trong quản lý nhằm tìm bản chất, quy luật, nguyên tắc, phương pháp để áp dụng trong thực tiễn nhằm làm cho quá trình quản lý ngày càng hiệu quả hơn

1.2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các qui luật hay tính qui luật và cơ chế vận dụng các qui luật đó trong quá trình tác động đến con người, thông qua đó mà tác động đến các nguồn lực khác nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

- Nghiên cứu các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa người với người trong quản

lý, quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý

- Nghiên cứu tổng kết các kinh nghiệm tiên tiến để xây dựng thành nguyên tắc và lý thuyết áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương tự

2

Trang 3

- Nghiên cứu những lý mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn cách hiệu qủa, nhờ đó giúp các nhà quản lý hoàn thành nhiệm vụ, giúp tổ chức đạt được mục tiêu

- Nghiên cứu con đường, biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản lý

1.2.3.Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của khoa học quản lý là cách thức khoa học quản lý nghiên cứu các quan hệ quản lý nhằm tìm ra qui luật của quản lý để đề ra các nguyên lý, nguyên tắc, các phương pháp và các công cụ để quản lý, chính là để giải quyết mối quan

hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giúp nhà quản lý đưa ra những quyết định đúng đắn trong từng tình huống cụ thể

Khoa học quản lý vận dụng các phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

cơ bản sau đây

Phương pháp biện chứng duy vật:

Phương pháp biện chứng duy vật xem xét các sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan trong mối liên hệ tác động qua lại, trong sự vận động biến đổi và phát triển theo quy luật của chúng Phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là phương pháp cơ bản, là nền tảng, là kim chỉ nam của các nhà lãnh đạo và quản lý Nó cung cấp cho người nghiên cứu khoa học quản lý phương pháp nhận thức các đối tượng khách quan trong sự vận động và phát triển của đối tượng quản lý hết sức sinh động với các mâu thuẫn mà nhà quản lý cần giải quyết Nó giúp các nhà nghiên cứu xem xét đối tượng quản lý một cách toàn diện trong mối quan hệ và tác động qua lại của các yếu tố trong hệ thống quản lý với môi trường như kinh tế, chính trị, văn hoá, tâm lý, phong tục, dân tộc, giới tính, vùng miền,……

Bằng phương pháp biện chứng duy vật, khoa học quản lý chỉ ra rằng: quản lý là một trong những dạng hoạt động hoặc lao động đặc biệt của con người Nhưng nó không tồn tại biệt lập mà có quan hệ mật thiết với điều kiện kinh tế xã hội ở những giai đoạn phát triển nhất định Nói cụ thể hơn, hoạt động quản lý không phải là một dạng hoạt động quản

lý thuần tuý tự nó và vì nó Hoạt động quản lý gắn liền với các dạng hoạt động cụ thể của con người, nó tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người

Phương pháp logic - lịch sử

Phương pháp logic - lịch sử còn được gọi là phương pháp kết hợp giữa logic với lịch sử, hoặc là phương pháp thống nhất giữa logic với lịch sử Phương pháp logic là phương pháp xem xét các sự vật, hiện tượng của thế giới trong mối liên hệ nội tại, tất yếu cũng như cái chung, cái giống nhau, có tính lặp lại của sự vận động, biến đổi và phát triển Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét các sự vật, hiện tượng của thế giới qua các giai đoạn phát sinh, hình thành, phát triển và tiêu vong của chúng Để nhận thức được bản chất và quy luật của sự vận động, biến đổi và phát triển của sự vật thì phải kết hợp cả hai phương pháp: phương pháp logic và phương pháp lịch sử, hay là phương pháp logic - lịch

sử Bằng phương pháp logic - lịch sử, khoa học quản lý chỉ ra rằng mỗi một loại hình và cấp độ quản lý đều có quá trình phát sinh, hình thành, phát triển và mất đi của nó; đồng thời các loại hình quản lý khác nhau (quản lý kinh tế, quản lý hành chính, quản lý nhân lực, quản lý giáo dục, ) đều có mối liên hệ nhất định với nhau, đều có những cái chung,

3

Trang 4

cái giống nhau, cái lặp lại hay là tính quy luật của chúng Tính quy luật của chúng được biểu hiện ở chỗ bất cứ loại hình quản lý nào cũng đều phải xác lập và thực thi mục tiêu quản lý phù hợp, nội dung quản lý đúng đắn và phương thứcquản lý hợp lý Bất cứ loại hình quản lý nào cũng phải xây dựng và thực hiện các nguyên tắc quản lý, quy trình quản

lý, phương pháp quản lý, phong cách quản lý và nghệ thuật quản lý… Tuy nhiên, những cái chung, cái lặp lại, cái giống nhau đó khi vận dụng vào các loại hình quản lý cụ thể lại mang những nét đặc thù riêng

Phương pháp trừu tượng hoá

Phương pháp trừu tượng hoá là phương pháp xem xét các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan không phải ở tất cả các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của nó, mà nó gạt

bỏ những hiện tượng bên ngoài đa dạng, phong phú, những yếu tố ngẫu nhiên để hướng tới cái điển hình, cái cốt lõi nhằm tìm ra bản chất và các cấp độ bản chất của sự vật Phương pháp này không làm cho tư duy xa rời hiện thực mà giúp hiểu rõ hiện thực ở cấp

độ bản chất, quy luật vận động của hiện thực - điều mà nhận thức cảm tính không làm được Nhờ có phương pháp trừu tượng hoá, khoa học quản lý giúp chúng ta nhận thức được rằng: trong sự đa dạng, phong phú, muôn hình muôn vẻ của các loại hình và cấp độ quản lý nhưng bản chất của quản lý là biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với con người Tuy nhiên, mối quan hệ đó không phải là mối quan hệ giữa con người với con người nói chung mà là quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượngquản lý Mặt khác, trong quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thì quan hệ quyền lực là hạt nhân cốt lõi …Vận dụng phương pháp trừu tượng hóa, khoa học quản lý đã xác lập những điểm chung nhất cho tất cả các lĩnh vực và cấp độ quản lý ở các nội dung của quản lý Chính vì vậy, hệ thống tri thức chung của khoa học quản lý đóng vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận cho tất cả các khoa học quản lý chuyên ngành

Phương pháp mô hình hoá: đây là phương pháp tái hiện những đặc trưng của đối

tượng nghiên cứu bằng một mô hình khi việc nghiên cứu của chính đối tượng đó không thể thực hiện được Hệ thống quản lý nói chung và đối tượng quản lý nói riêng là một hệ thống cực kỳ phức tạp Mô hình hoá cho phép người nghiên cứu nắm được những yếu tố

cơ bản và các quan hệ cơ bản một cách phổ quát, đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả Trong khoa học quản lý thường người ta sử dụng các mô hình toán học bằng công thức toán học, hình vẽ hoặc sơ đồ…

Phương pháp thử -sai: đây là phương pháp thử một phương án xem điều gì xảy ra,

nếu đúng thì tiếp tục, nếu sai thì sửa chữa hoặc thay đổi phương án khác

Phương pháp hệ thống: Nó cho phép xem xét hệ quản lý như một tổng thể toàn vẹn

bao gồm các phần tử tương tác với nhau hoạt động theo mục đích chung Khi nghiên cứu

về quản lý cần phải có quan điểm hệ thống để tìm ra được đặc tính của hệ thống, các mối liên hệ bên trong, bên ngoài, sự tương tác gữa các phần tử

Các phương pháp xã hội học: Quan sát, phỏng vấn, điều tra,… Các phương pháp

này giúp lấy ý kiến, quan điểm, của mọi người từ đó nghiên cứu xây dựng ý thức và hành động của con người trong quá trình lao động nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

Phương pháp tổng hợp: Quản lý liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống, kinh tế,

xã hội Do vậy phương pháp này giúp việc nghiên cứu các hiện tượng quản lý trong mối

4

Trang 5

liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, phải tính đến tất cả các yếu tố, từ đó chọn lọc, phân tích và tổng hợp thành những điều cốt lõi nhất của quản lý

1.3 Giới thiệu một số học thuyết quản lý tiêu biểu

1.3.1.Thuyết quản lý khoa học

Đại diện tiêu biểu cho trường phái khoa học này là Frededric W.Taylor (1856 -1915).

Nội dung của lý luận quản lý một cách khoa học bao gồm các mặt sau:

1 Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công nhân, phải nghiên cứu thời gian và thao tác cần thiết cho công việc để xây dựng định mức cho công việc Đó là nguyên lý định mức

2 Phải lựa chọn những thợ hạng nhất cho mỗi công việc

3 Nguyên lý tiêu chuẩn hoá

4 Xây dựng và thực hiện chế độ trả lương theo lượng sản phẩm

5 Hai bên thợ và chủ đều phải nhận thức rằng việc nâng cao năng suất lao động có lợi cho cả hai bên, do đó cần hợp tác và cùng nhau cố gắng

6 Tách biệt chức năng kế hoạch với chức năng thừa hành

7 Thực hiện chế độ chức năng và chế độ chức năng trực tuyến

8 Nguyên lý kiểm soát, quản lý về mặt cơ cấu tổ chức

Thực chất của việc quản lý khoa học là cuộc cách mạng tư tưởng hoàn toàn về trách nhiệm của công nhân đối với công việc của họ, về cách đối xử của họ với với những đồng sự và đối với chủ Vì vậy, ông nêu ra 4 nguyên tắc quản lý khoa học:

1 Phương pháp khoa học cho những thành tố cơ bản trong công việc của công nhân, thay cho phương pháp cũ dựa vào kinh nghiệm

2 Xác định chức năng hoạch định của nhà quản lý, thay vì để công nhân tự ý lựa chọn phương pháp làm việc riêng của họ

3 Lựa chọn và huấn luyện công nhân, phát triển tinh thần hợp tác đồng đội, thay vì khích lệ những nỗ lực cá nhân riêng lẻ của họ

4 Phân chia công việc giữa nhà quản lý và công nhân, mỗi bên làm tốt nhất công việc của họ, không phải chỉ đổ lên đầu công nhân như trước kia

Công tác quản lý tương ứng là:

a) Nghiên cứu thời gian và các thao tác hợp lý nhất để thực hiện

b) Bằng cách mô tả công việc để chọn lựa công nhân

c) Trả lương theo nguyên tắc khuyến khích theo sản lượng, bảo đảm an toàn lao động bằng dụng cụ thích hợp

d) Thăng tiến trong công việc, chú trọng lập kế hoạch và tổ chức hoạt động

Học thuyết quản lý khoa học của Tay lor vẫn còn nhiều giá trị trong quản lý ngày nay Các vấn đề chuyên môn hóa trong phân công lao động, trả lương theo sản phẩm vấn được nhiều tổ chức áp dụng có hiệu quả

Ngoài ra còn rất nhiều tác giả thuộc trường phái quản lý khoa học như:

Charles Babbage (1792 - 1871); Frank (1886 - 1924) và Lillian Gilbreth (1878 – 1972); Henry Gantt (1861 - 1919);…

5

Trang 6

Trường phái quản lý khoa học có nhiều đóng góp có giá trị cho sự phát triển của tư tưởng quản lý

1.3.2 Thuyết quản lý hành chính

Cha đẻ của thuyết quản lý hành chính là: Henry Fayol (1841 - 1925).

Là một nhà quản lý hành chính người Pháp Fayol chỉ ra rằng năng suất lao động của con người làm việc chung trong tập thể tùy thuộc vào sự sắp xếp tổ chức của nhà quản

lý Việc sắp xếp, tổ chức đó được Fayol gọi là việc quản lý tổng quát và việc này cũng quan trọng như 5 việc khác trong cơ sở sản xuất kinh doanh:

1 Sản xuất

2 Tiếp thị hay Marketing

3 Tài chính

4 Quản lý tài sản và con người

5 Kế toán - thống kê

Để có thể làm tốt việc sắp xếp, tổ chức xí nghiệp Fayol đã đề nghị các nhà quản lý nên theo 14 nguyên tắc quản lý:

1 Phải phân công lao động

2 Phải xác định rõ mối quan hệ giữa quyền hành và trách nhiệm

3 Phải duy trì kỷ luật trong xí nghiệp

4 Mỗi công nhân chỉ nhận lệnh từ một cấp chỉ huy trực tiếp duy nhất

5 Các nhà quản lý phải thống nhất ý kiến khi chỉ huy

6 Quyền lợi chung luôn luôn phải được đặt trên quyền lợi riêng

7 Quyền lợi kinh tế phải tương xứng với công việc

8 Quyền quyết định trong xí nghiệp phải tập trung về một mối

9 Xí nghiệp phải được tổ chức theo cấp bậc từ giám đốc xuống đến công nhân

10 Sinh hoạt trong xí nghiệp phải có trật tự

11 Sự đối xử trong xí nghiệp phải công bình

12 Công việc của mỗi người trong xí nghiệp phải ổn định

13 Tôn trọng sáng kiến của mọi người

14 Xí nghiệp phải xây dựng cho được tinh thần tập thể

Trường phái hành chính chủ trương rằng, năng suất lao động sẽ cao trong một tổ chức được sắp đặt hợp lý Nó đóng góp rất nhiều trong lý luận cũng như thực hành quản

lý, nhiều nguyên tắc quản lý của tư tưởng này vẫn còn áp dụng ngày nay

Thuyết hành chính của Max Weber: Trong khi Henry Fayol tập trung vào nhà quản

lý, thì thuyết hành chính của Max Weber (1864 - 1920) lại tập trung vào cơ cấu tổ chức bộ máy của tổ chức

Điều này được thể hiện rõ ở những đặc trưng cơ bản sau:

1 Tính chuẩn xác

2 Tính nhạy bén

3 Tính rõ rằng

4 Tinh thông văn bản

6

Max Weber (1864-1920)

Trang 7

5 Tính liên tục.

6 Tính nghiêm túc

7 Tính thống nhất

8 Quan hệ phục tùng

9 Phòng ngừa va chạm

10 Tiết kiệm nhân lực và vật lực

Ông đã đưa ra 7 nguyên lý quản lý cho tư tưởng quản lý của mình gồm các điểm chính:

(1) Sự phân công lao động được xác định rõ ràng và thể chế hoá;

(2) Hình thành trật tự thứ bậc dựa trên một dây chuyền chỉ huy;

(3) Tuyển chọn dựa trên năng lực nghề nghiệp, thi sát hạch và trình độ,…;

(4) Cần chỉ định người quản lý;

(5) Cần trả lương xứng đáng cho hoạt động của nhà quản lý;

(6) Người quản lý không nên là người sở hữu đơn vị mà mình điều hành;

(7) Hoạt động quản lý của nhà quản lý phải tuân thủ chặt chẽ mọi qui tắc, chuẩn mực và chịu sự kiểm tra

Weber cho rằng bất kỳ tổ chức xã hội nào cũng phải lấy quyền lực ở một hình thức nào đó làm cơ sở tồn tại

1.3.3 Một số học thuyết theo trường phái hành vi

Tư tưởng quản lý theo quan điểm hành vi nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người trong công việc Tư tưởng này cho rằng, hiệu quả của quản lý do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn tùy thuộc vào sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi các nhà tâm lý học trong thập niên 60, và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của con người, một yếu tố quan trọng trong quản lý Trường phái này có các tác giả sau:

- Mary Parker Follett (1863 - 1933): Là nhà nghiên cứu quản lý từ những năm

1920 Bà nhận nhấn mạnh đến hai khía cạch:

1) Quan tâm đến người lao động trong quá trình giải quyết vấn đề

2) Nhà quản lý phải năng động, không quá nguyên tắc cứng nhắc

Bà đưa ra 4 nguyên tắc về sự phối hợp:

1) Người chịu trách nhiệm ra quyết định phải có sự tiếp xuc trực tiếp;

2) Sự phối hợp luôn giữ vai trò quan trọng trong suốt giai đoạn đầu của kế hoạch và quá trình thực hiện kế hoạch

3) Sự phối hợp cần nhằm đến mọi yếu tố trong từng tình huống cụ thế;

4) Sự phối hợp phải được tiến hành liên tục

- Abraham Maslow (1908 - 1970):

Là nhà tâm lý học đã xây dựng một lý thuyết về nhu cầu của con người gồm 5 cấp bậc được xếp từ thấp lên cao theo thứ tự:

7

Trang 8

(1) Nhu cầu sinh tồn

(2) Nhu cầu an toàn

(3) Nhu cầu xã hội

(4) Nhu cầu được tôn trọng

(5) Nhu cầu sáng tạo

Nhà quản lý cần hiểu rõ nhu cầu của con người để có những phương pháp quản lý phù hợp nhằm tạo được động lực, phát huy hết khả năng của đối tượng quản lý - những thành viên trong tổ chức Làm cho tổ chức phát triển có hiệu quả đạt được những mục tiêu đã đề ra

- Douglas Mc Gregor (1906 - 1964):

Mc Gregor đã từng là giáo sư tâm lý học tại trường đại học Harvard và trường đại học kỹ thuật và làm cố vấn cho rất nhiều công ty nổi tiểng

- Elton W Mayor(1880 - 1949):

Ông cho rằng sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý của con người như muốn được người khác quan tâm, kính trọng, muốn có vai trò quan trọng trong sự nghiệp chung, muốn làm việc trong bầu không khí thân thiện giữa các đồng sự, v.v có ảnh hưởng lớn đến năng suất và thành quả lao động của con người

1.3.4 Thuyết quản lý hệ thống

Lý thuyết quản lý tiếp cận hệ thống đã ra đời từ đầu những năm 40 của thế kỷ XX, thế chiến thứ II đặt ra nhiều vấn đề mới cho việc quản lý Những tác giả tiêu biểu của trường phái này có thể kể đến Robert McNamara Kết quả từ những nghiên cứu này làm nảy sinh một lý thuyết nữa về quản lý ra đời Lý thuyết quản lý mới này được gọi bằng nhiều tên khác nhau: lý thuyết hệ thống, lý thuyết định lượng về quản lý,…

Hệ thống được hiểu là một tập hợp các phần tử (thành tố) có liên hệ qua lại với nhau

và phụ thuộc lẫn nhau Quan điểm hệ thống trong quản lý là quan điểm về cách tiếp cận một trong bốn trào lưu chủ yếu trong lý luận quản lý, giải quyết vấn đề bằng cách xem xét các vấn đề trong khuôn khổ của cái gọi là đầu vào (nhập lượng của hệ thống); quá trình biến đổi; đầu ra (xuất lượng) của hệ thống và mối liên hệ ngược

Đầu vào: Là nguồn lực vật chất, con người, tài chính và thông tin được đưa vào quá trình biến đổi và sẽ tạo thành đầu ra của hệ thống

Quá trình biến đổi: Là công nghệ hay quá trình biến đổi, chuyển hoá đầu vào để tạo thành đầu ra của hệ thống

Đầu ra: Là kết quả của quá trình biến đổi khi hệ thống đã tiếp nhận đầu vào

Liên hệ ngược: Là hình thức thông tin về thực trạng của hệ thống và kết quả hoạt động của hệ thống

Do sự bùng nổ của thông tin và cuộc cách mạng về thông tin, xã hội loài người có những bước chuyển biến mang tính cách mạng mạnh mẽ trên từng quốc gia và trên toàn cầu kéo theo nó là những thay đổi có tính cách mạng trong việc áp dụng những kỹ thuật công nghệ cao vào các quá trình lao động Cùng với những trào lưu này, quan điểm tiếp cận hệ thống đã áp dụng có hiệu quả thống kê và sự phát triển của mô hình toán kinh tế với sự trợ giúp của máy tính điện tử vào quá trình quản lý

8

Trang 9

Quan điểm cơ bản của tiếp cận hệ thống khác biệt rất xa so với quan điểm của hai nhóm lý thuyết trên Cả hai lý thuyết truyền thống và hành vi đều cho rằng hiệu quả trong quản lý tuỳ thuộc vào năng suất của người lao động, trong khi tiếp cận hệ thống lại cho rằng nó tuỳ thuộc vào sự đúng đắn trong các quyết định của nhà quản lý Trường phái này dựa trên suy đoán là tất cả các vấn đề đều có thể giải quyết được bằng các mô hình toán,

và nó có các đặc tính sau:

1 Nhấn mạnh phương pháp khoa học trong khi giải quyết các vấn đề quản lý

2 Áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để giải quyết các vấn đề

3 Sử dụng các mô hình toán học

4 Định lượng hóa các yếu tố có liên quan và áp dụng các phép tính toán học và xác suất thống kê

5 Chú ý các yếu tố kinh tế - kỹ thuật trong quản lý hơn là các yếu tố TL-XH

6 Sử dụng máy tính điện tử làm công cụ

7 Tìm kiếm các quyết định tối ưu trong hệ thống khép kín

- Thuyết Z (William Ouchi):

Thuyết Z là cách tiếp cận quản lý dựa trên sự kết hợp giữa triết lý quản lý của

người Mỹ và người Nhật Thuyết Z tạo ra nền văn hóa kinh doanh mới gọi là “nền văn hóa kiểu Z”, chỉ đạo lối ứng xử dựa trên sự gắn bó, lòng trung thành và tin cậy, được cụ

thể hóa qua những biểu tượng (logo), nghi lễ, quy tắc và cả những huyền thoại để truyền đến mọi thành viên các giá trị và niềm tin định hướng cho hành động

Đặc trưng của Thuyết Z được thể hiện:

- Duy trì và tạo việc làm suốt đời cho công nhân, xây dựng sự trung thành của thợ đối với chủ, trách nhiệm của cả hai bên với nhau

- Trong một tổ chức được coi như thành một gia đình, một cộng đồng sinh tồn có mối liên hệ khăng khít với nhau về tổ chức

- Không có sự áp đặt từ trên xuống trong một tổ chức mà khi thực hiện nhiệm vụ các nhân viên tự biết xử sự cho phù hợp với tình huống cụ thể Mọi người được tham gia vào quyết định chung

- Thuyết Z cho rằng việc ra quyết định tập thể hiệu quả cao hơn những quyết định

từ một cá nhân

1.3.5 Thuyết quản lý theo quá trình (Quản lý theo chức năng )

Những người theo trường phái này cho rằng, quản lý là một quá trình liên tục thực hiện các chức năng quản lý đó là kế hoạch (hoạch định), tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Các chức năng này được gọi là những chức năng chung của mọi nhà quản lý Bất

cứ trong lĩnh vực nào từ đơn giản đến phức tạp bản chất của quản lý là không thay đổi, đó

là việc thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý, thực chất đã dựa trên nền tảng tư tưởng của Henry Fayol vào những năm 1960 Từ khi được Koontz phát triển thì

lý thuyết quản lý quá trình này đã trở thành một lĩnh vực được chú ý nhất, và rất nhiều các nhà quản lý từ lý thuyết đến thực hành đều ưa chuộng Theo lý thuyết quá trình quản

lý là quá trình thực hiện các chức năng cơ bản:

a) Chức năng kế hoạch (planning).

9

Trang 10

Đây là chức năng cơ bản đầu tiên của quản lý, nó bao gồm xác định các mục tiêu và xây dựng các chương trình hành động, các bước đi cụ thể để thực hiện mục tiêu đó trong

khoảng thời gian nhất định của hệ thống quản lý

Xác định mục tiêu là khâu đầu tiên của chức năng kế hoạch, vì mục tiêu là đích cần đạt được mà mọi hoạt động của tổ chức phải hướng tới Các nhà quản lý có thể xác định một cách tốt nhất số lượng các mục tiêu xuất phát từ bản chất công việc của hệ thống Như vậy, mục đích của kế hoạch là hướng mọi hoạt động của tổ chức vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt mục tiêu có hiệu quả nhất và cho phép nhà quản lý kiểm soạt được quả trình thực hiện các nhiệm vụ

Thực hiện chức năng kế hoạch sẽ tạo ra tầm nhìn chiến lước cho các nhà quản lý, giúp họ lựa chọn những biện pháp đúng đắn phù hợp với nguồn lực của hệ thống sao cho hiệu quả nhất Chức năng kế hoạch cũng là căn cứ để hình thành và thực hiện các chức năng: tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

b) Chức năng tổ chức (organizing)

Chức năng tổ chức là xác định một cơ cấu, sắp xếp nguồn nhân lực theo những hình thức nhất định để thực hiện tốt mục tiêu đề ra.Cơ cấu nêu rõ về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong hệ thống với sự tham gia thực hiện của những người làm việc với nhau phải thực hiện vai trò và chức năng, nhiệm vụ đó Chức năng tổ chức đảm bảo cho sự thành công hay thất bại của hệ thống quản lý

- Tổ chức làm cho các chức năng khác thực hiện có hiệu quả

- Từ khối lượng công việc của hệ thống QL mà sắp xếp nhân lực hợp lý

- Tạo điều kiện cho hoạt động tự giác, sáng tạo của các thành viên trong tổ chức, tạo nên sự đoàn kết, phối hợp làm việc của mọi người trong hệ QL

- Tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm tra, đánh giá

Một tổ chức được coi là hiệu quả khi nó được áp dụng để thực hiện các mục tiêu của hệ thống QL với chi phí cho hoạt động của hệ thống là thấp nhất

c) Chức năng chỉ đạo (leading)

Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao Thực chất đó là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức thành những mục tiêu của từng cá nhân Do vậy chức năng chỉ đạo là

cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao trong mọi hoạt động Chỉ đạo không chỉ là giao việc cho cấp dưới mà cần có sự hướng dẫn, kích thích động viên và luôn theo dõi, giám sát, giúp đỡ để

có những uốn nắn, điều chỉnh kịp thời

Việc cần thiết trong quá trình chỉ đạo của người quản lý là tạo điều kiện thuận lợi về vật chất cũng như tinh thần nhằm giúp cho đối tượng quản lý phát huy hết khả năng chuyên môn, nghiệp vụ của mình

d) Chức năng kiểm tra (controlling)

Chức năng kiểm tra là quá trình đánh giá điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được tới mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra Chức năng này có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá

10

Ngày đăng: 17/12/2021, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Quản lý giáo dục là gì? Phân tích các đặc điểm cơ bản của quản lý giáo dục Khác
6. Lý thuyết quản lý khoa học, thuyết quản lý hành chính, thuyết hành vi, thuyết Z có những ưu và nhược điểm cơ bản nào? Khả năng ứng dụng các lý thuyết đó trong thực tiễn quản lý giáo dục ở trường đồng chí công tác(Thảo luận nhóm – Buổi 1) Khác
7. Phân tích nội dung cơ bản của thuyết quản lý hệ thống, thuyết quản lý theo quá trình và việc ứng dụng trong quản lý giáo dục (thảo luận nhóm) Khác
8. Phân tích một số mô hình hiện đại trong quản lý giáo dục. Nhà trường của đ/c thường áp dụng mô hình nào nào? (thảo luận nhóm) Khác
9. Xác định các điều kiện cơ bản để thực hiện việc quản lý dựa vào nhà trường.(thảo luận nhóm- Buổi 2) Khác
10.Phân tích mối quan hệ giữa quản lý chất lượng tổng thể và vấn đề kiểm định chất lượng giáo dục mầm non hoặc phổ thông hiện nay (Thảo luận nhóm – Buổi 3) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w