1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận các vùng văn hóa việt nam

38 80 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Vùng Văn Hóa Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Bình Dương
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận các vùng văn hóa việt nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG

KHOA: KINH TẾ NGÀNH VIỆT NAM HỌC

BÀI TIỂU LUẬN CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM

Bình Dương, ngày 10 tháng 07 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

Khái niệm văn hóa 6

Chương 2: KHÁI QUÁT TỈNH KON TUM 7

1 Điều kiện tự nhiên 7

1.1 Vị trí địa lý: 7

1.2 Địa hình: 7

1.3 Khí hậu: 8

1.4 Khoáng sản: 8

1.5 Tài nguyên đất: 9

1.6 Tài nguyên nước: 9

1.7 Rừng và tài nguyên rừng: 10

2 Lịch sử: 11

2.1 Tên gọi Kon Tum 11

2.2 Địa giới Kon Tum qua các thời kỳ lịch sử 12

3 Kinh tế 17

4 Du lịch 19

Chương 3: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TỈNH KON TUM 20

1 Nét đặc trưng văn hóa Kon Tum qua hình ảnh người dân 20

2 Nét đặc trưng Văn hóa Kon Tum thể hiện qua ẩm thực 22

3 Những lễ hội đặc sắc 26

Chương 4: ĐƯA DU LỊCH KON TUM TRỞ THÀNH NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN 34

Tài liệu tham khảo: 38

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

Khái niệm văn hóa

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo UNESCO: ‘Văn hóa làtổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giátrị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗidân tộc”1 Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộngđồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồngtrải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồngthời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc Tuynhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong hoạt độngquản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lạc: Quản lý vănhóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tácvăn học nghệ thuật Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý vănhóa ở cấp xã lại càng không phải chỉ có thế

Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loàingười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày vềmặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh

đó tức là văn hóa” Định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụthể và đầy đủ hơn Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều

“vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đótrải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tậpquán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần đượctích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bảnsắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhânloại

Ở một góc độ khác, người ta xem văn hóa như là một hệ thống các giá trị vậtchất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn quaquá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân Văn hóa làcủa con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người Văn hóađược con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từthế hệ này sang thế hệ khác

Trang 4

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT TỈNH KON TUM

1 Điều kiện tự nhiên

1.1 Vị trí địa lý:

Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyêntrong toạ độ địa lý từ 107020'15" đến 108032'30" kinh độ đông và từ 13055'10"đến 15027'15" vĩ độ bắc

Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.676,5 km2, chiếm 3,1% diện tích toàn quốc,phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía nam giáp tỉnhGia Lai (203 km), phía đông giáp Quảng Ngãi (74 km), phía tây giáp hai nướcLào và Campuchia (có chung đường biên giới dài 280,7 km)

1.2 Địa hình:

Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từbắc xuống nam và từ đông sang tây Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đa dạng:đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau Trong đó:

(1) Địa hình đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồinúi liền dải có độ dốc 150 trở lên Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biếnchất cổ nên có dạng khối như khối Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598m)

- nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng như sôngThu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Quảng Ngãi như sông Trà Khúc Địa hìnhnúi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sang phía đông tỉnhKon Tum Ngoài ra, Kon Tum còn có một số ngọn núi như: ngọn Bon San(1.939 m); ngọn Ngọc Kring (2.066 m) Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạothành các thung lũng hẹp, khe, suối Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở huyện SaThầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xen giữa vùngđồi là dãy núi Chưmomray

Trang 5

(2) Địa hình thung lũng: nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh, códạng lòng máng thấp dần về phía nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóngnhư Đăk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thànhphố Kon Tum Thung lũng Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài

về phía đông chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia

(3) Địa hình cao nguyên: tỉnh Kon Tum có cao nguyên Kon Plông nằm giữadãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.100 - 1.300 m, đây là cao nguyênnhỏ, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

1.3 Khí hậu:

Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nhiệt độ trungbình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ nhiệt độ dao độngtrong ngày 8 - 90C

Kon Tum có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11,mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Hàng năm, lượng mưa trung bìnhkhoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234

mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 Mùa khô, gió chủ yếu theo hướngđông bắc; mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng Tây Nam

Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87% Độ ẩm khôngkhí tháng cao nhất là tháng 8 - 9 (khoảng 90%), tháng thấp nhất là tháng 3(khoảng 66%)

1.4 Khoáng sản:

Kon Tum nằm trên khối nâng Kon Tum, vì vậy rất đa dạng về cấu trúc địa chất

và khoáng sản Trên địa bàn có 21 phân vị địa tầng và 19 phức hệ mắc ma đãđược các nhà địa chất nghiên cứu xác lập, hàng loạt các loại hình khoáng sản

Trang 6

như: sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, bán quý, kim loại phóng xạ,đất hiếm, nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng, đã được phát hiện.Nhiều vùng có triển vọng khoáng sản đang được điều tra thành lập bản đồ địachất tỷ lệ 1/50.000, cùng với những công trình nghiên cứu chuyên đề khác, sẽ

là cơ sở quan trọng trong công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địaphương Qua khảo sát của các cơ quan chuyên môn, hiện nay, Kon Tum đangchú trọng đến một số loại khoáng sản sau:

(1) Nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng: nhóm này rất đadạng, bao gồm: sét (gạch ngói), cát xây dựng, cuội sỏi, đá hoa, đá vôi, đágranít, puzơlan,

(2) Nhóm khoáng sản vật liệu cách âm, cách nhiệt và xử lý môi trường, baogồm diatomit, bentonit, chủ yếu tập trung ở thành phố Kon Tum

(3) Nhóm khoáng sản vật liệu chịu lửa: gồm có silimanit, dolomit, quazit tậptrung chủ yếu ở các huyện Đăk Glei, Đăk Hà, Ngọc Hồi

(4) Nhóm khoáng sản cháy: gồm có than bùn, tập trung chủ yếu ởthành phố Kon Tum, huyện Đăk Hà, huyện Đăk Tô

(5) Nhóm khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, kim loại hiếm: gồm cómăngan ở Đăk Hà; thiếc, molipden, vonfram, uran, thori, tập trung chủ yếu ởĐăk Tô, Đăk Glei, Ngọc Hồi, Konplong; bauxit tập trung chủ yếu ở KonPlông

(6) Nhóm khoáng sản đá quý: gồm có rubi, saphia, opalcalcedon tập trung ởĐăk Tô, Kon Plông

Trang 7

1.5 Tài nguyên đất: được chia thành 5 nhóm với 17 loại đất chính:

(1) Nhóm đất phù sa: gồm ba loại đất chính là đất phù sa được bồi, đất phù saloang lổ, đất phù sa ngoài suối

(2) Nhóm đất xám: gồm hai loại đất chính là đất xám trên mácma axít và đấtxám trên phù sa cổ

(3) Nhóm đất vàng: gồm 6 loại chính là đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏvàng trên mácma axít, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu đỏ trên đábazan phong hoá, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu tím trên đá bazan

(4) Nhóm đất mùn vàng trên núi: gồm 5 loại đất chính là đất mùn vàng nhạt cónơi Potzon hoá, đất mùn vàng nhạt trên đá sét và biến chất, đất mùn nâu đỏ trênmácma bazơ và trung tính, đất mùn vàng đỏ trên mácma axít

(5) Nhóm đất thung lũng: chỉ có một loại đất chính là đất thung lũng có sảnphẩm dốc tụ

1.6 Tài nguyên nước:

(1) Nguồn nước mặt: chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía bắc và đông bắccủa tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, baogồm:

- Sông Sê San: do 2 nhánh chính là Pô Kô và Đăkbla hợp thành Nhánh Pô Kôdài 121 km, bắt nguồn từ phía nam của khối núi Ngọc Linh, chảy theo hướng

Trang 8

bắc - nam Nhánh này được cung cấp từ suối ĐăkPsy dài 73 km, bắt nguồn phíanam núi Ngọc Linh từ các xã Ngọc Lây, Măng Ri, huyện Đăk Tô NhánhĐăkbla dài 144 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Krinh

- Các sông, suối khác: phía đông bắc tỉnh là đầu nguồn của sông Trà Khúc đổ

về Quảng Ngãi và phía bắc của tỉnh là đầu nguồn của 2 con sông Thu Bồn và

Vu Gia chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng Ngoài ra còn có sông Sa Thầy bắtnguồn từ đỉnh núi Ngọc Rinh Rua, chảy theo hướng bắc - nam, gần như songsong với biên giới Campuchia, đổ vào dòng Sê San

Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng, của nguồn nước mặt thuận lợi choviệc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi

(2) Nguồn nước ngầm: nguồn nước ngầm ở tỉnh Kon Tum có tiềm năng và trữlượng công nghiệp cấp C2: 100 nghìn m3/ngày, đặc biệt ở độ sâu 60 - 300 m cótrữ lượng tương đối lớn Ngoài ra, huyện Đăk Tô, Konplong còn có 9 điểm cónước khoáng nóng, có khả năng khai thác, sử dụng làm nước giải khát và chữabệnh

1.7 Rừng và tài nguyên rừng:

(1) Rừng: đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp của Kon Tum là 660.341 ha,chiếm 68,14% diện tích tự nhiên Kon Tum có các kiểu rừng chính sau:

- Rừng kín nhiệt đới hỗn hợp cây và lá rộng: đây là kiểu rừng điển hình củarừng tỉnh Kon Tum, phân bố chủ yếu trên độ cao 500 m, có ở hầu hết huyện,thị trong tỉnh

- Rừng lá ẩm nhiệt đới: có hầu hết trong tỉnh và thường phân bố ở ven sông

Trang 9

- Rừng kín á nhiệt đới: phân bố ở vùng núi cao

- Rừng thưa khô cây họ dầu (rừng khộp): phân bố chủ yếu ở huyện Ngọc Hồi,huyện Đăk Glei (dọc theo biên giới Việt Nam, Lào, Campuchia)

(2) Tài nguyên rừng:

- Thực vật: theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi,

4 họ; cây hạt kín có 305 loài, 175 chi, 71 họ; cây một lá mầm có 20 loài, 19 chi,

6 họ; cây 2 lá có mầm 285 loài, 156 chi, 65 họ Trong đó, các họ nhiều nhất là

họ đậu, họ dầu, họ long não, họ thầu dầu, họ trinh nữ, họ đào lộn hột, họ xoan

và họ trám Nhìn chung, thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng, thể hiện nhiều loạirừng khác nhau trong nền cảnh chung của đới rừng nhiệt đới gió mùa, có 3 đaicao, thấp khác nhau: 600 m trở xuống, 600 - 1.600 m và trên 1.600 m Hiệnnay, nổi trội nhất vẫn là rừng rậm, trong rừng rậm có quần hợp chủ đạo làthông hai lá, dẻ, re, pơmu, đỗ quyên, chua, ở độ cao 1.500 - 1.800 m chủ yếu

là thông ba lá, chua, dẻ, re, kháo, chẹc, Nhắc đến nguồn lợi rừng ở Kon Tumphải kể đến vùng núi Ngọc Linh với những cây dược liệu quý như sâm NgọcLinh, đẳng sâm, hà thủ ô và quế Trong những năm gần đây, diện tích rừng củaKon Tum bị thu hẹp do chiến tranh, khai thác gỗ lậu và các sản phẩm khác củarừng Nhưng nhìn chung, Kon Tum vẫn là tỉnh có nhiều rừng gỗ quý và có giátrị kinh tế cao

- Động vật: rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có

165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim; thú có 88 loài, 26 họ, 10 bộ,chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên Đáng chú ý nhất là động vật ăn cỏ như: voi,bò rừng, bò tót, trâu rừng, nai, hoẵng, Trong đó, voi có nhiều ở vùng tây namKon Tum (huyện Sa Thầy) Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa họcBosgaurus thường xuất hiện ở các khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đăk Tô;bò Đen Teng tên khoa học Bosjavanicus Trong những năm gần đây, ở SaThầy, Đăk Tô, Kon Plông đã xuất hiện hổ, đây là dấu hiệu đáng mừng về sự

Trang 10

tồn tại của loài thú quý này Ngoài ra, rừng Kon Tum còn có gấu chó, gấungựa, chó sói

Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệnhư công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn Trong điều kiện rừng bị xâm hại,việc săn bắt trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnh hưởngđến sự sinh tồn của các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm.Tỉnh Kon Tum đã quy hoạch xây dựng các khu rừng nguyên sinh và đưa vàoxếp hạng quốc gia để có kế hoạch khai thác, nghiên cứu và bảo vệ, đồng thờiđẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ động, thựcvật nói riêng, môi trường sinh thái nói chung

2 Lịch sử:

2.1 Tên gọi Kon Tum

Theo truyền thuyết của dân tộc Bana, Kon Tum ban đầu chỉ là một làng củangười Bana Thuở ấy, vùng đồng bào dân tộc Bana (nay thuộc thành phố KonTum) có làng người địa phương ở gần bên dòng sông Đăkbla với tên gọi KonTrang - OR Lúc ấy, làng Kon Trang - OR rất thịnh vượng với dân số khá đông.Bấy giờ, giữa các làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắtngười về làm nô lệ Hai con trai của Ja Xi - một trong số những người đứngđầu làng Kon Trang - OR tên là Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh

đã làm nhà ở riêng gần chỗ có hồ nước, cạnh dòng Đăkbla Vùng đất này rấtthuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở,mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum

Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập của ngườiBana, cạnh dòng Đăkbla, nơi có nhiều hồ nước trũng Theo tiếng Kinh, KonTum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước, …)

Do vị trí đặc biệt, Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng Đăkbla uốn quanh bồiđắp phù sa màu mỡ Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùngđất này có nhiều biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây ngày một đông.Người Kinh khi đến Tây Nguyên cũng chọn vùng đất Kon Tum làm nơi định

cư Từ đó, Kon Tum trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc

Trang 11

Phát huy những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động của conngười, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ mộtlàng mà nhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn Vùng đất này khi thànhlập thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum Khi đơn vị hành chínhcấp tỉnh được thành lập, Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi củatỉnh Đây là vùng địa lý hành chính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên.

2.2 Địa giới Kon Tum qua các thời kỳ lịch sử

Kon Tum thuở xưa còn rất hoang vắng, người thưa, đất rộng Các dân tộc bảnđịa gồm Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Jẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm Mỗi dân tộc gắnvới một vùng cư trú khác nhau Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyềncủa các dân tộc ở tỉnh Kon Tum là tổ chức xã hội duy nhất chỉ có làng Làngđược xem như đơn vị hành chính mang tính bao quát và cụ thể, chi phối mọihoạt động trong đời sống xã hội Mỗi làng mang tính độc lập riêng biệt, do mộtchủ làng là người có uy tín nhất trong làng đứng đầu

Trong giai đoạn khởi nghĩa Tây Sơn (1771 - 1786), ba anh em Nguyễn Nhạc,Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã xây dựng mối quan hệ đoàn kết với các dân tộcvùng này

Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình Huế lập Bok Seam - một ngườiBana làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, đồng thời cho phép người Kinh

và người các dân tộc được phép tự do quan hệ mua bán, trao đổi Từ đây,những lái buôn người Kinh bắt đầu đến với Tây Nguyên để mua bán, trao đổihàng hóa

Trong thời gian này, người Pháp cũng tìm đường đến Kon Tum để truyền đạo.Trong giai đoạn 1841 - 1850, thực dân Pháp đã đặt được cơ sở Thiên chúa giáođầu tiên ở Kon Tum

Trang 12

Năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược Kon Tum - Tây Nguyên.Bằng những thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ các dân tộc trong vùng, thực dânPháp đã thôn tính Kon Tum và Tây Nguyên.

Năm 1892, thực dân Pháp đặt tại Kon Tum một tòa đại lý hành chính đầu tiên

do một cố đạo người Pháp là Vialleton, còn gọi là cha Truyền cai quản

Ngày 4-7-1904, thực dân Pháp thành lập tỉnh Plei Ku Der, bao gồm hai tòa đại

lý hành chính: một tòa ở Kon Tum (trước đó thuộc tỉnh Bình Định) và một tòa

ở Cheo Reo (trước đó thuộc tỉnh Phú Yên)

Ngày 25-4-1907, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ tỉnh Plei Ku Der Toàn bộđất đai của tỉnh Plei Ku Der gồm hai tòa đại lý hành chính Kon Tum và CheoReo được sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và Phú Yên như trước đó

Ngày 9-2-1913, thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Kon Tum, bao gồmđại lý hành chính Kon Tum tách ra từ Bình Định, đại lý hành chính Cheo Reotách ra từ Phú Yên, đại lý hành chính Buôn Ma Thuột (Buôn Ma Thuột trước

đó là một tỉnh riêng, nhưng đến năm 1913 giảm từ tỉnh xuống thành đại lý hànhchính, sáp nhập vào tỉnh Kon Tum)

Năm 1917, thực dân Pháp thành lập tòa đại lý hành chính An Khê, gồm huyệnTân An và khu vực người dân tộc thiểu số đặt dưới quyền cai trị của công sứtỉnh Kon Tum

Ngày 2-7-1923, đại lý Buôn Ma Thuột được tách khỏi tỉnh Kon Tum để thànhlập tỉnh Đắk Lắk

Trang 13

Ngày 3-12-1929, thành lập thành phố Kon Tum (thực tế lúc đó chỉ là thị trấn,gồm tổng Tân Hương và một số làng dân tộc thiểu số phụ cận).

Ngày 25-5-1932, tách đại lý Pleiku ra khỏi tỉnh Kon Tum, thành lập tỉnh Pleiku(nay thuộc tỉnh Gia Lai) Đến ngày 9-8-1943, đại lý hành chính An Khê đượctách khỏi tỉnh Kon Tum, sáp nhập vào tỉnh Pleiku Tỉnh Kon Tum lúc bấy giờchỉ còn lại tổng Tân Hương và toàn bộ đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Tổng Tân Hương là tên gọi tiền thân của thành phố Kon Tum hiện nay TổngTân Hương là nơi hội tụ của các làng người Kinh lên lập nghiệp tại Kon Tum.Theo thứ tự, các làng của tổng Tân Hương được thành lập theo thời gian và têngọi như sau: Tân Hương (năm 1874); Phương Nghĩa (năm 1882); Phương Quý(năm 1887); Phương Hòa (năm 1892); Trung Lương (năm 1914); Phụng Sơn(năm 1924); Ngô Thạnh (năm 1925); Ngô Trang (năm 1925); Phước Cần (năm1927); Lương Khế (năm 1927)

Ngày 3-2-1929, theo nghị định của Khâm sứ Trung Kỳ, tổng Tân Hương đượclập thành thị trấn Kon Tum, từ đó thị trấn Kon Tum trở thành trung tâm chínhtrị - kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum Theo thời gian, mảnh đất nơi đây khôngngừng được mở rộng và phát triển Ngoài các làng của người Kinh lập nên, vềsau có thêm nhiều làng của người dân tộc thiểu số vùng ven như các làng KonRbàng, KonM'nai, ChưHreng, cũng nằm trong phạm vi quản lý hành chính củathị trấn Kon Tum

Tháng 8-1945, cùng với cả nước, ngày 25-8-1945, nhân dân Kon Tum đã nổidậy giành chính quyền Chính quyền cách mạng tổ chức lại tỉnh Kon Tumthành 4 đơn vị hành chính gồm các huyện Đăk Glei, Đăk Tô, Konplong vàthành phố Kon Tum Chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Kon Tum đượcthành lập đóng trụ sở tại thành phố Kon Tum để lãnh đạo nhân dân bắt tay vàoxây dựng cuộc sống mới

Trang 14

Ngày 26-6-1946, thực dân Pháp tấn công và chiếm lại Kon Tum, thiết lập trởlại bộ máy cai trị vùng này So với trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bộmáy thống trị và chính sách cai trị của Pháp từ tỉnh tới làng không mấy thayđổi Đứng đầu bộ máy hành chính cấp tỉnh là một công sứ người Pháp, bêndưới có các huyện thường do tên đồn trưởng người Pháp nắm giữ rồi đến làng.Thực dân Pháp đã tập hợp bọn tay sai người địa phương, đặc biệt là dụ dỗ, muachuộc, lôi kéo các chủ làng để nắm giữ bộ máy quyền lực ở cơ sở.

Về phía cách mạng, sau khi thực dân Pháp tái chiếm Kon Tum, chính quyềncách mạng lâm thời tan rã, tổ chức Đảng bị phân tán, thất lạc Trong thời giannày, tỉnh Kon Tum chịu sự quản lý chỉ đạo về hành chính của xứ ủy Trung Kỳ

và Phân ban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ

Tháng 1-1947, thành lập Phân khu 15, trong đó nòng cốt là tỉnh Kon Tum vàcác huyện miền Tây của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi Trên thực tế, tổchức hành chính của Kon Tum vẫn giữ nguyên, nhưng chịu sự quản lý và chiphối của Phân khu 15 về hoạt động quân sự Tháng 8-1947, Khu 15 TâyNguyên được thành lập, tỉnh Kon Tum là một trong những đơn vị hành chínhtrực thuộc Khu 15 Tháng 3-1950, theo chủ trương của Liên Khu ủy V, tỉnhKon Tum và tỉnh Gia Lai được sáp nhập thành tỉnh Gia - Kon Ban cán sự Gia -Kon ra quyết định thành lập 7 khu (huyện) Địa bàn tỉnh Kon Tum tổ chứcthành 3 khu: khu 1 (Đăk Glei); khu 2 (Đăk Tô); khu 3 (Konplong)

Tháng 10-1951, theo quyết định của Liên Khu uỷ V, tỉnh Kon Tum và cáchuyện phía tây Quảng Ngãi hợp nhất thành Mặt trận miền Tây

Tháng 2-1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên được hoàntoàn giải phóng Một thời gian sau, Mặt trận miền Tây cũng được giải thể.Theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ ký ngày 20-7-1954, tỉnh Kon Tum bước vàothời kỳ lịch sử mới

Trang 15

Về phía địch, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ - ngụy tiếp quảnKon Tum Năm 1958, chúng chia bộ máy hành chính tỉnh Kon Tum thành tòahành chính Kon Tum - bộ máy hành chính cấp tỉnh, bên dưới gồm các quậnKon Tum, Đăk Tô, Konplong và Đăk Sút.

Năm 1958, nguỵ quyền thành lập quận Toumơrông Năm 1959, nguỵ quyềnthành lập thêm quận Chương Nghĩa Năm 1960, quận Konplong bị xóa bỏ Nhưvậy, thực tế quận Toumơrông và quận Chương Nghĩa chiếm gần trọn diện tíchcủa quận Konplong trước đó Một phần đất còn lại của quận Konplong khôngthuộc phạm vi của hai quận mới này được sáp nhập về quận Kon Tum

Năm 1961, quận Chương Nghĩa bao gồm phần đất phía đông sông Đăk Nghé,giáp với Ba Tơ (Quảng Ngãi) được cắt về tỉnh Quảng Ngãi Tỉnh Kon Tum cònlại 4 đơn vị hành chính cấp quận: Kon Tum, Đăk Tô, Đăk Sút, Toumơrông

Sau năm 1965, phân cấp hành chính của Nguỵ quyền Sài Gòn tại Kon Tum có

sự thay đổi Đối với khu vực thị xã, thị trấn đông dân, chúng vẫn giữ nguyêncấp quận; những nơi xa xôi, ít dân cư hơn, chúng giảm quận đặt thành pháiviên hành chính

Năm 1970, bộ máy hành chính của địch ngoài tòa hành chính và các ty, sở ởtỉnh, bên dưới có các cấp sau: quận Kon Tum, quận Đăk Tô, phái viên hànhchính Đăk Sút, phái viên hành chính Măng Buk, phái viên hành chính ChươngNghĩa (quận Chương Nghĩa chuyển về Quảng Ngãi một thời gian sau đó đượcnhập trở lại tỉnh Kon Tum)

Năm 1972, nguỵ quyền cải danh chi khu Đăk Pét thành quận Đăk Sút để mởrộng chức năng về hành chính

Sau chiến dịch xuân - hè năm 1972, quân cách mạng giải phóng Đăk Tô - TânCảnh và đại bộ phận các vùng nông thôn, vùng kiểm soát của địch bị thu hẹp

Trang 16

đáng kể; quận lỵ Đăk Tô của địch phải lưu vong về đèo Sao Mai (đông namthành phố Kon Tum); các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk bị cô lậpgiữa vùng giải phóng của ta Địch chỉ còn co cụm phần lớn tại khu vực thànhphố Kon Tum.

Năm 1974, quân ta tấn công tiêu diệt hoàn toàn các chi khu Đăk Pét, MăngĐen, Măng Buk Tận dụng thời cơ thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, ngày 17-3-

1975, quân và dân trong tỉnh đã nổi dậy tấn công vào đầu não của địch ở nộithị, giải phóng thành phố và toàn tỉnh Kon Tum

Về phía ta, đầu năm 1955, toàn tỉnh đuợc chia thành 6 khu nông thôn (tươngđương huyện) và một thành phố

Khu 1: lúc đầu là vùng đông và bắc thành phố Kon Tum, từ bờ sông Pô Kô(phía tây) đến bờ sông Đăk Nghé (phía đông)

Khu 2: bao gồm toàn huyện Konplong ngày nay

Khu 3: gồm một số vùng thuộc huyện Đăk Glei và một số vùng của Đăk Tô(nay thuộc huyện Đăk Hà) giáp với khu 6 và giáp với huyện Konplong ngàynay

Khu 4: vùng tây huyện Đăk Glei từ giáp Quảng Nam đến Đăk Nây Pui, phíatây giáp biên giới Lào

Khu 5: được hình thành và giải thể trước khi có hiệp định Giơnevơ nên khôngcòn Một phần khu 5 nhập vào khu 4, phần còn lại nhập vào khu 6

Trang 17

Khu 6: từ Vơmơna, phía đông giáp Măng Buk đến vùng Kayong giáp biên giớiLào, phía bắc giáp vùng Đăk Hà, phía nam đến Konplong.

Khu 7: thuộc huyện Sa Thầy ngày nay

Cuối năm 1956, đầu năm 1957, các khu vực được sắp xếp lại và chuyển đổithành huyện: cắt một phần khu 3 giáp khu 6 thành khu 8; cắt một phần namkhu 2 thành khu 9; giải thể khu 6 Hình thành nên các huyện: khu 1 và mộtphần khu 6 sáp nhập thành huyện H16; khu 2 và khu 9 sáp nhập thành huyệnH29; khu 3 chuyển thành huyện H30; khu 8 và một phần khu 6 sáp nhập thànhhuyện H80; khu 4 thành huyện H40; khu 7 và một phần khu 6 sáp nhập thànhhuyện H67

Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, các huyện trong tỉnh Kon Tumđều được gọi theo tên mật danh như: H16, H29, H30, H40, H67, H80 Riêngthành phố Kon Tum lúc đó mang mật danh là H5 Vùng KonHring (nay thuộchuyện Đăk Hà) mang mật danh H9

Ứng với mỗi mật danh có tên gọi cụ thể là: H16 (Konpraih); H29 (Konplong);H80 (Đăk Tô); H5 (thành phố Kon Tum); H30 (phía đông Đăk Glei); H40(phía tây Đăk Glei); H67 (Sa Thầy); H9 (Kon Hring)

Sau khi tỉnh Kon Tum được giải phóng (17-3-1975), toàn tỉnh có thànhphố Kon Tum và 6 huyện là H30, H40, H16, H29, H80, H67

Tháng 101975, tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai Kon Tum, trên địa bàn tỉnh có các huyện: huyện Konplong (H16 + H29), huyệnĐăk Glei (H30 + H40), thành phố Kon Tum (H5 + H9), huyện Đăk Tô (H80).Năm 1979, thành lập huyện Sa Thầy trên cơ sở phần đất của H67 cũ

Trang 18

Tháng 101991, tỉnh Kon Tum được tái lập trên cơ sở chia tách tỉnh Gia Lai Kon Tum Theo đó, một số huyện mới được thành lập như Ngọc Hồi (năm1992); Đăk Hà (năm 1994), huyện Kon Rẫy (năm 2002), huyện Tu Mơ Rông(năm 2005).

-Đến năm 2015, tỉnh Kon Tum có 01 thành phố và 9 huyện Trong đó, thànhphố Kon Tum là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh

3 Kinh tế

Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tác quốc

tế về phía Tây Kon Tum có đường Quốc lộ 14 nối với các tỉnh TâyNguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Atôpư (Lào)

Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, cơ cấu kinh tế chuyển đổi cơ bản tiến

bộ, công nghiệp xây dựng đạt 32%, nông, lâm nghiệp 25%, dịch vụ 43%, GDPbình quân đầu người đạt 507 USD, nhu cầu vốn đầu tư cả thời kỳ 476,6 triệuUSD Tình hình xuất nhập khẩu đến năm 2010 đạt 70 triệu USD Đồng thờinăm 2010 có 50.000 lượt khách du lịch, trong đó có 10.000 khách nước ngoài.Năm 2012, năm thứ hai triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnhKon Tum lần thứ XIV Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,77% so với cả nước.Trong đó, các ngành nông - lâm - thủy sản tăng 7,3%, ngành công nghiệp - xâydựng tăng 17,49%, ngành dịch vụ tăng 18,34% và chỉ số giá tiêu dùng tăng9,88% Thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.632,2 tỷ đồng, vượt 0,5% so với kếhoạch Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 38,2%, đồng thời giải quyết việc làm chokhoảng 6.200 lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5% Thunhập bình quân đầu người đạt 22,12 triệu đồng, và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn22,77%

Ước tính đến cuối năm 2012, toàn tỉnh có 13.794 hợp tác xã, tăng 504 so vớinăm 2011 Danh thu bình quân của Hợp tác xã năm 2012 ước đạt 1,74 tỷ đồng/HTX/Năm, Lợi nhuận bình quân của hợp tác xã đạt 370,87 triệuđồng/HTX/Năm Thu nhập bình quân của các xã viên hợp tác xã ước đạt 18,26triệu đồng/xã viên/năm Thu nhập của lao động thường xuyên trong các hợp tác

xã, Liên hiệp hợp tác xã ước đạt 17,83 triệu đồng/lao động/năm

Tỉnh Kon Tum đã thực hiện đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn vàsản phẩm chủ lực của tỉnh như Sâm Ngọc Linh, rau hoa xứ lạnh, nuôi cá tầm,

cá hồi gắn với tìm kiếm thị trường tiêu thụ Tỉnh phấn đấu trong năm 2013,

Trang 19

thu ngân sách nhà nước tại địa bàn đạt trên 1.830 tỷ đồng và kim ngạch xuấtkhẩu đạt trên 100 triệu USD

Giáo dục

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Kon Tum

có 259 trường học ở cấp phổ trong đó có Trung học phổ thông có 14trường, Trung học cơ sở có 94 trường, Tiểu học có 131 trường, trung học có 10trường, có 10 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 108 trường mẫugiáo Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh KonTum cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địabàn tỉnh

Dân cư

Theo kết quả điều tra ngày 1 tháng 4 năm 1999, tỉnh Kon Tum có 316.600người Toàn tỉnh có 25 dân tộc, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh có 145.681người chiếm 46,36% Các dân tộc thiểu số gồm dân tộc Xơ Ðăng có 78.741người, chiếm 25,05% dân tộc Ba Na có 37.519 người, chiếm 11,94% dân tộcGiẻ- Triêng có 25.463 người, chiếm 8,1% dân tộc Gia Rai có 15.887 người,chiếm 5,05% các dân tộc khác chiếm 3,5 %

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số toàn tỉnh Kon Tum đạt 540.438người, mật độ dân số đạt 55 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạtgần 172.712 người, chiếm 32% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt367.726 người, chiếm 68% dân số Dân số nam đạt 271.619 người, trong khi đó

nữ đạt 268.819 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng2,28% Đây cũng là tỉnh ít dân nhất vùng Tây Nguyên với hơn 540.000 dân.Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng

4 năm 2009, toàn tỉnh Kon Tum có 42 dân tộc cùng người nước ngoài sinh

Ngày đăng: 17/12/2021, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w