1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn Cơ sở Văn hóa Việt Nam

21 500 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di sản văn hóa phi vật thể phải đại diện cho bản sắc của dân tộc.Di sản đó cần thểhiện được những nét đẹp về văn hóa, lối sống, cách sống của cộng đồng.Đó lànhững nét đẹp nổi bật, riêng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Trang bìa

Trang lót bìa

Mục lục 0

CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Ý nghĩa của đề tài 1

4 Đối tượng nghiên cứu 1

CHƯƠNG II NỘI DUNG 2

I Các khái niệm chung 3

II Di sản văn hoá phi vật thể 5

III Tổ chức công nhận di sản văn hoá phi vật thể, thời gian xuất hiện, các điều kiện công nhận 6

IV Các di sản văn hoá phi vật thể được công nhận 7

V Công tác bảo tồn, duy trì và phát triển phi vật thể như thế nào ở Việt Nam hiện nay 13

CHƯƠNG III KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

CHƯƠNG I MỞ DẦU

1 Lý do chọn đề tài

Di sản văn hóa Việt Nam mang “tính dân gian” rất rõ rệt và “tính dân gian”trong di sản văn hóa phi vật thể lại càng đậm đặc hơn Văn hóa dân gian cho takhả năng khai thác kho tàng tri thức bản địa hay “túi khôn dân gian” Mục tiêunghiên cứu Mang dấu ấn tác động của môi trường tự nhiên rất rõ nét, dấu ấn củacộng đồng – chủ thể sáng tạo và có tính địa phương, vùng miền Đặc trưng nàychính là yếu tố làm nên sự đa sắc trong di sản văn hóa của một quốc gia, dân tộc

Di sản văn hóa phi vật thể phải đại diện cho bản sắc của dân tộc.Di sản đó cần thểhiện được những nét đẹp về văn hóa, lối sống, cách sống của cộng đồng.Đó lànhững nét đẹp nổi bật, riêng biệt mà khó có thể tìm thấy ở cộng đồng khác

Di sản văn hóa phi vật thể là một trong những linh hồn văn hóa của mỗi cộngđồng Điều này chính là nguyên nhân để bản thân tôi chọn đề tài này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trình bày những nội dung cơ bản và những đặc điểm quá trình diễn biến của

di sản văn hóa phi vật thể, để phân tích thuyết phục nó là đặt trưng biểu tượng củavăn hóa Việt Nam

3 Ý nghĩa của đề tài

Hệ thống kiến thức một cách căn bản, lưu giữ và truyền bá giá trị di sản vănhóa dân tộc qua đó phân tích thuyết phục nó là đặc trưng của biểu tượng văn hóaViệt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu

- Những đặc trưng của Di sản văn hoá Việt Nam.

- Cách thức hiệu quả tác động đến quá trình bảo tồn và phát huy di sản vănhóa phi vật thể ở Việt Nam hiện nay

Trang 3

CHƯƠNG II NỘI DUNG

I Các khái niệm chung:

1 Nghi lễ:

Nghi lễ là bộ quy tắc ứng xử mô tả kỳ vọng về ứng xử xã hội theo thông lệđương thời trong một xã hội, tầng lớp hoặc nhóm xã hội hoặc nhóm

Nho giáo rất xem trọng Lễ nghi vì nó là biểu hiện của một xã hội văn minh và

có trật tự Lễ là những quy tắc mang tính hình thức được xã hội thừa nhận để bày

tỏ sự tôn trọng Việc giữ Lễ là một cách tu thân và chứng tỏ con người biết tuânthủ những nguyên tắc đạo đức Lễ nghi tạo ra một xã hội hài hòa

Một xã hội không biết giữ Lễ là xã hội hỗn loạn, kém văn minh và suy đồi Lễgiáo phai nhạt cũng là biểu hiện các mối quan hệ giữa con người trong xã hội đãxấu đi, trật tự xã hội đã suy yếu

Có thể ví dụ một số phong tục thường nghe như: phong tục cưới hỏi, phong tục

ma chay, đặc biệt là việc xây dựng nhà cửa, xây mộ phần cho người thân,

Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chỉmột dòng họ, gia tộc Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thànhnhiều loại Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phongtục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão Hệ thống phong tục

Trang 4

liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thốngphong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người

3 Tập quán:

Tập quán được hiểu là lối sống của một tập thể, tổ chức hoặc quần thể sinh vậtlớn được hình thành như một thói quen trong đời sống, sản xuất, sinh hoạt đượccông nhận và coi như một quy ước chung của tất cả mọi cá nhân sống trong tổchức, quần thể đó

Một ví dụ điển hình đó là tập quán di trú của các loài chim, tập quán ngủ đôngcủa loài gấu khi mùa đông về Hoặc là ở một số dân tộc có tập quán di canh di cư

để tìm vùng đất mới thích hợp hơn cho việc chăn thả gia súc

Phong tục tập quán là toàn bộ thói quen thuộc về đời sống của con ngườiđược công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và coi đó như một nếp sống truyền từthế hệ này sang thế hệ khác, tùy theo mỗi địa phương và tín ngưỡng khác nhau,phong tục tập quán ở mỗi quần thể sẽ có những sự khác biệt với nhau

Có thể coi những phong tục tập quán này là nét đặc trưng của mỗi dân tộc trênthế giới và cần được duy trì bảo tồn Tuy rằng lối sống hiện đại đã và đang xóanhòa ranh giới giữa mỗi đất nước với nhau thế nhưng cho đến ngày nay, đa phầncác dân tộc vẫn giữ được phong tục tập quán, bản sắc của dân tộc mình

4 Di sản văn hoá vật thể:

Văn hoá vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện đời sống tinhthần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biếnnhững vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng vàthẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đếnchất lượng và đặc điểm của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiếnnhững vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con người biến thànhnhững sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người Trong văn hoá vậtthể, người ta sử dụng nhiều kiểu phương diện: tài nguyên năng lượng, dụng cụ lao

Trang 5

động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng sinh sống của con người, phương tiện giaothông, truyền thông, nhà cửa, công trình xây dựng phục vụ nhu cầu ăn ở, làm việc

và giải trí, các phương diện tiêu khiển, tiêu dùng, mối quan hệ kinh tế Tóm lại,mọi loại giá trị vật chất đều là kết quả lao động của con người

5 Di sản văn hoá phi vật thể:

Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện,biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật và không gianvăn hóa có liên quan mà cả cộng đồng và các nhóm và trong một số trường hợp là

cá nhân công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệnày sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng, các nhóm khôngngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồngvới tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và

sự kế tục, qua đó liên hệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và nhữngsáng tạo của con người

II Di sản văn hoá phi vật thể:

1 Định nghĩa:

Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia là những di sản văn hoá phi vật thể mangtính tiêu biểu cho quốc gia Tại Việt Nam, những di sản này được các địa phươngkiểm kê, phân loại và đề xuất Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận

2 Tiêu chí lựa chọn:

- Có tính đại diện, thể hiện tính bản sắc của cộng đồng, địa phương

- Phản ánh sự đa dạng văn hoá và sự sáng tạo của con người, được kế tục quanhiều thế hệ

- Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài

- Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ

3 Loại hình:

- Tiếng nói, chữ viết

- Ngữ văn dân gian

Trang 6

- Nghệ thuật trình diễn dân gian

- Tập quán xã hội và tín ngưỡng

di sản chung của các tỉnh Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai và Yên Bái, lần lượt cácnăm sau đó lại được công nhận là di sản riêng của tỉnh Tuyên Quang (năm 2013),tỉnh Thái Nguyên(năm 2014) và tỉnh Sơn La (năm 2016)

III Tổ chức công nhận di sản văn hoá phi vật thể, thời gian xuất hiện, các

điều kiện công nhận.

Tổ chức công nhận là UNESCO hay còn gọi là Tổ chức giáo dục, Khoa học vàVăn hoá của Liên hiệp quốc

Đây là tổ chức được thành lập ngày 16 tháng 11 năm 1945 với việc ký kếtCông ước thành lập của UNESCO Ngày 4 tháng 11 năm 1946, Công ước này

Trang 7

được chính thức có hiệu lực với 20 quốc gia công nhận: Úc, Brasil, Canada, TrungQuốc, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Cộng hoà Dominica, Ai Cập, Pháp, Hy Lạp, Ấn Độ,

Li Băng, Mexico, New Zealand, các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất, NamPhi, Thổ Nhĩ Kì, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ

UNESCO có 3 chức năng hoạt động chính phục vụ cho mục đích của tổ chức,bao gồm:

- Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc thông quanhững phương tiện thông tin rộng rãi; khuyến nghị những hiệp định quốc tế cầnthiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng và ngôn ngữ bằng hình ảnh

- Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hoá bằngcách:

 Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt độnggiáo dục theo yêu cầu của từng nước;

 Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bìnhđẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ hoặc bất cứ

sự khác biệt nào khác về kinh tế hay xã hội;

 Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để luyện tập thiếu nhitoàn thế giới về trách nhiệm của con người tự do;

- Duy trì, tăng cường và truyền bá kiến thức bằng cách:

 Bảo tồn và bảo vệ di sản cho thế giới cho sách báo, tác phẩm nghệthuật hay các công trình lịch sử cho khoa học, khuyến nghị với các nước hữu quan

về các Công ước quốc tế cần thiết;

 Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt độngtrí óc, trao đổi quốc tế những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, khoahọc và văn hoá kể cả trao đổi sách báo, tác phẩm nghệ thuật, dụng cụ thí nghiệm

và mọi tư liệu có ích;

 Tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc tiếp xúc với các xuất bảnphẩm của mỗi nước thông qua các phương pháp hợp tác quốc tế thích hợp

Trang 8

 Thời điểm xuất hiện và điều kiện được công nhận:

Di sản văn hoá vật thể hay còn gọi rộng hơn là: Di sản thế giới là di chỉ hay ditích của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, toà nhà, quần thể kiến trúchay thành phố do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới đề cử choChương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lí của UNESCO.Sau đó Chương trình quốc tế Di sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảotồn những vị trí nổi bật về văn hoá hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loạichung Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền

từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó Chương trình này được thànhlập bởi Công ước về bảo về Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Côngước di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11năm 1972

Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại hay Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thểnhân loại là danh sách được UNESCO đưa ra để công nhận giá trị của các di sảnvăn hoá phi vật thể trên thế giới Danh sách này được bắt đầu năm 2001 với 19 disản, năm 2003 có thêm 28 di sản Danh sách tiếp theo được lập vào ngày 25 tháng

11 năm 2005

Mỗi di sản văn hoá phi vật thể muốn có tên trong danh sách phải được mộthoặc nhiều quốc gia đề cử cho UNESCO trước khi được một uỷ ban của tổ chứcnày xem xét khả năng đưa vào danh sách

IV Các di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận:

1 Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của

Việt Nam được thế giới công nhận Trong phần nhận định về nhã nhạc, Hội đồng

Trang 9

UNESCO đánh giá Nhã nhạc Việ Nam mang ý nghĩa “âm nhạc tao nhã” Nhã nhạc

đã đề cập đến âm nhạc nghệ đình Việt Nam được trình diễn tại các lễ thường niênbao gồm các lễ kỷ niệm và những ngày lễ giáo cũng như các sự kiện đặt biệt như lễđăng quang, lễ tang hay những dịp đón tiếp khách khứa Năm 2003, nhã nhạc cungđình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể vàtruyền khẩu của nhân loại

2 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải dài trên năm tỉnh

Tây Nguyên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Chủ thể củakhông gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau như Êđê, Bana, Mạ… Vănhóa cồng chiêng là loại hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của các dân tộcthiểu số sống dọc Trường Sơn-Tây Nguyên Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụngcồng chiêng theo các hình thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộcmình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà mới… Trải qua baonăm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và

hấp dẫn của vùng đất Tây Ng yên Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêngTây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể vàtruyền khẩu của nhân loại

Trang 10

3 Quan họ là một trong những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc

Bộ, Việt Nam; tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang) Nghệthuật dân ca Quan họ được coi là đỉnh cao của nghệ thuật hiện nay Đến nay, BắcNinh còn gần 30 làng Quan họ, với hơn 300 làn điệu dân ca quan họ Hội đồngchuyên môn của UNESNO đánh giá cao giá trị văn hóa đặc biệt, tập quán xã hội,nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và

cả trang phục của loại hình nghệ thuật này Năm 2009, UNESCO công nhận Quan

họ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

4 Ca trù hay Hát ca trù (hay hát “ả đào”, hát “cô đầu”) là bộ môn

nghệ thuật truyền thống của miền Bắc Việt Nam, rất phổ biến trong đời sống sinhhoạt văn hóa ở khu vực này từ thế kỷ 15 Ca trù sử dụng ba nhạc khúc đặc biệt(không chỉ về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phát thẻ và trốngchầu Về mặt văn học, ca trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là hát nói

Trang 11

Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá về ca trù: ca trù đã trải qua một quátrình phát triển ít nhất từ thế kỷ 15 đến nay, được biểu diễn trong không gian vănhóa đa dạng gắn liền ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Ca trù thể hiện một ýthức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật biểu diễn, có tính sáng tạo, đượcchuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các tổ chức giáo phường.Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử, xã hội nhưng ca trù vẫn có một sức sốngriêng bởi giá trị của nghệ thuật đối với văn hóa Việt Nam Ngày 1/10/2009, ca trùcủa Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thểcần được bảo vệ khẩn cấp.

Trang 12

5 Hội Gióng tại đền Só và đền Phù Đổng, Hà Nội Di sản văn hóa phi vật thể

đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010 Hội Gióng là một lễ hộitruyền thống hàng năm được tổ chức nhiều nơi ở Hà Nội để tưởng niệm và ca ngợichiến công của người anh hùng truyền thuyết Thánh Gióng, một trong tứ bất tử củaViệt Nam Có 2 hội Gióng tiêu biểu ở Hà Nội là hội Gióng Só Sơn ở đền Sóc xãPhù Linh, huyện Só Sơn và hội Gióng Phù Đổng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng,

huyện Gia Lâm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể củanhân loại Giá trị nổi bật toàn cầu ở hội Gióng chính là một hiện tượng văn hóađược bảo lưu, trao truyền khá liên tục và toàn vẹn qua nhiều thế hệ Mặc dù ở gầntrung tâm thủ đô và đời sống cộng đồng trải qua nhiều biến động do chiến tranh,

do sự xâm nhập và tiếp biến văn hóa, hội Gióng vẫn tồn tại một cách độc lập vàbền vững, không bị nhà nước hóa, thương mại hóa

6 Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành hoàng với

hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu diễn vào dịpđầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ, một tỉnh thuộc vùngtrung du Việt Nam Hát Xoan có bề dày lịch sử, có tổ chức nghệ thuật chặt chẽ,không gian văn hóa rộng lớn và sức lan tỏa mạnh mẽ khắp cộng đồng Trên chặngđường dài của lịch sử, Hát Xoan đã được nhiều thế hệ nối tiếp trao truyền; nhiềungười có chức sắc; các nhân sĩ trí thức đã nâng đỡ, tạo điều kiện duy trì, phát triển.Với những giá trị nổi bật toàn cầu, ngày 24/11/2011, tại Hội nghị lần thứ 6 của Ủyban liên Chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tổ chức tại

Trang 13

Bali - Indonesia, Hồ sơ Hát Xoan - Phú Thọ của Việt Nam đã được công nhận là

Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại Ngày 8/12/2017, tạiHội nghị lần thứ 12, Ủy ban liên Chính phủ về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thểcủa UNESCO đã chính thức đưa Hát Xoan Phú Thọ ra khỏi tình trạng bảo vệ khẩncấp và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Đây là trườnghợp đầu tiên và duy nhất trong lịch sử của UNESCO Sự kiện này đã đánh dấuthành công bước đầu của tỉnh Phú Thọ và của cộng đồng đã nỗ lực, quyết tâm thựchiện cam kết bảo vệ di sản Hát Xoan trong tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp suốt 6năm qua

7 Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một loại hình tín ngưỡng dân gian

được lưu truyền lâu đời ở Việt Nam, chủ yếu được thực hiện ở các di tích thờ cácnhân vật liên quan đến thời Hùng Vương tiêu biểu như Thần Nông, Vua Hùng, LạcLong Quân, Âu Cơ, Sơn Tinh, Cao Sơn, Quý Minh Tháng 12/2012, tại kỳ họp lầnthứ 7, Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể

đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Nam

là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Theo đánh giá, “Tín ngưỡngthờ cúng Hùng Vương” đã trở thành bản sắc văn hóa, đạo lý, truyền thống củangười Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn ân đức của tổ tiên trong sự nghiệp dựngnước và giữ nước

Ngày đăng: 12/06/2021, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w