Tiểu luận về các vùng văn hóa việt nam cụ thể là Tây Bắc , bài tiểu luận cho ta tìm hiểu về Tây Bắc những con người nơi đây từ trang phục , ẩm thực , nhà sàn , đến quần áo đều được khắc họa rõ net trong bài tiểu luận này . Mua đi không phí đâuuu
Trang 1TRƯỜNG ĐHSP NGHỆ THUẬT TW KHOA VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
MÔN : CÁC VÙNG VĂN HÓA VIỆT NAM
Đề tài : Vùng văn hóa dân tộc Tây Bắc
Sinh viên : Nguyễn Ngọc Anh
Lớp : K13- QLVH
Khoa : VHNT
Mã sv: 1953420003
HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2020
Trang 2
Trang 3
MỞ ĐẦU
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con ngườivới môi trường tự nhiên và xã hội ,văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm củacon người, và như vậy văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chấtcủa xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa,quần áo, các phương tiện Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó làmột phần của văn hóa Nền văn hóa Việt Nam đã hình thành và không ngừng pháttriển qua hàng ngàn năm, trải qua nhiều biến cố nhưng nó ấy vẫn luôn được giữvững và trau dồi bởi năm mươi tư dân tộc anh em với lòng yêu nước và tinh thầnđoàn kết nhất trí
Nếu như sự thống nhất do cùng cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung của văn hóa ViệtNam thì tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng
của từng vùng văn hóa Và một trong các vùng văn hóa có lịch sử hình thành và
phát triển lâu đời nhất của Việt Nam với nhiều bản sắc riêng, đầy độc đáo: Vùngvăn hóa Tây Bắc Nhắc đến Tây Bắc chúng ta sẽ liên tưởng ngay tới những ngọnnúi kỹ vĩ , những ruộng bậc thang , hay những món ăn bản địa vừa quen thuộc màcũng vừa xa lạ Thời tiết mát mẻ , những lễ hội nổi tiếng Tây Bắc vào xuân vớihoa đào, hoa mận nở khắp rừng, tiếng chim, tiếng khèn sáo cùng những ly rượunồng làm cho mùa xuân Tây Bắc rộn ràng, rực rỡ Cùng trong không khí tươi vuicủa mùa xuân, Tây Bắc lại rộn ràng đón xuân với hoa lá, cỏ cây bừng bừng nhựasống, với váy áo rực rỡ, với nụ cười và ánh mắt lúng liếng của các thiếu nữ vùngcao Không những vậy nhắc đến Tây Bắc không ai là không nghĩ đến văn hóa ẩmthực , văn hóa trang phục và văn hóa lễ hội nơi đây
Và đó là lý do em lựa chọn đề tài “ Vùng văn hóa Tây Bắc” để cho cô và các bạnthấy được những nét đặc sắc của nơi đây Nơi mà có hơn 20 dân tộc cùng sinhsống , tạo nên nét văn hóa riêng độc đáo
Trang 4NỘI DUNG
Chương 1 : Khái Quát Chung Về Tây Bắc
Dưới thời Pháp, Tây Bắc có tên gọi là xứ Thái tự trị Đến năm 1955 lại đổi thànhKhu tự trị Thái Mèo gồm ba tỉnh là Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ Từ năm 1962 –
1975 gọi là Khu tự trị Tây Bắc Hiện nay, cụm từ Tây Bắc chỉ có giá trị xác địnhphương hướng, vị trí địa lý của khu vực chứ không mang ý nghĩa nào khác TâyBắc là vùng có 20 dân tộc sinh sống, tập trung chủ yếu ở Lào Cai, Lai Châu, Sơn
La, Yên Bái… gồm: Cống, Giáy, Hà Nhì, Kháng, Khơ Mú, Lào, La Ha, La Hủ, Lự,Mảng, Mường, Phù Lá, Si La, Xinh Mun và dân tộc Thái với tổng dân số 2.661.065người (theo thống kê dân số ngày 01/4/1999) Trong đó, đông nhất là dân tộc Thái(1.328.725 người) và Mường (1.137.515 người), ít nhất là dân tộc Cống (1.676người) và Si La (840 người) So với tổng dân số vùng Tây Bắc, các dân tộc ít ngườichiếm 56%
Vùng văn hóa Tây Bắc là khu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu
ngạn song Hồng (lưu vực sông Đà) kéo dài tới bắc Thanh Nghệ Ở đây có trên 20tộc người cư trú, văn hóa Tây Bắc đa dạng và độc đáo chính là sản phẩm của sự kếthợp và đan xen các bản sắc riêng của hơn hai mươi dân tộc ấy, trong đó các dân tộcThái, H’mông, Dao có thể xem là những đại diện tiêu biểu, góp phần quan trọnghơn cả trong việc hình thành văn hóa của khu vực Biểu tượng cho vùng văn hóa
này là hệ thống mương phai dẫn nước vào đồng; là nghệ thuật trang trí tinh tế trên
chiếc khăn piêu Thái, chiếc cạp váy Mường, bộ trang phục nữ H’Mông; là âm nhạcvới các loại nhạc cụ bộ hơi (khèn, sáo…) và những điệu múa xòe
Trang 5Chương 2 : Tổng Quan Về Tây Bắc
2.1 Vị Trí Địa Lý
Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền bắc Việt Nam, có chung đườngbiên giới với Lào và Trung Quốc Đây là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ ViệtNam, bao gồm các tỉnh: Mường Lay, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, YênBái
Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiềukhối núi và dãy núi cao chạy theohướng Tây Bắc Đông Nam, trong đó
Trang 6có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500m trở lên, cácđỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu Luông 2.983m DãyHoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là "sừng trời" (Khau phạ), chính là bứctường thành phía đông và vùng Tây Bắc.
Địa hình Tây Bắc núi cao và chia cắt sâu, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạytheo hướng Tây Bắc-Đông Nam Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh caotrên 1800 m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi
là địa máng sông Đà)
Vùng Tây Bắc có hai con sông lớn, đó là sông Đà (tên Thái là Nặm Tè) vàsông Thao (tức sông Hồng), thượng nguồn của sông Mã cũng nằm trên vùngđất Tây Bắc, phía Tây tỉnh Sơn La Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắcchỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã Trong địa máng sông Đà còn
có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa, và có thểchia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản Cũng có các lòngchảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh
Các con sông này không chỉ là cơ sở cho sự định cư của của các dân tộc nơiđây cũng như nền nông nghiệp trong vùng mà còn là nguồn cảm hứng chonhững câu hát và truyền thuyết của các tộc người Thái, Mường
Trang 8Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sựbiểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳngđứng Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc -Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông(hướng đông bắc - tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếunhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạtlàm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng
và xa hơn nữa về phía nam Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụTây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 OC Ở miền núi,hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườnđón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điềukiện cho gió "phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành khi thổixuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây
Bắc Nhìn chung, trong điều kiện của
trung du và miền núi, việc nghiên cứu
khí hậu là rất quan trọng vì sự biến
dạng của khí hậu xảy ra trên từng khu
vực nhỏ Những biến cố khí hậu ở miền
núi mang tính chất cực đoan, nhất là
trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy
giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái
hoá Mưa lớn và tập trung gây ra lũ
Trang 9nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thườngxảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối.
2.3 Đặc Điểm Kinh Tế - Xã Hội
2.3.1, Đặc điểm kinh tế
Sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu của hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc Ngoài ra, họ còn chăn nuôi theo hộ gia đình, làm một số nghề thủ công, thực hiện nhiều hình thức chiếm đoạt các nguồn lợi tự nhiên sẵn có trong rừng quanh khu vực cư trú Nhìn chung, mặc dù nền kinh tế thị trường đã phổbiến ở đồng bằng và một số khu vực miền núi nhưng về cơ bản, các dân tộc vùng Tây Bắc vẫn duy trì các phương thức sản xuất truyền thống Tuy vậy, ở một số vùng đã có sự xuất hiện của việc phát triển cây công nghiệp, trồng cây ngô và lúa giống mới có năng suất cao, mở rộng chăn nuôi đại gia súc và chú ý phát triển nghềdệt thổ cẩm truyền thống
Tuy nhiên, tập quán trồng trọt ở mỗi tộc người tại các vùng thung lũng, vùng rẻo giữa và vùng cao vẫn có những nét riêng biệt, bởi những cách làm ăn này đã tồn tạiqua hàng nghìn năm canh tác của họ
Cho đến nay các tộc người sống ở Tây Bắc vẫn duy trì một số nghề thủ công gia đình như dệt vải, đan lát, làm mộc, làm rèn, chế tác kim loại làm trang sức, làm giấy dó Tuy nhiên, mỗi tộc người lại có những nghề nổi trội ví dụ người Thái, người Lào, người Mường rất nổi tiếng với nghề trồng bông, dệt vải thổ cẩm; người Hmông nổi tiếng vói nghề rèn chế tác công cụ sản xuất và trồng lanh dệt vải lanh Các công việc thủ công này thường do người phụ nữ đảm nhiệm, riêng nghề đan lát
đồ gia dụng nổi tiếng của nhóm Môn - Khơme như: Khơ mu, Xinh Mun, Kháng lại chủ yếu do người đàn ông đảm nhiệm
Trao đổi hàng hoá là nhu cầu thiết yếu đã có từ lâu đời của các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, họ thường cùng nhau họp chợ tại trung tâm xã, huyện hoặc ngay ven đường cái Do các tộc người đều cư trú ở vùng sâu vùng xa nên họ chỉ họp chợ 5 ngày hoặc 1 tuần 1 lần
Trang 10Với người Thái2: Khu vực chúa đất cai quản gọi là mường và có bộ máy cai trịcũng như có luật lệ riêng Mỗi mường có một mường trung tâm và các mườngngoại vi Chúa đất cai quản toàn mường, con trai cả của chúa đất sẽ cai quanrmường trung tâm, các con trai thứ và các cháu sẽ cai quản các mường phụ thuộc.
Bộ máy thống tri toàn mường lớn gọi là Xiêng hay Chiềng
Trong quan hệ họ hàng của người Thái có 3 mối quan hệ đặc trưng, đólà: Ải Noọng bao gồm những thành viên trai của từng dòng họ và có cùng tổ tiên;Lúng Ta; Nhím Sao
Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng lấynước làm ruộng Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp NgườiThái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác Từng gia đìnhchăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm Sản phẩm nổitiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ,bền đẹp
Đặc điểm cư trú nổi bật của đồng bào Thái là dọc các thung lũng vùng thấp, nơi cónhiều sông suối ao hồ, chính vì thế mà các nhà dân tộc học xếp dân tộc Thái lànhững cư dân đại diện cho nền văn minh thung lũng (Valley culture) Trên thực tế,đồng bào Thái ở vùng nào cũng tỏ ra vừa giỏi chài lưới ngoài sông ngoài suối, lạirất thạo việc đánh bắt trong ruộng trong đồng Nhờ vậy, bữa ăn hàng ngày của bàcon được tăng cường nguồn dinh dưỡng một cách đáng kể, do chính các hoạt độngsông nước đem lại
Nguồn sống chính của đồng bào H’Mông là làm nương rẫy du canh, trồng ngô,trồng lúa ở một vài nơi có nương ruộng bậc thang Cây lương thực chính là ngô vàlúa nương, lúa mạch Ngoài ra còn trồng lanh để lấy sợi dệt vải và trồng cây dượcliệu Chăn nuôi của gia đình người Mông có trâu, bò, ngựa, chó, gà Xưa kia ngườiMông quan niệm: Chăn nuôi là việc của phụ nữ, kiếm thịt trong rừng là việc củađàn ông
Với người Hmông bộ máy Seophảicai quản một bản, thống lý cai quản một vùng,ngoài ra còn có các phó thống lý, lý dịch Những người trong bộ máy cai trị thường
là người đứng đầu các dòng họ Trong xã hội truyển thống của người Hmông, quan
hệ cố kết dòng họ là nét đặc trưng nhất, nó được biểu hiện ở 2 hình thức: cố kếtrộng và cố kết hẹp
Người Khơmú: Người Khơ mú có nhiều dòng họ, các dòng họ của họ thường mangtên cây, cỏ hay chim, thú Các quan hệ của họ chủ yếu dựa theo nhóm hôn nhân.Với các dân tộc khác như Kháng, XinhMun, tổ chức xã hội truyền thống của họcũng tương tự như ở người Khơmú, họ đều có quá trình dài lâu trong lịch sử lànhững người bị phụ thuộc và trở thành người làm công như lệ nông cho các chúa
Trang 11đất (phía tạo) người Thái.Qua những nét chính về bức tranh xã hội của phần lớncác dân tộc thiểu số điển hình ở Tây Bắc, trong đó nổi bật là các chúa đất Thái(phía tạo) và thống lý ở người Hmôn
Trang 12dân tộc có dân số từ 10 nghìn đến 40 nghìn người là dân tộc Dao; Khơ mú; Hà nhì Mười dân tộc có số dân từ 1 nghìn người đến dưới 10 nghìn người là các dân tộc: Giáy; La Hủ; Lào; Lự; Kháng; Hoa; Mảng; Cống; Xinh mun; Tày, số còn lại là các dân tộc dưới 1 nghìn người.
Tỉnh Điện Biên tính đến 12/2005 có 83.536 ngưòi, gồm nhiều dân tộc, trong số đó dân tộc Hmông có 40.571 người chiếm 48,57 %; Dân tộc Thái có 24.500 người chiếm 29,33 %
Tỉnh Sơn La, dân tộc Thái có 48.2985 người; dân tộc Hmông 11.4578 người; dân tộc Xinh mun 1.6654 ngưòi; dân tộc Khơ mú 9950 người
Trong bức tranh toàn cảnh của sự phân bố tộc người, chúng ta thấy tại các tỉnh LaiChâu, Điện Biên, Sơn La của Tây Bắc, dân tộc Thái và dân tộc Hmông có số dân
cư trú đông nhất, đây cũng là những tỉnh được chọn làm mẫu nghiên cứu, với haidân tộc Thái và Hmông Các dân tộc tiêu biểu của vùng như: Thái, H’Mông, Dao
2.4.1, Dân tộc Thái
Tại Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số năm 1999, người Thái có số dân là1.328.725 người, chiếm 1,74 % dân số cả nước, cư trú tập trung tại các tỉnh LaiChâu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An Trong đó, tại Tây Bắc số dân cụ thể là: Sơn La có 482.485 người (54,8 % dânsố), Lai Châu cũ (nay là Lai Châu và Điện Biên) có 206.001 người (35,1 % dân số).Nhóm Thái Trắng (Táy Đón hay Táy Khao) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, ĐiệnBiên và một số huyện tỉnh Sơn La (Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên) Ở ĐàBắc thuộc tỉnh Hòa Bình, có nhóm tự nhận là Táy Đón, được gọi là Thổ Ở xãDương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, có một số Thái Trắng chịu ảnh hưởngđậm của văn hóa Tày Ở Sapa, Bắc Hà, nhiều nhóm Thái Trắng đã Tày hóa NgườiThái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu, Điện Biên từ thế
kỷ 13 và làm chủ Mường Lay (địa bàn chính là huyện Mường Chà ngày nay) thế kỷ
14, một bộ phận di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa thế kỷ 15 Có thuyết cho rằng
họ là con cháu người Bạch Y ở Trung Quốc
Nhóm Thái Đen (Táy Đăm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên Các nhómTày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa(tân thanh-thường xuân-thanh hóa), Nghệ An cũng mới từ mạn Tây Bắc chuyển xuống cáchđây vài ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và nhân chủng của cư dân địaphương và Lào Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi từ Lào vàoThanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm, nhóm này gần gũivới nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng văn hóa Lào
Nhóm Thái Đỏ, gồm nhiều nhóm khác nhau cư trú chủ yếu ở một số huyệnnhư Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình)
Trang 13Theo David Wyatt, trong cuốn "Thailand: A short history", người Thái xuất xứ từphía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ nhưChoang, Tày, Nùng Dưới sức ép của người Hán và người Việt ở phía đông và bắc,người Thái dần di cư về phía nam và tây nam Người Thái di cư đến Việt Namtrong thời gian từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13 Trung tâm của họ khi đó là Điện BiênPhủ (Mường Thanh).
Những lãnh tụ Thái được gọi là phụ đạo, được phép cai quản một số lãnh địa và trởthành giai cấp quí tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, ChiêuTấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn La,Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc ; dòng họ Hà cai quảnchâu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận ; họ Hoàng ở châu Việt
Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễn kết hợp bachâu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủĐiện Biên Năm 1880, phó lãnh sự Auguste Pavie nhân danh triều đình Việt Namphong cho Đèo Văn Trị chức tri phủ cha truyền con nối tại Điện Biên Tháng 3-
1948, lãnh thổ này được Pháp tổ chức lại thành Liên bang Thái tự trị, qui tụ tất cảcác sắc tộc nói tiếng Thái chống lại Việt Minh
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, để lấy lòng các sắc tộc thiểu số miền Bắc, Chínhphủ Việt Minh thành lập Khu tự trị Thái Mèo ngày 29 tháng 4 năm 1955, Khu tự trịTày Nùng và vùng tự trị Lào Hạ Yên, nhưng tất cả các khu này đều bị giải tán năm1975
Cũng như hầu hết các dân tộc trong vùng, người Thái sống chân thật, giản dị và rấthòa thuận Trong gia đình, trong bản không bao giờ thấy người ta to tiếng với nhau.Đặc biệt không bao giờ trẻ con bị mắng mỏ nặng lời, chứ không nói đến việc bịđánh đòn Trẻ con hiểu nhiệm vụ của chúng và rất tự giác thực hiện Chúng có saisót gì, người lớn chỉ nhắc nhẹ Trẻ em rất ngoan, chúng chơi đùa với nhau rất thân
ái Gặp lúc khó khăn, đói kém người ta đến họ hàng xin lương thực Người đượchỏi xin sẵn sàng chia sẻ số lương thực còn lại, dù biết rằng sau đó chính họ cũng sẽlâm vào cảnh thiếu đói và cũng phải lên rừng đào củ mài, củ bới thay cơm Ngaybây giờ, khi nền kinh tế thị trường đã có tác động vào đời sống cư dân Tây Bắc, thìphong tục này vẫn được thực hiện với tấm lòng vị tha và tình nghĩa sâu đậm
Trang 142.4.2, Dân tộc H’Mông
Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc Mông được coi là một thành viên quantrọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Với số dân 1.068.169người (ngày 1/4/2009), dân tộc Mông thuộc dân tộc thiểu số có số lượng cư dânđứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam Dân tộc Mông cưtrú thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnhmiền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung
và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnhthuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La Các tài liệu khoa học cũng như các truyền thuyết đều cho biết rằng người Mông làtộc người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100 năm
về trước Mông là tên tự gọi có nghĩa là người (Môngz) Còn các dân tộc khác còngọi dân tộc này với các tên Miêu, Mèo, Mẹo Căn cứ vào đặc điểm về dân tộchọc và ngôn ngữ học, người ta chia tộc Mông ra làm các ngành: Mông Trắng(Môngz Đơư), Mông Hoa (Môngz Lênhx), Mông Đỏ (Môngz Si), Mông Đen(Môngz Đuz), Mông Xanh (Môngz Njuôz), Na Miểu (Mèo nước)
Đồng bào Mông cho rằng những người cùng dòng họ là anh em cùng tổ tiên, có thể
đẻ và chết trong nhà nhau, phải luôn luôn giúp đỡ nhau trong cuộc sống, cưu mangnhau trong nguy nan Mỗi dòng họ cư trú quây quần thành một cụm, có một trưởng
họ đảm nhiệm công việc chung
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủđạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản Người đứng đầu bản điều chỉnhcác quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội Dânmỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chănnuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau Quan hệ trong bản càng gắn bó chặtchẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản
Trang 152.4.3, Dân tộc Dao
Tại Việt Nam, dân số người Dao theo điều tra dân số năm 1999 là 620.538 người.Người Dao còn có các tên gọi khác là: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, LùGang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v) Địa bàn
cư trú chủ yếu của người Dao là biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnhtrung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam Cụ thể, đa phần tại các tỉnh như HàGiang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, LaiChâu, Hòa Bình,vv…
Theo kết quả nghiên cứu của Đề án "Sưu tầm kiểm kê kho sách cổ người Dao" doTiến sĩ Trần Hữu Sơn (Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao Lào Cai) chủtrì có đăng tại thì: Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc)gồm 7 nhóm Người Dao ở Việt Nam và ở Lào Cai có 3 nhóm: Dao Tuyển, DaoNga Hoàng và Dao Làn Tẻn (còn gọi là Dao Chàm) họ bắt đầu di cư sang Việt
Nam vào thời Lê (vào khoảng cuối thế kỷ 17) Để đến được đất Việt, sống ở vùngnúi như ngày nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình muôn phần gian khổvượt biển, vượt núi, vượt sông Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi
lễ của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cổ Người Dao di cư sang ViệtNam theo nhiều đợt từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới Bắc Giang Tới đây, họ
di chuyển theo các hướng khác nhau là:Theo sông Lô tới Hà Giang hình thành nênngười Dao áo dài.Theo sông Chảy tới Lào Cai, hậu duệ ngày nay gọi là Dao Tuyển.Nhóm ở lại vùng Nga Hoàng thuộc Yên Lập, Yên Phúc một thời gian, sau đó dichuyển tới Văn Chấn (Yên Bái), rồi Văn Bàn (Lào Cai) là tổ tiên người Dao quầnchẹt ngày nay
Trang 16Chương 3 : Văn Hóa Các Dân Tộc Vùng Tây Bắc
3.1 Văn hóa nông nghiệp
Tuy nông nghiệp không phải là một khía cạnh văn hóa phổ biến trong mỗi tiểuvùng nhưng riêng với vùng văn hóa Tây Bắc, đây có thể coi là một yếu tố làm nênnét văn hóa độc đáo của vùng
Văn hóa nông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu, được gói gọntrong 4 từ văn vần: " Mường - Phai - Lái –Lịn", lợi dụng độ dốc của dòng chảy dốccủa, người ta lấy đá ngăn suối làm nước dâng cao, đó là cái "phai" Phía trên "phai"
xẻ một đường chảy lên dẫn vào cánh đồng, đó là "mương" Từ "mương" xẻ nhữngrãnh chảy vào ruộng, đó là "lái" Còn "lịn" là cách lấy nước từ nguồn trên núi cao,dẫn về ruộng, về nhà, bằng các cây tre đục rừng đục mấu, nối tiếp nhau, có khi dàihàng cây số Người Kinh vùng núi Phú Thọ (cũ) học theo cách làm này và gọichệch đi là "lần nước" Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trongmực nước của ruộng lúa Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá Cá nuôi trong ruộng vừa
ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa Cho nên, món dâng cúng trong lễ cơmmới bao giờ cũng có xôi và cá nướng Và món cá là biểu hiện lòng hiếu khách :
“Đi ăn cá, về nhà uống rượu
ở thì ngủ đệm, đắp chăn ấm”
Nương rẫy là một bộ phận bổ sung không thể thiếu với nơng, đồng bào có lúa, rauquả như bầu bí, rau cải, đậu, đu đủ, vừng, kê, ớt,.v v Bông và chàm cũng trồngtrên nương Và rừng, rừng bạt ngàn là nơi con người hái rau rừng, lấy thuốc chữabệnh, thuốc nhuộm, săn bắt thú rừng và khi thất bát mùa màng thì chính rừng, với
củ mài, bột báng đã cứu họ khỏi chết đói Bản làng có một thái độ rất kính trọngvới rừng Chẳng phải vì rừng có ma thiêng, mà vì rừng là nơi con người nương tựa
để tồn tại Luật Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắnthú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn
Ruộng bậc thang cũng là một yếu tố làm nên vẻ đẹp của vùng Tây Bắc Điều này
đã được hàng triệu lượt du khách tới thăm Tây Bắc những năm qua công nhận và
đã được giới thiệu, quảng bá khá đậm nét trên hệ thống Internet và báo chí toàncầu Tạp chí Mỹ Travel & Leisure đã so sánh những thửa ruộng tại Sa Pa như là
“Những bậc thang dẫn lên trời” ( Ladder to the sky)
3.2 Ẩm Thực
3.2.1 Món canh da trâu
Tây Bắc là cái nôi của các dân tộc thiểu số như Thái, Tày, Mường, Dao, Mông, Lô
Lô, Hà Nhì Một trong những sắc thái văn hoá dân tộc độc đáo của họ là nhữngmón ăn truyền thống nổi tiếng chỉ có ở vùng này Người dân Tây Bắc thườngthưởng thức những món ăn truyền thống của mình trong không gian và không khí
Trang 17cộng đồng như tại các lễ hội, tại các chợ và đặc biệt là vào ngày Tết nhân dịp nămmới xuân về
Phần lớn khẩu vị của người tây bắc là thích những gì đậm đà vì vậy phần lớn cácmón ăn nổi bật của người vùng Tây Bắc đểu mang lại cho người thưởng thứcnhững ấn tượng rất khó quên
Món ăn đầu tiên phải nhắc đến là đặc sản chế biến từ trâu là món canh da trâu:
Da trâu sau khi giết được lột và thui sạch lông rồi gác trên gác bếp cho khô Đểchế biến món canh nấu với bon, người Thái lấy số da khô vừa đủ đốt cho cháy sùi
ra, cạo sạch đến khi trông miếng da có màu vàng ươm, mùi thơm phức Sau khinướng giòn tan, miếng da được bẻ thành từng miếng nhỏ bỏ vào nồi bon đun nhỏlửa cho đến nhừ Trước khi bắc xuống người ta thêm gia vị vào nồi canh bon này.Nồi canh bon đúng nghĩa là phải có đủ 30 loại gia vị mang hương vị núi rừng TâyBắc trong đó gồm những gia vị dễ nhận biết như sả, cà đắng, hạt tiêu, mắc khèn.Món ăn bổ dưỡng nhưng đậm đà hương vị núi rừng này để lại cảm giác khó quêncho nhiều thực khách
3.2.2 Rượu Sâu Chít
Đến với Tây Bắc sẽ là thiếu xót nếu như không thưởng thức một loại rượu ngon nổi
tiếng mà người dân địa phương gọi nôm na là rượu sâu chít Đây là loại rượu phổbiến nhất ở vùng phía tây bắc tổ quốc các dân tộc như Dao, Nùng, Tày, Thái,Giáy…đều sử dụng nó
Về tên gọi theo như người dân địa phương thì Thức uống này còn có tên gọi khác
là Bạch trùng thảo, Đông trùng hạ thảo Xuất xứ của hai cái tên chữ cũng như têngọi nôm na đều xuất phát từ một loại sâu ngâm rượu Chít là tên một loại sâu sốngtrong thân cây chít- cây bông đót, mọc hoang ở các triền núi đá vôi nối tiếp nhautrải dài bất tận ở miền Tây Bắc Bạch trùng thảo là loại sâu trắng ký sinh trong loài
cỏ lau Đông trùng hạ thảo là loại sâu mùa đông chỉ là ấu trùng ở nụ mầm cây chít,nhưng sang mùa hạ phát triển thành sâu, chờ đợi đến ngày chui ra khỏi thân câychít để hóa thành bướm, mở đầu cho một vòng đời mới…
Hương vị của rượu sâu chít không có vị tanh và cực kì đậm đà Điểm đặc biệt củarượu sâu chít là ngâm với rượu San Lùng, hay các loại rượu khác như MườngKhương, Bắc Hà, Mai Hạ… uống nhiều hay ít đều không nhức đầu Hơn thế nữa,nếu lỡ uống say, khi tỉnh dậy vẫn thấy tinh thần sảng khoái, người khỏe ra sau mộtgiấc ngủ dài.đó là điểm thu hút bất kì vị khách nào khi thưởng thức nó
3.2.3 Cơm Lam
Có lẽ những ai đã từng đến Tây Bắc thì không thế quên được hương vị của cơm
lam, một chút nhẹ nhàng thanh thoát tinh tế khác hẳn cơm lam ở hà nội hay đâu đó.
Nguời dân tộc phía bắc từ Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái đều làm cơm lam Ngoài cơm lam, họ còn có cả cá lam, chim lam, rau quả lam Phải thừa nhận làm đồ ăn lam là một nghệ thuật tinh tế đặc biệt