1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cơ sở văn hóa Việt Nam, chủ đề: Văn hoá và nhà ở của các dân tộc ít người vùng Tây Nguyên

68 161 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 4,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận học phần cơ sở văn hóa Việt Nam, chủ đề: văn hoá và nhà ở của các dân tộc ít người vùng Tây Nguyên. Là một chủ đề hay, liên quan đến văn hóa của miền cao, giúp người đọc có thể hiểu được những giá trị và sự khác biệt trong văn hóa của Tây Nguyên.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC

Trang 2

Mục Lục Hình Ảnh

Hình 1-1: sơ đồ Việt Nam 1

Hình 1-2: Gia đình ở Tây Nguyên 5

Hình 1-3: học sinh ở Tây Nguyên 5

Hình 1-4: người dân với đàn đê 5

Hình 1-5: Người dân được cấp dê để tang kinh tế 5

Hình 1-6:Hội Nghị tổng kết dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên 6

Hình 1-7: xây đường cải tiến giao thông cho dân tộc Tây Nguyên 7

Hình 1-8: Chữ viết dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên 12

Hình 1-9: chữ viết dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên 2 13

Hình 1-10: Trang Phục Nam của người Ê Đê 14

Hình 1-11: Trang phục nữ của người Ê Đê 15

Hình 1-12: Trang Phục của người M’nong 16

Hình 1-13:Trang Phục Người Nùng 17

Hình 1-14: Trang phục của Người Tày 17

Hình 1-15:Trang phục lễ hội của người Mông 19

Hình 1-16: Trang phục trong lê cưới của người Mông 19

Hình 2-1: Nhà Rông 20

Hình 2-2: Mái nhà của nhà Rông 21

Hình 2-3:Khung cảnh quanh nhà Rông 22

Hình 2-4 Hình ảnh bên trong nhà Rông 23

Hình 2-5: Mái nhà nhà Rông 24

Hình 2-6: Nhà Dài 26

Hình 2-7: Cầu Thang Nhà Dài 28

Hình 2-8: Bên Trong Nhà Dài 29

Hình 2-9: Các vật thờ 31

Hình 2-10: Nhà Sàn 33

Hình 2-11:Nhà Sàn nhìn từ ngoài vào 34

Hình 2-12:Nhà Sàn của các dân Tộc ở Tây Nguyên 35

Hình 2-13: Cầu thang của dân tộc Ê Đê 39

Hình 2-14: Cầu thang dành cho nữ 40

Hình 2-15: Cầu thang dành cho nam 40

Hình 2-16: Thần lửa trong truyền thuyết 42

Trang 3

Hình 2-18:người dân tụ tập bên bếp lửa để sinh hoạt gia đình 44

Hình 2-19:Sinh hoạt bếp của người Thái Đen 45

Hình 2-20:Sinh hoạt ở bếp bình thường của các dân tộc ở Tây Nguyên 45

Hình 2-21: vài trò của người phụ nữ trong công việc 47

Hình 2-22: Người phụ nữa làm đồ ăn 48

Hình 2-23:Lễ hội của dân tộc vùng Tây Nguyên 49

Hình 2-24:Phong tục khi gả chồng 50

Hình 2-25:Lễ hội của dân tộc vùng Tây Nguyên 51

Hình 3-1: Cá đắng phơi khô 52

Hình 3-2: mon lap 52

Hình 3-3 Canh cà đắng khô 53

Hình 3-4: Canh lá mì xào 53

Hình 3-5: Xôi ngũ vị 54

Hình 3-6:Tục bắt Chồng của người Tây Nguyên 54

Hình 3-7:ghế: “siêu năng lực” 54

Hình 3-8:Lễ nhóm lửa của người Tày 54

Hình 3-9:Nhà mồ 54

Hình 3-10:lễ hội đua voi 54

Hình 3-11: lễ hội mừng lúa mới 54

Hình 3-12:lễ hội đâm trâu 54

Hình 3-13:lễ hội công chiêng 54

Hình 3-14:Rừng xã nu 54

Hình 3-15:Hoa hâu việt nam năm 2017 là người Tây Nguyên 54

Hình 3-16:Hoa Hậu người Tây Nguyên 54

Trang 4

Lời Nói Đầu

Cơ sở văn hoá Việt Nam là một trong những môn học hay và được hầu hết các trường đại học ở Việt Nam tổ chức dạy và học tập Môn học nhằm giúp cho sinh viên tìm hiểu và khai thác nội dung tự chọn Là một trong những yếu tố cần thiết cho sinh viên khi quyết định cân nhắc để chọn một chủ đề làm đề tài xuyên suốt bài học nằm trong nội dung nói

về Cơ sở văn hoá Việt Nam Và bài tiểu luận của nhóm em với chủ đề “Giới thiệu về văn hoá và nhà ở của các dân tộc ít người vùng Tây Nguyên”, khi nhắc về văn hoá của một dân tộc thì không thể không nói đến sự hình thành và phát triển văn hoá của dân tộc đó Với bề dày lịch sử hơn 4000 năm và 54 dân tộc khác nhau chùng chung sống trên một mảnh đất hình chữ S Con người Tây Nguyên xưa và nay luôn toát trên mình một phẩm chất cao quý và đầy kiên cường Nhắc đến Tây Nguyên, người ta hay nghĩ đến một vùng đất hoang sơ, đầy nắng và gió, với những con đường đất đỏ khúc khuỷu, hiểm trở Nhưng vùng đất này còn có nhiều điều thú vị nằm ở những nét văn hoá độc đáo về nhà ở và thói quen sinh hoạt Đủ sức hấp dẫn để chúng em tìm hiểu và truyền tải lại cho các bạn khác Bài tiểu luận nhằm giúp mở rộng về văn hoá và nhà ở của các dân tộc vùng Tây Nguyên, giúp cho người học tìm hiểu:

- Khái quát về vùng Tây Nguyên

- Các kiểu nhà và văn hoá của người dân Tây Nguyên

- Vẻ đẹp thiên nhiên và vẻ đẹp con người lao động

Khi tìm hiểu về cơ sở văn hoá của một khu vực hay đất nước chính là đang tìm hiểu về lịch sử và con người ở đất nước ấy Qua đó góp phần nâng cao kiến thức và lòng tự hào dân tộc của mỗi người Những điều vừa mới trình bày trên cũng là lí do chúng em chọn

đề tài “Giới thiệu về văn hoá và nhà ở của các dân tộc ít người vùng Tây nguyên” làm chủ

đề trong suốt quá trình học và kết thúc môn Hầu hết nội dung bài được lấy nguồn từ các tài liệu tham khảo của các anh chị khoá trước và một số trích lọc từ trang sách, báo và tạp

Trang 5

Chương 1:KHÁI QUÁT VỀ VÙNG TÂY NGUYÊN

1.1 Vị trí địa lí

Địa lí hành chính

• Tây Nguyên là vùng cao nguyên, vùng Tây Nguyên rộng khoảng 54.7 nghìn km²

• Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam

• Phía Đông giáp các vùng duyên hải Nam Trung Bộ

• Phía Nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước

• Phía Tây giáp với Lào và Campuchia

• Gồm các tỉnh: Đăk Lăk, Lâm Đồng và Đăk Nông, Kon Tum, Gia Lai

Lượt đồ tự nhiên vùng Tây Nguyên

• Địa hình:

▪ Ở về phía Tây của dãy Trường Sơn, bề mặt địa hình dốc thoải dần

từ Đông sang Tây, đón gió Tây nhưng ngăn chặn gió Đông Nam

Hình 1-1: sơ đồ Việt Nam

Trang 6

▪ Địa hình chia cắt phức tạp có tính phân bậc rõ ràng, bao gồm:

o Địa hình cao nguyên là địa hình đặc trưng nhất của vùng, tạo nên bề mặt của vùng

o Địa hình rừng núi

o Địa hình thung lũng, chiếm diện tích không lớn

Địa lí tự nhiên

➢ Khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa:

• Mùa mưa (tháng 5 đến hết tháng 10) và mùa khô (tháng 11 đến tháng 4) Trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất

• Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400–

500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều Riêng cao nguyên cao trên 1000 m thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm (đặc điểm của khí hậu núi cao)

➢ Tây Nguyên được chia thành 3 tiểu vùng khí hậu:

• Bắc Tây Nguyên tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai

• Nam Tây Nguyên tương ứng với tỉnh Lâm Đồng

• Trung Tây Nguyên tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông.Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam

➢ Tài nguyên thiên nhiên:

• Thuận lợi

▪ Địa hình và đất: Cao nguyên xếp tầng rộng lớn, khá bằng phẳng với đất badan màu mỡ thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp

Trang 7

▪ Khí hậu:

▪ Trên các cao nguyên mát mẻ và phong cảnh thiên nhiên đẹp của thành phố Đà Lạt, hồ Lắk, Biển Hồ, giúp phát triển du lịch sinh thái

▪ Sông ngòi: Là khu vực thượng nguồn của nhiều hệ thống sông nên có tiềm năng thủy điện lớn (21% trữ năng thủy điện cả nước)

▪ Rừng: gần 3 triệu ha giúp phát triển lâm nghiệp

▪ Khoáng sản: Bô xít có trữ lượng lớn (3 tỉ tấn) giúp phát triển công nghiệp

1.2 Dân cư vùng Tây Nguyên

Dân cư trước năm 1954

Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộc người Jrai và Êđê sinh hoạt trong xã hội truyền thống Mãi đến giữa thế kỷ XX sau Cuộc di cư năm

1954 thì số người Kinh mới tăng dần

Dân cư sau năm 1954

Sau cuộc di cư năm 1954 ( tổng dân số vùng TN lúc bấy giờ chỉ khoảng 6000 dân ) thì số người Kinh di cư đến sinh sống ở vùng Tây Nguyên tăng dần

Nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (người Kinh) ở Tây Nguyên như Ba

Na, Jrai, Êđê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông chính quyền Việt Nam Cộng hòa gọi

Trang 8

là ở trên, "người Thượng" là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ

những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung Danh từ này mới phổ biến từ đó thay

cho từ ngữ miệt thị cũ là "mọi"

Tính đến năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc, trong đó đồng

bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số) Theo kết quả điều tra dân số

01 tháng 04 năm 2009 dân số Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.107.437 người, như thế so

với năm 1976 đã tăng 3,17 lần Đến năm 2011, tổng dân số của 5 tỉnh Tây Nguyên là khoảng

5.282.000 người

Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học*: di dân

đến Tây nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân tự do Người dân tộc đang trở thành

thiểu số trên chính quê hương của họ

Bảng thống kê số liệu dân số

Dân Số 1.225.000 người, (gồm 18

dân tộc)

5.107.437 người (gồm 5 tỉnh)

5.282.000 người (gồm 5 tỉnh)

So sánh Tăng 4,17 lần so với năm

1976

Tăng 1,05 lần so với 2009

Trang 9

Ảnh hưởng của việc gia tăng dân số nhanh đối với người dân Tây Nguyên

Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo đói, kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên (gần đây, mỗi năm vẫn có tới gần một nghìn héc-ta rừng tiếp tục bị phá ) đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên và thường xuyên dẫn đến xung đột

Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo và những biện pháp của nhà nước

Không chỉ góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông nông thôn, xây dựng hệ thống nướctự chảy Dự án giảm nghèo Tây Nguyên đã cải thiện đời sống người dân bằng nhiều tiểu dự ánsinh kế hiệu quả như nuôi dê bách thảo, nuôi bò cỏ, lợn rừng lai

Hình 1-2: Gia đình ở Tây Nguyên Hình 1-3: học sinh ở Tây Nguyên

Trang 10

Mô hình nuôi dê lai sinh sản và biện pháp của nhà nước: Ngày 26/12, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Thế giới tổ chức Hội nghị tổng kết Dự án Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên (2014 - 2019) Chủ trì hội nghị có ông Trần Duy Đông, Vụ trưởng Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Ban Điều phối Dự án Trung ương Giảm nghèo Tây Nguyên; bà Keiko Inoue, Quyền Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam

Hình 1-6:Hội Nghị tổng kết dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên

Dự án Giảm nghèo khu vực Tây Nguyên tập trung phát triển cộng đồng tại 130 xã khó khăn nhất của 26 huyện nghèo thuộc 6 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi

Theo báo cáo, sau 5 năm thực hiện, Dự án đã thực hiện hơn 2,1 nghìn tiểu dự án cơ sở hạ

Trang 11

văn hóa cộng đồng, xây dựng hệ thống nước tự chảy Xây dựng hơn 439 km đường nông thôn Kiên cố hóa kênh mương và đập thủy lợi tại một số xã, mở rộng vùng tưới lên hơn 4 nghìn ha, góp phần tăng vụ, tăng năng suất và sản lượng hàng năm Dự án xây dựng 73 cầu treo, một số cống và ngầm tràn; 141 hệ thống nước tự chảy cung cấp nước sạch cho hơn 1 nghìn hộ dân

Dự án còn hỗ trợ trực tiếp người dân thực hiện các mô hình sinh kế thông qua hơn 4,5 nghìn tiểu dự án sinh kế với loại hình trồng trọt hoặc chăn nuôi Người dân được dự án hướng dẫn tự thành lập hơn 4,1 nghìn tổ nhóm cải thiện sinh kế để liên kết các hộ có cùng mục tiêu và loại hình trồng trọt hoặc chăn nuôi Trong đó, 42 tổ nhóm là tổ nhóm liên kết thị trường

Đến nay có gần 59 nghìn hộ nghèo và cận nghèo được hỗ tợ trực tiếp được hỗ trợ trực tiếp

từ dự án cho các hoat động sinh kế bao gồm con giống như bò, dê, gà, lợn để nuôi sinh sản và cây giống lúa, ngô, dứa, chuối Hiện, hơn 1,8 nghìn tổ nhóm sinh kế vẫn duy trì

Trang 12

hoạt động Một số mô hình kinh tế hộ đang mang lại hiệu quả rất cao như nuôi heo rừng lai, dê bách thảo, bò cỏ

Người dân vui mừng với đường giao thông nội bản mới được nâng cấp

Tổ 1 bản Giang Châu

Trang 13

Dân tôc vùng Tây Nguyên số liệu năm 2009

Stt Dân tộc Số người Tỷ lệ (%)

Chú thích Stt Dân tộc Số người Tỷ lệ (%) Chú thích

Trang 14

Tiếng nói, chữ viết và trang phục của các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên

Tiếng nói, chữ viết là hồn cốt của mỗi tộc người Nhưng trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đã quên tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số là việc quan trọng, góp phần gìn giữ gìn bản sắc văn hóa của mỗi tộc người

Tiếng nói và những nét đặc trưng riêng của nó

Người Jrai: Người Jrai nói tiếng Jrai, một ngôn ngữ thuộc phân nhóm ngôn ngữ Chăm của ngữ tộc Malay-Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo

Người Bana: tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) và Việt Ngữ, tiếng Ba Na là ngôn ngữ đa âm tiết, không có thanh điệu và có nhiều nguyên âm tắc giọng Người Ê đê: tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo)

Người M’nông: Tiếng nói của người M’Nông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ

hệ Nam Á)

Người Cơ ho: Tiếng Cơ Ho (còn viết là K'Ho) là ngôn ngữ của người Cơ Ho, sống chủ yếu

ở tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam

Người Mạ: tiếng nói của người Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme miền núi phía Nam, rất gần gũi với tiếng nói của người M'nông, Chu ru, Xtiêng, Cơ Ho, là những dân tộc láng giềng gần gũi với họ

Người Nùng: tiếng Nùng là một nhóm các ngôn ngữ thuộc nhánh Tai Trung tâm trong ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai

Người Xơ Đăng: tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á)

Người Thái: Ngữ hệ Nam Thái (Austro Thái) tức Thái Ka-đai

Trang 15

Người Mường:tiếng Mường là ngôn ngữ thanh điệu, tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường trong ngữ chi Việt của ngữ hệ Nam Á

Người Dao: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá, gọi là chữ Nôm Dao

Người Gié Triêng:Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định

Người Chu Ru: người Chu Ru đa số nói tiếng Chu Ru, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo

Malay-Người Tày: Malay-Người Tày nói tiếng Tày, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai

Người Hoa: cộng đồng người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh đa phần giao tiếp bằng tiếng Quảng Đông là chủ đạo

Người Kinh: Người Việt có tiếng nói và chữ viết riêng Tiếng Việt nằm trongnhóm ngôn ngữ Việt Mường (ngữ hệ Nam Á)

Người H’Mông: Tiếng H'Mông gồm có những phương ngữ có thể hiểu lẫn nhau của nhóm ngôn ngữ Tây H’mông trong ngữ hệ H'Mông-Miền (Miêu-Dao)

Người Hrê: tếng Hrê hay tiếng H'rê là ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Ba Na Bắc thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á ,gần gũi với tiếng nói của người Xơđăng, Bahnar

Và tiếng của một số dân tốc ít người khác đều có bắt nguồn từ ngôn ngữ Môn khmer ( ngữ

hệ Nam á) và Nam Đảo

Trang 16

Chữ Viết

Trong các dân tộc thiểu số (DTTS) ở nước ta, nhiều dân tộc có chữ viết riêng, thậm chí một số dân tộc có nhiều hơn một hệ thống chữ viết Xét về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển, chữ viết của các DTTS khá đa dạng, phong phú Một số hệ chữ viết có lịch sử trên dưới nghìn năm, đó là các hệ chữ viết của các dân tộc Khmer, Thái, Chăm, Tày, Nùng, Dao Dưới đây là một số dân tôc ở Tây Nguyên có chữ viết nổi bật

Hình 1-8: Chữ viết dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

Trang 17

Trang phục của các dân tộc ở Tây Nguyên

Trang phục của mỗi đất nước, vùng miền dân tộc đánh dấu một nét đặc trưng trong văn hoá của nơi đó Chính vì thế nhìn vào trang phục người ta có thể biết người đó đến từ vùng miền nào Hay nói cách khác trang phục Tây Nguyên không chỉ tô điểm cho nền văn hoá Tây Nguyên mà còn giúp cho người địa phương khác nhận biết và nhắc đến nó như một phần của vùng miền đó

Người Ê đê:

Trang phục của nam giới Ê đê gồm áo và khố Áo có hai loại Một là loại dài tay, khoét cổ hình chữ V để chui đầu, thân dài trùm mông, xẻ tà Trên nền màu sẫm của thân, ống tay áo, viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí vài viền đỏ, trắng Đặc biệt, khu vực giữa áo có mảng kẻ ngang trong bố cục hình chữ nhật Đây là loại áo khá tiêu biểu của nam giới người

Ê đê Loại thứ hai là áo dài quá gối, khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí

Hình 1-9: chữ viết dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên 2

Trang 18

Với trang phục nữ, áo là loại ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền), mặc chui đầu Thân áo dài đến mông, khi mặc cho ra ngoài váy Trên nền màu chàm, áo được trang trí bằng các đường viền kết hợp với dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng ở cổ áo,

bả vai, cánh tay, cửa tay và gấu áo

Cùng với áo, phụ nữ Ê đê mặc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân Váy được trang trí bằng các đường nằm ngang ở mép trên, mép dưới và giữa thân với những màu tương tự như áo

Hình 1-10: Trang Phục Nam của người Ê Đê

Trang 19

Người M’nong:

Hình 1-11: Trang phục nữ của người Ê Đê

Trang 20

Đối với đàn ông, trang phục truyền thống là khố và áo choàng quấn Khố có ba loại: khố trắng, khố đen và khố hoa

Đối với phụ nữ, ngày xưa, phụ nữ M’nông để ngực trần, nửa phần dưới mặc váy Có hai loại váy: váy dệt bằng sợi vỏ cây gọi là nah djăr, váy dệt bằng chỉ bông vải gọi là nah rnỗ

Người Nùng:

Không sặc sỡ như trang phục của một số dân tộc, trang phục của người Nùng khá đơn giản

Cả nam và nữ đều mặc một loại quần cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân với các đường viền tập trung ở tà và gấu áo

Nam giới người Nùng thường mặc áo dài ngang hông, tứ thân, may áo gần sát người, tay

áo dài và rộng, cổ áo khoét tròn Còn trang phục của phụ nữ Nùng phong phú và đa đạng hơn, họ cả loại áo 5 thân và 4 thân

Hình 1-12: Trang Phục của người M’nong

Trang 21

Người Tày:

Người Tày rất chú trọng đến văn hóa ăn mặc, họ cũng có những bộ trang phục truyền thống riêng của mình Trang phục của dân tộc Tày hoàn toàn làm bằng vải tự dệt, cả nam, nữ đều mặc một mầu tràm đồng điệu Và hầu như không có họa tiết trang trí, điểm nhấn là trang sức bằng bạc và có đai lưng

Hình 1-13:Trang Phục Người Nùng

Trang 22

Trang phục nam giới người Tày có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa, áo ngắn cũng may năm thân, cổ đứng Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối Ngoài ra, họ còn có thêm áo 4 thân, đây là loại áo xẻ ngực, cổ tròn cao, không cầu vai, xẻ

tà, cài cúc vải và có hai túi nhỏ ở phía trước

Người Kinh:

Nói chung người Việt Nam dù ở Bắc, Trung hay Nam đều có cách mặc gần giống nhau Các loại quần áo như áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng, quần có cạp hoặc dùng dây rút Trong những ngày hội thì người phụ nữ thường mặc áo dài Các đồ trang sức truyền thống như trâm, vòng cổ, hoa tai, nhẫn, vòng tay mang phong cách tùy theo từng vùng Phụ

nữ Nam Bộ thường mặc áo bà ba với các kiểu cổ như tròn, trái tim, bà lai với các khăn trùm đầu Nón lá có thể nói là nón được sử dụng rộng rãi nhất cho phụ nữ thời xưa do nó có thể

tự làm và che nắng rất tốt

Người Mông:

Bộ quần áo của phụ nữ dân tộc Mông gồm có khăn quấn đầu, khăn len (cũng là khăn đội đầu) được dệt bằng tay, váy, yếm được thêu bằng tay Bộ trang phục được đính những hạt cườm rất cầu kỳ, tỉ mỉ

Chiếc váy của người phụ nữ dân tộc Mông không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất, là vật để che thân mà chiếc váy còn đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ Vẻ đẹp của váy là một tác phẩm văn hóa vừa gắn chặt nhu cầu của đời thường với nhu cầu thẩm mỹ

Trang 23

Hình 1-16: Trang phục trong lê cưới của người Mông Hình 1-15:Trang phục lễ hội của người Mông

Trang 24

Chương 2:Các kiểu nhà và văn hóa của người Tây Nguyên

2.1 Những kiểu nhà đặc trưng của dân tộc vùng Tây Nguyên

Nhà Rông

Trang 25

Khái niệm

Nhà Rông là một kiểu nhà sàn đặc trưng, đây là ngôi nhà cộng đồng, như đình làng của người Kinh, dùng làm nơi tụ họp, trao đổi, thảo luận của dân làng trong các buôn làng trên Tây Nguyên, hoặc còn là nơi đón khách (theo phong tục người Ba Na), dù khách riêng của gia đình hay chung của làng

Nhà Rông chỉ có ở những buôn làng người dân tộc như Gia Rai, Ba Na ở phía Bắc Tây Nguyên, đặc biệt ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum

Đặc điểm

Kon Jơ Dri (hay Kon Jo Dri, Kon Jơ Ri) là buôn làng của người Ba Na nằm phía bên sông Đăk Bla, thuộc xã Đăk Rơ Wa, thành phố Kon Tum Bản có căn nhà rông xây từ năm 1977, được coi là bề thế nhất vùng với chiều cao 16 m và chiều ngang 12 m Đây là nơi diễn ra các lễ hội, họp mặt, tổ chức lễ Tết, giao lưu cồng chiêng của người Ba Na Nhìn từ xa, nhà như lưỡi rìu vươn lên bầu trời

Hình 2-2: Mái nhà của nhà Rông

Trang 26

Hình 2-3:Khung cảnh quanh nhà Rông

Bên cạnh vẻ bề thế, khung cảnh quanh nhà rông Kon Jơ Ri còn nên thơ bởi nằm giữa khoảng đất rộng giữa làng, bao quanh là những gốc cây me trăm tuổi Bất cứ buôn làng nào của người Ba Na cũng đều có nhà rông - biểu tượng và niềm tự hào của cư dân

Trang 27

Hình 2-4 Hình ảnh bên trong nhà Rông

Bên trong nhà rông là những cột gỗ to để chịu lực cho toàn bộ phần mái Sàn nhà thường được làm từ ván gỗ hay ống tre nứa đập dập, không ghép khít mà các tấm cách nhau khoảng một cm Nhờ vậy, khi người dân tập trung ăn uống, nước không bị chảy lênh láng ra sàn và việc lau dọn cũng dễ dàng hơn

Trang 28

Hình 2-5: Mái nhà nhà Rông

Mái nhà được lợp bằng nhiều lớp cỏ tranh xếp dày đến 20 cm Những cột gỗ lớn cũng trở thành nơi leo trèo vui đùa của lũ trẻ trong làng

Nhà Rông được xây dựng chủ yếu bằng các vật liệu của chính núi rừng Tây Nguyên như

cỏ tranh, tre, gỗ, lồ ô và được xây cất trên một khoảng đất rộng, nằm ngay tại khu vực trung tâm của buôn

Nhà Rông của mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong kiến trúc, tạo dáng, trang trí hoa văn Nhìn chung nhà Rông là ngôi nhà to hơn nhiều so với nhà bình thường, có kiến trúc cao Có

những ngôi nhà cao tới 18 m, với đặc điểm là mái nhọn xuôi dốc hình lưỡi rìu vươn lên bầu

Trang 29

Nhà được dựng trên những cột cây to, thường là tám cột bằng cây đại thụ, thẳng, chắc, mái nhọn lợp bằng lá cỏ tranh, phơi kỹ cho đến khi khô vàng

Ý nghĩa

Không chỉ được biết đến với thiết kế kiến trúc độc đáo, nhà Rông Tây Nguyên còn thu hút

sự chú ý của mọi người bởi ý nghĩa văn hóa thiêng liêng, thể hiện rõ nhất qua tên gọi, nhà Rông hay nhà làng, nhà cộng đồng Điều này cho thấy nhà Rông thực hiện nhiều vai trò khác nhau

Nhà Rông là nơi lưu trữ, thờ cúng những hiện vật thiêng liêng như hòn đá, con dao, sừng trâu,… Những hiện vật này đóng vai trò như thần bản mệnh của dân làng Ngoài ra, cồng, chiêng, vũ khí cũng được cho là lưu giữ trong nhà Rông, gắn liền với đời sống tinh thần của người dân nơi đây

Nhà Rông là không gian sinh hoạt chung của cả cộng đồng, là nơi tổ chức lễ hội hay các lễ cúng thường niên và không thường niên như cúng mừng lúa mới, cúng lập làng mới, cúng lên nhà Rông, cúng mừng chiến sĩ,… Bên cạnh đó, các cụ già trong làng thường tập hợp các thanh niên trẻ tại nhà Rông để kể những câu chuyện về rừng núi hay truyền đạt những giá trị truyền thông lâu đời của buôn làng

Nhà Rông là nơi phân xử các vụ kiện, tranh chấp của dân làng, đồng thời cũng là nơi tiếp đón khách quý đến buôn làng thăm chơi Đặc biệt, các nam thanh nữ tú chưa có người yêu thường đến nhà Rông để gặp gỡ, hẹn hò, tỏ tình và kết tóc se duyên

Tóm lại, nhà Rông là linh hồn, là sức sống của làng Nhà Rông có đẹp và kiên cố thì đời sống buôn làng mới được đủ đầy, yên ấm Từ hình dáng, kết cấu đến chức năng, nhà Rông đều thể hiện được sức mạnh cộng đồng và tinh thần thượng võ, uy quyền, chế ngự không gian và thách thức thời gian

Trang 30

Nhà Dài ( ê đê)

Khái niệm

Nhà dài là loại nhà ở điển hình trong xã hội nguyên thuỷ thời kì sống kiểu quần cư cộng đồng thị tộc, có ở nhiều nơi trên thế giới Đây là loại nhà thường chỉ có một phòng duy nhất, dài và hẹp, vàthường làm bằng gỗ Chiều dài nhà có thể đến hàng trăm mét, là nơi ở của hàng trăm thành viêncủa một đại gia đình

Hình 2-6: Nhà Dài

Trang 31

Đặc điểm

Những ngôi nhà sàn được làm bằng vật liệu thô sơ như: gỗ, tre, nứa, tranh… tồn tại vững chắc cùng với thời gian bên cạnh những căn nhà bê tông kiên cố Đó là điều rất dễ nhận biết khi các bạn đến với các làng, bản của dân tộc Ê Đê

- Nhà dài của người Ê Đê có kết cấu kiểu nhà sàn thấp, dài thường từ 15m đến hơn 100m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người

- Nó là ngôi nhà lớn của nhiều thế hệ sống chung như một đại gia đình và là nét đặc trưng của chế độ mẫu hệ của người Ê Đê

- Người Ê Đê không có nhà Rông hay nhà Gươl1 như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, ngôi nhà chung của buôn cũng là một ngôi nhà dài truyền thống nhưng to đẹp và hoành tráng hơn

Những ngôi nhà độc đáo ấy được gọi là nhà dài, một phong tục tập quán thú vị và còn là nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Ê Đê

Người Ê Đê có truyền thống dựng nhà theo hướng Bắc - Nam và buôn làng Ê Đê truyền thống được bố trí theo hướng Đông - Tây Vật liệu chủ yếu dùng để dựng nhà là gỗ, tre, nứa, tranh

Có những huyền thoại về nét độc đáo này của người Ê Đê như: “nhà dài tựa tiếng chiêng ngân bởi vì đứng ở đầu nhà đánh chiêng thì cuối nhà chỉ còn nghe rất nhỏ, ra khỏi là mất luôn, không cònnghe thấy gì nữa”

Ngoại cảnh: nhà sàn mô tả được đặc điểm, tính chất và công dụng của hai cầu thang truyền thống (đực và cái); cửa trước và cửa sau, sân sàn trước và sân sàn sau Cầu thang nhà người

Ê Đê luôn được đẽo bằng tay và được trang trí bằng hình hai nhũ hoa (thể hiện tín ngưỡng

người Cơ Tu gần giống nhà sàn của người Cơtu nhưng được chạm khắc công phu hơn Phía trên hai đầu nhà Gươl thường được

Trang 32

phồn thực của người Ê Đê) và hình trăng khuyết Ngoài ra, mỗi đầu nhà có một sân sàn: sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách Muốn vào nhà phải qua sân sàn Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang

Hình 2-7: Cầu Thang Nhà Dài

Trang 33

Phần nội thất được chia làm hai phần chính như sau:

+ Phần Gak Ok: được xem như phòng khách và là khu vực dùng cho mọi sinh hoạt chung của gia đình và dòng họ như hội họp, cúng điếu, đánh cồng chiêng

Có 3 cặp cột chính dùng sắp xếp vị trí của các vật dụng như: Cột chiêng, cột trống tương đương với vị trí ghế dài (Kpan), trống cái Cột khách, cột chủ tương đương với vị trí của bếp khách

Hình 2-8: Bên Trong Nhà Dài

Vách và sàn nhà được phên bằng nứa đập nát; mái lợp cỏ tranh rất dày, trên 20cm, thường chỉ làm một lần và sử dụng vĩnh viễn Đỉnh mái cách sàn nhà chừng 4 – 5 m Khi làm nhà mới, người Ê Đê không bao giờ dùng lại gỗ nhà cũ mà thường đốt bỏ, tuy nhiên ngày nay

Trang 34

Toàn bộ các cột, kèo thường đẽo gọt, trang trí bằng hình ảnh các con vật như voi, ba ba, kì đà tương tự cầu thang, các vật trang trí này luôn được đẽo bằng tay theo cách thức truyền thống

Phần Adú: Là chỗ sinh hoạt (ngủ) của vợ chồng chủ nhà cùng các thành viên trong gia đình Không gian và nội thất trong gia đình cũng được phân chia theo hướng Đông và Tây

Ngày đăng: 26/11/2021, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w