Với chủ trương lấy năng suất và chất lượng dịch vụ làm chính sách chất lượng hàngđầu của doanh nghiệp, thông qua các giải pháp hoàn thiện, nâng cấp cơ sở vật chất, kỹthuật; đơn giản hóa
Trang 1PHẦN 1: GIỚI THIỆU CÔNG TY
I Giới thiệu chung về Cảng Đà Nẵng:
1 Giới thiệu chung:
Cảng Đà Nẵng nằm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, một thành phố năng động đóngvai trò trung tâm về kinh tế - xã hội của miền Trung - Việt Nam, vị trí địa lý tự nhiên nằmtrong Vịnh Đà Nẵng rộng 12 km2, độ sâu từ 10-17m, được bao bọc bởi núi Hải Vân vàbán đảo Sơn Trà, kín gió cùng với đê chắn sóng dài 450m thuận lợi cho các tàu neo đậu
và làm hàng quanh năm
Với lịch sử trên 100 năm hình thành và phát triển, hiện tại Cảng Đà nẵng là cảngbiển lớn nhất khu vực miền Trung Việt Nam Hệ thống giao thông đường bộ nối liền giữaCảng với Sân bay quốc tế Đà nẵng, Ga đường sắt, vùng hậu phương rất rộng rãi và thôngthoáng, thuận lợi trong việc xuất nhập hàng hóa cho khu vực Hàng hóa xuất nhập thôngqua Cảng, theo Quốc lộ 1A để đến các tỉnh phía Bắc và phía Nam của Thành phố, theoQuốc lộ 14B để đến các tỉnh Tây nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan
Cảng Đà Nẵng bao gồm hai khu cảng chính là Xí nghiệp Cảng Tiên sa và Xí nghiệpCảng Sông Hàn, với 1.493m cầu bến, thiết bị xếp dỡ và các kho bãi hiện đại phục vụ chonăng lực khai thác của cảng đạt 6 triệu tấn/năm
Cảng Tiên sa là cảng biển nước sâu tự nhiên, có độ sâu lớn nhất là 12m nước, chiềudài cầu bến là 965 mét, bao gồm 2 cầu nhô và 1 cầu liền bờ chuyên dụng khai tháccontainer Cảng Tiên sa có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp đến 40.000 DWT, tàucontainer đến 2.000 teus và tàu khách đến 75.000 GRT Cảng Tiên sa được coi là một
Trang 2trong số ít các cảng tại Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng để pháttriển thành một cảng biển lớn.
Trang 3Theo quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010, Cảng ĐàNẵng được xác định là một thương cảng lớn của khu vực Trong đó, Cảng Tiên Sa có khubến container với hệ thống kho bãi, đê chắn sóng, thiết bị chuyên dụng hiện đại, phục vụgiao thương hàng hóa và phát triển kinh tế, du lịch cho vùng hậu phương gồm các tỉnhmiền Trung, Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan thông qua tuyến hàng lang kinh
tế Đông Tây Cảng Đà Nẵng còn được xác định là một trong những cửa ngõ chính ra biểnĐông của tiểu vùng Me Kong (Great MeKong Subregion - GMS)
- Tên đầy đủ bằng tiếng Việt : CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐÀ NẴNG
- Tên viết tắt bằng tiếng Việt : CẢNG ĐÀ NẴNG
- Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh: DANANG PORT JOINT STOCKCOMPANY
- Tên viết tắt bằng tiếng Anh : DANANG PORT
- Trụ sở chính : Số 26 Bạch Đằng, Quận Hải Châu, TP.Đà Nẵng
Trang 4Giấy CNĐKKD: Số 0400101972 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Đà Nẵng cấpđăng ký lần đầu ngày 01/4/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 20/3/2009
- Vốn điều lệ : 660.000.000.000( Sáu trăm sáu mươi tỷ đồng )
2 Các thành tựu đạt được:
Sau sự kiện thành phố Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1, Nghị quyết 33 do
Bộ chính trị ban hành năm 2003 với chủ trương xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phốCảng biển theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa là động lực cho sự phát triển đi lêncủa Cảng Đà Nẵng trong thời kỳ mới
Tọa lạc phía Đông Bắc thành phố Đà Nẵng, có núi Hải Vân và Núi Sơn Trà chechắn, không chịu ảnh hưởng lớn của sóng gió, là đầu mối giao thông quan trọng, là điểmcuối của Tuyến Hành lang Kinh tế Đông Tây, Cảng Đà Nẵng đã và đang phát triển cácbến cảng lớn có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp trọng tải đến 50.000DWT, tàucontainer đến 2.500 Teus, tàu khách loại lớn đến 100.000 GRT
Từ năm 2010 đến nay, Cảng Đà Nẵng đã nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư thiết bịmới, đẩy mạnh công tác tiếp thị, đặc biệt là tập trung mở rộng vùng hậu phương lên cáctỉnh Tây Nguyên nơi có nguồn hàng nông, lâm sản dồi dào, góp phần gia tăng sản lượnghàng hóa thông qua Bên cạnh đó, với lợi thế cảng biển nước sâu và là trung tâm của các
di sản văn hóa thế giới tại miền Trung cùng với việc chăm sóc, tiếp đón tàu và khách dulịch chu đáo, an toàn, Cảng đã thu hút nhiều tàu khách du lịch trong và ngoài nước Hoạtđộng này đã góp phần thúc đẩy ngành du lịch Đà Nẵng và các tỉnh phụ cận tăng lên đáng kể Song hành với việc đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, Cảng đã khôngngừng xây dựng và phát triển thương hiệu Cảng Đà Nẵng, coi đây là tài sản vô hình quýgiá, một trong những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi trên thương trường Thươnghiệu Cảng Đà Nẵng dần được xác lập trong ngành hàng hải Việt Nam và khu vực Lượnghàng qua cảng Đà Nẵng không ngừng tăng lên: nếu năm 2010, sản lượng hàng hoá thôngqua Cảng Đà Nẵng đạt 3.303.036 tấn, thì năm 2013 đã vượt trên 5 triệu tấn Sản lượngcontainer từ 89.000 Teus vào năm 2010 lên đến 167.447 TEU năm 2013, dự kiến năm
2014 đạt 200.000 TEUs
Trang 5Các cảng lớn hàng đầu thế giới ngày nay đều chọn dịch vụ Container là mục tiêuhàng đầu và khuynh hướng container hóa cảng biển đang là xu thế của thời đại Sớm nắmbắt xu hướng đó, Cảng Đà Nẵng không ngừng đầu tư mở rộng và hiện đại hóa để thíchnghi hơn với tàu container Cảng đã thực hiện dự án nâng cấp, mở rộng Cảng Tiên Sa vớitổng kinh phí gần100 triệu USD, hoàn thiện năng lực dự án khu kho bãi hậu cần, hoànthiện bộ máy quản lý và điều hành khai thác cảng bằng việc xây dựng thành công hệthống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ cho khách hàng Đầu tư phương tiện thiết bị khai thác container, trang bị phần mềmquản lý và khai thác container bằng máy vi tính tự động hóa (CATOS), phần mềm quản
lý và khai thác hàng tổng hợp (CTOS) hướng đến khai thác chuyên nghiệp trong môitrường hội nhập toàn cầu Riêng trong năm 2013, giá trị thực hiện đầu tư đạt 122 tỉ đồng
và năm 2014 là hơn 200 tỷ đồng Hiện có 12 hãng tàu container thường xuyên có tàu đếnCảng Đà Nẵng với trung bình 14 chuyến tàu container/tuần.Trong những năm qua cơ cấumặt hàng container luôn chiếm tỷ trọng 40% sản lượng/tấn thông qua cảng và doanh thuchiếm hơn 60% tổng doanh thu của cảng Nhu cầu tiếp nhận tàu có trọng tải lớn là rất cấpbách Cảng Đà Nẵng sẽ tiếp tục nâng cấp cầu bến chú trọng đến đầu tư xây dựng CảngTiên sa giai đoạn 2
Với chủ trương lấy năng suất và chất lượng dịch vụ làm chính sách chất lượng hàngđầu của doanh nghiệp, thông qua các giải pháp hoàn thiện, nâng cấp cơ sở vật chất, kỹthuật; đơn giản hóa thủ tục giao nhận; tăng cường phối hợp trong nội bộ Cảng cũng nhưvới các đơn vị liên quan ngoài Cảng; kích thích người lao động bằng quy chế trả lươnghợp lý; cơ giới hóa, tự động hóa quy trình sản xuất; … năng suất và chất lượng dịch vụcủa Cảng Đà Nẵng không ngừng được nâng cao Năng suất của một số mặt hàng tiêu biểutheo định mức bình quân năng suất bốc dỡ giải phóng tàu bình quân hàng năm tăng:Clinke tăng 28%, than tăng 18%, dăm gỗ tăng 38%, cát rời tăng 28%, ximăng baotăng16%, thép xây dựng tăng 16%, thép phế liệu tăng 33%, container tăng 20%
Kế hoạch an ninh cảng biển (PFSP) được thực thi, Cảng Đà Nẵng luôn đủ điều kiện
để đảm bảo an toàn, thuận lợi, nhanh chóng cho tàu, hàng hóa, hành khách lưu lạivà vào
Trang 6ra Cảng Phiếu thăm dò ý kiến khách hàng hằng năm đều cho thấy dịch vụ của Cảng đượcđánh giá năm sau tốt hơn năm trước.
Về công tác tổ chức quản lý, thực hiện sự đổi mới cơ chế quản lý để phù hợp vớiquá trình hội nhập khu vực và quốc tế, Cảng Đà Nẵng đã từng bước đổi mới mô hìnhquản lý theo hướng tinh gọn, hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý, mạnh dạn tinh giảm laođộng trên cơ sở từng bước cơ giới hóa, hiện đại hóa Tính đến ngày 31 tháng 12 năm
2013, tổng số lao động của Cảng Đà Nẵng là 623 người,trong đó có 67 nữ Cảng cũngtừng bước hoàn thiện mô hình hoạt động Ngày10/5/2008, Cảng Đà Nẵng chính thức hoạtđộng theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với bộ máy gồm 9 Phòngban và 4 Xí nghiệp phụ thuộc Đến nay, Cảng đã có 3 công ty cổ phần: Công ty Cotraco,công ty Danalog, công ty Danatug và hợp tác với công ty PTSC thành lập công ty cổphần dịch vụ tổng hợp dầu khí Cảng Sơn Trà Năm 2014, Cảng tích cực thực hiện đề ántái cơ cấu, chuyển hoạt động sản xuất kinh doanh sang mô hình công ty cổ phần
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của yếu tố con người, công tác phát triểnvà nângcao chất lượng nguồn nhân lực luôn được lãnh đạo Cảng quan tâm đặc biệt Cảng đã đẩymạnh công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBCNV để quản lývà điều hành sản xuấtkinh doanh theo phương pháp quản trị tiên tiến và sử dụng hiệu quả các trang thiết bịmới Tích cực Cảng còn cử CBCNV đi học các lớp đại học, trên đại học, các khóa họctrong và ngoài nước về các chuyên ngành liên quan đến Cảng như quản trị kinh doanh,logistics… Trong công tác tuyển dụng, Cảng ưu tiên thu hút những người trẻ có năng lựcchuyên môn cao, thành thạo cáckỹ năng về Cảng công tác Nhờ vậy, chất lượng nguồnnhân lực của Cảng ngày càng cao Tính đến thời điểm năm 2013, số lượng cán bộ cótrình độ đại học và trên đại học là 146 người, chiếm trên 23% tổng số lao động Các bộphận quản lý điều hành đã ứng dụng thành thạo công nghệ thông tin trong công tácnghiệp vụ, từ khâu quản lý hàng hóa, lập sơ đồ chất xếp hàng, tác nghiệp điều động tàucập,rời bến, trao đổi thông tin nghiệp vụ với khách hàng và thông tin nội bộ…
Với thành tích đó, Cảng Đà Nẵng đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặngHuân chương lao động hạng ba, Huân chương lao động hạng nhì, Huân chương lao độnghạng nhất, Huân chương độc lập hạng ba, Huân chương độc lập hạng nhì Liên tục các
Trang 7năm gần đây, cảng Đà Nẵng luôn được tặng Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ Đây làphần thưởng ghi nhận công lao đóng góp, sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ côngnhân viên Cảng Đà Nẵng, đồng thời cũng giúp Cảng Đà Nẵng vững tin hơn cho mộttương lai tươi sáng, vững bước trên con đường phát triển trở thành một trong những cảngbiển hiện đại hàng đầu của cả nước cũng như khu vực.
Phát huy thành tựu đã đạt được, trong kế hoạch đến năm 2017 và kế hoạch dài hạnđến năm 2020, Cảng Đà Nẵng tiếp tục đầu tư phương tiện thiết bị, nâng cấp cầu tàu đểđạt mục tiêu 12 triệu tấn hàng hóa thông qua trong đó hàng container đạt 600.000 TEUs
II Quá trình hình thành và phát triển của Cảng Đà Nẵng:
1 Quá trình hình thành:
- Ngày 19/01/1976 Cảng Đà Nẵng được Bộ Giao thông Vận tải giao Cục đường
biển trực tiếp quản lý tại Quyết định số 222-QĐ/TC
- Ngày 15/6/1993 Thực hiện Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội
đồng Bộ trưởng, Bộ Giao thông Vận tải đã ra Quyết định số 1163/QĐ-TCLĐ thành lậpdoanh nghiệp Nhà nước Cảng Đà Nẵng trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam
- Ngày 08/5/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 91/1998/QĐ-TTg chuyển Cảng Đà Nẵng làm thành viên của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam.
- Ngày 12/10/2007 Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Quyết định số
3089/QĐ-BGTVT về việc chuyển Cảng Đà Nẵng – Công ty thành viên hạch toán độc lậpthuộc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam thành Công ty TNHH Một thành viên Cảng ĐàNẵng
- Ngày 01/4/2008 Cảng Đà Nẵng hoàn thành các thủ tục chuyển đổi và đăng ký
kinh doanh, chính thức hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Tháng 5/2014, thực hiện mục tiêu của Chính phủ được nêu trong Nghị định
59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốnnhà nước thành Công ty cổ phần, Công ty TNHH Một thành viên Cảng Đà Nẵng tiếnhành cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty cổ phần Cảng Đà Nẵng
2 Quá trình phát triển Cảng Đà Nẵng
Trang 8 Trước năm 1975: Cảng Đà Nẵng chủ yếu cho thuê kho tàng, cầu tàu, phương
tiện, thiết bị, thu lệ phí và thu cước vì vậy lực lượng công nhân bốc xếp do nghiệp đoànbốc vác tự quản, lực lượng tham gia sản xuất quản lý tại Cảng được kết cấu bằng nhiều tổchức, đảng phái phản động (có cả CIA, thám báo, mật vụ)
- Thời gian đầu hoạt động, Cảng Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn như: cầu bến, khobãi, phương tiện, luồng lạch bị hư hỏng, thiếu hụt nặng, gần như không hoạt động đượctrong khi yêu cầu khối lượng tiếp nhận hàng hoá phục vụ cho chiến trường miền Nam làrất lớn Cơ cấu, tổ chức bộ máy của cảng chưa ổn định, chức năng nhiệm vụ chưa rõràng, phương thức quản lý chưa đi vào nề nếp và chế độ cụ thể Cán bộ quản lý, nghiệp
vụ thiếu và yếu
- Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn trên vẫn có những thuận lợi cơ bản sau:Cuộc tiến công giải phóng Đà Nẵng của quân và dân ta là một nguồn động viên, cổ vũ rấtlớn đối với cán bộ, công nhân viên cảng Đà Nẵng Một vấn đề đặt ra cấp bách ngay saukhi tiếp quản với Cảng Đà Nẵng là phải làm sao nhanh chóng tiếp nhận được hàng hoá từhậu phương, để chi viện đến phục vụ kịp thời cho việc giải phóng các tỉnh phía Nam.Trước yêu cầu đó, một mặt chúng ta huy động lực lượng công nhân dọn dẹp lại hiệntrường còn ngổn ngang, cấp tốc sửa chữa khôi phục lại 2 tàu kéo Hải Vân và Hà Thân bịhỏng, dò lại luồng lạch vào cảng, tu bổ lại cầu bến, kho bãi, tổ chức lực lượng đón nhậnhàng
- Thành tựu:
+ Ngày 7 tháng 4 năm 1975, 3 con tàu Giải Phóng đã cập bến song Hàn trước sự
chào đón nồng nhiệt của đại diện các tầng lớp nhân dân và học sinh Đà Nẵng
+ Ngày 9 tháng 4, con tàu Bến Thuỷ vào neo giữa dòng sông Hàn, chờ thủy triều
hôm sau có đủ mớm nước để cập vào cầu Cảng
+ Ngày 2 tháng 5, con tàu JIGUANI từ đất nước Cu Ba anh em cũng đến Cảng Đà
Nẵng
1975 - 1976: Cảng Đà Nẵng bắt đầu thực hiện việc sản xuất kinh doanh theo kế
hoạch được duyệt
- Thuận lợi và khó khăn:
Trang 9+ Cảng Đà Nẵng là một cảng biển nằm ở trung điểm của đất nước, sátđường hàng
hải quốc tế, nằm trong vũng có độ sâu tự nhiên tốt, dựa sát núi nhưng lại ngang gió,ngang nước, ngang sóng Chỉ cần sóng gió cấp 5, tàu không thể cập cầu cảng Tiên Sa làmhàng được
+ Trước năm 1975, cảng Đà Nẵng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu chiến tranh nên
cầu, bến xây dựng theo kiểu dã chiến, tạm bợ
+ Nhiều phương tiện, thiết bị phục vụ cho công tác bốc xếp, vận chuyển được chế
tạo tại các nước tư bản, nên vật tư phụ tùng thay thế sửa chữa khan hiếm
+ Phương thức quản lý kiểu cũ không còn phù hợp.
+ Mặt bằng hoạt động của Cảng tuy không lớn nhưng phân tán cách xa nhau, thông
tin liên lực giữa cảng Tiên Sa và cảng sông Hàn thường bị gián đoạn
+ Tuy nhiên, Cảng Đà Nẵng được sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ của Bộ giao
thông vận tải mà trực tiếp là Cục đường biển, của Thường vụ tỉnh uỷ Quảng Nam - ĐàNẵng
- Thành tựu:
+ Trong năm 1976, Cảng đã đón nhận tổng cộng 114 lượt tàu nước ngoài (trong đó
có 74 lượt tàu xã hội chủ nghĩa, 40 lượt tàu tư bản), 315 lượt tàu nội loại lớn, 14 tàu Giảiphóng, 1001 tàu Tự Lực và 73 thuyền ra vào Cảng với tổng sản lượng hàng hoá thôngqua cảng là 535.207 tấn, có trên 50% số tàu đến cảng được giải phóng vượt mức thời gian
từ 6 đến 9 ngày
+ Năm đầu tiên thực hiện sản xuất theo kế hoạch, Cảng đã hoàn thành vượt mức chỉ
tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước và bước đầu đi vào chế độ hạch toán kinh tế
+ Cảng vụ đã quản lý chặt chẽ các tàu ngoại và nội ra vào Cảng được an toàn Công
tác giải phóng tàu hàng được thực hiện nhanh và hiệu quả
1978 và 1979: nhờ tổ chức khai thác tốt, cảng Đà Nẵng đã nâng cao uy tín, được
nhiều hãng tàu trên thế giới và khu vực đến neo đậu làm hàng Cảng đã chủ trường đẩymạnh công tác bốc xếp, giải phóng tàu và đề ra nội dung mới là: “ Thực hiện hợp đồng cóthưởng ”
- Thành tựu:
Trang 10+ Năm 1977, Cảng đã đón 268 lượt tàu nước ngoài, 315 lượt tàu nội loại lớn, 14 tàu
Giải Phóng và 2.134 phương tiện nhỏ, với tổng sản lượng hàng hoá thông qua cảng là598.664 tấn
+ Cuối năm 1977, Cảng Đà Nẵng đã đón tổng số 16 tàu Liên Xô vào cảng (trong đó
thực hiện chủ trương thưởng - phạt thì Cảng Đà Nẵng có đến 11 tàu được giải phóngnhanh thuộc diện thưởng và 5 tàu ta chịu phạt)
+ Tổng sản lượng hàng hoá thông qua cảng năm 1979 là 602.020 tấn, đạt 103% chỉ
tiêu kế hoạch pháp lệnh Nhà nước
+ Năm 1980, tổng sản lượng xuất nhập khẩu hàng hoá thông qua cảng là 428.624
tấn, đạt 107,15% chỉ tiêu kế hoạch năm
+ Năm 1981, tổng sản lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua Cảng là 457.607
tấn, đạt 108,23% chỉ tiêu kế hoạch năm
+ Tuy nhiên, trong những năm này có tình trạng hàng trái cảng chiếm nhiều diện
tích kho bãi, mà rút đi lại quá chậm, hàng khó làm chiếm tỷ lệ ngày một lớn Nếu năm
1978, hàng khó làm chiếm 30,2% tổng sản lượng hàng hoá nhập vào cảng thì sang năm
1979 tăng lên 51,46%, năm 1980 tăng lên 65%, năm 1981 là 55% Trong quá trình đó dù
cố gắng vượt bậc, xí nghiệp cảng vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định, nhất làtrong công tác bốc xếp giải phóng tàu
1982 - 1988: phong trào giải phóng tàu nhanh được phát động và ngày càng đi vào
nề nếp
- Thành tựu:
+ Trong 2 năm 1985 và 1986, Cảng Đà Nẵng đã tiến hành thực hiện một số công
trình lớn như tự đóng được sà lan 250 tấn
+ Xây dựng nhà làm việc của cảng (4 tầng) tại đường Bạch Đằng, sửa chữa lớn 500
mét kè Tiên Sa, nạo vét luồng lạch
1989 – 1990: năm đầu tiên cảng Đà Nẵng thực hiện “từng bước tự trang trải theo
chủ trương của ngành đường biển”, phong trào giải phóng tàu nhanh càng phát triển
mạnh Thời gian này, Xí nghiệp Cảng thực hiện kinh doanh, từng bước tự trang trải theo
Trang 11chủ trương chung của ngành: Tổng cục đường biển giao cho Cảng một chỉ tiêu ngân sáchgồm 3 phần: nộp lãi còn thiếu năm trước, nộp thu quốc doanh và nộp kế hoạch cơ bản.
- Thành tựu:
+ Năm 1989 xí nghiệp cảng đã phấn đấu hoàn thành vượt chỉ tiêu Tổng cục đường
biển giao cho: Nộp lãi năm trước: 26.663.806 đồng đạt 100%, nộp kế hoạch cơ bản115.000.000 đồng đạt 100% và nộp thu quốc doanh 215.229.965 đồng đạt 122% chỉ tiêu
kế hoạch năm
+ Năm 1990, Xí nghiệp cảng đã bốc xếp tổng cộng 430.306 tấn hàng hoá, đạt
100,07% kế hoạch Về doanh thu đạt 7.610.000.000 đồng trong đó nộp ngân sách1.120.351 đồng đạt 215% và tổng số tiền lãi cả năm là 990.342.565 đồng (bình quân lãi668.698 đồng/người/năm)
1990 – 1995: Cảng Đà Nẵng được chọn làm cửa ngõ của dự án Hành lang kinh tế
Đông-Tây Chính phủ và địa phương quan tâm giúp đỡ trong việc đầu tư dự án nâng cấp
và mở rộng Cảng Tiên sa bằng nguồn vốn Ngân sách và vốn và JBIC với tổng kinh phígần 100 triệu USD, qua đó Cảng Đà Nẵng có được con đê chắn sóng, nhà điều hành, bãicontainer, kho CFS, thiết bị bốc xếp container và chương trình phần mềm khai thác cảng,
hệ thống giao thông vào cảng được mở rộng thành 33 mét, cầu Tuyên Sơn và cầu vượtnút giao thông Hòa Cầm được xây dựng
1996 – 2010: Cảng đã có những thay đổi lớn về công tác đầu tư Bằng nhiều
nguồn vốn, trong đó nguồn vốn tự có từ áp dụng rút ngắn thời gian khấu hao, cộng vớiquỹ phát triển sản xuất được trích từ lợi nhuận kinh doanh để đầu tư thay thế dần cácphương tiện cũ, sử dung kém hiệu quả, tăng cường nguồn phương tiện xe nâng, xe cầu,
xe xúc, các loại xe vận chuyển hàng hóa và nhiều công cụ làm hàng phục vụ cho côngviệc xếp dỡ hàng nhanh tại cảng, đáp ứng được yếu cầu nâng cao năng xuất, chất lượngdịch vụ Hệ thống nhà kho, bãi tại Tiên Sa được tu bổ thường xuyên và được xây mới,mởrộng diện tích về phía Bắc, đáp ứng được lượng hàng hóa lưu kho, bãi ngày một tăng cao.Cảng Sông Hàn trên 500m chiều dài cầu cũng đã được nâng cấp từ năm 2000 bao gồmbến số 1 đến bến số 3, xây dựng mới bến thủy đội
Trang 12 2012 – 2015: Cảng Đà Nẵng tiếp tục thực hiện Dự án nâng cấp và mở rộng Cảng
Tiên Sa giai đoạn II, hướng đến xây dựng các bền nước sâu trên 13m để đón những tàucontainer 3.000 TEU, các tàu hàng tổng hợp có sức chở đến 50.000DWT và các tàukhách đến 75.000 GRT; xây dựng khu kho, bãi trung chuyển diện tích khoản 30 đến 50
ha, tổng giá trị đầu tư ước thực hiện 60 triệu USD Đặc biệt, với hệ thống bốc xếpcontainer ngày một hiện đại, đã làm tăng năng suất bốc xếp và lượng hàng container quaCảng Đà Nẵng
Trang 13PHẦN 2: NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA CÔNG TY
I Phác thảo tuyên bố viễn cảnh và sứ mệnh
1 Các bên hữu quan
Trước khi phác thảo viễn cảnh và sứ mệnh của Cảng Đà Nẵng ta cần phân tích các
bên hữu quan vì “Các bên hữu quan ảnh hưởng cơ bản nhất đến sự sống còn của công ty
và để chắc chắn rằng sự thỏa mãn của họ ở mức cao nhất” Các nhóm hữu quan mà Cảng Đà Nẵng phải thỏa mãn nếu nó muốn tồn tại và thịnh vượng đó là:
a Các bên hữu quan bên ngoài:
- Khách hàng: “Khách hàng cung cấp thu nhập cho công ty và qua trao đổi họ muốn
sản phẩm chất lượng cao, tin cậy tương ứng với giá trị tiền của họ” Khách hàng luôn
đòi hỏi một chất lượng dịch vụ không chỉ về giá cả, sự thuận tiện, an toàn mà còn cả yếu
tố thời gian, không gian, phong cách và thái độ phục vụ Với phương châm xem kháchhàng là người quyết định sự tồn tại và phát triển cuả mình, Cảng Đà Nẵng đã khôngngừng nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng bằng cách cung cấp dịch vụ ngày càng tốthơn với thủ tục đơn giản, định hướng vào chính lợi ích thiết thực của khách hàng:
+ Xu thế hiện nay chủ tàu và khách hàng thường phải sử dụng phương tiện vận chuyển cỡlớn, nhu cầu đòi hỏi cần có độ sâu mớn nước phù hợp, cầu bến an toàn và đảm bảo đủ độsâu luồng dẫn tàu để tàu vào cập cầu an toàn Từ đó, Cảng đã và đang thực hiện kế hoạchnạo vét để việc đưa tàu của khách hàng cập cảng được thuận lợi, hàng hóa qua Cảngkhông hao hụt số lượng, suy giảm chất lượng
+ Bên cạnh đó Cảng thực hiện việc sản xuất, giám sát thực hiện, nghiệm thu bàn giao sảnphẩm đưa vào sử dụng, bảo hành sản phẩm theo theo đúng tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000của hệ thống Khai thác và quản lý cảng do đơn vị BV - Vương quốc Anh công nhận.+ Phòng Kinh doanh là đầu mối kiểm tra và ghi nhận chất lượng của dịch vụ cung ứngcho khách hàng, đồng thời Ban quản lý chất lượng ISO của Công ty có nhiệm vụ tổnghợp và điều chỉnh quy trình tác nghiệp nhằm mục tiêu cung ứng dịch vụ hoàn hảo chokhách hàng
Trang 14+ Đối với luồng trước bến và sửa chữa công trình: Định kỳ 06 tháng khảo sát độ sâu khunước trước bến và kiểm tra thêm khi cần thiết, thường xuyên duy tu sửa chữa kho, bãi,đệm tựa tàu,… đảm bảo phục vụ nhu cầu khách hàng.
+ Cảng xem yếu tố chất lượng dịch vụ là mục tiêu hàng đầu Không ngừng cải tiến vàhoàn thiện công nghệ xếp dỡ, công tác quản lý và nguồn lực nhằm tăng năng suất, tạođiều kiện giải phóng tàu nhanh, giảm thiểu thời gian neo đậu tàu tại Cảng, đảm bảo sự antoàn tàu biển, an toàn hàng hóa khi có tàu cập Cảng làm hàng; đảm bảo dịch vụ cảng luônsẵn sàng phục vụ 24/24
+ Cảng đã luôn quan tâm nghiên cứu phát triển sản phẩm dịch vụ mới, đầu tư, nâng cấptrang thiết bị và ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất và cung cấp dịch vụ, qua đógóp phần gia tăng năng suất, cải tiến hình thức và chất lượng dịch vụ, đem lại hiệu quảcao hơn trong quá trình phục vụ khách hàng như: đầu tư trang thiết bị, xây dựng côngtrình,…
- Nhà cung cấp: “Các nhà cung cấp đem đến cho công ty các đầu vào và qua trao đổi để tìm kiếm thu nhập và những người mua có thể phụ thuộc vào họ.” Cảng luôn tìm kiếm và hợp tác với các đối tác, khách hàng mới, hợp tác với các nhà vận tải đường biển, đường
bộ, đường sắt, hải quan, các nhà giao nhận kho vận, các cảng biển khác để hình thành nên một dây chuyền cung ứng dịch vụ cho khách hàng.
- Chính phủ: “Chính phủ đưa ra các quy tắc và những sự điều chỉnh mà chi phối các
hoạt động của công ty” Công ty hoạt động trong lĩnh vực quản lý và khai thác Cảng biển
nên sự phát triển của ngành Cảng biển có ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả kinh doanhcủa Công ty Vừa qua, Bộ Giao thông Vận tải đã có những rà soát, điều chỉnh lại quyhoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, định hướng đếnnăm 2030 cho sát với tình hình thực tế Theo đó, lần quy hoạch này vẫn tập trung pháttriển hệ thống cảng biển để nhanh chóng hội nhập với các nước tiên tiến trong khu vực,phát triển hợp lý các cảng tổng hợp quốc gia, cảng chuyên dùng, cảng địa phương đảmbảo tính thống nhất trong toàn hệ thống Điều này có thể dẫn tới rủi ro về vấn đề hạ tầng
Trang 15mặt bằng của Công ty trước mắt chưa kịp đáp ứng được sức nóng tăng trưởng của cơ sởvật chất cũng như sức ép cạnh tranh trên thị trường.
- Cộng đồng địa phương: “ Cộng đồng địa phương cung cấp cho công ty cơ sở hạ tầng
địa phương, và trong trao đổi nó mong muốn các công ty trách nhiệm như là các công
dân” Hiện nay, Cảng Đà Nẵng đang từng buớc triển khai áp dụng hệ thống quản lý môi
trường theo chuẩn ISO 14001:2010 để bảo vệ môi trường, một trong những yếu tố quantrọng để phát triển bền vững
b Các bên hữu quan bên trong:
- Cổ đông: “Cung cấp vốn cho công ty và qua trao đổi họ kỳ vọng một tỷ suất sinh lợi
trên vốn đầu tư thích hợp”.
- Nhân viên: “Tập thể nhân viên cung cấp sức lao động, các kỹ năng và qua trao đổi họ
kỳ vọng về thu nhập tương xứng, sự thỏa mãn và an toàn công việc, cũng như các điều
kiện làm việc tốt” Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của các
chiến lược phát triển Cảng Đà Nẵng nói chung, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhnói riêng
Nhận thức sâu sắc được điều đó, công tác phát triển và nâng cao chất lượng nguồnnhân lực luôn được lãnh đạo Cảng Đà Nẵng quan tâm đặc biệt:
+ Lực lượng lao động kỹ thuật của Cảng đã được đào tạo chuyên môn bài bản, chủ yếu làcác ngành nghề chính của Cảng như công nhân bốc xếp tổng hợp, giao nhận hàng hóa, láicẩu
+ Cảng đã đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBCNV để có thể quản lý vàđiều hành SXKD theo phương pháp quản trị tiên tiến và sử dụng có hiệu quả các trangthiết bị mới Đi đôi với công tác tự đào tạo tại đơn vị, Cảng đã cử CBCNV đi học các lớpđại học, trên đại học, các khóa học trong và ngoài nước về các chuyên ngành mới có liênquan đến Cảng
+ Ngoài ra, Cảng còn ưu tiên tuyển dụng các cán bộ, công nhân trẻ có năng lực chuyênmôn về Cảng công tác
Trang 16Để thu hút và gìn giữ nhân tài đặc biệt là trong cơ chế thị trường, phát huy nănglực của mọi cá nhân, Cảng đã có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, hợp lý cho người laođộng:
+ Trong suốt quá trình hoạt động, Cảng Đà Nẵng luôn quan tâm chăm lo cải thiện đờisống vật chất và tinh thần cho CBCNV Cảng đã từng bước xây dựng, đổi mới hoàn thiện
cơ chế trả lương cho người lao động
+ Cùng với việc nâng cao đời sống vật chất, Cảng Đà Nẵng cũng không ngừng quan tâmbảo vệ sức khỏe, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, bảo đảm an toàn - vệsinh lao động
+ Do sự nổ lực của toàn thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Cảng Đà Nẵng, trongnhững năm qua mặc dù sản lượng hàng hóa thông qua Cảng liên tục tăng nhưng số vụ tainạn lao động xảy ra trực tiếp trong quá trình lao động có xu hướng giảm, không phát sinhthêm trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp
2 Viễn cảnh
“Chúng tôi mong muốn phát triển bền vững như là cảng biển hàng đầu tại miền Trung Việt Nam, bằng hệ thống quản lý chất lượng, cung ứng dịch vụ hoàn hảo và định hướng lợi ích khách hàng”.
3 Sứ mệnh
“Cung cấp cho khách hàng các giải pháp logistics hiệu quả nhất với chất lượng dịch
vụ cạnh tranh trên thị trường: giá cả hợp lý; con người chuyên nghiệp; an toàn, thuận tiện khi sử dụng dịch vụ tại cảng”.
II Đánh giá năng lực quản trị
1 Cấu trúc tổ chức
Trang 17(Nguồn: http://danangportvn.com/)
Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng hoạt động theo Điều lệ tổ chức và hoạt động củaCông ty do Đại hội đồng cổ đông thông qua, căn cứ theo các quy định của Luật Doanhnghiệp, dưới sự quản trị, giám sát và điều hành của Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát vàBan Tổng giám đốc Bộ máy tổ chức của Công ty theo mô hình công ty cổ phần như sau:
- Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của
Công ty Đại hội đồng cổ đông thường niên được tổ chức mỗi năm một lần
- Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, hoạt động kinh doanh
và các công việc của Công ty phải chịu sự giám sát và chỉ đạo của Hội đồng quản trị
- Ban Kiểm soát: Ban Kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt cổ đông để
kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của Công ty
- Ban điều hành: Gồm Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc Tổng giám đốc là đại
diện theo pháp luật của Công ty
Trang 18+ Tổng giám đốc: Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngàycủa Công ty, Tổng giám đốc chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệmtrước Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông, trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm
vụ và quyền hạn được giao và phải báo cáo các cơ quan này khi được yêu cầu Tổng giámđốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm
+ Các Phó Tổng giám đốc: Giúp việc cho Tổng giám đốc trong chỉ đạo, điều hành vàthực hiện từng lĩnh vực quản lý Công ty theo phân công và ủy quyền của Tổng giám đốc,chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân cônghoặc được ủy quyền
+ Xưởng sửa chữa
+ Đội cơ giới
- Các đơn vị thành viên: Sau cổ phần hóa, Công ty sẽ tiếp tục nắm giữ vốn cổ phần tại cáccông ty con, công ty liên kết, liên doanh như trước khi cổ phần hóa, cụ thể như sau:
+ Các doanh nghiệp mà Công ty nắm giữ trên 50% vốn điều lệ:
1 CTCP Logistics Cảng Đà Nẵng;
Trang 192 CTCP Xây dựng và Thuơng mại Cảng Đà Nẵng;
3 CTCP Tàu lai Cảng Đà Nẵng
+ Các doanh nghiệp mà Công ty nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống: CTCP Cảng tổng
hợp – Dịch vụ Dầu khí Sơn Trà
2 Văn hóa- Con người
Công tác phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn được lãnh đạoCảng Đà Nẵng quan tâm đặc biệt:
+ Lực lượng lao động kỹ thuật của Cảng đã được đào tạo chuyên môn bài bản, chủ yếu làcác ngành nghề chính của Cảng như công nhân bốc xếp tổng hợp, giao nhận hàng hóa, láicẩu
+ Cảng đã đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ CBCNV để có thể quản lý vàđiều hành SXKD theo phương pháp quản trị tiên tiến và sử dụng có hiệu quả các trang
Trang 20thiết bị mới Đi đôi với công tác tự đào tạo tại đơn vị, Cảng đã cử CBCNV đi học các lớpđại học, trên đại học, các khóa học trong và ngoài nước về các chuyên ngành mới có liênquan đến Cảng.
+ Ngoài ra, Cảng còn ưu tiên tuyển dụng các cán bộ, công nhân trẻ có năng lực chuyênmôn về Cảng công tác
3 Hệ thống khen thưởng động viên:
Để thu hút và gìn giữ nhân tài đặc biệt là trong cơ chế thị trường, phát huy nănglực của mọi cá nhân, Cảng đã có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, hợp lý cho người laođộng:
+ Trong suốt quá trình hoạt động, Cảng Đà Nẵng luôn quan tâm chăm lo cải thiện đờisống vật chất và tinh thần cho CBCNV Cảng đã từng bước xây dựng, đổi mới hoàn thiện
cơ chế trả lương cho người lao động
+ Cùng với việc nâng cao đời sống vật chất, Cảng Đà Nẵng cũng không ngừng quan tâmbảo vệ sức khỏe, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, bảo đảm an toàn - vệsinh lao động
+ Do sự nổ lực của toàn thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Cảng Đà Nẵng, trongnhững năm qua mặc dù sản lượng hàng hóa thông qua Cảng liên tục tăng nhưng số vụ tainạn lao động xảy ra trực tiếp trong quá trình lao động có xu hướng giảm, không phát sinhthêm trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp
III Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty:
Trang 21- Kho bãi và lưu trữ hàng hóa trong kho ngoại quan
- Kho bãi và lưu trữ hàng hóa trong kho đông lạnh
- Kho bãi và lưu trữ hàng hóa trong kho khác
3 Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường thủy
Chi tiết:
- Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải ven biển và viễn dương;
- Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường thủy nội địa
4 Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải
Chi tiết:
- Dịch vụ đại lý tàu biển;
- Dịch vụ đại lý vận tải đường biển;
5 Dịch vụ ăn uống
Chi tiết:
- Nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động
- Cung cấp dịch vụ ăn uống theo hợp đồng không thường xuyên và dịch vụ ănuống khác
6 Bán buôn nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan
Chi tiết:
- Bán buôn dầu thô, xăng dầu và các sản phẩm liên quan
7 Bán lẻ nhiên liệu động cơ trong các cửa hàng chuyên doanh
8 Bán lẻ hàng hóa khác trong các cửa hàng chuyên doanh
- Bán lẻ hàng hóa khác chưa phân vào đâu trong các cửa hàng chuyên doanh
9 Sản xuất các thiết bị nâng, hạ và bốc xếp.