1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CTCP DT MAY DU t THNG MI THANH CON

16 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tháng 09/2014: Công ty chính thức được cấp phép đầu tư Dự án nhà máy sản xuất và kinh doanh sản phẩm hàng dệt may tại Khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long.. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG Lĩnh v

Trang 1

BÁO CÁO LẦN ĐẦU Ngày 06 tháng 08 năm 2019 TCM – Nắm Giữ

THÔNG TIN CỔ PHIẾU

(ngày 06/08/2019)

Số lượng CPLH (Triệu

CP)

57,91

CHUYÊN VIÊN PHÂN TÍCH

Trịnh Văn Hà

tvha@vcbs.com.vn

+84-2838200796 ext 643

Hệ thống báo cáo phân tích của VCBS

www.vcbs.com.vn/vn/Services/AnalysisResearch

VCBS Bloomberg Page:

TCM – đứng trước cơ hội lớn nhưng công suất đã toàn

dụng – Nắm giữ

DTT (tỷ đồng) 3.210 3.664 3.923 4.336 +/- yoy (%) 14% 7% 11%

LNST (tỷ đồng) 193 260 234 301 +/- yoy (%) 35% -10% 29%

VCSH (tỷ đồng) 1.072 1.276 1.421 1.640 Nợ/TTS (%) 65% 68% 65% 61%

TS LN gộp (%) 16% 18% 17% 18%

ROE (%) 19% 22% 17% 20%

Tỷ suất cổ tức 5% 5% 15% 15%

EPS - (đồng) 3.713 4.778 4.026 5.187

BVPS (đồng) 18072 18.461 26.204 30.232

 TCM là một trong số ít các công ty trên thị trường hưởng lợi nhiều từ các hiệp định thương mại tự do như CPTPP hay EVFTA do có quy trình sản xuất khép kín

từ sợi trở đi thỏa mãn các điều kiện về xuất xứ TCM đang tập trung phát triển thị

trường Châu Âu để đón đầu hiệp định EVFTA Đây là thị trường khá tiềm năng trong thời gian tới với các ưu đãi lớn về thuế và được tạo điều kiện xúc tiến thương mại dễ hơn

 Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đem lại lợi thế cho ngành dệt may Việt Nam nói chung và TCM nói riêng Qua trao đổi với doanh nghiệp, tháng 4.2019 đã

có một khách hàng lớn từ Mỹ đã ký hợp đồng với số lượng nhỏ nhưng dự kiến sẽ tăng trưởng tốt trong tương lai

 KQKD năm 2018 tích cực mặc dù phải trích lập dự phòng 85 tỷ đồng do khách hàng phá sản Theo đó, doanh thu và lợi nhuận lần lượt đạt 3.662 tỷ đồng và đồng

260 tỷ đồng, tương ứng đạt 115,6% và 137,47% kế hoạch KQKD 6T.2019, công ty

đạt 1.769 tỷ đồng doanh thu (+7.3% yoy), thực hiện 44,7% kế hoạch năm LNST chỉ đạt 95 tỷ đồng (-18,5% yoy) hoàn thành 49% kế hoạch năm chủ yếu do biên lợi nhuận sụt giảm 2,2% so với cùng kỳ

 Chúng tôi dự phóng doanh thu năm 2019 tăng trưởng 7%, đạt 3.923 tỷ đồng

LNST đạt 234 tỷ đồng (-10,3% yoy) do không còn lợi nhuận khác từ hoạt động thanh

lý các khoản đầu tư và biên lợi nhuận gộp sụt giảm Theo đó, EPS 2019 là 4.026 đồng/cp Với mức giá hiện tại là 25.900 đồng/cổ phiếu, TCM đang giao dịch tại PE

là 6,1x Chúng tôi khuyến nghị Nắm giữ đối với TCM với giá mục tiêu 27.700

đồng/cp

Trang 2

TỔNG QUAN DOANH NGHIỆP

Lịch sử và quá trình tăng

vốn điều lệ

Công ty Cổ phần Dệt May Thành Công tiền thân là Hãng Tái Thành Kỹ nghệ Dệt được thành lập năm

1967

Tháng 09/2014: Công ty chính thức được cấp phép đầu tư Dự án nhà máy sản xuất và kinh doanh sản phẩm hàng dệt may tại Khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long Tháng 11/2014, Công ty được cấp giấy chứng nhận đầu tư Dự án TC Tower – dự án khu nhà ở chung cư cao tầng kết hợp thương mại dịch

vụ do TCM và E-land Asia Holdings Pte.Ltd cùng góp vốn

Cơ cấu cổ đông Cơ cấu cổ đông của TCM bao gồm 2 tổ chức chính là E-Land Asia (có trụ sở tại Singapore là thành viên

của tập đoàn Eland của Hàn quốc) chiếm 43,3% số cổ phần, Công ty TNHH Liên doanh Quản lý quỹ Vietcombank chiếm 2,58% và một số cá nhân chủ chốt trong công ty chiếm phần nhỏ, còn lại là các cổ đông cá nhân/tổ chức khác

ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG

Lĩnh vực hoạt động và các

nhóm sản phẩm chính

TCM là một trong số ít công ty, bên cạnh VGT và PPH, có hệ thống sản xuất dệt may khép kín từ sợi đến dệt/đan vải, nhuộm cho tới sản xuất thành phẩm là sản phẩm quần/áo hoàn thiện đáp ứng đầy đủ

điều kiện về xuất xứ của các hiệp định thương mại như CPTPP và EVFTA Hiện nay, TCM đang vận hành 02 nhà máy tại Quận Tân Phú TPHCM và tại Vĩnh Long Hệ thống sợi với tổng công suất lên tới 10.000 tấn/năm, hệ thống dệt với 125 máy có công suất 15 triệu mét/năm, hệ thống đan với công suất 15.000 tấn/năm cho tới hệ thống nhuộm để đưa ra vải thành phẩm (12 triệu mét vải dệt, 9.000 tấn vải đan) Các chủng loại sản phẩm chủ yếu là sợi cotton, viscose, polyester, vải đồng phục, vải cotton, thời trang Sản lượng vải sản xuất ra đủ phục vụ cho 60% nhu cầu nội bộ của công ty (công suất nhà máy may lên tới 28 triệu sản phẩm/năm và đã chạy 100% công suất)

43%

2,58%

51%

Cơ cấu cổ đông tới tháng 6/2019

E-land Asia VCBF

Lê Quốc Hưng Eland Vietnam Ltd Khác

Nguồn: TCM

Trang 3

14-16%

Đối với mảng may mặc, TCM chủ yếu sản xuất áo thun và theo hình thức FOB có biên lợi nhuận tương đối cao so với phương thức truyền thống là CMT

Ngoài ra, TCM có thêm mảng kinh doanh Bất động sản với việc sở hữu 85,53% Công ty TNHH TC

Tower nhưng hiện đang trong quá trình điều chỉnh giấy phép đầu tư để thực hiện dự án TC 1

Cơ cấu doanh thu theo sản

phẩm

Doanh thu và LNG của TCM chủ yếu đến từ mảng may mặc Cụ thể năm 2018, mảng may mặc chiếm

70,9% doanh thu nhưng chiếm tới 76% lợi nhuận gộp do có mức biên LNG cao hơn trung bình Mảng sản xuất vải chiếm cơ cấu doanh thu và LNG tương ứng là 14,6% và 15,5% Mảng sản xuất sợi chiếm 12,8% trên tổng doanh thu nhưng chỉ mang lại 5,9% LNG Đây cũng là lý do công ty quyết định tái cấu trúc lại ngành sợi bằng việc cho dừng hoạt động của nhà máy sợi 3 tại Long An, chuyển nhà máy sợi số

2 tại KCN Tân Bình sang sản xuất vải Phần còn lại chiếm tỷ trọng khá nhỏ là phòng khám đa khoa, may

áo thun đồng phục theo đơn đặt hàng tại thị trường nội địa

Nguồn: VCBS tổng hợp

Thương hiệu Thiết kế Tìm nguồn cung NVL Cắt, may Phân phối, bán lẻ

75,8%

70,9%

15,5%

14,6%

5,9%

12,8%

0% 20% 40% 60% 80% 100%

Lợi nhuận gộp

Cơ cấu doanh thu

Cơ cấu doanh thu, LNG năm 2018

May Vải Sợi Khác

18-20%

20-25%

BLNG

25-50%

FOB ODM

OBM

CMT

Chuỗi giá trị ngành dệt may

Trang 4

Nguồn NVL

Các thị trường chính

Sợi Cotton là sản phẩm chiếm 51% tổng công suất sợi nên bông là NVL rất quan trọng và chiếm phần

lớn trong sản xuất Hiện nay bông NVL được nhập chủ yếu từ Mỹ, Brazil, Tây Phi Ngoài ra các loại Xơ (Polyester, Viscose) được nhập từ Thái Lan, Indonesia, Đài Loan và phần nhỏ trong nước để sản xuất sợi Viscose (30% công suất), sợi pha Do đó, giá bông hay sợi đầu vào sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới biên lợi nhuận của toàn công ty Sản lượng sợi có thể đáp ứng 100% nhu cầu của sản xuất vải Sản lượng vải chỉ đáp ứng 60% công suất may nội bộ, phần còn lại tùy thuộc vào sản phẩm hay khách hàng sẽ có các loại vải khác công ty phải nhập bên ngoài về

Hàn Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của TCM nhờ cổ đông lớn nhất là E-land với 26% tổng doanh

thu, tiếp đó là các thị trường Hoa Kỳ, Nhật bản, Trung Quốc và EU

PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Các thị trường xuất khẩu

chính của ngành Dệt may

Việt Nam

Hoa Kỳ vẫn luôn là thị trường nhập khẩu hàng đầu của ngành dệt may Việt Nam với tỷ trọng 44,9%

toàn ngành đã tăng 1,9% thị phần lên tới 46,8% chỉ trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 5,7 tỷ USD (+11,5% yoy) Theo sau là các thị trường như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc với tỷ lệ lần lượt là 12,8%, 12% và 9,5% trong 5 tháng đầu năm 2019 Về tốc độ tăng trưởng, 02 đối tác Australia và Canada (là thành viên của CPTPP) đang là hai nước có tốc độ tăng trưởng về nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam rất tốt lần lợt là 24% và 22% (Nguồn: Tổng cục thống kê), tuy nhiên về giá trị tuyệt đối vẫn nhỏ hơn nhiều so với các quốc gia xếp trên

26%

25%

22%

12%

11%

Cơ cấu doanh thu xuất khẩu năm 2018

Hàn Quốc Hoa Kỳ Nhật Bản Trung Quốc EU Khác

Nguồn: BCTN 2018

10,86%

89,14%

Cơ cấu doanh thu

Trong nước Xuất khẩu

44,9%

13,6%

12,5%

10,8%

10,3%

46,8%

12,8%

12,0%

9,5%

11,4%

Các thị trường xuất khẩu chính của ngành dệt

may Việt Nam

Hoa Kỳ EU Nhật Bản Hàn Quốc

Trung Quốc Canada Khác

Vòng trong: 2018 Vòng ngoài: 5T/2019

Nguồn: Tổng cục thống kê

Hoa Kỳ EU Nhật Bản Hàn Quốc Trung Quốc Canada Australia Khác

Thị trường xuất khẩu chính của ngành dệt may Việt Nam (Triệu USD)

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 5

Ngành dệt may đứng trước

nhiều cơ hội phía trước

Nhiều thách thức đồng hành

Tốc độ tăng trưởng của hai thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản khá tốt trong năm 2018 (lần lượt đạt +22,5% yoy, và +24,9% yoy) tới 5 tháng 2019 đã chậm lại chỉ đạt mức 8% và 11% tương ứng

Ngành dệt may đang đứng trước cơ hội lớn từ các hiệp định thương mại và căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung Quá trình dịch chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc trong ngành dệt may đã diễn ra

vài năm trở lại đây kết hợp với chất xúc tác là căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung càng làm quá trình này diễn ra nhanh hơn Chính vì vậy các nhà nhập khẩu đang chuyển dần đơn hàng ra các nước có chi phí lao động thấp hơn mà vẫn đảm bảo được trình độ tay nghề tốt như Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh

Cụ thể, trong bốn tháng đầu năm 2019, thị phần hàng dệt may xuất sang Hoa Kỳ của Trung Quốc đã giảm mạnh còn 27,4% (so với 33% năm 2018) rơi vào tay Việt Nam (+1,3% thị phần), Ấn Độ (+1,3% thị phần), Bangladesh (+1,2% thị phần) Như vậy, Việt Nam là một trong những nước hưởng lợi rất lớn từ

xu hướng này

Các hiệp định Thương mại mới mang lại nhiều cơ hội khai phá thị trường mới CPTPP hay EVFTA

là hai hiệp định thương mại mới nhất Việt Nam đã ký kết Canada sẽ miễn thuế hàng dệt may của Việt Nam sau 3 năm từ ngày hiệp định có hiệu lực theo CPTPP Còn EU sẽ miễn thuế sau 3-7 năm đối với hàng dệt may xuất khẩu vào Châu Âu, mức thuế hiện tại vẫn giữ nguyên từ 8-12% Với EVFTA, các sản phẩm dệt may cuối cùng sẽ được miễn thuế hoàn toàn theo lộ trình từ 3 – 7 năm Đây là cơ hội rất lớn cho các công ty dệt may Việt Nam mở rộng thị trường với 28 nước thành viên và quy mô hơn 500 triệu người, GDP 2018 đạt hơn 16.000 tỷ USD – thị trường dệt may còn bỏ ngỏ quá nhiều đối với Việt Nam

do rào cản về thuế và khả năng cạnh tranh về giá đối với các nước được hưởng ưu đãi thuế GSP như Bangladesh, Cambodia, Myanmar Hiện TCM đã tiếp xúc với một số đối tác mới tại EU để tận dụng cơ hội này Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức tìm hiểu, chưa có hợp đồng chính thức nào được ký kết

Ngành dệt may Việt Nam đang vướng nút thắt tại ngành vải Do đặc thù ngành sản xuất vải phải

thông qua giai đoạn nhuộm – giai đoạn sử dụng nhiều hóa chất nhuộm vải và thải ra rất nhiều nước thải độc hại công thêm suất đầu tư lớn khiến cho các nhà sản xuất dệt may không “mặn mà” đầu tư vào ngành vải Ngoài ra các nguyên phụ liệu cho ngành may cũng không chủ động được mà hầu hết nhập từ nước ngoài như bông, hạt nhựa Hiện lượng sản xuất vải trong nước chỉ đáp ứng hơn 30% nhu cầu của ngành may

33,0%

14,7%

4,6%

6,5%

5,4%

31,7%

27,4%

16,0%

5,9%

7,7%

5,9%

33,1%

Thị phần xuất khẩu dệt may vào Mỹ

China Vietnam India Mexico Bangladesh Indonesia Others

Vòng trong: 2018 Vòng ngoài: 4M/2019

Nguồn: OTEXA

Trang 6

Chính “nút thắt cổ chai” này đã kìm hãm ngành dệt may với các quy định chặt chẽ từ xuất sứ của các hiệp định thương mại

Việc không chủ động được nguồn nguyên vật liệu khiến doanh nghiệp khó quản trị về mặt chi phí khiến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp không thực sự chủ động khi giá nguyên vật liệu thay đổi nhiều:

Tuy giá bông đầu vào đang giảm và có xu hướng tiếp tục giảm trong tương lai, nhưng chiến tranh thương mại Mỹ Trung đã làm cho Trung Quốc bán phá giá sợi trên thị trường khiến cho giá sợi giảm giá mạnh Điều này khiến cho biên lợi nhuận gộp mảng sợi bị ảnh hưởng nặng nề

Các hiệp định thương mại cũng có nhiều yêu cầu hơn về chất lượng, xuất xứ nếu các doanh nghiệp

nội không theo kịp sẽ là một bất lợi lớn khi các doanh nghiệp FDI với nguồn vốn lớn, kinh nghiệm sản xuất lâu năm có thể giành hết thị phần

Phân tích SWOT

 Chu trình sản xuất khép kín từ sợi cho đến sản phẩm cuối cùng thì TCM là duy nhất doanh nghiệp trên sàn hội tụ đủ điều kiện

để hưởng lợi thuế từ các hiệp định thương mại tự do

 TCM có số lượng khách hàng lớn, phân tán

và đã có lịch sử giao dịch lâu đời, đặc biệt

là có sự hỗ trợ từ tập đoàn E-Land – cổ đông lớn nhất của công ty Sự việc SEARs phá sản và không có khả năng thanh toán công nợ nhưng TCM vẫn không rơi vào

 Mặc dù TCM có chu trình khép kín từ sợi trở đi, công ty vẫn không thể chủ động được nguồn NVL bông và sơ sợi đầu vào Với tình hình biến động liên tục của giá NVL đầu vào sẽ khiến BLNG không ổn định

 Toàn bộ phương thức thanh toán là T/T (chuyển tiền trực tiếp) dễ lặp lại rủi ro thanh toán như trường hợp SEARs Hiện tại TCM đang đàm phán với các khách hàng đổi dần qua phương thức thanh toán

500 1.000 1.500 2.000 2.500

2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019F 2020F

Giá bông Giá sơ sợi

Giá bông, sơ sợi qua các năm (USD/tấn)

Nguồn: VITAS, Tradingeconomy

8.397 9.428

10.197 10.482 11.366

12.775

2.000

4.000

6.000

8.000

10.000

12.000

14.000

Nguồn: VITAS

Giá trị nhập khẩu vải của Việt Nam (triệu USD)

1.520 1.559 1.515 1.608

1.814

2.419

0 500 1000 1500 2000 2500 3000

2013 2014 2015 2016 2017 2018

Nguồn: VITAS

Giá trị nhập khẩu sơ sợi của Việt Nam (triệu USD)

Trang 7

khó khăn khi một trong những khách hàng chính gặp rủi ro thanh toán cho thấy rõ hiệu quả từ việc khách hàng phân tán là tốt thế nào

 Điểm mạnh của TCM là sản xuất mặt hàng

áo thun, công nhân đã rất thành thạo về mặt hàng này, nhất là còn nhiều tiềm năng để tăng năng suất tại Vĩnh Long

 Được cấp phép nhà máy nhuộm tại Vĩnh Long và có thể được gia hạn thêm nhà máy nhuộm tại Quận Tân Phú Các vấn đề liên quan đến xử lý nước thải là rào cản lớn nhất đối với ngành sản xuất vải nhưng TCM đã vượt qua các điều kiện này

L/C để đẩy bớt rủi ro qua phía Ngân hàng nhưng chi phí sẽ cao hơn hoặc rút ngắn thời gian thanh toán T/T

 Các nhà máy hiện tại đã chạy hết công suất, khó có dư địa để tăng trưởng mạnh trong thời gian tới nếu không có kế hoạch mở rộng

 Tình hình cạnh tranh về nhân sự đang rất cao Khu vực Vĩnh Long đang có một số nhà máy quy mô lớn hơn của TCM, đang

mở rộng mạnh với nhu cầu nhân sự cao Chi phí nhân công vì đó sẽ có thể tăng trong thời gian tới

 Các hiệp định thương mại như CPTPP hay EVFTA mở ra cơ hội cho TCM khai thác thêm một số thị trường mới như Canada, Australia hay thúc đẩy thị trường còn yếu như EU

 Chiến tranh thương mại giúp cho TCM có thể giành được một số đơn hàng từ thị trường Trung Quốc (thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới)

 Nhà máy ở Vĩnh Long đã đi vào hoạt động

ổn định tạo tiền đề cho việc tiếp tục đầu tư

mở rộng tăng công suất (công suất hiện tại

đã đạt 32USD/người/ngày (so với 30USD/người/ngày năm 2017)

 Lương công nhân tăng dần qua các năm triệt tiêu ưu thế giá rẻ của thị trường Việt Nam nói chung và TCM nói riêng

 Chi phí xử lý nước thải lớn, giá nguyên vật liệu cao khiến giá thành sản xuất cao hơn giá thị trường

 Thách thức từ các đối thủ mới như Bangladesh, Campuchia Trong thời gian gần đây, Bangladesh hay Campuchia nổi lên là đối thủ đáng gờm có thể lấy đơn hàng bất cứ lúc nào với chi phí nhân công giá rẻ hơn so với mặt bằng chi phí tại Việt Nam

So sánh với các DN trong

ngành

Thông tin một số mã niêm yết trong ngành dệt may tại thị trường Việt Nam:

Công

ty

Vốn hóa (Tỷ đồng)

Sản phẩm ền may Chuy- SL công

nhân Năng lực sản xuất Hình thức SX BLNG

2018

TNG 1.324

May gia công áo Jacket

229 12.874 60 triệu sp/năm FOB, CMT,

GIL 614 Balo, túi

Trang 8

GMC 654 Gia công

FOB (hơn

MSH 3.136

May gia công thời trang

144 10.500 72 triệu sản phẩm/năm FOB, CMT 20%

VGG 2.700

Quần tây, kaki, sơ

mi, Jacket

10.300 24,2 triệu SP/năm FOB, CMT, ODM 12%

VGT 5.200 Sợi, vải,

165,4 triệu m2 vải dệt thoi/năm

14.200 tấn vải dệt kim/năm

May: 319 triệu sp/năm

FOB, CMT,

TCM 1.575 Sợi, vải, áo

10.000 tấn sợi/năm

15 triệu mét vải dệt/năm

15 tấn vải đan/năm Nhuộm: 12 triệu mét vải dệt, 9,6 tấn vải đan May: 28 triệu sản phẩm/năm

PPH 1.329 Sợi, vải,

30.000 tấn sợi/năm, 33 triệu m vải, 6.000 tấn vải dệt kim, 10.000 tấn chăn bông/năm

8%

Dữ liệu cập nhật đến Q4.2018, nguồn VCBS tổng hợp

Trên sàn hiện nay chỉ có 3 công ty có quy trình đầy đủ từ kéo sợi đến sản phẩm may cuối cùng như VGT, PPH (cũng thuộc VGT) và TCM Các công ty niêm yết trên sàn chủ yếu sản xuất theo phương thức FOB, một số có thương hiệu riêng và phân phối sản phẩm nước ngoài

Đặc biệt TCM khá mạnh mảng vải và hiện đang dư thừa công suất ngành vải Đây là một lợi thế vô cùng lớn trong việc cạnh tranh trong ngành cũng như việc đón đầu hưởng lợi từ các hiệp định thương mại Tuy nhiên, đây cũng là một phần gây ra bất lợi khi giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến biên lợi nhuận chung của công ty

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KINH DOANH

KQKD từ 2014-2018 Doanh thu trong giai đoạn 2014 – 2018 đạt tốc độ tăng trưởng kép với 9,2% Doanh thu năm 2017

đạt mức tăng trưởng chỉ 4,5% là do công ty tái cấu trúc lại mảng sợi Theo đó, nhà máy sợi 2 tại KCN Tân Bình đã dừng hoạt động do không hiệu quả và chuyển dần sang sản xuất vải (mảng sợi trước đó chiếm khoảng 20-30% doanh thu và nhà máy may Vĩnh Long chưa đi vào hoạt động ổn định, năng suất công nhân vẫn thấp Năm 2018 là năm tăng trưởng mạnh nhất về doanh thu trong giai đoạn này nhờ năng

Trang 9

8,3%

9,9%

4,5%

14,2%

0,0%

5,0%

10,0%

15,0%

0

1000

2000

3000

4000

2014 2015 2016 2017 2018

Hình 11: KQKD giai đoạn 2014 -2018

Total Revenue Gross profits Profit after Tax Revenue Growth

Nguồn: TCM

suất nhà máy may Vĩnh Long đã đạt 32USD/người/ngày (so với 26USD/người/ngày năm 2016, 30USD/người/ngày năm 2017 và 38USD/người/ngày tại TPHCM) và mua lại xưởng may Trảng Bàng (từ công ty TNHH E-land Việt Nam) cùng với lượng đơn đặt hàng tăng lên

Sau khi đạt đáy của biên lợi nhuận gộp năm 2016 với 13,6%, biên lợi nhuận được cải thiện liên tục trong năm 2017 và 2018 (đạt tới 18,5% năm 2018)

Biên lợi nhuận gộp năm 2016 do nhà máy Vĩnh Long hoạt động chưa hiệu quả, công nhân tay nghề còn yếu khiến năng suất lao động chưa cao kết hợp với chi phí khấu hao và giá bông bắt đầu tăng Tới năm

2017 và 2018, nhận thấy nhà máy sợi số 02 tại KCN Tân Bình và nhà máy sợi số 3 tại Long An với tổng công suất 12,500 tấn/năm hoạt động không hiệu quả, thậm chí bị lỗ và dư thừa công suất nên TCM đã quyết định giải thể nhà máy số 3 và chuyển đổi thành nhà máy sợi số 02 để sản xuất vải góp một phần không nhỏ vào việc tăng trưởng biên lợi nhuận Ngoài ra công suất tại nhà máy may Vĩnh Long tăng

cũng là nguyên nhân cho sự tăng trưởng tốt này

KQKD 6 tháng 2019: Doanh thu hợp nhất 06 tháng đầu năm đạt 1.770 tỷ đồng (+7,4% yoy, đạt 44,8% kế hoạch năm)

LNTT hợp nhất đạt khoảng 120 tỷ đồng (-20% yoy, đạt 49,6% kế hoạch năm) Đây là mức tăng

trưởng thấp do giảm đơn hàng của SEARS (đã nộp đơn phá sản và chiếm khoảng 7% doanh thu) và thấp hơn kế hoạch của công ty (kế hoạch năm 2019 doanh thu tăng 10%) Doanh thu quý 2.2019 chỉ đạt 791

tỷ đồng (-1.1% yoy), BLNG đạt 16,3% giảm 170 điểm phần trăm so với cùng kỳ nhưng đã cải thiện 130 điểm phần trăm so với quý trước Điều này chủ yếu do Trung Quốc bán phá giá sợi khiến giá sợi giảm mạnh, khiến cho biên lợi nhuận gộp mảng sợi chỉ còn 2% so với 8-9% năm 2018

Mặc dù khoản lỗ tỷ giá và chi phí tài chính khác trong 6 tháng 2019 ghi nhận chỉ 8,7 tỷ so với 19 tỷ cùng

kỳ, nhưng năm nay không còn khoản lợi nhuận từ thanh lý tài sản cố định lên tới gần 27 tỷ Theo đó, LNST hợp nhất của công ty chỉ đạt 52 tỷ (-23% yoy)

Việc đàm phán giảm số ngày thanh toán với các khách hàng để tránh rủi ro như với SEARs đã làm giảm khả năng cạnh tranh của TCM so với các công ty khác dẫn tới doanh thu 6 tháng đầu năm tăng trưởng không tốt

Ngoài ra, khách hàng Eddie Bauer chiếm khoảng 19% doanh thu mảng may mặc đang lâm vào tình trạng rất khó khăn về tài chính và phải đóng một số cửa hàng tại Mỹ khiến lượng đơn hàng giảm sút Nhận thấy rủi ro, công ty đã thỏa thuận giảm số ngày thanh toán trong phương thức thanh toán T/T với Eddie Bauer càng làm doanh thu giảm hơn

Điểm sáng duy nhất trong 6 tháng đầu năm là việc khách hàng mới đã ký hợp đồng từ tháng 4 Theo

15,3%

18,5%

10,2%

5,5%

3,7%

0,0% 5,0% 10,0% 15,0% 20,0%

0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2

2015 2016 2017 2018

BLNG, chi phí 2015-2018

GP margin SG&A margin ROS

Nguồn: TCM

Trang 10

tương lai Tuy nhiên, đây chỉ là sự hợp tác ban đầu nên lượng đơn hàng sẽ thấp và tăng trưởng tốt nếu TCM đáp ứng đầy đủ các điều kiện của khách hàng này

Tình hình tài chính của

TCM

Tình hình tài chính của TCM đang có nhiều cải thiện tốt Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tốt tạo

điều kiện cho công ty có thể trả nợ tốt qua các năm và tiền mặt ngày càng tăng lên Khả năng thanh toán chính vì vậy cũng tăng lên làm giảm rủi ro tài chính, rủi ro thanh toán

Khả năng sinh lời

Các chỉ số sinh lời đều được cải thiện Chúng tôi đã loại trừ các khoản mục lợi nhuận từ hoạt động khác

như thanh lý tài sản cố định, từ đánh giá lại giá trị khoản đầu tư vào công ty liên doanh liên kết để đánh giá mức sinh lời từ hoạt động kinh doanh chính của công ty

Hiệu quả sử dụng vốn vay dài hạn và vốn chủ sở hữu (ROIC) tăng gần gấp đôi từ năm 2016 đến năm

2018 (đạt 18,2%) Hiệu quả sử dụng tài sản cũng được cải thiện sau khi giảm sút năm 2017 (chỉ đạt 6,6%, giảm 40 điểm phần trăm so với năm liền trước) đã tăng tốt lên 8,5% năm 2018 Biên lợi nhuận ròng cũng tăng trưởng tốt từ 4% năm 2016 tới 7,3% năm 2018

Hiệu quả sử dụng vốn cũng tăng trưởng tốt Năm 2018, ROE đã lên tới 22,9% nếu không tính khoản dự phòng phải thu của SEARs và nếu tính khoản dự phòng đó thì ROE vẫn tăng 70 điểm phần trăm so với năm 2017 và đạt 15,8% Mức tăng trưởng ROE này đến từ (1) cải thiện biên lợi nhuận gộp do cắt giảm những mảng kinh doanh không có hiệu quả, giá NVL đầu vào giảm, (2) tăng năng suất của nhà máy Vĩnh Long, (3) lợi nhuận đến từ bán đất, chênh lệch đánh giá lại khoản đầu tư vào Savimex Như vậy, loại trừ ảnh hưởng của lợi nhuận ngoài hoạt động kinh doanh chính thì việc đầu tư mở rộng công suất và tái cơ cấu những tài sản không hiệu quả đã đem lại cho TCM một kết quả rất tốt trong năm 2017 và 2018 làm tiền đề để công ty tiếp tục phát triển hơn trong tương lai

TRIỂN VỌNG 2019-2023

Triển vọng 2019 Chúng tôi dự báo doanh thu năm 2019 tăng trưởng 7% yoy đạt 3.923 tỷ đồng, biên lợi nhuận gộp

đạt 16,7% và LNST đạt 234 tỷ đồng (-10,3% yoy) với các lý do:

(1) Đơn hàng từ thị trường Mỹ tăng dần do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung làm các nhà nhập khẩu

lo ngại hàng dệt may sẽ bị đánh thuế 25% và chi phí lao động tại Trung Quốc tăng cao

(2) Công suất tăng 5% với việc bổ sung thêm nhà máy may Trảng Bàng

(3) Cơ cấu lại nhà máy sợi, chuyển 1 nhà máy sang sản xuất vải khiến cho doanh thu mảng vải tăng 30% với biên lợi nhuận cao nhất (khoảng 20%-21%)

(4) Doanh thu mảng sợi sụt giảm 10% do đã dừng hoạt động 2 nhà máy năm 2018 và khả năng Trung Quốc tiếp tục bán phá giá trong 6 tháng cuối năm nhưng đà bán phá giá sẽ giảm lại, BLNG mảng này chỉ còn 2%

(5) Biên lợi nhuận gộp Quý 1.2019 và Quý 2.2019 thấp khiến cho biên lợi nhuận chung cả năm sụt giảm BLNG giảm do giảm mảng sợi và hoạt động không tối đa công suất khiến cho không tận dụng được lợi thế sản xuất nhờ quy mô

Nguồn: VCBS tổng hợp

Ngày đăng: 16/12/2021, 12:42

w