Công nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, dịch vụ đã trở thành yếu tố quan trọngtrong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu về dịch vụ xuất phát từ chính các
Trang 1MÔN: CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 2
LỚP: KTQT 54A
Đề tài:
CÔNG NGHIỆP HÓA DO DỊCH VỤ THÚC ĐẨY:
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA TRUNG QUỐC SAU KHI
Trang 21. TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA
1.1. Khái niệm công nghiệp hóa
Trong lịch sử phát triển của hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển, côngnghiệp hoá là biện pháp cốt lõi để biến nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tếhiện đại, có công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong quá trinh phát triển Tuy nhiên, bảnthân khái niệm "Công nghiệp hoá " lại chưa quan niệm một cách thống nhất Do vậy,chính sách thực hiên cũng khác nhau
Khái niệm "Công nghiệp hoá " mang tính chất lịch sử Nó gắn bó trước hết với sựxuất hiện của máy móc và sự thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí hay còngọi là cách mạng khoa học lần thứ nhất Cuộc cách mạng này diễn ra ở nước Anh, sau đó
nó lan truyền sang một số nước khác nhưng mãi tới thế kỷ 19 thuật ngữ " công nghiệphóa " mới xuất hiện và đến nửa sau thế kỷ 20 mới được dùng phổ biến
Có nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa: Quan niệm của các nướcXHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước kia; quan niệm của các nhà kinh tế ở các nước côngnghiêpp̣ phát triển; quan niệm của các nước đang phát triển trong đó quan niệm của tổchức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc năm 1963 là quan niệm đầy đủ hơn cả
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIPO) đã đưa ra định nghĩasau : "Công ngiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồn lựcquốc gia ngày càng lớn được xây dưng để huy động cơ cấu kinh tế nhiều nghành vớicông nghệ hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng có khả năngbảo đảm nhịp độ tăng trưởng cao trong toàn nền kinh tế và bảo đảm sự tiến bộ kinh tế và
xã hội"
Tuy nhiên, Trung Quốc thường dùng thuật ngữ “hiện đại hóa” chứ ít dùng thuậtngữ “công nghiệp hóa”, nhưng về thực chất đó là những nội dung cơ bản của công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đến đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc(9/1997), những nội dung của công nghiệp hóa được đề cập cụ thể và chi tiết hơn Trongbáo cáo chính trị đọc tại Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc, ở phần IV, cựu Tổng
Trang 3bí thư Giang Trạch Dân đã khẳng định: “Trung Quốc đang đi trên con đường công nghiệphoá mới và thực hiện công nghiệp hoá vẫn là nhiệm vụ lịch sử đầy khó khăn trong tiếntrình hiện đại hoá nước ta" Con đường công nghiệp hoá mới ở đây được hiểu là việc thựchiện quá trình công nghiệp hoá theo phương thức mới, theo mô hình mới và mô hìnhcông nghiệp hoá mới này có những nét riêng, mang đậm dấu ấn, màu sắc Trung Quốc.
Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa kiểu mới mà Trung Quốc đưa ra là conđường công nghiệp hóa hiện đại hóa được kết hợp với quá trình tri thức kinh tế, do đó,công nghiệp hóa hiện đại hóa vân dụng triệt để mọi thành thựu khoa học công nghiệ mớinhất Là công nghiệp hóa hiện đại hóa nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranhthị trường; là công nghiệp hóa , hiện đại hóa đi theo con đường phát triển bền vững; làcông nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể phát huy ưu thế về nguồn nhân lực của Trung Quốc.1.2. Công nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy
Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, dịch vụ đã trở thành yếu tố quan trọngtrong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu về dịch vụ xuất phát từ chính các nhà sản xuấtkhi họ nhận thấy rằng, để có thể tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt ở cả thị trường nộiđịa và thị trường nước ngoài, phải đưa nhiều hơn các yếu tố dịch vụ vào trong quá trìnhsản xuất để hạ giá thành và nâng cao chất lượng như dịch vụ khoa học, kỹ thuật côngnghệ
Sự tăng trưởng của các ngành dịch vụ còn là động lực cho sự phát triển kinh tế,cũng như có tác động tích cực đối với phân công lao động xã hội Nền kinh tế càng pháttriển thì thương mại và dịch vụ càng phong phú, đa dạng Hiện nay, sự phát triển dịch
vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Người ta thấy rằng, trình độphát triển kinh tế của một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ trong cơ cấu ngànhkinh tế nước đó càng lớn Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội vàchuyên môn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển
Chiến lược công nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy là Công nghiệp hóa dựa vào cácngành dịch vụ và công nghệ cao, dùng ngành dịch vụ như là động lực để quá trình côngnghiệp hóa diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn, đem lại nền tảng vững chắc cho sự pháttriển của đất nước
1.3. Tổng quan quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc
Sau thất bại của mô hình CNH theo mô hình “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”của những năm 1950, đến năm 1978 Trung Quốc đã thực hiện những cải cách kinh tế
Trang 4theo hướng tập trung khai thác thế mạnh nền kinh tế nông nghiệp của mình với việcchuyển thứ tự ưu tiên phát triển từ “công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ - nông nghiệp”sang “nông nghiệp - công nghiệp nhẹ - công nghiệp nặng”, nhờ đó kinh tế có sự tăngtrưởng cao Trung Quốc đã thực hiện chính sách khoán sản phẩm nông nghiệp đến hộnông dân, thúc đẩy cải tạo kỹ thuật, từng bước tăng đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất -
kỹ thuật cho nông nghiệp nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp, sớm đưa nôngnghiệp lên sản xuất lớn hiện đại, phù hợp với đặc điểm nông thôn Trung Quốc Những cảicách kinh tế của Trung Quốc với nội dung phát triển hướng vào nông nghiệp đã tạo chođất nước này một bước nhảy vọt không chỉ trong nông nghiệp mà trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân Và như vậy, Trung Quốc là nước đầu tiên trong số các nước tiến hành CNHtheo cơ chế kế hoạch hóa tập trung thực hiện thành công cải cách thể chế kinh tế, mà nộidung chủ yếu là chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa nền kinh tế, xây dựng xã hội
xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc
Sự chuyển hướng mô hình công nghiệp hóa của Trung Quốc được bắt đầu từ bướcchuyển các “công xã nhân dân” thành “kinh tế nông hộ” Cơ chế đó đã có tác dụng tíchcực trong việc làm tăng sản lượng nông nghiệp, đảm bảo ổn định lương thực và thựcphẩm cho hơn 1,2 tỷ người; và quan trọng hơn là chuyển được một bộ phận đông đảo laođộng nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ (khoảng 150 triệu người)
Thành công nhất và cũng độc đáo nhất trong quá trình thực hiện CNH theo hướng cảicách và mở cửa kinh tế của Trung Quốc là việc thành lập và phát triển các xí nghiệphương trấn (XNHT) bộ phận cấu thành hữu cơ của mô hình CNH Trung Quốc Thực chấtđây là bước đi đầu tiên để chuyển mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý theo
cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Với nguyên tắc hoạt động là “lời ăn
lỗ chịu” nên mô hình XNHT đã tạo được tính tự chủ cao của xí nghiệp
Sự phát triển các XNHT ở Trung Quốc đã đem lại hiệu quả cao, góp phần quyếtđịnh vào việc làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn Trung Quốc Đó là sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông, sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hànghóa, sử dụng được phần lớn lao động dư thừa của nông nghiệp ngay trên địa bàn nôngthôn, thúc đẩy quá trình HĐH nông nghiệp truyền thống Có thể nói, các xí nghiệp hươngtrấn đã đóng một vai trò đáng kể trong sự phát triển năng động của kinh tế Trung Quốc
Trang 5trong thời cải cách mở cửa, là bằng chứng về sự sáng tạo độc đáo mang màu sắc TrungQuốc: kết hợp giữa CNXH và thị trường.
Bước chuyển từ mô hình CNH theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang
mô hình mới- mô hình kết hợp giữa thị trường và CNXH ở Trung Quốc thể hiện tập trungnhất là ở sự chuyển đổi khu vực quốc hữu sang hoạt động theo cơ chế thị trường Bướcchuyển này được tiến hành từ từ từng bước, bắt đầu từ những năm 1984 và tạo sự đột pháthật sự là từ năm 1993 Trung Quốc vẫn luôn xác định vai trò trụ cột của các xí nghiệpquốc hữu, do đó việc cải cách khu vực này được tính toán một cách rất thận trọng, đi từlàm thử ở nhóm nhỏ trước, rồi sau đó mới mở rộng ra theo hướng nới lỏng dần các thiếtchế kiểm soát của thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, đồng thời cởi trói dần (hay mở rộngdần sự tự chủ) cho các doanh nghiệp nhà nước trong kinh doanh Thực chất, đây là sự mởrộng chế độ khoán sản phẩm từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp theo kiểu
“lấy nông thôn bao vây thành thị” Phương châm của Trung Quốc trong cải cách quan hệ
sở hữu là “quốc thoái dân tiến”, và “nắm lớn, buông nhỏ” Các xí nghiệp quốc hữu saukhi hoàn thành kế hoạch pháp lệnh về nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước thì được quyềnquyết định việc sản xuất “cái gì”, “cho ai” và “thế nào” để đạt hiệu quả cao nhất Mộtcuộc cải cách như vậy đã tạo động lực mạnh mẽ cho hoạt động của các doanh nghiệp nhànước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trung Quốc đã trải qua hai thời kỳ, ứng với những mô hình CNH khác nhau vàkết quả CNH đạt được cũng khác nhau Nếu mô hình CNH những năm trước 1980 là thấtbại, thì ngược lại mô hình CNH Trung Quốc thực hiện từ những năm 1980 đến nay đã rấtthành công, trở thành một mẫu mô hình CNH mới của Trung Quốc Đó là mô hình CNHkết hợp giữa cơ chế thị trường và chủ nghĩa xã hội, gắn chặt công nghiệp hóa với cải cách
và mở cửa nền kinh tế Rõ ràng, những thành công của CNH Trung Quốc là nhờ sự lựachọn và chuyển đổi mô hình CNH một cách khéo léo và uyển chuyển Trung Quốc đãtiến nhanh vào cơ chế thị trường, nhất là trong lĩnh vực sản xuất một cách khá hoàn hảo
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, bên cạnh sự phát triển của khu vực côngnghiệp thì khu vực dịch vụ của Trung Quốc lại phát triển khá chậm chạm và chưa thực sự
có tính lan tỏa đối với các ngành khác Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, côngnghiệp hóa hướng ra xuất khẩu, kể từ khi gia nhập WTO, Trung Quốc đang từng bướcthay đổi dưới tác động của việc điều chỉnh chiến lược công nghiệo hóa từ dựa vào ngành
Trang 6công nghiệp chế tạo sử dụng nhiều lao động sang chiến lược công nghiệp háo dựa vàocác ngành dịch vụ và công nghệ cao – chiến lược “công nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy”.Với chiến lược này, khu vực dịch vụ của Trung Quốc sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi đểphát triển nhanh chóng, được kinh tế Trung Quốc trở thành một nền “kinh tế dịch vụ”trong tương lại không xa.
2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA TRUNG QUỐC
2.1 Chiến lược phát triển của Trung Quốc giai đoạn trước năm 2001
Tháng 12 năm 1978, Hội nghị TW 3 khóa XI Đảng cộng sản Trung Quốc đã thôngqua đường lối cải cách, mở cửa nền kinh tế, trước hết là mở của khu vực ven biển miềnĐông, lấy những vùng có tiềm năng tiếp xúc với thế giới làm nơi đột phá, thử nghiệm đầutiên ở các đặc khu kinh tế, tới mở cửa đối ngoại toàn phương vị: từ ven biển ven sông chođến vùng biên cương và trong đất liền
Trung Quốc mới chuyển sang kinh tế thị trường từ cuối những năm 70 của thế kỷtrước Vào thời gian mới chuyển đổi, khu vực dịch vụ Trung Quốc có xuất phát điểm rấtthấp nhưng trong vòng gần 30 năm qua khu vực này đạt tốc độ tăng trưởng khá nhanh vàđóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Tính trung bình trong thời kỳ 1978-
2001, khu vực dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng 10%/năm, cao hơn mức tăng trưởng trungbình 9,4% của GDP Trung Quốc
Trong hai năm 1979 và 1980 Trung Quốc đã thành lập 4 đặc khu kinh tế đầu tiêntại Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu và Hạ Môn Năm 1985, Trung Quốc xây dựng thêmcác khu kinh tế mở Trường Giang, Châu Giang và khu tự trị Quảng Tây hình thành mộtvành đai lấy Phố Đông làm con chim đầu đàn
Trong những năm đó, khu vực ven biển miền Đông mà hạt nhân là các thành phố
và các đặc khu kinh tế trên đã đóng vai trò là chuỗi cực tăng trưởng cho nền kinh tế TQ,vừa tạo ra sự lan tỏa vừa là hình mẫu phát triển cho các vùng kinh tế khác của nước này.Với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 27%/ năm Những đặc khu kinh tế như ThâmQuyến đã vượt qua cả sự thần kỳ của bốn con rồng Châu Á
Trong buổi đầu mở cửa, các thành phố miền Đông đã nhong chóng chuyển mìnhthành những khu công nghiệp hóa nhờ thu hút thành công đầu tư nước ngoài vào xâydựng các nhà máy để tận dụng lợi thế nguồn nhân công giá rẻ trong gia công xuất khẩu
và để khai thác thị trường nội địa rộng lớn của TQ Công nghiệp hóa đã tạo cho các thànhphố cực tăng trưởng này thực chất là các cực chế tạo yếu tố cơ bản để đưa TQ trở thành
Trang 7công xưởng của Thế giới Tuy nhiên tại hầu hết nơi đây khu vực dịch vụ vẫn phát triểnchậm hơn rất nhiều so với khu vực chế tạo, kể cả những ngành dịch vụ chủ yếu phục vụcho sản xuất công nghiệp.
Tại những thành phố lớn phát triển hàng đầu như Thâm Quyến, với mô hình pháttriển “ Thâm Quyến là công xưởng, Hồng Koong là cửa hàng” mặc dù khu vực dịch vụ
đã đạt được mức tăng trưởng cao( 27,7%/ năm) song vẫn còn thấp hơn nhiều so với mứctăng trưởng của ngành công nghiệp và xây dựng( 37,1%/năm) trong suốt thời kỳ cải cách.Tại Bắc kinh khu vực dịch vụ đã chiếm khoảng 60% GDP nhưng ở Thượng Hải tỷ lệ nàychỉ khoảng 50% vào năm 2001 Tỷ lệ lao động ở các cực tăng trưởng này cũng tương đốithấp: ở Bắc Kinh là 60%, Thượng Hải là 45%, Thiên Tân là 43%
Do những vùng kinh tế trên chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn nền kinh tế nên sựphát triển chậm của ngành dịch vụ ở đây đã ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toànngành dịch vụ Trung Quốc Năm 2001, khu vực dịch vụ của TQ mới chỉ chiếm khoảng40% GDP, thấp hơn mức 45% của khu vực chế tạo Ngành dịch vụ cũng mới chỉ chiếmkhoảng 35% tổng lực lượng loa động Tỷ lệ kim ngạch thương mại hàng hóa so với GDPcủa TQ là 43% trong khi tỷ lệ này của Thương mại dịch vụ chỉ là 5%(WTO 2001) FDIvào khu vực dịch vụ cũng chỉ mới đạt 12 tỷ USD vào ngành chế tạo là 32 tỷ USD
Nhờ đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDPcủa Trung Quốc đã tăng lên đáng kể, từ 21,4% năm 1980 lên 31,8% năm 1990; 39,3%năm 2000 Khu vực dịch vụ cũng là nơi tạo việc làm chính của nền kinh tế Trung Quốc
Số lao động làm việc trong khu vực này đã tăng từ 55,32 triệu người năm 1980 lên119,79 triệu người năm 1990; 198,23 triệu người năm 2000 Tốc độ tăng lao động trongkhu vực dịch vụ cao gấp đôi tốc độ tăng lao động trong khu vực công nghiệp Nhờ vậy, tỷtrọng lao động làm việc trong khu vực dịch vụ của Trung Quốc đã không ngừng tăng lên
từ 13,1% tổng số lao động năm 1980 lên 18,5% năm 1990; 27,5% năm 2000
Mặc dù khu vực dịch vụ đã có những bước tăng trưởng và phát triển quan trọngtrong vài thập kỷ qua, nhưng sự tăng trưởng và phát triển này vẫn bị đánh giá là chưatương xứng với tiềm năng Khu vực dịch vụ có xu hướng tăng trưởng chậm lại, kể cả cácngành dịch vụ truyền thống và các ngành dịch vụ hiện đại Hai ngành dịch vụ chiếm tỷtrọng lớn nhất trong khu vực dịch vụ đều sụt giảm tăng trưởng trong những năm vừa qua,dẫn đến sự sụt giảm tỷ trọng đóng góp của hai ngành này cho toàn khu vực dịch vụ nóichung; đó là ngành tài chính-bảo hiểm và bán buôn-bán lẻ
Nguyên nhân chủ yếu là do khu vực dịch vụ của Trung Quốc thường gặp phảinhững ràng buộc cả ở phía cung và phía cầu Về phía cung, trong nhiều năm khu vực dịch
vụ là nơi rất khó gia nhập thị trường đối với các doanh nghiệp tư nhân trong nước cũngnhư các nhà đầu tư nước ngoài do những hạn chế của Chính phủ Kể từ đầu những năm
1980, FDI chủ yếu đổ vào ngành công nghiệp chế tác và xây dựng Tỷ trọng FDI trongcác ngành dịch vụ chỉ dưới 20%, trong những năm gần đây tăng lên hơn 20% (thí dụ,25% năm 2003) nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với tỷ trọng hơn 40% đóng góp của dịch
vụ cho GDP
Trang 8Về phía cầu, cầu sử dụng dịch vụ trong xã hội Trung Quốc bị hạn chế lớn do cơcấu dân số bất hợp lý Mặc dù là một thị trường lớn với số dân đông nhất thế giới, nhưng
có tới hơn 60% dân số tập trung ở các vùng nông thôn có thu nhập thấp và chậm được cảithiện, cho nên phần lớn chi tiêu được tập trung cho hàng hoá nông nghiệp và côngnghiệp, ít cho dịch vụ Kể từ đầu những năm 2000, Chính phủ Trung Quốc đã nhận thấy
rõ những vấn đề phát sinh từ sự bất cân bằng giữa phát triển công nghiệp và dịch vụ và đã
có chủ trương tập trung phát triển dịch vụ hướng tới thay đổi phương thức tăng trưởngcủa nền kinh tế Dựa vào chủ trương này, trong những năm qua, Chính phủ Trung Quốc
đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm phát triển các ngành dịch vụ, đáng chú ý là:
- Xoá bỏ các luật và quy định gây hạn chế đối với sự phát triển dịch vụ, nhất là nhữngquy định liên quan đến sự gia nhập các thị trường dịch vụ Đồng thời, Trung Quốc cũngban hành hàng loạt các luật và quy định mới nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi chophát triển dịch vụ
- Ban hành và thực thi các chính sách cụ thể nhằm phát triển dịch vụ Nhà nước ban hành
văn kiện “Một số gợi ý nhằm đẩy mạnh tăng trưởng khu vực dịch vụ thời kỳ kế hoạch 5 năm”, và sau đó là hàng loạt các chính sách liên quan đến các khía cạnh khác nhau của
khu vực dịch vụ được ban hành như: kích thích tiêu dùng dịch vụ đối với người dân thànhthị và nông thôn; tối ưu hoá cơ cấu của khu vực dịch vụ; đẩy mạnh cải cách các DNNNtrong lĩnh vực dịch vụ; quản lý các thị trường dịch vụ; mở rộng diện tích đất cho cácngành dịch vụ ở các thành phố lớn; điều chỉnh chính sách thuế đối với các ngành dịch vụ;tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành dịch vụ
- Tự do hoá mạnh hơn thị trường dịch vụ để đón nhận FDI Trong những năm vừa qua,Chính phủ Trung Quốc đã từng bước xoá bỏ những rào cản các doanh nghiệp FDI gianhập thị trường dịch vụ, đặc biệt trong các ngành dịch vụ như tài chính, bảo hiểm, viễnthông, thương mại Trong những năm tới, FDI được phép vào hầu hết các ngành dịch vụcủa Trung Quốc, và các doanh nghiệp FDI sẽ dần dần được hưởng đãi ngộ quốc gia (NT).Các nhà đầu tư nước ngoài cũng được tham gia vào quá trình sắp xếp và đổi mới DNNN
ở Trung Quốc, từng bước xoá bỏ độc quyền trong một số ngành dịch vụ Ngoài ra, Chínhphủ Trung Quốc cũng đề ra một số chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp nước ngoàiđầu tư vào khu vực dịch vụ như hỗ trợ về thuế, mặt bằng kinh doanh, tín dụng và các dịch
vụ tiện ích như điện, nước,…
Các xu hướng lịch sử của tăng trưởng tương đối của các lĩnh vực chính có thểđược tìm thấy trong Niên giám thống kê Trung Quốc năm 1999, cung cấp các số liệuthống kê sau đây về tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc và các thành phần chính của
nó (trong 100 triệu nhân dân tệ) Tổng sản lượng được chia thành ngành nông nghiệp vàlâm nghiệp), công nghiệp (chủ yếu là sản xuất), xây dựng và dịch vụ Bảng 1 cho thấy sựphân bố của bốn thành phần của sản lượng vào năm 1978, 1988 và 1998
Bảng 2.1: Tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc
GDP Nông lâm nghiệp Công nghiệp Xây dựng Dịch vụ
Trang 91978 3624,1 1018,4 (0,281) 1607,0 (0,443) 138.2 (0.038) 860,5 (0,237)
1988 14928,3 3831,0 (0,257) 5777,2 (0,387) 810,0 (0,054) 4510,1 (0,302)
1998 79395,7 14599,6 (0,184) 33.429,8 (0,421) 5262,0 (0,066) 26.104,3 (0,329) (Nguồn: WB)
Như phổ biến trong quá trình phát triển kinh tế thị phần của ngành công nghiệpchính gồm nông nghiệp và lâm nghiệp tiếp tục giảm từ 0,281 (con số trong ngoặc đơn saugiá trị sản lượng) xuống 0.184 trong giai đoạn 1978-1988 trong khi đó tỷ trọng của ngànhdịch vụ tiếp tục tăng từ 0,237 tới 0,329
Trong mười năm đầu tiên, đã có phần trăm gia tăng trong các ngành dịch vụ Điềunày đến từ thương mại, giao thông vận tải và thông tin liên lạc, các lĩnh vực mà đã bị lãngquên hiển nhiên trong giai đoạn lập kế hoạch kinh tế trước năm 1978 và phục hồi nhanhchóng trong thập kỷ đầu tiên của cải cách kinh tế Sự gia tăng chậm hơn trong phần tươngđối của các ngành dịch vụ trong thập kỷ thứ hai được tạo thành từ các hoạt động nhưngân hàng, tài chính và viễn thông
Các ngành dịch vụ dự kiến sẽ tăng thị phần của GDP của Trung Quốc một phần làkết quả của kích thích từ đối thủ cạnh tranh nước ngoài và đầu tư nước ngoài dự kiến trong ngành công nghiệp này Các thành phần công nghệ cao của các ngành sản xuất sẽtăng tầm quan trọng một phần là do sự gia tăng dự kiến trong đầu tư nước ngoài Cácnước sản xuất tiêu dùng bền lâu đặc biệt là ô tô sẽ bị gia tăng nhập khẩu và gia tăng đầu
tư nước ngoài trong ngành công nghiệp ô tô sẽ giúp tăng cường sản xuất trong nước của
xe ô tô Ảnh hưởng thực có thể sẽ là một sự tăng trưởng chậm hơn trong ngành côngnghiệp ô tô trong nước do sản xuất trong nước không thể sản xuất xe ô tô chất lượngtương đương như rẻ như hàng nhập khẩu cạnh tranh Sự tăng trưởng dự kiến trong cả haidịch vụ và các ngành sản xuất sẽ dẫn đến một sự suy giảm hơn nữa trong tỷ trọng nôngnghiệp
2.2 Chiến lược phát triển mới của Trung Quốc giai đoạn sau năm 2001
2.2.1 Những điều khoản làm thay đổi chiến lược và động thái của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
2.2.1.1 Những điều khoản của WTO về thương mại dich vụ làm thay đổi chiến lược của Trung Quốc
Trang 10Đối với hệ thống văn bản pháp luật mà đầu tiên là Hiến pháp, việc gia nhập WTOcũng đã ảnh hưởng đến Hiến pháp do các nghĩa vụ WTO cộng mà Trung Quốc cam kết
có một số nghĩa vụ tác động đến các khía cạnh cơ bản của nền kinh tế Những cam kếtcủa Chính phủ bao gồm: (a) để thị trường điều chỉnh giá của hàng hoá và dịch vụ trừtrường hợp danh mục một số hàng hoá cụ thể; (b) cho phép trong vòng 3 năm kể từ khigia nhập, tất cả công ty bao gồm cá nhân và pháp nhân nước ngoài đầu tư hoặc đăng ký ởTrung Quốc được tham gia hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu và hạn chế hoạt động kinhdoanh của nhà nước đối với danh mục cụ thể; (c) không ảnh hưởng trực tiếp hoặc giántiếp tới các quyết định thương mại của các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) trừ nhữngtrường hợp phù hợp với các Hiệp định của WTO Tất cả các cam kết đều đòi hỏi Chínhphủ Trung Quốc phải duy trì các điều kiện cần thiết cho việc phát triển nền kinh tế thịtrường
Viễn thông:
Theo quan điểm về trình tự thời gian thì nguyên tắc WTO về dịch vụ viễn thông có
2 nguyên tắc:
Đầu tiên, đó là trong vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), cam kết cụ thể về dịch
vụ giá trị gia tăng và cách tiếp cận mạng viễn thông công cộng cũng như dịch vụ giaothông vận tải kết hợp ( PTTNS)
Thứ hai, về hiệp định viễn thông cơ bản (ABT) cam kết mở cửa thị trường, tạo
điều kiện cạnh tranh cho các doanh nghiệp trên tinh thần cạnh tranh công bằng
Hai nguyên tắc này có liên quan và hỗ trợ lẫn nhau và được WTO phân tích rất rõ
Sau khi gia nhập WTO, các đại biểu chính quyền trung ương giao thẩm quyền cho cấptỉnh thực hiện các biện pháp đơn giản hóa và tăng tốc độ làm thủ tục Để có được vốn đầu
tư nước ngoài, các doanh nghiệp cần nộp tất cả các tài liệu liên quan cho chính phủ cấptỉnh Cụ thể việc kiểm tra thủ tục gồm: (1) Các kênh phân phối không liên quan đếntruyền hình, điện thoại, mail, internet và máy bán hàng tự động (2) Nếu diện tích mỗicửa hàng là 3000m2 thì có sự góp vốn của nước ngoài không được vượt quá 3 trong 30tỉnh và đại lục trên toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc (3) Nếu dưới 300m2 thì không được quá
30 trong tỉnh và 300 tính cả đại lục Trung Quốc (4) Các mặt hàng được phân phối bởicác nhà đầu tư nước ngoài không bao gồm sách, báo, tạp chí, dược phẩm, xe ô tô, muốn,thuốc trừ sâu, phim phủ gốc, các loại dầu chế biến, ngũ cốc, dầu thực vật, đường và bông
Giáo dục:
Trang 11Không hạn chế đối với hình thức tiêu dùng ở nước ngoài (phương thức 2) Chỉ chophép thành lập liên doanh với nước ngoài (ngay cả khi phía nước ngoài thành lập các cơ
sở giáo dục độc lập Giáo viên phải đáp ứng một số điều kiện (như có bằng cử nhân trởlên, có 2 năm kinh nghiệm)
Trung Quốc cam kết một phần dịch vụ giáo dục đối với thương mại thế giới và cónhững cam kết: (1) Không hạn chế tiếp cận thị trường, không có biện pháp hạn chế côngdân nghiên cứu hoặc đào tạo ở nước ngoài Ngoài ra còn hỗ trợ bằng chính sách “Hỗ trợnghiên cứu ở nước ngoài, khuyến khích trở lại quê hương, tự do đến và đi.” (2)Cáctrường học sẽ được thành lập với phần lớn là quyền sở hữu của nước ngoài (3) Giao viênphải có đủ tiêu chuẩn: Có bằng Cử nhân hoặc cao hơn và một danh hiệu chuyên môn phùhợp với tối thiểu 2 năm kinh nghiệm (4) Các chi phí hợp tác với nước ngoài tại trườngthì được chính phủ chi trả (5) Dịch vụ của giáo dục và giáo dục bắt buộc (quân đội, cảnhsát, chính trị giáo dục, …) được loại trừ (6) Thực hiện không cam kết tiếp cận thị trường
và đối xử quốc gia trong phương thức cung cấp qua biên giới (7) Các trường hoặc các cơ
sở giáo dục khác được thành lập với 100 % yếu tố nước ngoài thì không được phép
Tài chính:
Bảo hiểm 2004: không còn hạn chế về phạm vi và lĩnh vực kinh doanh Chế độ
bảo hiểm sẽ mở rộng cho các hoạt động liên quan đến hành chính trong khuôn khổ cáchoạt động của WTO
Ngân hàng 2006: Tự do hóa hoàn toàn, gồm cả dỡ bỏ hạn chế về địa lý Cụ thể:
(1)Thống nhất và quản trị một cách khách quan hợp lí của pháp luật, tuân thủ các quyđịnh từ trung ương đến địa phương (2) Đưa ra văn bản chính thức về tất cả các điều luật,quy định và biện pháp của chính phủ về thương mại dịch vụ (3) Thông báo hàng nămcho Ban thư kí WTO theo chỉ dẫn và quy định (4) Thiết lập một điểm hỏi để cung cấpthông tin và trả lời các câu hỏi liên quan đến WTO
Chứng khoán: Trước khi gia nhập WTO, các công ty chứng khoán nước ngoài
không được phép hoạt động tại Trung Quốc và không thể bảo lãnh ngân hàng trong nướchoặc ngoại tệ bằng tiền chứng khoán Do đó, sau khi gia nhập, Trung Quốc đã cam kết vềviệc cung cấp qua biên giới, và nước ngoài được đặt văn phòng đại diện vào nước Banđầu là cho phép Liên doanh có thể được thành lập để tiến hành đầu tư chứng khoán trongnước có quản lí với vốn đầu tư nước ngoài là 33 % Nhưng 2004: Cho phép phía nướcngoài có thể sở hữu tới 49% cổ phần trong liên doanh quản lí đầu tư đối với chứng khoántrong nước
2.2.1.2 Những động thái của Trung Quốc trong việc hoạch định chính sách
Trang 12Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 (2006 – 2010) của Trung Quốc đề ra chia mục tiêu cơbản liên quan đến sự phát triển của khu vực dịch vụ ở Trung Quốc và vai trò động lựctăng trưởng kinh tế của các thành phố miền Đông:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh chiến lược công nghiệp hóa, song nêu rõ yêu cầu phải
“chuyển đổi cơ cấu công nghiệp” theo hướng tăng cường hàm lượng công nghệ cao, đồngthời nhấn mạnh định hướng tăng cường phát triển các ngành dịch vụ vì sự yếu kém củakhu vực này đã ảnh hưởng tiêu cực đến cơ cấu công nghiệp nói chung, việc làm và khảnăng cạnh tranh tổng thể cỉa nền kinh tế Chỉ tiêu là nâng tỷ trọng của khu vực dịch vụtrong GDP từ 40.3% năm 2005 lên 43.3% vào năm 2010 và nâng tỷ lệ lao động trong khuvực dịch vụ từ 31.3% năm 2005 lên 35.5% năm 2010
Hai là, tiếp tục giảm mạnh chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, trong đó
phải thúc đẩy miền Tây phát triển hơn nữa, nâng cấp cơ sở công nghiệp cũ ở vùng ĐôngBắc, tạo đà tăng trưởng ở khu vực miền Đông tiếp tục đóng vai trò đầu tàu trong pháttriển kinh tế đất nước
Để thực hiện cả hai mục tiêu trên, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chiến lược “côngnghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy” mà cụ thể là:
- Chuyển quá trình công nghiệp hóa dựa vào các ngành chế tạo sử dụng nhiều laođộng từ các tỉnh ven biển miên Đông sang miền Tây
- Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế khu vực phía Đông, đặc biệt là các thành phố
“cực tăng trưởng: từ công nghiệp sang dịch vụ và các ngành công nghệ cao, để vừa làmđầu tàu thúc đẩy khu vực dịch vụ, vừa thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa của toàn nềnkinh tế
Chiến lược công nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy của Trung Quốc hiện nay đangđược thực hiện trong những điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, nền kinh tế dịch vụ của Trung Quốc hiễn vẫn chưa hình thành, song
ngành dịch vụ đang tỏ rõ tiềm năng phát triển Mặc dù tỷ trọng của khu vực chế tạo trongGDP của khu vực dịch vụ không tăng đáng kể trong những năm gần dây ( xấp xỉ mức40%) song tốc đọ tăng trưởng của ngành dịch vụ đang dần bắt kịp với tốc độ tăng trưởngcủa ngành công nghiệp đồng thời tỷ lệ lao động trong khu vực dịch vụ cũng ngày mộttăng
Trong điều kiện toàn bộ khu vực dịch vụ chưa hoàn toàn phát triển, chiến lượccông nghiệp hóa do dịch vụ thúc đẩy của Trung Quốc dựa trên việc phát triển một số
Trang 13ngành dịch vụ “ưu tiên”, có vai trò vừa tạo nền móng vừa lôi kéo nền công nghiệp pháttriển các ngành dịch vụ ưu tiên này có ba nhóm:
- Các ngành làm nền tảng cơ bản cho sự phát triển bền vững là ngành giáo dục cónhiệm vụ cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng cao cho nền kinh tế
- Các ngành mũi nhọn có năng suất và lợi nhuận cao là dịch vụ tài chính (đặc biệt làngân hàng và chứng khoán) và bảo hiểm
- Các ngành dịch vụ mang tính đột phá vào nền kinh tế mới (kinh tế idjch vụ trithức) là công nghệ thông tin, nghiên cứu và phát triển (R&D), và các ngành sáng tạokhác
Đây là các ngành, như đã nói, có tiềm năng phát triên hết sức to lớn của TrungQuốc, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước này đặt mục tiêu phấn đấu xây dựng
“một xã hội học tập”, nâng cao năng lực sáng tạo độc lập và xem linh vực tài chính –ngân hàng là một trong các trọng tâm cải cách
Thứ hai, các thành phố phát triên miền đông đang trở thành những cái nôi cho các
ngành dịch vụ ưu tiên Kể từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách, các thành phố cực tăngtrưởng miền Đông đã trải qua ba giai đoạn phát triển chính: đột phá, mở rộng và chuyểndịch cơ cấu để phát triển bền vững Giai đoạn đầu là sự đột phá khi chuyển từ cơ chếđóng cửa và bao cấp, sang cơ chế thị trường tự do và thu hút đầu tư nước ngoài Giaiđoạn thứ hai là sự phát triển theo chiều rộng, khi hệ thống cơ sở hạ tầng và các ngànhcông nghiệp chế tạp phát triển mạnh Giai đoạn hiện nay là chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ và các ngành công nghệ cao Những thành phố điểnhình cho sự thành công như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến, Chu Hải, Quảng Châu,Chiết Giang… đang trở thành những cái nôi cho việc phát triển các ngành dịch vụ ưutiên Trong số đó, có thể kể ra như việc Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến đang trêncon đường phát triển nhanh để trở thành những trung tâm giáo dục, tài chính và côngnghệ cao hàng đầu châu Á
2.2.2 Thương mại quốc tế
Mô hình chính sách: thúc đẩy xuất khẩu và tự do hóa thương mại phù hợp với yêu cầu
của quá trình hội nhập
Các biện pháp thực hiện:
• Tiếp tục thực hiện các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu ở thời kỳ trước đồng thời tăngcường áp dụng các biện pháp mới thông qua việc chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp
Trang 14luật, xây dựng cơ sở hạ tầng và đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạonghề
Cụ thể từ 1/1/2002 Chính phủ Trung Quốc ban hành luật thuế đối kháng và chống bánphá giá nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho hàng Trung Quốc vàhàng hóa nước ngoài
• Tiến hành cắt giảm thuế và hạn ngạch nhập theo lộ trình Năm 2002 mức thuế quanbình quân đã hạ từ 15,3% xuống 12%, mức giảm là 21,6%; năm 2003 bình quân mứcthuế đã từ 12% giảm xuống 11% mức giảm là 8,3%, và giảm còn 10% năm 2005.Hàng hóa nhập khẩu được quản lý bằng giấy phép và hạn ngạch cung giảm dần (44mặt hàng năm 2001) xuống còn 14 mặt hàng năm 2005
• Chuyển sang tập trung xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao: để đẩy mạnh xuấtkhẩu sản phẩm có giá trị cao tăng thu ngoại tệ và xây dựng thương hiệu
• Triển khai các hoạt động hỗ trợ thanh toán dựa trên hiệp định của Ngân hàng Trungương Trung Quốc với Ngân hàng Trung ương nước ngoài trong các lĩnh vực cung cấpdịch vụ thanh toán quốc tế và mở đại diện Ngân hàng Trung ương của Ngân hàngTrung Quốc và đại diện Ngân hàng Trung ương Trung Quốc ở nước ngoài: chuyển đổitiền tệ, mở thư tín dụng Trung Quốc muốn tạo điều kiện thanh toán tốt nhất chonhững doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo quyền lợi và thúc đẩy xuất khẩu
• Tăng cường thực hiện các biện pháp xúc tiến thương mại để thực hiện sự hỗ trợ tíchcực hơn của Chính phủ cho các doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu thay thế cho cácbiện pháp hỗ trợ trực tiếp: tạo điệu kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triểnthông qua quỹ phát triển, đưa quyền sản xuất và xuất khẩu cho các xí nghiệp sản xuấtnhỏ và vừa, từng bước mở rộng quyền kinh doanh ngoại thương cho tổng công ty xuấtnhập khẩu; ưu tiên cho 2 tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến mở rộng quyền hạn kinh doanhxuất nhập khẩu, cho phép địa phương có thể thành lập các công ty ngoại thương địaphương Các thành phố trực thuộc Trung Ương cũng được phép thành lập các tổngcông ty ngoại thương riêng
• Chính Phủ Trung Quốc thực hiện tăng cường dự trữ ngoại tệ nhằm bình ổn tỷ giá hốiđoái tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu và thu hút đầu tư nướcngoài
• Tăng cường áp dụng các biện pháp kiểm tra và giám định hàng xuất khẩu và tiến tới
áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế đối với hàng xuất khẩu chất lượng cao vào các nướcphát triển
Trang 15• Công tác đào tạo nguồn nhân lực: Chính phủ Trung Quốc chú trọng phát triển mạnglưới các trung tâm dạy nghề, nâng cao chất lượng đào tạo Đại học, Cao đẳng trongnước, kết hợp với các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế.
• Các biện pháp quản lý nhập khẩu:
- Chuyển sang áp dụng các biện pháp mang tính kỹ thuật dựa theo tiêu chuẩn quốcgia và quốc tế, trong đó đặc biệt chú ý đến các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thựcphẩm và tiêu chuẩn về môi trường
- Từng bước áp dụng chính sách chống bán phá giá nhằm tạo ra môi trường cạnhtranh bình đẳng và bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp trong nước (dựa trên luậtchống bán phá giá được ban hành năm 2002)
- Tăng cường áp dụng hạn chế xuất khẩu tự nguyện đối với các sản phẩm nhập khẩu
từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời áp dụng các biện pháp tự vệ
- Thuế quan nhập khẩu được điều chỉnh theo hướng tự do hóa thương mại theo quyđịnh của WTO xuống còn 10% năm 2005 Đồng thời việc quản lý hàng hóa nhậpkhẩu bằng giấy phép và hạn ngạch cũng giảm dần (44 mặt hàng năm 2001 xuốngcòn 14 mặt hàng năm 2005)
2.2.3 Giáo dục
Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc chủ trương bồi dưỡng, giáo dục nhân tài theo bahướng
Giáo dục hướng về hiện đại
• Hướng về hiện đại hoá tức là xây dựng mối quan hệ giữa giáo dục với phát triểnkinh tế Gắn Giáo dục với việc thực hiện các nhiệm vụ chung của đất nước
• Hướng ra thế giới là mối quan hệ giữa giáo dục và thế giới, vừa tuân theo nhữngđặc trưng giáo dục Trung Quốc vừa chú ý đến xu thế phát triển của khoa học, kỹthuật và giáo dục các nước khác trên thế giới nhằm có biện pháp, chính sách, chủtrương đúng đắn cho giáo dục
Giáo dục hướng tới tương lai
Hướng tới tương lai là xác định mối quan hệ giữa giáo dục và tương lai, nhấn mạnhnhiệm vụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá Để thực hiện "ba hướng này" Trung Quốctiến hành bằng nhiều biện pháp cụ thể
• Phát triển mô hình trường Trung học phổ thông tổng hợp thử nghiệm ở Bắc Kinh,Thượng Hải, Thâm Quyến Mô hình Trung học phổ thông tổng hợp được coi là môhình trường giáo dục hướng nghiệp tốt nhất cho học sinh vì học sinh có thể tự lựa
Trang 16chọn nghề nghiệp trong cơ chế thị trường cạnh tranh hoặc tiếp tục học lên Caođẳng, đại học theo sở thích của mình.
Ưu điểm của trường này là học sinh sau khi ra trường vừa có trình độ học vấn phổthông (được cấp bằng Trung học phổ thông), vừa có trình độ kỹ năng nghề nghiệp(được cấp chứng chỉ nghề) để tham gia vào thị trường lao động
• Bên cạnh hệ thống trường công lập được chú trọng đầu tư phát triển, Trung Quốccòn chú trọng phát triển hệ thống trường dân lập Hình thành cục diện mới songsong với việc phát triển trường công lập và dân lập Đây là con đường tất yếu đểmột đất nước còn nhiều khó khăn có thể đại chúng hoá giáo dục đại học, biến gánhnặng về dân số thành nguồn nhân lực dồi dào có trình độ cao
Trung Quốc khẳng định giáo dục Đại học là nòng cốt quan trọng trong công cuộchiện đại hoá mà các trường Đại học là nơi đào tạo chuyên gia có trình độ chuyênmôn cao trên nhiều lĩnh vực tri thức và cũng là mảnh đất gieo mềm sáng tạo, nơibừng nở kiến thức
• Trung Quốc còn chủ trương phát triển nhiều hình thức trường Đại học đào tạokhông chính quy như Đại học qua truyền hình, Đại học nông dân, Đại học viênchức, học viện Giáo dục và bồi dưỡng giáo viên, học viện quản lý cán bộ, Đại học
tự học có hướng dẫn Đây là những trường đại học kiểu mới trên cơ sở kết hợp 3yếu tố: cá nhân tự học, xã hội trợ giúp, nhà nước chỉ đạo
Giáo dục hướng ra thế giới
Quá trình học hỏi, chuyển giao công nghệ nước ngoài đem lại nhiều ưu thế hơn choTrung Quốc: không phải tốn nhiều thời gian và tiền của cho nghiên cứu công nghệ mới,tranh thủ được thời gian, rút ngắn khoảng cách phát triển với các cường quốc trên thếgiới
• Để thực hiện mục tiêu này, Trung Quốc chủ trương mở cửa giao lưu với thế giớibên ngoài trong khi vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu nhữngthành tựu tiên tiến về giáo dục của các nước trên thế giới, thực hiện chủ trươngtăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế với phương châm "ủng hộ lưu học sinh,khuyến khích về nước, đi về tự do"
• Du học sinh được coi là nguồn tài sản quý giá của đất nước, được Nhà nước coitrọng, được tín nhiệm và hưởng nhiều ưu đãi Du học sinh là đội ngũ trí thức trẻđem tinh hoa học hỏi từ bên ngoài để về xây dựng đất nước
Trên thực tế, chính sách thu hút học sinh không phải mới xuất hiện trong thời giangần đây mà nó có từ thời Tôn Trung Sơn Tư tưởng Giáo dục của Tôn Trung Sơn là trọngdụng người tài nên chủ trương khuyến khích du học, bồi dưỡng nhân tài Thực hiện chính