Ngày càng có nhiều người trở thành chính trịgia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động … Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặc củangười phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
===============
BÀI TẬP CUỐI KÌ MÔN XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH
Đ
Ề TÀI : THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG
XU THẾ HỘI NHẬP (NC trường hợp trường ĐH Xây Dựng HN và ĐHKTQD)
Giảng viên : LÊ THÁI THỊ BĂNG TÂM Sinh viên : LÊ HOÀNG HẢI YẾN Lớp : K55 XÃ HỘI HỌC MSSV : 10030957
Hà Nội, 01/2013
Trang 2THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TRONG XU THẾ HỘI NHẬP (Nghiên cứu tại trường Đại học Xây Dựng Hà Nội và Đại học Kinh tế
Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ nữ tronggia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Là người vợhiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùi cũng như những đắng cay cùngchồng, khiến người chồng luôn cảm thấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đónggóp nhiều hơn cho xã hội Không chỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ cònđưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành côngtrong sự nghiệp của chồng Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là nhữngtấm gương cho con cái noi theo Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ở bêncon để hướng dẫn, động viên kịp thời Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm thấy ở nhữngngười phụ nữ, người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yêntrong cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn để sống mộtcuộc sống hữu ích
Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còntích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Ngày càng có nhiều người trở thành chính trịgia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng động … Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặc củangười phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ dịch vụ …
Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh hành độngcủa Hội nghị thế giới lần thứ 4 về phụ nữ tại Bắc Kinh, vai trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam
đã được cải thiện rõ rệt
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đấtnước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động Với hơn 50% dân số vàgần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết cáclĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước Chỉcần điểm qua một vài con số: Hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) -
Trang 3cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thếgiới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%.
Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ33,95%; tiến sĩ 25,69% Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tớigần 30% Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ Trongcông tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược,khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới(kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới
Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập Số hộ nghèo dophụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004 Đây là những con
số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn của Đảng vàNhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển
Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy địnhphụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở, vàtài sản Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành báo cáo về tình hìnhthực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) Đặcbiệt, hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được thành lập ở 45 bộ, ngành và toàn
bộ 64 tỉnh, thành phố Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt động hiệu quả, hệ thống phápluật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được tăng cường, Luật Bình đẳng giới chínhthức có hiệu lực từ ngày 01/7/2007
Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam Trong Thế KỷXXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM và Hội phụ nữ Việt Nam tổchức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ
Việt Nam Hà Thị Khiết đã tôn vinh người phụ nữ Việt Nam: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích cực của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triển theo xu thế chung của nhân loại”
Như vậy có thể nói, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ ViệtNam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xãhội Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn Nó phá
vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tếthị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình Nó có thể giảmnhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham giavào các hoạt động khác Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thịtrường lao động v.v… Chính nhờ Đảng có sự lựa chọn đường lối đúng đắn cho sự pháttriển của đất nước mà vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam không ngừng đượcnâng cao Tuy nhiên, đó cũng chỉ mới là những bước khởi đầu thuận lợi Hiện thời chúng
ta vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong vấn đề bình đẳng giới, nhất là về
Trang 4mặt tư tưởng, quan điểm của con người trong xã hội, kể cả nam giới và nữ giới Không chỉ
có nam giới chưa nhận thức hoặc có thái độ không chấp nhận vai trò, vị trí của phụ nữ màngay chính bản thân nhiều phụ nữ cũng hiểu biết mơ hồ từ đó có những thái độ lệch lạc vàkhông thể có cách giải quyết đúng đắn các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống có liên quanđến vai trò, vị trí về giới của mình Bà Rose Marie Greve, Giám đốc Tổ chức Lao độngquốc tế (ILO) trong buổi tọa đàm “Vai trò của Phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XXI” nóitrên, đã từng nhận định: “Đã đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng phía trước chúng ta vẫncòn nhiều việc phải làm Bất bình đẳng giới vẫn còn là một trong những nguyên nhânchính dẫn đến đói nghèo và là một trong những cản trở cho sự phát triển bền vững Ngườiphụ nữ cần phải được bộc lộ hết khả năng của mình cũng như thực thi và hưởng các quyềncủa mình Thiếu bình đẳng về giới gây cản trở cho phát triển và ảnh hưởng tiêu cực đến tất
cả các thành viên trong gia đình và xã hội.” Khi ở vào thời kỳ mới, để khẳng định và pháthuy vai trò của mình, phụ nữ Việt Nam có nhiều mặt thuận lợi do sự phát triển kinh tếmang lại, nhưng đồng thời với nó là những thử thách họ cần phải vượt qua
2.CÂU HỎI NGHIÊN CỨU :
Thái độ của sinh viên về vị trí vai trò của người phụ nữ trong xu thế hộinhập như thế nào?
Những nhân tố nào tác động đến thái độ của sinh viên về vai trò cảu ngườiphụ nữ trong xu thế hội nhập?
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN :
3.1 Ý nghĩa khoa học
Trong khuôn khổ những vấn đề được đề cập đến, đề tài nghiên cứu mang một ý nghĩakhoa học nhất định Từ cách tiếp cận Xã hội học với tư cách là một bộ môn khoa họcnghiên cứu các mối quan hệ xã hội, quá trình xã hội hóa cá nhân, đề tài này vận dụng hệthống lý thuyết chủ đạo là thuyết nữ quyền, ngoài ra chúng tôi còn vận dụng lý thuyết nhậnthức của tác giả Leon Ficter để lý giải thích những thái độ của sinh viên về vị trí của ngườiphụ nữ trong xu thế hội nhập hiện nay
Hơn nữa, kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những luận điểm bổ sung cho lý thuyết xã hộihọc và làm rõ chúng trong những phát hiện bằng nghiên cứu thực nghiệm của bài tiểu luận
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với những kết quả nghiên cứu về thái độ của sinh viên về vấn đề về vị trí phụ nữ trong quá
trình hội nhập hiện nay Đề tài sẽ làm sáng rõ thái độ của sinh viên về vị trí của người phụ
nữ trong quá trình hội nhập Đồng thời đánh giá về mức độ những nhân tố tác động tớithái độ của sinh viên về việc nữ giới làm chủ hộ Qua đó tôi cũng đề cập đến những vấn đề
về bình đẳng giới trong gia đình nói chung và xã hội nói riêng
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm giàu cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà hoạchđịnh chính sách và quản lý có cái nhìn xác thực hơn, từ đó có thể đưa ra những chính sáchphù hợp giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới hiện nay trong xã hội cũng như nâng cao vaitrò vị thế của người phụ nữ trong quá trình hội nhập hiện nay
Trang 54 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
4.1 Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu thái độ của sinh viên về vấn đề vị trí của người phụ nữ trong quátrình hội nhập
Tìm hiểu những nhân tố tác động tới thái độ của sinh viên về vấn đề
Từ nghiên cứu trên đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị nhằm thay đổimột số quan điểm/ thái độ của sinh viên về bình đẳng giới nói chung và trong vấn
đề vị trí người phụ nữ trong xã hội nói riêng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu thái độ của sinh viên đối với vấn đề vị trí người phụ nữ trong quátrình hội nhập (ủng hộ, không ủng hộ; đồng ý, không đồng ý )
5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng: Thái độ của sinh viên về việc vị trí người phụ nữ trong quá trình hộinhập hiện nay
Khách thể: Sinh viên trường ĐH Xây dựng Hà Nội và ĐH kinh tế quốc dân
Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: 11/6 – 25/6 năm 2012
Phạm vi nghiên cứu: trường ĐHXD và ĐHKTQD
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
6.1 Phân tích tài liệu (Sách, báo, tài liệu trên internet)
Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi tìm hiểu và thu thập những tài liệu từ các nghiên cứutrước có liên quan như : vấn đề nghiên cứu quá trình phát triển vị thế của người phụnữ,nghiên cứu về xã hội học gia đình, nghiên cứu bình đẳng giới
Trong đề tài nghiên cứu chúng tôi có sử dụng nguồn số liệu và thông tin từ internet nhưVietbao.vn, Vnexpress.net, khoahoc-giaoduc.edu.vn, và một số kiến thức từ trong sáchgiáo trình và sách tham khảo thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội, và một số tài liệu về “vai tròcủa phụ nữ trong giai đoạn phát triển kinh tế” của một số đề tài nghiên cứu trước để từ đóchúng ta có thêm những tài liệu cơ bản trong quá trình nghiên cứu chuyên ngành Xã hộihọc nhằm có được cách nhìn nhận và đánh giá khách quan, tổng hợp và toàn diện hơn vềvấn đề
Các thư viện ; thư viện trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, phòng tư liệukhoa Xã hội học, khoa Tâm lý học
6.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến ,phỏng vấn bằng bảng hỏi
Phỏng vấn là phương pháp cụ thể thu thập thông tin của một nghiên cứu xã hội học thôngqua việc tác động tâm lý – xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và người được hỏi nhằm thuthập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu Căn cứ vào mụctiêu và đối tượng thu thập thông tin, chúng tôi tiến hành hai phương pháp phỏng vấn làphỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu cá nhân
Trang 6Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi nhằm mục đích thu thập những thông tin về thái
độ của sinh viên với việc nữ giới là chủ gia đình hay những tác động ảnh hưởng đến thái
độ của sinh viên với việc vị trí người phụ nữ trong xu thế hội nhập hay tìm hiểu về một sốgiải pháp trong việc bình đẳng giới
Phỏng vấn được thực hiện trên cơ sở một bảng hỏi đã được chuẩn hóa để đưa ra các câuhỏi và ghi nhận lại thông tin từ người trả lời Đây là phương pháp điều tra chủ yếu được sửdụng với đối tượng là những người dân, những sinh viên ở hai trường Đại Học Bảng hỏiđược xây dựng cho 10 khách thể, được kết cấu thành 3 phần với nội dung chủ yếu xoayquanh các vấn đề như: Quan điểm về chủ hộ, thái độ của sinh viên với việc nữ làm chủ hộ,những nhân tố tác động tới thái độ của sinh viên về việc nữ giới trong xu thế hội nhập
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu ( 4 mẫu phỏng vấn sâu chia đều cho hai trường)
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với số lượng 4 mẫu Tiến hành phỏng vấn các bạnsinh viên ở hai trường khác nhau Nội dung phỏng vấn xoay quanh vấn đề như quan điểm
về vị thế người phụ nữ trong quá trình hội nhập, từ đó đưa ra một số các giải pháp nhằmthay đổi quan điểm thái độ về bình đẳng giới
Phương pháp này nhằm thu thập được những thông tin, nhằm làm sáng rõ và cụ thể hóanhững vấn đề mà bẳng hỏi không trả lời được
Phương pháp này rất có giá trị cho nghiên cứu định tính mà phương pháp định lượngkhông thực hiện được, phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập thông tinđịnh tính như lấy ý kiến của những sinh viên ở 2 trường Đại học xây dựng và Đại học kinh
tế quốc dân
7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Trong xã hội hiện nay với những thay đổi trong nhận thức trong rất nhiều lĩnh vựctrong đó có việc nữ giới tham gia các công tác xã hội, nắm những vị trí trong xã hội hiệnnay đã được rất nhiều bạn sinh viên đã có thái độ ủng hộ đồng ý với việc nữ giới làm chủ
hộ gia đình song bên cạnh đó cũng có những bạn sinh viên không đồng tình với việc nữgiới nắm những vị trí trong xu thế hội nhập của đất nước
Trong các yếu tố tác động và ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên trong việc nữgiới nắm vị trí trong xã hội thì có năm yếu tố tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng nhiều đếnthái độ của sinh viên trong việc nữ giới nắm các vị trí trong xã hội :tư tưởng văn hóa, quanniệm truyền thống, quan điểm hiện đại và môi trường sống, xu thế bình đẳng giới trên thếgiới
Với việc nữ giới nắm các vị trí trong xã hội sẽ làm cho việc bất bình đẳng giới ngàycàng thu hẹp và phụ nữ có nhiều cơ hội điều kiện để tự khẳng định mình với gia đình cũngnhư xã hội
Trang 78 KHUNG LÝ THUYẾT:
II NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.1 Các hướng tiếp cận lý thuyết xã hội học
1.1.1.Lý thuyết nữ quyền
*Thuyết nữ quyền :
Xã hội càng phát triển, quyền bình đẳng con người càng được đề cao, đặc biệt là bìnhđẳng giới Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề mới mà từ lâu trong lịch sử những vấn đềbình đẳng giới thể hiện qua các phong trào giải phóng phụ nữ, các tư tưởng, quan điểm đòiquyền lợi cho phụ nữ và sau này đã phát triển lên thành các phong trào về giới, lồng ghépgiới vào phát triển đã được nhiều trường phái, nhiều nhà nghiên cứu, nhà chính trị quantâm Điều này thể hiện rõ nét ở hệ thống các lý thuyết nữ quyền
Trước hết, nữ quyền nghĩa là những người đấu tranh cho quyền của phụ nữ Những aitìm cách chấm dứt sự phụ thuộc của phụ nữ Chủ nghĩa nữ quyền bao gồm các lý thuyết xãhội khác nhau, giải thích nguyên nhân của việc phụ nữ bị áp bức trong xã hội và phongtrào nữ quyền là một lực lượng xã hội để thay đổi quan hệ giới nhằm nâng cao địa vị củangười phụ nữ
Trong thuyết nữ quyền thì thuyết nữ quyền tự do chiếm một vị trí thứ yếu , nhưng đồngthời nó là cách tiếp cận được phổ biến rộng rãi nhất trong phong trào phụ nữ đương thờiMỹ
*Thuyết nữ quyền tự do (Liberal feminism):
Điều kiện kinh tế
Đặc điểm nhân
khẩu(tuổi, giới tính,
ngành học )
Không chấp nhận
Trang 8Chủ nghĩa nữ quyền tự do có truyền thống đấu tranh đòi bình đẳng về quyền và cơ hội từthế kỷ 18 Các nhà nữ quyền tự do tranh luận về quyền tự nhiên vào thế kỷ 18 và quyềnbình đẳng dưới luật vào thế kỷ 19 Vào thế kỷ 20, với sự phát triển của lý thuyết tự do vềnhà nước phúc lợi , họ đã đòi hỏi những cơ hội bình đẳng Thuyết này dựa trên hai cáchtiếp cận con người và trí tuệ , nhấn mạnh cải cách xã hội và pháp luật qua các chính sáchđược xây dựng để tạo nên những cơ hội bình đẳng cho phụ nữ Hơn nữa thuyết nữ quyền
tự do nhấn mạnh sự xã hội hóa giới như là nguồn gốc của những khác biệt giới , do đóthuyết này cho rằng những biến đổi trong thực tiễn xã hội hóa và giáo dục xã hội hóa côngcộng sẽ dẫn đến tự do hơn cho các quan hệ bình đẳng giới.Những người theo thuyết nữquyền cho rằng học vấn là yếu tố quan trọng giúp cho phụ nữ tiếp cận được sự công bằng
xã hội và các quyền bình đẳng khác Khi tiếp cận được sự công bằng thì hai giới có nhữnglợi ích xã hội như nhau Thuyết này cho rằng để đạt được mục đích công bằng giữa nam và
nữ giới không cần có một cuộc cách mạng xã hội nào mà chỉ cần làm sao hợp nhất, hòahợp phụ nữ vào vai trò các lĩnh vực mới với sự bình đẳng có nghĩa hơn
Những người khởi đầu của thuyết nữ quyền tự do là Mary Wollstonecraft và John StuartMill với tác phẩm “sự bị trị của phụ nữ”
Thuyết nữ quyền tự do có nội dung chủ yếu đấu tranh đòi quyền bình đẳng và cơ hội cho
người phụ nữ từ thế kỷ XVIII Vào thế kỷ thứ XX, sự phát triển của lý thuyết tự do về nhà
nước phúc lợi, những người theo thuyết nữ quyền tự do đòi hỏi những có hội bình đẳng
Cách tiếp cận của thuyết này dựa trên hai cách tiếp cận con người và trí tuệ, nhân mạnh cải
cách xã hội và pháp luật qua các chính sách được xây dựng để tạo nên những cơ hội bìnhđẳng cho phụ nữ
Theo như thuyết nữ quyền tự do thì sự bị trị của phụ nữ là có nguồn gốc về tập quán và pháp lí Những ràng buộc ngăn cản phụ nữ tham gia vào và thành công trong những nơi
được gọi là thế giới công cộng
“Do xã hội tin tưởng rằng một cách sai lầm rằng do bản chất của mình mà phụ nữ kémnăng lực hơn nam giới về trí tuệ và (hoặc) thể chất, xã hội đã gạt bỏ phụ nữ ra khỏi hànlâm viện, các diễn đàn và thương trường.”
Và cũng do chính sách gạt bỏ, tiềm năng đích thực của người phụ nữ không được bộc lô
Họ cho rằng công bằng phải đòi hỏi phải:
1/ Làm cho các quy luật của cuộc chơi đẹp và công bằng
2/ Đảm bảo chắc chắn rằng không ai trong số những người dự cuộc đua tranh vì nhữngđiều tốt lành và phụng sự xã hội lâm vào tình trạng thiệt thòi một cách có hệ thống Người
ta tin rằng gần như mỗi phụ nữ đều có thể tự giải phóng mình với tư cách bác bỏ các vaitrò giới tính trong gia đình truyền thống
Những người theo thuyết nữ quyền cho rằng học vấn là yếu tố quan trọng giúp cho phụ
nữ tiếp cận được sự công bằng xã hội và các quyền bình đẳng khác Khi tiếp cận được sự
công bằng thì hai giới có những lợi ích xã hội như nhau Thuyết này cho rằng để đạt đượcmục đích công bằng giữa nam và nữ giới không cần có một cuộc cách mạng xã hội nào màchỉ cần làm sao hợp nhất, hòa hợp phụ nữ vào vai trò các lĩnh vực mới với sự bình đẳng cónghĩa hơn
*Ứng dụng vào nghiên cứu: Nghiên cứu này vận dụng thuyết nữ quyền tự do để giải thích
ở hai khía cạnh sau (ở góc độ nhìn nhận vai trò, giá trị của người phụ nữ)
Trang 9 Có thể qua đây thấy được, vì sao vị trí và vai trò người phụ nữ trong xã hội hội nhậpngày nay không được đảm bảo Sự ảnh hưởng từ hệ tư duy, văn hóa, ảnh hưởng từ lối sống
đá khiến người phụ nữ không có điều kiện để phát huy hết những giá trị, phẩm chất của họ
mà trong thực tế Sự trênh lệch về khả năg, trí tuệ giữa hai giới nam và nữ gần như khôngđáng kể, có thể coi là không có sự trênh lệch này
Và cũng chính điều đó tác đông đến sinh viên về vấn đề vai trò người phụ nữ trong xuthế hội nhập của đất nước
Có thể thấy về vai trò và vị trí người phụ nữ Việt Nam hiện nay đã được cải thiện đáng kể.Tuy nhiên vẫn chưa thể gọi sự bình đẳng về giới theo đúng ý nghĩa của nó
Giải thích tại sao phụ nữ có thể nắm những vai trò vị trí trong xã hội hiện nay:
Mỗi thời kỳ có những cơ hội và yêu cầu mang tính lịch sử, muốn có thể khẳng định và pháthuy vai trò của mình, bản thân người phụ nữ trước hết phải ý thức được đầy đủ vai trò vềgiới của mình, mới có thể nắm bắt được những cơ hội, cùng với xã hội, hướng tới cách ứng
xử bình đẳng giới Muốn vậy, phụ nữ hiện đại cần nỗ lực nhiều mặt:
- Có tri thức, văn hoá Chúng ta đang hướng tới phát triển nền kinh tế tri thức, phụ
nữ khi có tri thức sẽ có bản lĩnh hơn và có nhiều cơ hội lựa chọn hơn trong cuộc sống.Chẳng hạn như khi công nghệ thông tin phát triển, nhiều công việc yêu cầu sử dụng máytính tăng lên, đây sẽ là cơ hội tốt cho những phụ nữ biết sử dụng vi tính nhưng lại sẽ trởthành rào cản cho những người không biết sử dụng
- Có ý thức cầu tiến, độc lập
- Sống có mục đích
- Có khả năng giao kết thân thiện Một số nghiên cứu hiện nay thừa nhận mối quan
hệ giữa sự tham gia tích cực của phụ nữ vào đời sống xã hội với sự giảm bớt mức độ thamnhũng
- Có kỹ năng sống: tự tin, sáng tạo, biết hoạch định kế hoạch, biết đối mặt với áp lực,biết chăm sóc bản thân …
Để có được những điều này phụ nữ nên chịu khó học hỏi ở nhà trường, các tổ chức,đội nhóm, nhà văn hóa, câu lạc bộ…Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội để tích lũytri thức và kinh nghiệm sống Mở rộng các mối quan hệ giao lưu giao tiếp trong xã hội.Tạo thói quen suy nghĩ tích cực, sẵn sàng chia sẻ, siêng năng lao động, rèn luyện và chămsóc sức khoẻ cho bản thân
1.1.2 Lí thuyết về Định kiến xã hội
Theo J.P Charlin định kiến là thái độ tích cực hoặc tiêu cực được hình thành trên cơ sở củacác yếu tố cảm xúc, là niềm tin một cách không thiện cảm làm cho chủ thể có cách nghĩhoặc cách ứng xử tương tự đối với người khác
Theo nhà tâm lí học xã hội Fisher cho rằng “định kiến xã hội là những thái độ bao hàm sựđánh giá một một chiều và sự đánh giá đó là tiêu cực đối với cá nhân khác hoặc nhóm khác
Trang 10tuy theo sự quy thuộc xã hội riêng của họ” Nói cách khác, định kiến là một loại phân biệtđối xử bao gồm hai thành tố chính là nhận thức và ứng xử”1
Ứng dụng vào đề tài nghiên cứu:
Thái độ của sinh viên trong việc vị trí và vai trò người phụ nữ trong xu thế hội nhập hiệnnay có thể bị ảnh hưởng, chịu ảnh hưởng bởi bởi tư tưởng văn hóa
Vì thế, Sinh viên chịu ảnh hưởng từ tư tưởng truyền thống có thể có thái độ tích cực, hìnhthành những định kiến, không ủng hộ, đồng ý đối với việc nữ giới nắm các vị trí trong xãhội hiện nay
Và trường hợp sinh viên chịu ảnh hưởng từ tư tưởng hiện đại và sự thay đổi của môitrường kinh tế - xã hội (Truyền thông, tuyên truyền thúc đẩy bình đẳng giới,…) sẽ có thái
độ tích cực như ủng hộ hoặc đồng ý với việc phụ nữ nắm các vị trí trong xã hội
Thái độ của sinh viên về việc phụ nữ nắm các vị trí trong xã hội hiện nay của sinh viên là
do tác động từ các định kiến khác nhau
Những sinh viên ủng hộ việc phụ nữ có thể nắm các vị trí quan trọng trong xã hội hiện nay
có thể tiếp thu, chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng hiện đại của Đảng và Nhà nước (chỉ thị,nghị quyết, chính sách về bình đẳng giới …)
Những sinh viên không đồng tình với việc phụ nắm các vị trí quan trọng trong xã hội hiệnnay có thể chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng truyến thống xưa, do nền kinh tế xã hội lệchlạc, ảnh hưởng của Nho giáo nên họ vẫn còn giưa định kiến tiêu cực về phụ nữ Chính bởi
có thái độ này mà có thể sau này người có thể nắm các vị trí cao trong xã hội cũng vẫn sẽ
là nam giới
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học xây dựng Hà Nội và trường Kinh tế quốc dân Hà Nội đều nằm trên đường Giải phóng Hà Nội Với mục đích đào tạo là khác nhau và vì đặc thù của hai môi trường học nên số lượng nam sinh trong trường ĐHXD và KTQD có sự trênh lệch nhau rất lớn Chính vì điều đó nên tôi chọn hai trường đại học trên làm địa bàn nghiên cứu để lấy số liệu lập bản đề tài này.
1.2.2 Vài nét về vị trí người phụ nữ trong một số nước Phương Đông
*/ Vị trí vai trò của người phụ nữ Nhật Bản :
Vị trí của người phụ nữ Nhật Bản thay đổi rất nhiều trong quá trình lịch sử Những nghiên cứu về lịch sử phụ nữ cho thấy, ít nhất là trước thế kỷ 11, phụ nữ Nhật Bản luôn đóng vai trò trung tâm trong gia đình, giống như nhiều xã hội mẫu hệ Bên cạnh đó, phụ nữ còn có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đối với tôn giáo và chính trị Trong thế kỷ 7 và thế kỷ 8, một vài người phụ nữ trở thành Nữ hoàng, ví dụ như các nữ hoàng Suiko, Saimei, Jito và Koken…
Từ thế kỷ 6 trở về sau, cùng với sự du nhập của đạo Khổng và Phật giáo, xã hội chuyển dần sang cơ cấu gia trưởng Tuy nhiên, những phụ nữ tầng lớp thượng lưu vẫn thường là những người có học cao và có những quyền quan trọng như quyền thừa kế gia tài, cho đến khi họ bị tước mất những quyền này trong thời kỳ chuyển sang kinh tế phong kiến theo hướng phục vụ chiến tranh, bắt đầu từ thế kỷ 12 Mấy trăm năm tương đối hòa bình trong thời Edo (1600-1868) dường như càng củng cố cơ cấu gia trưởng và đẩy người phụ nữ vào
1Trích Giáo trình tâm lí học xã hội, trang 25
Trang 11vai trò phụ thuộc Chỉ từ thời Minh Trị (1869-1912) trở đi, nhất là từ sau Thế chiến 2, khi
có nhiều cơ hội công ăn việc làm cũng như giáo dục, cùng với nhiều cải thiện về pháp luật,phụ nữ Nhật Bản mới phần nào có vị trí xứng đáng
Sau Minh Trị Duy Tân năm 1868, việc áp dụng giáo dục phổ cập vào năm 1873 có nghĩa làngày càng nhiều trẻ em gái được đến trường, ít nhất cũng hết bậc tiểu học Song việc giáo dục cho các em gái bị tụt hậu so với việc giáo dục cho các em trai, và chính sách của chính phủ nêu rõ rằng, nên đào tạo sao cho các em gái trở thành người nội trợ giỏi, giữ truyền thống coi phụ nữ là “những người vợ đảm và những bà mẹ thông minh”, tiếng Nhật gọi là ryosai kembo
Một số phụ nữ cũng tham gia các cuộc đấu tranh dẫn đến Minh Trị Duy Tân, nhưng Luật Dân sự Minh Trị năm 1898 chỉ dành cho họ những quyền hạn chế như quyền li dị và quyền
sở hữu tài sản, lại bắt buộc phải có sự đồng ý của người chồng trong hầu hết các vụ kiện pháp lý
Khi Thế chiến 2 kết thúc, lực lượng chiếm đóng lấy cơ cấu dân chủ của Mỹ làm hình mẫu nên các đạo luật về phụ nữ ở Nhật Bản nói chung cũng tương tự như các đạo luật của Mỹ Hiến pháp năm 1947 cấm phân biệt giới tính trong chính trị, kinh tế, quan hệ xã hội, đồng thời khẳng định các đạo luật được ban hành trên cơ sở bình đẳng giới tính và tôn trọng nhân phẩm của cá nhân Luật Dân sự cũng khẳng định sự bình đẳng giữa vợ và chồng Cáctòa án gia đình can thiệp vào những vấn đề như tranh chấp tài sản và quyền nuôi con Songthực tế, không phải các quy định trong luật luôn được thực thi nên xã hội gia trưởng của Nhật Bản vẫn là một chủ đề được nói đến rất nhiều, trong khi nước Nhật hiện đại đang chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ mới
Trang 12Ở Nhật Bản, theo truyền thống vợ và chồng hầu như có thế giới riêng và thực tế này hiện vẫn khá phổ biến, tuy có xu hướng tiến tới quan hệ chặt chẽ và trao đổi với nhau nhiều hơn Cuộc sống của người chồng tập trung vào công việc, dành nhiều thời gian rỗi với các đồng sự nam giới của mình trong mối quan hệ xã hội không có sự tham gia của vợ Còn cuộc sống của người vợ tập trung vào gia đình, con cái và hàng xóm Ở nhà, người vợ có quyền to lớn vì thường là người chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc điều hành ngân sách của gia đình và luôn quyết định về những việc liên quan đến con cái Nói chung người vợ ởNhật Bản không đề nghị và không trông đợi chồng giúp đỡ các công việc nhà, thậm chí ngay cả khi bản thân người vợ phải đi làm.
Trong những năm thịnh vượng vào thập kỷ 60, số cuộc kết hôn tăng mạnh Nhưng gần đây,tuổi lập gia đình trung bình đã tăng lên Theo số liệu năm 1997, tuổi kết hôn lần đầu trung bình của nam là 28,5 và của nữ là 26,6 Số lượng phụ nữ không lấy chồng cũng tăng lên vì trình độ học vấn cao và cơ hội nghề nghiệp đã tạo nên sự độc lập về kinh tế
Số lượng nữ thanh niên học lên cao sau khi tốt nghiệp phổ thông tăng dần mỗi năm kể từ Thế chiến 2 Năm 1989, tỉ lệ nữ giới vào đại học và cao đẳng là 36,8%, lần đầu tiên vượt tỉ
lệ của nam giới (35,8%) Vào năm 1997, tỉ lệ này lên tới mức kỷ lục là 46,8% trong khi tỉ
lệ của nam giới giảm xuống còn 34,5%
Trang 13Kể từ khi phụ nữ Nhật Bản được quyền đi bỏ phiếu vào năm 1945, hầu như trong cuộc bầu
cử nào số cử tri nữ cũng cao hơn cử tri nam giới Tuy nhiên, đại diện của phái nữ trong cuộc sống chính trị vẫn quá ít Năm 1950, họ chỉ có 3,4% đại diện trong lưỡng viện quốc hội Tỉ lệ này tăng không đáng kể cho tới tận năm 1986 và vào năm 1999, tức là 52 năm sau khi có những nữ nghị sĩ đầu tiên, quốc hội cũng mới chỉ có 67 nữ thượng và hạ nghị sĩ,chiếm 8,9% Trong chính phủ trung ương, phụ nữ nói chung chỉ nắm giữ các chức vụ cao trong các ủy ban hoặc vụ liên quan đến các vấn đề phụ nữ hoặc giáo dục Trường hợp bà
bộ trưởng bưu chính viễn thông Noda Seiko trong chính phủ của thủ tướng Obuchi là rất hiếm hoi
Tỉ lệ tham gia của phụ nữ trong các ủy ban và hội đồng cố vấn quốc gia vào năm 1975 chỉ
có 2,4%, đến tháng 9/1998 tăng gấp hơn 7 lần nhưng cũng mới chỉ đạt 18,3%
Số lượng phụ nữ nắm giữ chức vụ cao trong các cơ quan chính quyền đang tăng lên, tuy còn ít ỏi Vào tháng 12/1998, có 4 nữ thị trưởng và 9 phó tỉnh trưởng nữ Nhật Bản cũng có
7 nữ đại sứ và 5 phụ nữ nắm giữ các chức vụ cao tại LHQ Bà Ogata Sadako là người NhậtBản đầu tiên được bầu làm Cao ủy LHQ phụ trách người tị nạn Bà từng nắm giữ những chức vụ quan trọng khác như giám đốc nhân sự UNESCO, cố vấn phó tổng thư ký LHQ vềcác vấn đề kinh tế và xã hội, v,v…
Vị trí của người phụ nữ Nhật Bản trong xã hội đã thay đổi đáng kể nhưng về căn bản, có thể nói Nhật vẫn đi chậm hơn nhiều nước trên thế giới về vấn đề giải phóng phụ nữ, và lĩnhvực rõ nhất cho thấy “bình đẳng nam nữ” chưa hoàn toàn được tôn trọng chính là trong lao động
Trước kia, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong lực lượng lao động nông nghiệp của Nhật Bản Nhưng quá trình công nghiệp hóa sau Minh Trị Duy Tân năm 1868 đã kéo nhiều phụ
nữ vào ngành dệt – ngành chủ lực thu ngoại tệ của Nhật Bản khi đó Tuy nhiên, hầu hết các
nữ công nhân này chỉ được nhận mức lương rẻ mạt, điều kiện làm việc hết sức tồi tệ trong khi họ phải sống trong những cư xá đông đúc, chật chội
Trước năm 1930, số lượng công nhân nữ luôn cao hơn số công nhân nam và đa phần là công nhân ngành dệt Tình hình suy thoái trên toàn thế giới trong thập niên 30 và việc chủ nghĩa quân phiệt lớn mạnh ở Nhật Bản đã thúc đẩy những nỗ lực đảm bảo tự cung tự cấp bằng cách mở rộng ngành công nghiệp nặng và quân đội Ngành hóa chất trở thành nguồn tuyển dụng nhiều lao động nữ Phụ nữ cũng bắt đầu làm các công việc chế tạo và đòi hỏi tay nghề cao vì nhiều nam giới phải đi lính
Sau thế chiến 2, phong trào công đoàn dành ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho những nam giới
là lao động kiếm sống chính trong gia đình Nhưng tình trạng nhiều phụ nữ độc thân và nghèo khó do chiến tranh khiến vẫn có nhiều lao động nữ Trước thế chiến 2, hầu hết các lao động nữ ở Nhật Bản là thanh niên hoặc phụ nữ độc thân, nhưng do kinh tế phát triển mạnh trong thập niên 60, nhiều công ty bắt đầu tuyển dụng lao động hợp đồng và số lượng nhân viên nữ có gia đình tăng lên đáng kể
Kể từ năm 1955, tỉ lệ phụ nữ có gia đình trong lực lượng lao động tăng gần gấp 3 lần, lên tới 64,9% vào năm 1990, trong khi số lượng lao động nữ dưới 19 tuổi giảm đi vì ngày càng
Trang 14nhiều nữ thanh niên tiếp tục học lên đại học hoặc cao đẳng sau khi tốt nghiệp phổ thông Tuy nhiên, đa phần các phụ nữ chỉ làm các công việc mang tính chất không chuyên ngành hoặc lao động giản đơn.
Một tình trạng xảy ra ở cả Nhật Bản và nhiều nước khác là chênh lệch nam-nữ về tỉ lệ tham gia lực lượng lao động và mức thu nhập Đặc biệt ở Nhật Bản, do định kiến đối với phụ nữ, sự phân biệt đối xử thể hiện rõ hơn ở các nước phương Tây Nhiều người giữ lối suy nghĩ truyền thống cho rằng công việc chính của phụ nữ là phụng sự gia đình sau khi kết hôn
Luật tiêu chuẩn lao động của Nhật Bản năm 1947 quy định phải trả mức lương bình đẳng cho cùng một công việc nhưng thực ra điều này hiếm khi được chấp hành vì nhiều công ty
có xu hướng giao cho phụ nữ những công việc không có khả năng thăng tiến, gán cho côngviệc tên gọi khác nhưng thực chất vẫn là những việc mà nam giới thường làm, và ưu đãi nam giới hơn về thời gian thăng chức Theo một cuộc thăm dò vào năm 1990, mức lương tháng trung bình của phụ nữ chỉ bằng hơn 60% mức trả cho nam nhân viên
Theo thống kê của Bộ lao động, vào năm 1997, mức chênh lệch nam-nữ về lương khi mới vào công ty tương đối ít nhưng càng về sau càng tăng lên Đối với những người chỉ tốt nghiệp cấp 3, mức độ chênh lệch về lương lớn nhất là ở lứa tuổi 50-54 Nếu lấy tiêu chuẩn lương của nam giới là 100 thì nữ chỉ là 71,8 Đối với những người tốt nghiệp đại học, chênh lệch nhiều nhất từ 40-49 tuổi, trong đó lương của nam giới là 100 thì lương của nữ giới chỉ là 81,8 Tình trạng chênh lệch lương ít lúc khởi điểm nhưng khoảng cách ngày càng rộng được đặt cho cái tên là “tình trạng nằm lì” (tiếng Nhật là netakiri chingin), xuất phát từ netakiri rojin, tức “người già nằm lì”
Chênh lệch lương nam-nữ dẫn đến chênh lệch ngay cả giữa phụ nữ có gia đình không đi làm và phụ nữ độc thân đi làm Ví dụ trường hợp phụ nữ không đi làm nhưng chồng chết vẫn nhận lương hưu nhiều hơn phụ nữ độc thân đi làm nhiều năm
Sự chênh lệch giữa lương của nam và nữ ở Nhật Bản luôn lớn nhất trong số các nước công nghiệp phát triển Lý do chủ yếu là vì lâu nay Nhật Bản áp dụng chế độ thâm niên, đánh giá cao những người làm việc suốt đời cho công ty Trong khi đó, phụ nữ thường bị coi là
có học vấn thấp hơn nam giới, thời gian làm việc lại ngắn hơn Rất ít phụ nữ được bổ nhiệm vào các chức vụ cao trong kinh doanh và rất ít người được nhận trợ cấp nhà cửa haynuôi người phụ thuộc trong gia đình giống như các đồng nghiệp nam Nhiều công ty hiện vẫn có quan điểm chỉ tuyển lao động nữ vào các công việc tạm thời hoặc hạng thấp vì cho rằng họ chỉ làm việc đến khi lập gia đình hoặc sinh con
So sánh giữa nam giới và nữ giới trong lực lượng lao động, có thể thấy ở tất cả các nước, tỉ
lệ nữ giới làm việc văn phòng và dịch vụ đều cao hơn nam giới Tỉ lệ nữ giới nắm giữ các chức vụ quản lý ở tất cả các nước đều kém nam giới, song ở Nhật Bản, tỉ lệ này đặc biệt thấp, chỉ là 9,3%, trong khi ở Đức là 26,6%, ở Na Uy là 30,6% và ở Mỹ là 44,3%
Việc đấu tranh vận động đòi sự bình đẳng cho phụ nữ ở Nhật Bản đã diễn ra từ cuối thế kỷ trước, khởi đầu bằng các cuộc đình công rồi tiến tới ra những tờ báo riêng và lập các tổ chức của phụ nữ Càng ngày phụ nữ Nhật Bản càng có tiếng nói hơn, khiến chính quyền phải có những phản ứng đáp lại một cách tích cực
Trang 15Hiện nay, Hội đồng chỉ đạo khuyến khích bình đẳng giới tính, bao gồm toàn bộ nội các và đích thân thủ tướng làm chủ tịch, đã tiến hành nhiều cuộc họp và đề ra Kế hoạch hành động quốc gia hướng tới bình đẳng giới tính vào năm 2000, đồng thời khuyến khích chỉ định phụ nữ vào các ủy ban và hội đồng cố vấn quốc gia để tăng từ tỉ lệ 18,3% vào cuối năm 1998 lên 20% trước cuối tài khóa 2000 Chính phủ cũng tổ chức các diễn đàn bàn về những biện pháp đối phó tình trạng bạo lực đối với phụ nữ hoặc tệ nạn quấy rối tình dục.
Bộ lao động đã quy định từ ngày 10 đến 16/4 hàng năm là “Tuần Phụ nữ”, đồng thời xúc tiến giáo dục và tuyên truyền để nâng cao vị trị của phụ nữ Bộ này đã thông báo chi tiết cho các chủ công ty, các nhân viên và những bên liên quan về Luật bình đẳng cơ hội công
ăn việc làm cũng như nội dung các sửa đổi đối với Luật tiêu chuẩn lao động và Luật nghỉ phép chăm sóc con cái và gia đình
Một số điểm chính trong Luật bình đẳng cơ hội công ăn việc làm, mới sửa đổi từ tháng 4/1999, có nội dung như sau:
1 Cấm phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong việc tuyển dụng, bố trí công việc, thăng chức, giáo dục – đào tạo, các chương trình phúc lợi, tuổi về hưu bắt buộc, hưu trí, và bãi miễn
2 Chính phủ trung ương sẽ cố vấn hoặc có các hình thức giúp đỡ cho những chủ công ty đề ra các biện pháp năng động để xóa bỏ khác biệt giữa nam và nữ nhân viên
3 Cung cấp những chỉ dẫn hành chính cần thiết liên quan đến việc thi hành các đạo luật
4 Bắt buộc các chủ công ty phải có biện pháp cần thiết về quản lý nhân sự để
ngăn chặn tình trạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc
Trong khi đó, Luật tiêu chuẩn lao động được sửa đổi một phần mà điểm quan trọng nhất là loại bỏ những quy định đối với nhân viên nữ về làm việc ngoài giờ, làm việc ngày nghỉ và làm việc khuya nhằm mở rộng phạm vi nghề nghiệp cho nữ giới
Liên đoàn các tổ chức phụ nữ Nhật Bản hoan nghênh Luật bình đẳng cơ hội công ăn việc làm nhưng đồng thời cũng chỉ ra thiếu sót của luật là chưa bảo đảm bình đẳng về kết quả cuối cùng Vì luật không có quy định trừng phạt các chủ công ty nên thực tế, khi thiếu lao động thì họ sẵn sàng tuyển dụng nữ giới nhưng lúc kinh tế trì trệ thì phụ nữ là những ngườiđầu tiên bị giảm biên chế
Những sửa đổi đối với Luật tiêu chuẩn lao động cũng tạo ra nhiều vấn đề Luật cũ không cho phép làm việc khuya để bảo vệ phụ nữ nhưng lại hạn chế công việc và cơ hội thăng tiến của họ Luật mới bãi bỏ hạn chế kể trên để tạo thuận lợi về công việc cho phái nữ nhưng có thể dẫn đến khả năng phụ nữ phải làm việc quá giờ và làm việc vào ngày nghỉ, chẳng khác gì nam giới Nhật Bản không giống như châu Âu, nơi có quy định giờ làm việc
ít và bảo đảm đủ ngày nghỉ, nên sau khi áp dụng luật sửa đổi đã xảy ra tình trạng phụ nữ làm việc quá nhiều Điều này cho thấy không chỉ cần chủ trương bình đẳng nam nữ mà cònphải cải thiện điều kiện làm việc nói chung ở Nhật
Trang 16Nếu nhìn vào những chênh lệch về tiền lương, cơ hội việc làm, tỉ lệ nữ nghị sĩ quốc hội, v,v… thì rất dễ dàng so sánh địa vị của phụ nữ ở Nhật Bản với phụ nữ ở các nước khác Chính vì sự khác biệt rõ nét như vậy nên chính phủ trung ương và các chính quyền địa phương của Nhật Bản đều cố gắng cải thiện tình trạng đó.
Hiện tại, phụ nữ Nhật tham gia tích cực vào các phong trào hòa bình, phong trào công dân, tiêu dùng, v,v… và ở Nhật có khoảng 25.000 tổ chức phụ nữ tại các khu vực, có liên hệ chặt chẽ với Liên đoàn các tổ chức phụ nữ Nhật Bản Xét về mặt luật pháp, nhất là những bảo đảm bình đẳng trong hiến pháp, phụ nữ Nhật Bản còn được bảo đảm nhiều hơn so với các nước khác Vì thế, nói chung hiện nay các nhà hoạt động đòi quyền cho phụ nữ không phải vận động để thay đổi luật liên quan đến phụ nữ mà để làm cho các luật đó được thực thi nghiêm túc
Tuy nhiên, những cố gắng của chính quyền sẽ chỉ là hình thức và những nỗ lực của phái nữ
sẽ không hiệu quả nếu chưa thể thay đổi lối suy nghĩ đánh giá thấp phụ nữ vẫn khá phổ biến ở Nhật Bản Để tạo nên sự thay đổi đó đòi hỏi sự tham gia của cả chính quyền, các cơ quan đoàn thể, việc giáo dục trong nhà trường, gia đình, và bản thân từng người dân
*/ VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ VÀ VỊ THẾ CỦA PHỤ NỮ MỸ TRONG LỰC LƯỢNG LAO
ĐỘNG
Ở Mỹ, đầu thế kỷ 20, phụ nữ được coi là những người chăm lo về vấn đề đạo đức vàthường là những người mềm mỏng hơn Vai trò của phụ nữ thường không phải lả nhữngngười lao động chính hoặc những người chịu trách nhiệm kiếm ra tiền Họ giữ vị thế bịđộng và chờ tới khi lập gia đình để đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ, và canh giữ truyềnthống gia đình Trong thực tế, cuộc nội chiến đã thay đổi nước Mỹ rất nhiều và đồng thờiphụ nữ cũng có cơ hội học hành nhiều hơn Tới năm 1900, 80% các trường đại học đã nhậnsinh viên nữ vào học Đại chiến Thế giới lần thứ nhất do nhu cầu hàng hóa phục vụ chiếntranh cho quân đội ở Châu Âu tăng cao, tạo nhiều công việc cho phụ nữ tham gia vào lựclượng lao động Điều này đã bắt đầu có tác động đến nền kinh tế - xã hội Trong thời gianđầu phụ nữ thường làm các công việc trong nhà máy, sau đó là các công việc trong công sởnhư thư ký, văn phòng
Đại chiến Thế giới lần thứ II tạo ra hàng triệu công việc cho phụ nữ Nhiều phụ nữ gianhập quân đội và trực tiếp phục vụ ở tuyến sau Họ thay thế nam giới làm các công việc ởhậu phương và các vị trí không trực tiếp chiến đấu Trong khoảng thời gian 1940 - 1945,khoảng 16 triệu nam giới tham gia quân ngũ, mở ra nhiều cơ hội cho phụ nữ tham gia thaythế họ trong công việc
Cuộc cách mạng thầm lặng
Sự lớn mạnh của phụ nữ trong lực lượng lao động đã thực sự tạo thành thế mạnh cho phụ nữ
từ cuối thế kỷ 19 Lúc đầu chỉ xuất phát từ tầng lớp lao động thực sự cần việc làm Tuy nhiênsau thời kỳ này, vai trò phụ nữ có sự chuyển biến theo 4 giai đoạn Ba giai đoạn đầu rất chậmmang tính tiến hóa, giai đoạn 4 được gọi là giai đoạn cách mạng vì nó bắt đầu nhanh và diễn
ra trong thời gian ngắn Giai đoạn này được mệnh danh là quá trình cách mạng thầm lặngcủa phụ nữ
Trang 17Giai đoạn đầu từ cuối thế kỷ 19 tới thế kỷ 20, được gọi là giai đoạn sinh ra thế hệ “Lao độngphụ nữ độc lập” Đó là lực lượng phụ nữ trẻ, chưa có gia đình Họ vừa làm vừa học Khi họlấy chồng thì họ thôi làm việc Vào cuối những năm 1920, giai đoạn 2 bắt đầu, tức là giaiđoạn những người phụ nữ có gia đình bỏ việc giảm dần Năng suất công việc của lực lượngnày (phụ nữ có gia đình độ tuổi 35 - 40) tăng thêm 15.5% từ 10% lên 25% Nhu cầu côngviệc thư ký và số lượng nữ tốt nghiệp trung học tăng cao, và họ thực sự chiếm lĩnh các côngviệc mang tính ổn định cao Tới những năm 30 - 50, được gọi là thời kỳ quá độ, luật về Hônnhân, tức là luật không cho phép phụ nữ có gia đình tiếp tục làm việc bị bãi bỏ, và cho phépphụ nữ độc thân và phụ nữ có gia đình tham gia vào lực lượng lao động Tuy nhiên, tại thờiđiểm đó phụ nữ đi làm để hỗ trợ thêm thu nhập của chồng, chứ chưa phải lao động theo nhucầu cần làm việc của mình.
Vào giai đoạn thứ ba, được gọi là giai đoạn mầm mống cách mạng, bắt đầu khoảng giữanhững năm 1950 tới cuối thập kỷ 70, phong trào nữ quyền mang tính cách mạng hơn Kỳvọng về công việc tương lai của phụ nữ đã thay đổi Họ chủ động lấy bằng đại học và làmviệc khi đã lập gia đình và nhiều người đã lấy bằng cao học Tuy vậy nhiều người thường
có giai đoạn nghỉ ở giữa để chăm sóc gia đình Động cơ đi học cũng khác nhau: nhiều phụ
nữ đi học để có cơ hội tìm bạn đời của mình Phụ nữ giai đoạn này còn chưa thưc sự nghĩtới sự nghiệp Cho dù vậy, lực lượng nữ tham gia vào lực lượng lao động giai đoạn nàytăng đáng kể
Giai đoạn bốn, được gọi là giai đoạn cách mạng thầm lặng bắt đầu cuối thập kỷ 70 và tiếptục đến hiện nay Nữ sinh tràn ngập các trường đại học và sau đại học Họ thưc sự xâydựng sự nghiệp của họ trong các lĩnh vực y học, luật, doanh nghiệp, và nha khoa Nhiềuphụ nữ lấy bằng đại học và kỳ vọng có sự nghiệp vào khoảng 35 tuổi Điều này khác hẳnvới trước đây khi người phụ nữ sẽ nghỉ việc giữa chừng để chăm lo cho gia đình và concái Do kỳ vọng có được sự nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau, phụ nữ có lựa chọn vàođại học khác nhau Các trường sư phạm, vốn trước đây là lựa chọn cho số đông nữ sinh,không còn là điểm đến của nữ sinh nữa Thay vào đó nữ sinh đã lấn vào các lĩnh vực trướcđây dành cho nam giới Họ tự mở rộng chân trời lựa chọn và khẳng định bản thân Họ làmviệc trước khi xây dựng gia đình Thậm chí, sau thập kỷ 70 nhiều người vẫn giữ họ củamình sau khi lập gia đình Điều này tuy rất nhỏ nhưng cũng có thể minh chứng sự độc lậpcủa phụ nữ nói chung và trong các nghề nghiệp chuyên môn nói riêng
Nhiều nghiên cứu về các lý do có sự nhảy vọt sau thập kỷ 70, và ở Mỹ có hai lý do chính:(1) Sự có mặt của các loại thuốc tránh thai giúp việc kế hoạch hóa gia đình tốt hơn (2)Điện khí hóa giúp công việc nhà của phụ nữ thuận lợi hơn và giúp họ có nhiều thời gianđến trường hơn Việc nhiều phụ nữ đến trường, học thêm, có hiệu ứng dây chuyền lặng lẽ,ảnh hưởng khuyến khích những phụ nữ khác Đó là lý do ở Mỹ - họ gọi giai đoạn này làcuộc cách mạng thầm lặng Nó không tạo ra sự thay đổi ầm ĩ, nhưng nó thúc đẩy sự thayđổi nhanh và sâu
Những rào cản chính hiện nay cho sự phát triển phụ nữ ở Mỹ:
Luật bình đẳng chưa thực sự đi vào cuộc sống và việc áp dụng chưa thật sự hiệuquả?
Tiếp cận nguồn vốn cho nữ vẫn còn khó khăn
Trang 18 Tiếp cận các cơ hội học hành
Sự phân biệt về giới trong công việc như mức lương, thăng tiến trong công việc
Sự phân biệt về giới trong lĩnh vực quản lý và lãnh đạo
Phụ nữ trong các ngành nghề khoa học khác nhau tại Mỹ
Trong thực tế phụ nữ đều có đóng góp trong các ngành khoa học dưạ vào tri thức nhưnghoặc mức độ công nhận còn thấp hoặc sự nổi trội chưa cao Mặc dù tỷ lệ nữ sinh vào cáctrường đại học lớn nhưng vẫn có sự phân cách trong việc chọn ngành giữa sinh viên nữ vànam Ở Mỹ, nữ sinh vào các ngành tâm lý và khoa học xã hội nhiều hơn nhiều so với cácngành máy tính, công nghệ hoặc liên quan đến toán học
Phụ nữ trong ngành máy tính
Trong kỷ nguyên thông tin và công nghệ thông tin, phụ nữ có nhiều cơ hội việc làm trongcác ngành này nhưng tại Mỹ số lượng nữ trong ngành có xu hướng giảm Năm 1990, sốcán bộ nữ làm trong ngành tính toán là 35.2% nhưng tới năm 2000 giảm xuống còn 28%.Điều này đã trở thành đề tài được thảo luận trong các chính sách về nữ ở Mỹ với sự lo ngại
có những rào cản khác nhau còn tồn tại sự phân biệt giới trong ngành này Tuy nhiên, cónghiên cứu cho rằng, việc dạy cơ bản về ngành công nghệ thông tin trong các trường trunghọc tạo sự hiểu lầm về bản chất của công nghệ thông tin, tạo tâm lý đó là ngành dành chocác em nam
Ở Mỹ con số thống kê cho thấy, trong những ngành công nghệ nặng như ngành mỏ hoặccông nghệ, phụ nữ chiếm tỉ lệ khá thấp Ví dụ trong ngành kỹ sư, năm 2001, có tới 20 %bằng kỹ sư được trao cho phụ nữ, và bằng tiến sĩ về công nghệ được nâng cao đáng kể, tỷ
lệ phụ nữ làm việc trong các ngành này chỉ đạt khoảng 11%
Nhằm có được các biện pháp thích ứng trợ giúp sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực
có nền tảng tri thức hoặc các công việc liên quan tới hàn lâm, khoa học, chính phủ Mỹ cónhững khoản tài trợ khá cao cho các nghiên cứu định tính và định lượng xác định các biệnpháp về chính sách, tài chính, xã hội nhằm giảm thiểu các cản trở việc tham gia các côngviệc bình đẳng với nam giới Chương trình Nghiên cứu quốc gia về “Thích ứng, Thực hiện
và Phổ biến” do Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ quản lý tài trợ các dự án nghiên cứu vềChuyển đổi thể chế và các biện pháp gián tiếp giúp chuyển đổi thể chế, xác định các vấn đề
ưu tiên, đề xuất giải pháp về chính sách cho chính phủ, và thực hiện giúp công tác nữ thamgia vào khoa học được tốt hơn Năm 2009, Quỹ này tài trợ cho hàng loạt các đề tài nghiêncứu về giới của các viện, các trường thuộc các ngành khác nhau Những nỗ lực về chínhsách tuy khá chậm chạp, nhưng đều dựa vào các phân tích kỹ lưỡng về nhu cầu để đáp ứngcác vấn đề thực tế
*/ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI TRI THỨC Ở THÁI LAN (MỘT NƯỚC CÓ THU NHẬP TRUNG BÌNH)
Trang 19Theo thống kê phụ nữ ở Thái Lan có được sự tiến bộ vượt trội trong các lĩnh vực xã hội trithức: Ví dụ việc sử dụng Internet, phụ nữ ở Thái vượt lên trên nam giới vào năm 2001 vàtiếp tục tăng từ năm đó Xem bảng 1:
Bảng 1: Sử dụng Internet Thái Lan
nữ Thái Lan chiếm tỷ lệ thấp, tuy nhiên cao hơn so với các nước khác và về căn bản càngngày càng tăng lên Xem bảng 2
Bảng 2: Tỷ lệ nữ/nam tham gia các trường đại học trong lĩnh vực liên quan tới toán
và máy tính, công nghệ tại Thái Lan 1995 - 2002
Năm Các ngành liên quan tới toán
Bảng 3: Tỷ lệ phụ nữ trong các vị trí chính quyền
Phụ nữ trong các vị trí chính quyền Tỷ lệ %
Trang 20Nữ Bộ trưởng (2006) 5.7
Nữ giữ vị trí đứng đầu trong chính quyền tỉnh 2004 2.9
Mặc dù chưa có được một chính sách bình đẳng giới tiến bộ như nhiều nước khác, kể cảviệc phụ nữ chưa hoàn toàn có được các vị trí cao, ở Thái Lan phụ nữ đã đi trước trongviệc sử dụng công nghệ thông tin Ở Thái Lan, việc cần có những nghiên cứu định lượng
và định tính nhằm nâng cao sự bình đẳng về giới trong xã hội tri thức đang được khuyếnnghị nhằm giúp nhà nước đưa ra được các chính sách tốt hơn
*/ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI TRI THỨC Ở HÀN QUỐC
Tổng quan tình hình chính sách về Phụ nữ ở Hàn Quốc
Sự thành công của nền kinh tế Hàn Quốc đã thu được nhiều thành tựu từ khi phụ nữ thamgia vào nền công nghiệp sản xuất Điều đó là không thể phủ nhận được, tuy nhiên, vẫn tồntại nhiều vấn đề trong việc phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong công việc ở Hàn Quốc Các chính sách cho phụ nữ ở Hàn Quốc là chậm hơn so với quá trình phát triển chung củađất nước Ở Hàn Quốc, các chính sách ra đời rất chậm và thường là dưới sức ép của cácphong trào phụ nữ khá tích cực ở nước này Các nghiên cứu, điều tra, và các hội thảo mangtính chuyên gia tạo ra nền tảng về số liệu và thông tin rộng rãi, trở thành công cụ giúp xâydựng các chính sách về giới và phụ nữ Do sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chính sách nhân
sự được mở rộng tạo điều kiện cho các chính sách về giới và phụ nữ được thực hiện khá tốt.Chính phủ Hàn Quốc coi trọng công tác vận động phụ nữ tham gia vào các công tác xã hội Trong truyền thống gia đình ở Hàn Quốc, cũng như châu Á, nam giới được coi là trụ cộtgia đình và những người mẹ, người chị trong gia đình hy sinh sự phát triển cá nhân mìnhcho sự tiến bộ của con trai, anh em trai khá phổ biến, đặc biệt trong thời kỳ thắt lưng buộcbụng của Hàn Quốc thập niên 60 - 70 Trong thời kỳ này, các ngành xuất khẩu và dịch vụcủa Hàn quốc thu hút rất nhiều công nhân nữ trẻ, đặc biệt các phụ nữ chưa lập gia đình Họlàm việc trong những ngành không đòi hỏi kỹ năng cao và trình độ chuyên sâu Thôngthường những người phụ nữ này làm việc và kiếm tiền cho con trai hoặc em trai đi học.Đối với các phụ nữ đã có gia đình, ràng buộc công việc gia đình, thành kiến xã hội, và cácchính sách khắt khe tại các công ty vẫn là các cản trở chính để phụ nữ tham gia vào lựclượng sản xuất
Từ những năm 70 trở đi, điều kiện học tập mở mang hơn, Hàn Quốc chứng kiến thànhcông về học tập của phụ nữ trong tất cả các bậc giáo dục Riêng ở các chương trình thạc sỹ
và tiến sỹ, vẫn còn nhiều khoảng cách giữa nam và nữ Những nắm gần đây, sinh viên nữtham gia các chương trình khoa học công nghệ có cao hơn Tuy nhiên một vấn đề lớn ởHàn Quốc là đối với phụ nữ có học vấn cao, tìm việc làm mong muốn còn gặp nhiều khókhăn
Về mặt thể chế, các mốc quan trọng trong bốn thập kỷ qua bao gồm:
Trang 211948 Hiến pháp nước Cộng hòa Hàn Quốc đã tuyên bố sắc lệnh về cân bằng giới tính và sựbình đảng của phụ nữ đến bỏ phiếu
1960 - 1970: Chính sách đối với phụ nữ bị kìm hãm bởi các chính sách chú trọng phát triểnkinh tế, khí đốt, công nghiệp sản xuất các mặt hàng xuất khẩu cả ngành chiếm nhiều laođộng trẻ, đặc biệt là các lao động nữ chưa lập gia đình
1975: Tuyến bố của Hội liên hiệp phụ nữ quốc tế năm 1975 và của Liên hiệp quốc cho phụ
nữ (1976 - 1985) bắt đầu có ảnh hưởng đến các quan điểm theo hướng cân bằng giới tính ởHàn Quốc và làm cơ sở cho tiến bộ của phụ nữ
1987: Chính sách Bình đẳng lao động (EEA) ra đời đặc biệt trú trọng bình đẳng đối xửtrong tuyển dụng, việc làm và thăng tiến; Bình đẳng về chế độ lương cho chất lượng côngviệc
1991: Luật gia đình được xem xét lại cho phép người phụ nữ được chia tài sản và đượcquyền nuôi con khi ly hôn
1995: Luật Phát triển Phụ nữ ra đời, phản ánh sự biến đổi của mô hình trong chính sáchphụ nữ từ lợi ích của việc tăng cường sức khỏe tới việc thúc đẩy cân bằng giới tính Luậtnày cũng quy định trách nhiệm giải trình của các chính quyền địa phương và quốc gia đếnviệc thi hành chính sách phụ nữ Nhà nước thiết lập các kế hoạch về chính sách phụ nữ chotừng giai đoạn 5 năm, và các tổ chức địa phương có trách nhiệm thi hành những chính sáchđó
1997: Hoạt động ngăn chặn bạo lực gia đình và bảo vệ người tàn tật có hiệu lực và luậtthừa nhận bạo lực gia đình là một tội hình sự
Chính phủ Hàn Quốc đã có rất nhiều tiến bộ trong chính sách để phát triển phụ nữ Trongnhững năm gần đây nhiều chính sách mới tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển cho phụ nữtham gia các công tác xã hội nói chung và đặc biệt đối với các nữ trí thức tham gia cácngành chuyên môn cao và trong các vi trí quản lý Từ khi nhận chức, tổng thống Hàn Quốchiện thời ông Kim Dae-jung đã thúc đẩy những chính sách ưu tiên cho phụ nữ, trong đó cócác quyết định về phong nhiệm vụ cho các nữ chuyên gia, và điều chỉnh chế độ chính sáchviệc làm Việc chính phủ hiện nay có tới ba vị trí bộ trưởng nữ trong bộ máy phản ánh sựthừa nhận về sự tiến bộ của phụ nữ trong các giai đoạn phát triển qua
Hàn Quốc cũng đưa ra chỉ tiêu cụ thể là trong lĩnh vực hành chính và công tác công, ví dự
tỷ lệ nữ giới phải đạt 20% trong năm 2002 so với 10% năm 1996 Kế hoạch tổng thể về cácchính sách về phụ nữ từ năm 1998 tới năm 2000 được thực hiện để thúc đẩy kinh tế vànăng lực làm việc của phụ nữ Kết quả của các chính sách này là tới 2005 - 2006, tỷ lệ cáccán bộ nữ thi vào các ngành nâng lên rất cao, ví dụ ở Bộ Ngoại giao, có tới trên 45% thísinh dự thi là nữ
Năm 1997, Quỹ phát triển phụ nữ được thành lập nhằm đỡ đầu các hoạt động của các tổ chứcphi chính phủ những tổ chức làm việc vì sự tiến bộ của phụ nữ
Năm 2005, Hàn Quốc bãi bỏ luật đăng ký gia đình với chủ hộ là nam giới Đây được coi làmột bước tiến của phong trào phụ nữ ở Hàn Quốc
Trang 22Về mặt luật pháp cũng đạt được các thành tựu lớn trong lĩnh vực thúc đẩy sự tiến bộ củaphụ nữ:
1999: Luật Hỗ trợ các Doanh nhân nữ ra đời
2000: Luật cấm hành vi phân biệt về giới
2001: Luật chăm sóc trẻ em (điều chỉnh năm 2005)
2001: Xem xét điều chỉnh Luật bình đẳng giới
2001: Luật Hỗ trợ Phụ nữ trong ngành nông nghiệp và ngư nghiệp
2002: Luật Hỗ trợ Phụ nữ trong ngành Khoa học ra đời
2004: Luật trừng phạt tội mại dâm
2005: Bãi bỏ Luật về hệ thống người đứng đầu trong gia đình
Các cơ chế về thể chế chịu trách nhiệm về giới
- Bộ các vấn đề chính trị (1988 - 1998)
- Tiểu ban đặc biệt về phụ nữ tại Quốc hội (1994)
- Ủy ban của Tổng thống về các vấn đề Phụ nữ và bình đẳng giới ở Hàn Quốc (1998
- 2001): Ủy ban này có các nhiệm vụ sau:
(1) Lên kế hoạch tổng thể và điều phổi các chính sách về phụ nữ và giám sát việc thực hiệncác chính sách này
(2) Ủy ban 15 thành viên bao gồm các thứ trưởng từ sáu bộ và 7 thành viên từ các tổ chứcphi chính phủ và các cơ quan hàn lâm
(3) Thành lập sáu phòng chính sách phụ nữ ở 6 bộ (Bộ Tư pháp, Bộ Lao động, Bộ Giáo dục, Bộ
Y tế và Phúc lợi, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông Lâm nghiệp)
(4) Thành lập các văn phòng về phụ nữ tại các chính quyền địa phương
Bộ Bình đẳng Giới thành lập năm 2001:
- Xây dựng và thực hiên các chính sách về giới
- Xây dựng, điều phối, và hỗ trợ các chính sách về gia đình
- Lên kế hoạch và thực hiện các chính sách về bảo về trẻ em
- Phân tích và đánh giá các chính sách nhậy cảm về giới
Các chính sách trên đạt được đều có sự đóng góp mạnh mẽ của các tổ chức nghiên cứu, các
tổ chức phi chính phủ, và các phong trào về giới và phụ nữ Các tổ chức này đóng vai trònhư các đối tác chính của chính phủ để phát triển các chính sách về giới Có thể nhận thấycác chính sách về giới và phụ nữ của Hàn Quốc có sự thay đổi từ việc các chính sách mangtính ứng phó, bị động sang các chính sách chủ động mang tính hỗ trợ, thúc đẩy và thamgia