Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để chỉ ra những đặc điểm thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông, cơ bản là các phương pháp sau: - Phương pháp t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
PHAN THỊ THỦY
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ
TRÚC THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ VĂN GIÁ
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên từ thầy cô, người thân, bạn bè Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Ngô Văn Giá- người đã tận tình hướng dẫn, tin tưởng và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn,
bộ phận đào tạo sau đại học- trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, khích
lệ để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã cố gắng nhưng Luận văn của tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót Tôi hi vọng được các thầy cô góp ý, bổ sung để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Phan Thị Thủy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình hoàn thành luận văn thạc sĩ văn học với đề tài Thế giới
nghệ thuật thơ Trúc Thông này, tất cả nội dung từ đề tài, ý tưởng đến nội
dung trình bày đều do sự nghiên cứu sáng tạo của bản thân tôi Mặc dù khi thực hiện, tôi có sử dụng một số tài liệu tham khảo nhưng chỉ nhằm mục đích tăng cường tính thuyết phục cho lập luận của luận văn Những tư liệu được trích dẫn tôi đều có ghi chú nguồn gốc rõ ràng Công trình nghiên cứu này của tôi chưa được công bố trên bất kì phương tiện thông tin đại chúng nào Tôi xin cam đoan những điều viết trên đây đều là sự thật Nếu có vấn đề gì xảy ra, người viết xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Phan Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG……… 8
Chương 1 QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP VÀ THƠ CA TRONG THƠ TRÚC THÔNG 8
1.1 Quan niệm về cái đẹp của Trúc Thông 8
1.1.1 Quan niệm chung về cái đẹp 8
1.1.2 Quan niệm về cái đẹp trong thơ Trúc Thông 11
1.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông 20
1.2.1 Quan niệm chung về thơ ca 20
1.2.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông 21
Tiểu kết 25
Chương 2 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRÚC THÔNG 26
2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 26
2.1.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình 26
2.1.2 Các dạng thức cái tôi trữ tình trong thơ Trúc Thông 28
2.2 Hình tượng thế giới 41
2.2.1 Thế giới nhân vật 41
2.2.2 Hình tượng không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Trúc Thông 53 Tiểu kết 60
Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRÚC THÔNG 61
3.1 Thể thơ 61
3.2 Ngôn ngữ thơ 64
Trang 63.2.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ 64
3.2.2 Ngôn ngữ tự nhiên, giản dị 66
3.2.3 Ngôn ngữ thơ mềm mại, duy mĩ 69
3.3 Một số biểu tượng tiêu biểu trong thơ Trúc Thông 74
3.3.1 Khái niệm về biểu tượng trong thơ ca 74
3.3.2 Những biểu tượng tiêu biểu trong thơ Trúc Thông 76
Tiểu kết 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lý luận về nghệ thật thơ là một phần quan trọng nằm trong lý luận văn học Thế giới nghệ thuật trong thơ là một trong những mảng kiến thức cơ bản và nòng cốt trong lý luận về thơ vì nó thuộc về lĩnh vực thi pháp học, trong đó có thi pháp thơ Việc nghiên cứu tìm hiểu nghệ thuật thơ sẽ giúp chúng ta tìm ra nét đặc sắc độc đáo trong cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà thơ Tìm hiểu, khảo cứu, phân tích một hay nhiều tác giả là một vấn đề cần thiết trong học tập và nghiên cứu khoa học thuộc ngành lý luận văn học
Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu
tố, các cấp độ của sáng tạo nghệ thuật Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu quy luật sáng tạo của chủ thể, quan niệm về nghệ thuật, cuộc sống, nhân sinh của người nghệ sĩ Thế giới nghệ thuật là một thế giới thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra Một mặt nó phản ảnh phần nào thế giới hiện thực, mặt khác nó biểu hiện khát vọng chân, thiện, mĩ và khao khát sáng tạo của nhà văn Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm thật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng, tác giả văn học Thế giới nghệ thuật là một khái niệm của thi pháp học Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình ở mỗi thời đại, mỗi trào lưu sáng tác lại mang những nét đặc trưng riêng Nếu thế giới thơ trữ tình trung đại chủ yếu xoay quanh hai thành tố: cái ta và thế giới thì đến thơ ca hiện đại lại là cái tôi và thế giới Nói đến thơ trữ tình là nói đến cảm xúc của chủ thể, thế giới chủ quan của nhà thơ Những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhà thơ thể hiện trong thế giới nghệ thuật chính là những biểu hiện của cái tôi và các nguyên tắc thể hiện nó Muốn tiếp cận được thế giới nghệ thuật của thơ phải nhận diện được cái tôi trữ tình Không phải nhà thơ xưng tôi thì cái tôi mới được bộc lộ mà cái tôi ấy
Trang 8còn được bộc lộ qua tư thế trữ tình, giọng điệu trữ tình hay mẫu hình lí tưởng
mà hồn thơ ấy tôn thờ Bên cạnh cái tôi trữ tình thì thế giới- hiểu như môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh cái tôi (không gian, thời gian, các nhân vật trữ tình) là yếu tố không thể thiếu để xây dựng nên thế giới nghệ thuật thơ 1.2 Trúc Thông là một trong những người đi đầu trong việc cách tân trong thơ ca Việt Nam Và ông có ảnh rất nhiều đến các nhà thơ lớp sau trong tiến trình đổi mới thơ ca như: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Trần Quốc Thực và nhiều nhà thơ khác Trong thời gian cầm bút Trúc Thông đã
sáng tác được năm tập thơ: Chậm chậm tới mình– Nhà xuất bản Tác phẩm mới năm 1985, Maratong – Nhà xuất bản Văn học năm 1993, Một ngọn đèn
xanh – Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2000, Vừa đi vừa ở – Nhà xuất bản
Hội nhà văn năm 2005, Mắt trong veo- Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2014 Cùng ba tác phẩm phê bình: Văn chương ngẫu luận – Nhà xuất bản Quân đội nhân dân năm 2003, Mẹ và em – Nhà xuất bản Phụ nữ năm 2006, Trúc Thông
tiểu luận bình thơ – Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2013 Trong mỗi tác
phẩm của mình, Trúc Thông đều cố gắng đưa vào một nét kiến thức mới,một phát hiện mới, hoặc một ý tưởng mới… khiến chúng ta đôi khi phải kiểm tra lại các giác độ “thưởng ngoạn” thơ của chính mình Bởi dường như ở dưới tầng ngôn ngữ, câu chữ hạn hẹp ấy có một dòng chảy đời sống đang nhắc nhở chúng ta về những lo âu, trăn trở trong đời sống con người hôm nay Diện mạo đời sống hàng ngày cứ đi vào thơ ông một cách tự nhiên như nó vốn tồn tại, không cần vẽ vời bằng một thứ cảm xúc khác Và phải chăng, khi tìm tòi, cách tân đến tận cùng thì thơ đương đại lại trở về với sự giản dị, hàm xúc vốn
là một trong những giá trị muôn đời của thi ca
Trúc Thông tên thật là Đào Mạnh Thông sinh năm 1940 tại Bình Lục, Hà Nam Từ năm 15, 16 tuổi, ông đã bắt đầu làm thơ, rồi từ đó gắn cả cuộc đời với văn chương Ngay từ khi còn bé ông đã rất ham văn và yêu văn Đào
Trang 9Mạnh Thông lúc nào cũng đứng đầu lớp về điểm môn Văn Sau khi tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông về công tác tại Ban văn nghệ, Đài tiếng nói Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu Sau đó, ông tham gia Ban biên tập Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam
Nhà thơ Trúc Thông đã trở thành một cái tên được độc giả ghi nhận với những nỗ lực không ngừng cống hiến cho thơ ca Ông cho rằng: Trong khi gắn chặt với đất nước, thời đại, con người, nhà thơ phải có đóng góp nhất định vào mở rộng, nâng cao những đặc điểm nghệ thuật của thơ Việt Nam (cũng như ở văn, kịch,… và các loại hình nghệ thuật khác) Ông từng nhiều
lần“đăng đàn” với những ý kiến được đúc rút từ chính kinh nghiệm sáng tác
của bản thân Đó là: “Tính nghề nghiệp “thuần túy” trong sáng tạo văn học nghệ thuật phải được thể hiện từng bước đi lên qua các tác phẩm Làm được đến đâu còn do “lực” Nhưng “tâm” phải nguyện canh cánh với nhiệm vụ, lương tâm đó đến hơi thở cuối”
Trong mỗi bài thơ của mình, Trúc Thông đều cố gắng đưa vào một nét kiến thức mới… khiến chúng ta phải đôi khi phải kiểm tra lại các giác độ
“thưởng ngoạn” thơ hiện đại của chính mình Bởi dường như ở dưới tầng
ngôn ngữ, câu chữ hạn hẹp ấy có một dòng chảy đời sống đang nhắc nhở chúng ta về những lo âu, trăn trở trong đời sống con người hôm nay Diện mạo đời sống hằng ngày cứ đi vào thơ ông một cách tự nhiên như nó vốn tồn tại, không cần vẽ vời bằng thứ cảm xúc khác Và phải chăng khi tìm tòi – cách tân đến tận cùng thì thơ đương đại lại trở về với sự giản dị, hàm xúc vốn
là một trong những giá trị muôn đời của thi ca
2 Lịch sử vấn đề
Trúc Thông là nhà thơ đương đại tiêu biểu với sự nghiệp thi ca không nhỏ Thơ và phê bình của ông đã ghi lại một cách tài hoa và độc đáo cái hồn đời sống qua ba thời kì của đất nước: Thời kì kháng chiến chống Mỹ, thời kì
Trang 10sau hòa bình thống nhất và thời kì từ khi đổi mới đến nay Đã có nhiều bài viết, nhiều ý kiến, chuyên luận về thơ Trúc Thông Nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá chính xác mang tầm khái quát về phong cách nghệ thuật thơ Trúc Thông Dưới đây là những ý kiến tiêu biểu:
Đầu tiên phải kể đến ý kiến của nhà phê bình Chu Văn Sơn trong buổi
tọa đàm văn học Trúc Thông chầm chậm tới mình tháng 9/2015 tại khoa Viết
văn - Báo chí, Đại học Văn Hóa Hà Nội Ông đã theo dõi thơ Trúc Thông
trong hơn 20 năm qua hình dung Trúc Thông như Ngọn đèn xanh trong xứ mơ
hồ, một thi sĩ dấn thân say mê vẻ đẹp của cái mơ hồ để mang về sự tinh khiết
trong vắt của nó Chu Văn Sơn cho rằng Trúc Thông chỉ thực sự là Trúc Thông khi chiến tranh đã khép lại Đó là tiếng thơ “cảm thương” thời hậu chiến đầy đổi mới, cách tân Tư tưởng xuyên suốt thơ Trúc Thông gói gọn ở chữ “trong”, một người nghệ sĩ lọc trong của cuộc đời rất tạp Liên tưởng đến hội họa, nhà phê bình Chu Văn Sơn nhấn mạnh khả năng tài tình của tác giả
trong việc “vẽ tranh trên lớp lụa ngôn từ” [81]
Cũng trong buổi tọa đàm văn học Trúc Thông chầm chậm tới mình tổ
chức tại khoa Viết văn – Báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội tháng 9/2015, nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng thơ Trúc Thông nổi bật: “Thứ nhất thơ ông mang tính nhạc, thứ hai thơ Trúc Thông không phải là tiếng nói tuyên truyền,
cổ động mà sử dụng tư duy để nâng những thứ giản dị đời thường thành vẻ đẹp lấp lánh trí tuệ và cuối cùng là hình ảnh thơ được nói bằng biểu từ” [93] Đồng ý với nhà thơ Vũ Quần Phương về âm nhạc trong thơ Trúc Thông, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong buổi tọa đàm trên còn chỉ ra sự trau chuốt ngôn ngữ của tác giả và thẳng thắn đưa ra: “Quan điểm về sự ảnh hưởng của thơ Hàn Mặc Tử đối với Trúc Thông nhất là hình ảnh trong bài thơ nổi tiếng
Bờ sông vẫn gió” [93]
Có thể nói rằng, người thực sự thâm nhập vào thế giới thơ Trúc Thông
và khắc họa lại hành trình đầy say mê nhưng cũng đầy thử thách ấy là Nguyễn
Trang 11Bình Phương cho rằng: “Những bài thơ ấy nó gọn dịu, trong vắt, nó có sự kiêu hãnh ngầm trong cái không khí cực tân kỳ mà thời điểm ấy tôi ít gặp được khi đọc các tập thơ khác” [106, tr.319]
Không đi tìm những đổi mới về thi pháp, câu chữ, nội dung, nhà thơ Đỗ Minh Tuấn chia sẻ thơ Trúc Thông trong cái nhìn của ông có ba nghịch lí:
“Về mặt tốc độ “chầm chậm”, hình ảnh một con người đời thường lẫn một thiền sư, đặc biệt thơ ông thấp thoáng hình ảnh Nguyên Ngọc…” [93]
Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy ngắn gọn chỉ ra cách tân lớn nhất trong thơ Trúc Thông ở mặt ngôn ngữ: “Tôi cho rằng động cơ và động lực của Trúc Thông trong việc cách tân ở chỗ thay đổi quan niệm ngôn ngữ thơ: Từ ý niệm ngôn ngữ công cụ, ngôn ngữ mang nghĩa tiêu dùng đến việc xác lập ngôn ngữ
là bản thân thơ Ngôn ngữ đó sáng tạo ra nghĩa mới, nghĩa do bài thơ tạo ra” [93]
Thông qua những ý kiến, bài viết nêu trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, mặc dù đã có một số ý kiến đề cập đến những khía cạnh khác nhau về thơ Trúc Thông nhưng đều có chung một đặc điểm là thừa nhận những nỗ lực cách tân mới mẻ ở cả phương diện nội dung lẫn hình thức trong thơ Trúc Thông
Thứ hai, mỗi bài viết, ý kiến đều chỉ đi vào phân tích, nghiên cứu trên một vài khía cạnh chứ chưa có cái nhìn hệ thống, toàn diện về thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông
Đó là gợi ý tạo cơ sở để tôi tiếp cận và triển khai đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ những lí luận về nghệ thuật thơ mà đặc biệt là lý luận về thi pháp thơ ca, luận văn đi sâu vào nhận diện, phân tích, đánh giá thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông qua ba phương diện sau:
Trang 123.1 Quan niệm về cái đẹp và thơ ca trong thơ Trúc Thông
3.2 Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong thơ Trúc Thông
3.3 Các phương thức và phương tiện biểu hiện thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Luận văn cần nêu được những vấn đề về lý luận cơ bản về thơ ca
và thi pháp thơ để làm căn cứ khảo cứu phân tích thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông
4.2 Khái quát đánh giá được giá trị nghệ thuật đặc sắc và vị trí, vai trò của Trúc Thông trong nền thơ ca hiện đại của Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung và khảo sát các tập thơ của Trúc Thông
- Tập Chậm chậm tới mình, Nxb Tác phẩm mới (1985)
- Tập Maratong, Nxb Văn học (1993)
- Tập Một ngọn đèn xanh, Nxb Hội nhà văn (2000)
- Tập Vừa đi vừa ở, Nxb Hội nhà văn (2005)
- Tập Mắt trong veo, Nxb Hội nhà văn (2014)
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để chỉ ra những đặc điểm thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông, cơ bản là các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học, tìm hiểu các tập thơ của Trúc Thông trên các bình diện thi pháp: Cái tôi trữ tình, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các hình ảnh biểu tượng, ngôn ngữ thơ, thể thơ…
- Phương pháp thống kê: Thống kê các thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ trong
Trang 13tổng số sáng tác của Trúc Thông
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu ý nghĩa của một số biểu tượng tiêu biểu trong thơ Trúc Thông
- Phương pháp so sánh: Chúng tôi so sánh những đặc điểm thế giới thơ Trúc Thông với thơ của các nhà thơ đương đại để tìm ra những đặc trưng riêng của thơ Trúc Thông
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện và khoa học về những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông từ đó nhận diện phong cách và vị trí của nhà thơ trong nền văn học hiện đại Việt Nam Luận văn gợi mở thêm cho người đọc một cái nhìn về thơ Trúc Thông trong dòng chảy thơ đổi mới, cách tân sau năm 1975; đồng thời ghi nhận đóng góp của ông trong quá trình làm phong phú thơ Việt Nam hiện đại và đương đại
8 Cấu trúc phần nội dung luận văn
Chương 1: Quan niệm về cái đẹp và thơ ca trong thơ Trúc Thông
Chương 2: Hệ thống hình tượng nghệ thuật trong thơ Trúc Thông
Chương 3: Các phương thức và phương tiện biểu hiện thế giới nghệ thuật thơ Trúc Thông
Cuối cùng là phần Thư mục Tài liệu tham khảo
Trang 14Chương 1 QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP VÀ THƠ CA TRONG THƠ TRÚC THÔNG 1.1 Quan niệm về cái đẹp của Trúc Thông
1.1.1 Quan niệm chung về cái đẹp
Cái đẹp là phạm trù trung tâm của mỹ học dùng để chỉ thực tại thẩm mĩ khách quan, thực tại này chúng ta biết được nhờ hệ thống cảm nhận có tính xã hội sâu sắc dưới ánh sáng của lý tưởng thẩm mĩ chân chính Đặc trưng ngôn ngữ của sự phản ánh đó là hình tượng Thành tựu cao nhất của sự phản ánh đó
là nghệ thuật Cái đẹp bắt nguồn từ cái chân thật và cái tốt Nó toả chiếu bằng những rung động thẩm mĩ có sức cuốn hút, giúp cho con người định hướng sống theo luật hoàn thiện, hoàn mĩ Tác động của cái đẹp là tác động có tính thanh cao, hài hoà biện chứng ở trong tâm hồn con người, xã hội loài người Việc vạch ra toàn bộ bản chất của cái đẹp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tiếp tục nghiên cứu các quy luật khác của đời sống thẩm mĩ Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn
để chỉ phẩm chất của con người C.Mác đã viết: “Súc vật chỉ nhào nặn chất theo thước đo và nhu cầu giống loài nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo thích dụng cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp Nhờ quá trình lao động cải tạo tự nhiên và cải tạo bản thân, con người dần dần phát triển và nhận thức ra quy luật phổ biến cái đẹp” [8]
Xét về mặt lịch sử từ xưa đến nay, quan niệm về cái đẹp được các nhà mĩ học bàn luận rất nhiều nhưng chưa đi đến một quan điểm thống nhất do xuất phát từ cơ sở triết học khác nhau về cái đẹp Quá trình tìm tòi về cái đẹp thường xoay quanh hai câu hỏi cơ bản: Cái đẹp là gì? Và cái gì đẹp? Mỹ học
là khoa học triết học nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động các quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực thông qua các hình thái lịch
Trang 15sử cụ thể của đời sống thẩm mĩ xã hội và tiến trình văn hoá nhân loại Cái đẹp được phát triển và hình thành qua những thời kì khác nhau với những quan niệm những hình thái khác nhau trong một cái chung về con người
Cái đẹp trong thời kì nguyên thuỷ là cái đẹp vô ngôn Thời kì này chưa
có ngôn ngữ nhưng họ đã làm ra được nghệ thuật, họ chỉ mới khám phá ra những cái đẹp của con thú mà chưa khám phá ra vẻ đẹp của con người và do
đó chủ đề mà họ phản ánh không phải là tình yêu nam nữ mà mới chỉ là sinh hoạt săn bắn, hái lượm Tính tượng trưng, ước lệ chưa được đi sâu Ở thời kì này, họ chỉ sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo cái đẹp theo triết lý phồn thực và triết lý này gắn chặt với văn minh nông nghiệp
Trong thời cổ đại Hy Lạp thì họ lấy con người làm thước đo của cái đẹp Văn minh đồ sắt ra đời và sinh lực thừa bắt đầu trở nên dồi dào bước đầu bước vào văn minh con người Để giải thích cái đẹp trong thời kì này, các nhà
mĩ học, triết học đã dùng quan điểm vũ trụ luận, nghĩa là tìm bản chất phẩm chất cơ bản của cái đẹp, dựa vào đặc tính tự nhiên của sự vật để vạch ra những thuộc tính, những phẩm chất của cái đẹp
Trong thời kì phục hưng là thời kì chuyển từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp và con người trở thành lớn mạnh không còn yếu ớt trước thiên nhiên Trong thời kì này, mỹ học lần đầu tiên xuất hiện chủ nghĩa nhân văn, nhìn nhận con người dưới góc độ văn hoá Bằng khoa học thực nghiệm họ đã chứng minh, đòi xem xét lại những giá trị, trong đó có giá trị của cái đẹp Những quan điểm đã được biểu hiện qua các nhận thức về cuộc sống, về cái đẹp Con người có quyền tận hưởng mọi thú vui của cuộc sống và thế giới này ẩn chứa vô vàn cái đẹp, cái đẹp không chỉ thuộc về thiên đường Trong thế kỷ thứ XVII được coi là thế kỷ của thời kỳ cổ điển, cái đẹp có giá trị làm gương cho đời sau Trong bối cảnh lịch sử là sự hoà hoãn của hai giai cấp (phong kiến và tư sản) nên cái đẹp thời kỳ này cũng mang tính tay
Trang 16đôi Cái đẹp thời kì này mang tính trớ trêu, oan ức và ngang trái và nghệ thuật thời kỳ này bị giằng xé giữa nghĩa vụ và dục vọng của hai giai cấp thống trị Trong thời kỳ khai sáng, cái đẹp mang đầy đủ màu sắc của lý tưởng con người, muốn vượt lên trên cái đời thường, muốn cất lên tầm cao mới đem lại sinh khí mới, sinh lực mới chỉ những cái đẹp nào dựa trên sự liên hệ với những tạo vật của thiên nhiên thì mới sống lâu
Quan điểm về cái đẹp của các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga đã đặt cơ sở cho quan niệm về cái đẹp của chủ nghĩa hiện thực Phản đối cái đẹp bất động bất biến và bất tử mà mỹ học duy tâm vẫn thường đề lên hàng đầu, cái đẹp phụ thuộc vào những điều kiện sinh sống của nhân dân trong xã hội có giai cấp, cái đẹp có tính giai cấp rõ rệt Các nhà mỹ học dân chủ cách mạng Nga đã giải quyết đúng đắn vấn đề về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong nghệ thuật
Ý nghĩa cách mạng của mỹ học Mác-Lênin là đã vạch ra bản chất của cái đẹp trong tính biện chứng và lịch sử xã hội
Các nhà mỹ học Mác xít, khi kế tục sự nghiệp của các vị tiền bối vẫn còn
có chỗ khác nhau, từ đó có thể chia họ thành hai phái:
Phái duy xã hội
Phái duy tự nhiên
Phái duy xã hội: Các nhà mỹ học này cho rằng mọi phẩm chất thuộc vô vàn phẩm chất của thế giới quanh ta, trong đó có phẩm chất của cái đẹp đều bị quy định bởi hoạt động lao động cải tạo của con người Cái đẹp là một hiện tượng xã hội, nó chỉ hình thành và biến đổi theo mối quan hệ xã hội
Phái duy tự nhiên: các nhà mỹ học phái này chống lại quan niệm trên và cho rằng, bản chất các hiện tượng tự nhiên đã chứa đựng những phẩm chất gây được cảm xúc thẩm mỹ ở con người Cái đẹp trong tự nhiên bộc lộ ở tính cân xứng, hài hoà, tính nhịp điệu, tính cấu trúc trong không gian và cả quá trình diễn ra trong thời gian
Trang 17Như vậy, ngọn nguồn của bản thân vươn tới cái đẹp, sáng tạo theo quy luật cái đẹp, đầu tiên nằm trong bản chất sinh học, rồi phát triển rộng ra xã hội, trong tiến trình phát triển lịch sử con người Sự nhận thức trên sẽ khắc phục được tính phiến diện trong xác định bản chất của cái đẹp Do đó, khi nghiên cứu cái đẹp, chúng ta phải xem xét trên cả ba phương diện:
- Cái đẹp trong tự nhiên
- Cái đẹp trong xã hội
- Cái đẹp trong nghệ thuật (với tư cách là một thành tựu cao nhất của hoạt động sáng tạo, cái đẹp của con người)
Như vậy, mọi vật tồn tại, đều tồn tại dưới hình thái thống nhất: trái đất
và mặt trời, thiếu mặt trời sẽ không có sự sống náo nức trên trái đất, sẽ không
có tình yêu và khát vọng của con người; thiếu mặt trăng làm gì có cảnh ngày rằm tháng tám để trẻ nhỏ mở hội trung thu, và chắc chắn sẽ không có câu thơ tuyệt đẹp của chủ tịch Hồ Chí Minh:
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
(Cảnh khuya)
Dưới hình thái thống nhất, muôn vật phải cấu tạo sao cho cả hình thức và nội dung của nó đảm bảo được tính thống nhất này Muốn cho con ong đem phấn đi thụ, cây nhãn, cây bưởi, cây na, cây hồng, cây mướp, cây bí phải ra hoa với nhiều màu sắc và hương vị hấp dẫn, đồng thời còn khéo léo rắc phấn trên để con ong khi cúi xuống lấy mật, nhất thiết phải đầm mình đầy những phấn hoa
1.1.2 Quan niệm về cái đẹp trong thơ Trúc Thông
Với nhãn quan riêng, mỗi người chọn cho mình quy ước khác nhau về cái đẹp Với Trúc Thông, cái đẹp là cái phổ biến và thường trực trong con người và cảnh vật thiên nhiên Nó có mặt ở khắp nơi: trong tự nhiên, trong xã hội và trong nghệ thuật Ở đâu có hoạt động của con người ở đấy có cái đẹp:
Trang 18bầu trời đẹp, cành hoa đẹp, cuộc sống đẹp, cái nhà đẹp, chiếc áo đẹp, công việc đẹp, hành động đẹp, tư tưởng đẹp, khuôn mặt đẹp Cái đẹp ấy chính là cái đẹp của bình dị, thường ngày; cái đẹp là cái thanh khiết, trong lành
1.1.2.1 Cái đẹp là cái bình dị, thường ngày
Cái đẹp là một trong những phạm trù cơ bản của thẩm mĩ Với Trúc Thông, cái đẹp ấy trước hết xuất phát từ những thứ bình dị nhất trong đời sống thường nhật Không phải đến Trúc Thông bình dị của cuộc sống mới được đưa vào trong thơ Nó xuất hiện ngập tràn trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính… Nhưng cái bình dị ấy trong thơ Trúc Thông lại khác: “Dường như Trúc Thông muốn lấy cái đẹp bình dị của cuộc đời để thăng bằng trở lại”(Vũ Quần Phương) [93] Thơ ông chinh phục độc giả bởi một thế giới nghệ thuật thơ mang màu sắc riêng, độc đáo
Đó là thế giới nghệ thuật giản dị, hồn nhiên, bắt nguồn từ những cảnh vật thanh âm bình dị, quen thuộc, thân thiết
Bình dị trong thơ Trúc Thông trước hết được thể hiện ở cảnh sắc, âm
thanh thân thiết, quen thuộc Điều này được thể hiện trong Chớm đường quê,
Sáng quê, Chợt quê, Lát sông quê, Vườn quê, Quê nhà,… Điệp từ “quê” xuất
hiện ngay trong cái đặt nhan đề cho mỗi bài thơ của Trúc Thông giúp người đọc hình dung phong cảnh làng quê đa sắc, đa âm Đó là những hình ảnh tiêu biểu như:
Ai đi lâu lắc tận đẩu tận đâu bến vẫn bèo xưa trôi xuôi sông Châu
(Đứng ở chợ sông)
Bên kia sông đã vợi nắng chiều
In thẫm hai gác chuông nhà thờ làng Móng Nhịp chuông vọng qua sông theo bóng chiều đổ gấp
(Lát sông quê)
Trang 19cỏ mùa thu xanh ngả đượm chút vàng Sông Sa Lung tháng bảy nước chảy phù sa Trời mây rộng rãi, gió nhè nhẹ trải
(Nho nhỏ mùa thu)
Hình ảnh dòng sông lặp đi lặp lại xuyên suốt trong thơ Trúc Thông đó là
“trôi xuôi sông Châu”, “sông đã vợi nắng chiều”, “sông Sa Lung tháng bảy nước chảy phù sa”,… Đây là nơi thi sĩ đã từng một thời gắn bó với những ký
ức khó quên Nhắc đến nét bình dị của cảnh sắc nông thôn trong thơ ông, hình ảnh dòng sông ấy đi vào thơ như một lẽ tất yếu Không những thế, dòng sông còn là dòng chảy trừu tượng trong ý niệm của thi sĩ về những gì đã từng gắn
bó và chầm chậm khuất xa Sông Châu có lẽ là dòng sông gắn bó nhất, ám ảnh nhất trong ký ức nhà thơ, đó là dòng sông quê mẹ Sông Thương là nơi tiễn biệt người lên biên ải xưa Những dòng sông ấy đã hợp lưu và chảy thành một dòng mỹ cảm xuyên qua những không gian của trải nghiệm, ký ức, tưởng tượng Những dòng sông địa lí trong thơ Trúc Thông nhòa đi, để lại dòng chảy không ngừng nghỉ của đời, của người, của thời gian và vạn vật, của sinh
và diệt, còn và mất Người đọc có thể nhớ về dòng sông của mình và tất cả ký
ức hiện diện trôi chảy bên dòng sông ấy Chính bên các dòng sông, con người
có sẵn ký ức dài rộng về lịch sử, về sự tụ hội , sinh sôi rồi lặng lẽ mất đi Cái đẹp bình dị trong thơ Trúc Thông không chỉ được thể hiện ở dòng sông quê mà còn bộc lộ qua bức tranh thiên nhiên bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông với những cảnh vật, âm thanh đa sắc, đa hình Thiên nhiên trong bốn mùa ấy không phải chỉ thể hiện trong thơ Trúc Thông, mà nó còn được biểu hiện trong văn chương rất nhiều như thơ Nguyễn Du, Tố Hữu, Mỗi thi sĩ lại
có cách cảm nhận, nhãn quan khác nhau đem vào thơ những màu sắc riêng Đến với Trúc Thông, người đọc được đắm mình trong cảnh sắc bình dị nơi thôn quê:
Trang 20đôi chim câu chân nhỏ mỏ đỏ, bên bờ con sông nhỏ Sa Lung chim ơi đi đâu đấy?
cúc cù cu chúng tôi kiếm mồi
(Nho nhỏ mùa thu)
bên mưa xuân xanh búp lộc vườn đất thẫm sáng buổi trưa xưa ấy…
(Chùa Mía, mùa xuân)
rặng tre quê hương chìm trong mưa thẫm cho lửa thật là bếp lửa mùa đông
(Quanh bếp lửa mùa đông)
cánh diều tự do trời mỗi người mũi tên thép mỗi người lả nhành hoa
(Mùa hạ tới)
Bức tranh phong cảnh thiên nhiên, sinh hoạt của con người trong bốn mùa được thi sĩ phác họa qua những hình ảnh gần gũi, thân thuộc : Mùa thu với “đôi chim câu chân nhỏ mỏ đỏ” đang đua nhau đi kiếm mồi trên bầu trời xanh trong Mùa xuân với vẻ tươi non, xanh mướt của “mưa xuân xanh búp lộc vườn” như một sự nguyên khôi, tinh khiết của vạn vật Mùa đông với sự
ấm cúng, sum họp gia đình của biết bao gia đình nông thôn Việt Nam ngồi quây quần quanh “bếp lửa” đó là ngọn lửa của tình cảm gia đình thật thiêng liêng và cao cả mà tuổi thơ của chúng ta ai ai cũng đều trải qua
Vẻ đẹp bình dị ấy còn được cụ thể hơn bởi những âm thanh, hình ảnh nơi thôn quê Đó chính là tiếng chim hót, gà cục tác, hình ảnh bình dị thân thuộc của rặng tre, cây đa, cây táo, cây na, cây khoai nước,…Tất cả như hòa quyện vào nhau trong thế giới bình dị ở nơi quê nhà:
Trang 21Cục cục bầy gà, chú chó vàng tiếng sủa Táo xum xuê sắp ngọt với mùa xuân Vạt gừng chín chờ phiên chợ Tết
(Cuối năm ở nhà)
Chim vào hót sà nhà Ngoài sân gà cục tác Sáng tưng bừng mở ra Trên quê ta êm lặng
Cái đẹp bình dị trong thơ Trúc Thông không chỉ là bức tranh tuyệt đẹp
về thiên nhiên làng quê mà đó còn là những cảnh sinh hoạt, lao động vô cùng chân thực và rất mực gần gũi Đó là người làm nghề bán than tổ ong, bán chiếu gon, bán tào phớ, xe ôm,… được thi sĩ đưa vào thơ rất tự nhiên, giản dị, thân thuộc:
đầy ụ than tổ ong
(Người bán than tổ ong)
Trang 22Cói còn thơm mặt hè Người bán chiếu đã qua vài chục bước
…gày queo
áo bạc thồ xe chiếu đi rong
(Bán chiếu gon)
đem mát cho người rao khô cổ họng đang lau mồ hôi mừng ai gọi này tào phở ơi
(Tào phở)
Nếu nhiều nhà thơ, nhà văn xây dựng những hình mẫu cao cả phi thường, có tầm vóc vĩ đại, nổi trội để ca ngợi thì Trúc Thông trên con đường nghệ thuật của mình, ông luôn tìm nét đẹp khuất lấp ẩn sâu bên trong những người lao động bình thường như: người bán than tổ ong, bán chiếu gon, tào phớ,… Họ đều là những người mang vẻ đẹp riêng ẩn sâu trong tâm hồn Bên ngoài đó là hình thức thô kệch: “người đàn bà dáng đàn ông”, “áo bạc”, “đang lau mồ hôi”,… của vòng xoay cuộc sống cơm áo gạo tiền đã ghì sát họ Nhưng bên trong ấy là vẻ đẹp ẩn giấu bình dị nhất Phải là người có đôi mắt tinh tế, tấm lòng bao dung nhân hậu mới cảm nhận được những vẻ đẹp bình dị thường ngày ấy Đúng như Nguyễn Bình Phương có nhận xét về thơ Trúc Thông: “Giữa những xô bồ, bát nháo, anh luôn biết nhìn ra những vẻ đẹp bình
dị, tinh tế mà ẩn nhẫn của đời” [81, tr.320]
1.1.2.2 Cái đẹp là cái tinh khiết, trong lành
Xuyên suốt qua năm tập thơ Chầm chậm tới mình, Maratong, Một ngọn
đèn xanh, Vừa đi vừa ở và Mắt trong veo chúng ta nhận rõ cõi nghệ thuật
Trang 23riêng của Trúc Thông Cõi nghệ thuật của nghệ sĩ vốn muôn hình vạn trạng với biết bao sự vật, hình sắc, âm thanh đan xen Nhưng xét đến cùng, quán xuyến cõi hỗn mang ấy là sự tương phản giữa trong-đục, giàu-nghèo, sang-hèn, sướng-khổ, thiện-ác…nổi lên bao trùm vẫn là trong-đục Đọc năm tập thơ Trúc Thông, chúng ta không mấy khó khăn nhận ra từ có tần xuất cao
nhất là “trong” (130 lần): trong, trong suốt, trong veo, trong vắt, trong sạch,
trong ngần Dưới đây là những câu thơ tiêu biểu viết về cái trong của cảnh vật
(Bài ca những em bé theo công trường)
ngắm tóc nhau ngả bạc bên màu xanh trong suốt của rừng
Trang 24ôi tiếng hát
trắng trong hơn cả suối thiên đàng
(Hy Vọng phố mình)
ga tình thương vẫn đợi
trong quá mắt trẻ thơ…
(Người bạn vong niên ấy phương Nam)
Đó là hình ảnh của “một gương mặt trắng trong” không vẩn tạp đục của cuộc sống thường nhật, luôn hiến dâng sức lực của mình vì đam mê sáng tạo nghệ thuật Hay đó cũng là âm thanh của tiếng hát “trắng trong hơn cả suối thiên đàng” Một hình ảnh so sánh đặc sắc, độc đáo giữa âm thanh của “tiếng hát” (cái trừu tượng) với “suối thiên đàng” (cái cụ thể) giúp bạn đọc hình dung ra thế giới trắng trong vô ngần của tiếng hát Dõi theo toàn bộ chặng đường thơ của Trúc Thông, chúng ta phát hiện ra một thế giới rộng lớn của cái “trong” Thế giới ấy bao trùm khắp mọi câu thơ, bài thơ với một vẻ đẹp tinh khiết, trong lành của cảnh vật thiên nhiên và đời sống sinh hoạt của con
người Tất cả đều tạo thành bức tranh trong suốt của thơ Trúc Thông
Vẻ đẹp tinh khiết ấy còn được thể hiện qua hình ảnh trắng tinh, xanh mượt của cảnh vật và con người Đi liền với “trong” là hàng loạt những từ
xuất hiện với tần suất khá lớn: “xanh” (78 lần), “trắng” (41 lần) với ý nghĩa
như một sự nguyên khôi, thanh sạch trong thơ Trúc Thông:
mây trắng lên cao tít biển xanh đến vô ngần ngón tay sóng trắng tinh đệm dạt dào lên dương cầm bãi cát
(Ở một xóm biển Nghệ An)
trong khốn khó cuộc đời
em nở một niềm tin trắng muốt
Trang 25tràn sinh lực
âm nhạc hương lặng thầm
(Hoa loa kèn)
dáng mềm mại áo học trò thật trắng các em ngồi mấy khoang thuyền dài sông cứ chảy bời bời song đục trôi đôi bờ thấp thoáng bông mai
(Nét nhớ Cà Mau)
Qua năm tập thơ tiêu biểu,chúng ta nhận thấy gam màu xuất hiện chủ đạo trong thơ Trúc Thông là gam màu sáng: trắng, xanh và một thế giới của cái tinh khiết tạo ra nét đặc sắc, riêng biệt trong thơ ông Với sự xuất hiện của những từ ngữ ấy như một dấu mách cho ta mối ưu tư theo suốt một đời thơ
Đó là sự khắc khoải về số phận của cái trong giữa cuộc đời đục tạp nhiều hoen ố, chính là bầu tâm sự của đời thơ Trúc Thông Và nó dẫn lối ta vào cõi nghệ thuật thi sĩ Trong là cái đẹp, trong cũng là hạnh phúc Nó đáp ứng cả lí tưởng nhân sinh lẫn lí tưởng thẩm mĩ của Trúc Thông
Thế giới nhân vật xuất hiện nhiều trong thơ Trúc Thông: Trẻ em, phụ nữ, người lao động nghèo, nghệ sĩ, chiến sĩ Họ là những em Tâm, em Sa, đám trẻ hồn nhiên bôi lem trái đất, đám trẻ theo cha mẹ những công trường,…Là mẹ Tiết, mẹ San, mẹ Cao Bằng, là người bán chiếu, bán than tổ ong, bán tào phớ, quét sân bay, đạp xích lô, xe lôi…Là Nguyễn Sáng, Nguyên Hồng, Mạnh Hạo Nhiên, Bùi Nguyên Khiết,…Dưới ngòi bút của Trúc thông, họ đều là những người trong sạch vô ngần:
suốt một đời đi theo lẽ phải
suốt một đời đi theo nhân từ
mẹ Pứng như rừng xanh buổi sớm
cứ xanh mát vậy thôi
không đợi không chờ
(Mẹ Cao Bằng)
Trang 26bẩy mươi nhăm năm đời ông người ta đọc
áng thơ trong và buồn
độc giả đến muôn đời vẫn nhắc
nhà thơ buồn và trong
(Nhớ bác Hạo Nhiên)
“Mẹ Cao Bằng” cũng giống như bao người mẹ khác cả một cuộc đời hiến dâng tuổi thanh xuân của mình mà ko màng đến danh lợi Hình ảnh “mẹ Pứng” được nhà thơ so sánh với “rừng xanh buổi sớm” nhấn mạnh độ tinh khiết, thanh bạch trong tâm hồn mẹ Cái tinh khiết ấy còn được Trúc Thông thể hiện khá tinh tế trong nhà thơ Hạo Nhiên (tên thật Tôn Thất Hào, tức Nguyễn Mạnh Hòa) Suốt một đời cầm bút, áng thơ của ông luôn được độc giả nhớ tới bởi cái “trong và buồn” Hạo Nhiên là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế giới nhân vật trí thức mà Trúc Thông đã thể hiện sắc nét phẩm chất thanh bạch giữa cuộc sống đầy tạp đục
Như vậy, cái đẹp tinh khiết, trong lành không chỉ được bộc lộ qua cảnh vật thiên nhiên mà còn được thể hiện rõ nét trong đời sống con người Thế giới nhân vật trong thơ Trúc Thông dù khác nhau về nguồn gốc xuất thân, ngành nghề, tuổi tác, tầng lớp, dù có tên hay không có tên, nhưng ai cũng trong dịu cao cả
1.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông
1.2.1 Quan niệm chung về thơ ca
Thơ là một trong những loại hình kỳ diệu nhất, “cõi thơ là cõi bồng phiêu” (Bùi Giáng) Đi tìm bản thể của thơ luôn là một hành trình đầy bí ẩn Chính vì lẽ đó, ở bất cứ nền văn học nào, việc kiến tạo hệ thống quan niệm
về thơ là vấn đề vô cùng quan trọng, góp phần định hướng cho việc nghiên cứu và sáng tác thi ca
Nỗi ám ảnh với mọi người yêu thơ là chạm vào được bản thể của thơ
Trang 27Thơ là một phần của đời sống hay đứng ngoài đời sống là những vấn đề cần nhận rõ trong quá trình xác định yếu tính của thơ Trong quan niệm của lý luận phê bình văn học, hiện thực cuộc sống trong thơ cũng được cảm nhận từ nhiều điểm nhìn khác nhau Bởi vậy mỗi thi sĩ hình thành cho mình quan niệm riêng về thơ ca Bielinxki cho rằng: “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” C Mac nhận định: “Thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình” Chế Lan Viên đúc kết được rằng:
Bài thơ anh anh làm một nửa mà thôi Còn một nửa cho mùa thu làm lấy Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không là anh nhưng nó là mùa
(Sổ tay thơ)
Như vậy, thơ chính là loại hình nghệ thuật kì diệu diễn tả tâm tư, tình cảm đời sống nội tâm của con người Quan niệm về thơ của Trúc Thông được thể hiện chặt chẽ trên ba phương diện chính: Nhà thơ, lao động làm thơ và ý nghĩa của thơ ca đối với đời sống
1.2.2 Quan niệm về thơ của Trúc Thông
Đến với quan niệm về thơ của Trúc Thông, trước hết về nhà thơ, theo ông, nhà thơ chính là người “sáng tạo ra những giá trị trong suốt, cao sang, hiếm quí… người đời vẫn gọi là thơ” Trúc Thông hình dung thơ như ngôi sao
“trên bầu trời kì lạ thế gian- trong tâm hồn xanh vắt con người” Mỗi bài thơ, theo Trúc Thông, phải là “tác phẩm nghệ thuật thanh thoát”, phải “nhũn nhặn
mà rực sáng”, nó “thức dậy trong những từ ngữ đắt giá được đan dệt dường như rất nhẹ nhàng” Và, tất nhiên, thơ hay phải “bình đạm chứ không nhàn nhạt”[81] Với những quan niệm được dẫn dắt bởi cái nhìn tinh tế, bởi một cái
“Đạm” (Chu Văn Sơn) như vậy, Trúc Thông đã chầm chậm tới thơ Ông là thi
sĩ đầu tiên đem đến thi đàn hậu chiến một nhành thơ tươi xanh, một nguồn thơ trong mát
Trang 28Trong quan niệm về cái nghiệp của mình, Trúc Thông cho rằng làm thơ
là một “công cuộc” nghiệt ngã và nặng nhọc Là một thi sĩ phải có một ý chí mạnh mẽ, một lao động và tinh thần trách nhiệm cao với thơ ca Với ông, làm thơ là quá trình mò mẫm gian khổ để tìm lại bản thân Trúc Thông là một nhà văn có tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, ông bao giờ cũng dành hết tâm huyết và sống cùng trang thơ của mình Quá trình lao động nghệ thuật khắc khoải, mệt mỏi, đớn đau nhưng cũng hết sức vinh quang và thiêng liêng
ấy được ông thể hiện trong chính thế giới thơ của mình Nó trở thành một cảm hứng trong thơ Trúc Thông, thể hiện sự suy tư, miệt mài sống và viết của tác giả Cái tôi trữ tình luôn tâm niệm mỗi lần viết là một lần sống, sống hết mình với con người thật của mình và viết là cả một quá trình lao tâm khổ tứ Cái tôi
ấy còn suy tư về chính những câu thơ, con chữ của mình, câu thơ trở thành một hình tượng trữ tình trong thơ Trúc Thông:
từ ngữ ai tranh nhau ra đường
khoe khôn khoe khéo
từ ngữ anh sau những bức tường
đi lại và suy ngẫm
Là một nhà thơ có trách nhiệm với vai trò của người cầm bút Trúc Thông quan niệm thơ là nghiệp, đồng thời cũng là nghề nên ông chỉ có một
Trang 29con đường duy nhất: Sống, chết với thơ Vì sống, chết với thơ nên ngoài yếu
tố “ trời cho” rất ít ỏi, còn lại là sự khổ công rèn luyện, một lòng một dạ với thơ, chuyên nghiệp hóa ở một tầng nấc cao Thơ với ông vừa nguyên sơ trong sáng, vừa thấm đẫm lao động cực nhọc Nó đòi hỏi kỉ luật nghiêm túc, lúc nào cũng nghĩ, lúc nào cũng viết, viết không được thì bỏ, rồi lại viết, cứ thế không viết không được Tự nuôi dưỡng niềm thi hứng bằng sự miệt mài nỗ lực Để rồi nhiều khi cảm xúc ùa đến, câu thứ nhất, câu thứ hai, những câu tiếp theo
và cả bài thơ là một sự khổ sai của các chữ… Với ông làm thơ là một “công cuộc” nghiệt ngã và nặng nhọc:
Xuyên những bức tường
ta đã phải tấn công
từ ngữ những núi cao vỏ đạn
(Thụ cầm và bóng tối)
Trúc Thông không hề dễ dãi, hời hợt với câu chữ mà mình viết ra Ông
tự nhủ mình phải là một ý chí mạnh mẽ, một lao động và tinh thần trách nhiệm cao với thơ ca Công cuộc tìm tòi cách tân, trẻ trung, mới mẻ, đầy cam
go thách thức nhưng vô cùng lôi cuốn
Không thể không yêu quý trân trọng tinh thần lao động một nắng hai sương trên cánh đồng thơ Trúc Thông Với ông, làm thơ là quá trình mò mẫm gian khổ để tìm lại bản thân Nó là nghề, là công nghệ thơ ca nhưng đồng thời cũng là nghiệp- tình yêu đắm đuối:
tiếng chim rơi tịch mịch nỗi người đi muôn trùng
(Đường lưng đèo Gió)
Ở câu thơ thứ nhất mang thông điệp hoang vắng cô liêu giữa một khoảng không gian thâm u lặng ngắt, xa xăm, diệu vợi Vì cái cảm giác “rơi tịch mịch” ấy đã nảy sinh “nỗi người đi muôn trùng” “Nỗi người” vang lên thân
Trang 30phận kiếp loài, chứa chất khó nhọc bã bời Một khắc khoải về lòng trắc ẩn
“Muôn trùng” lại cho cảm giác gian truân, khổ ải, xa xăm, hun hút Câu thơ diễn ra ở cả hai thời khắc thực tại và tương lai Vừa mênh mông kỳ vĩ vừa khó nhọc gian nan vô định Hai câu thơ trên có thể coi là hai câu thơ điển hình cho nhiều câu thơ hay trong “công cuộc” tìm tòi đổi mới của thơ Trúc Thông Bằng những từ ngữ thông thường nhưng nó đã trải qua một cấu trúc, một công nghệ phức tạp, tế vi nhất và cũng là thú vị nhất Nó độc đáo ở chỗ ngôn ngữ chính xác, mỗi chữ được đặt vào đúng vị trí không thể thay thế: Gọn, chặt, kiệm lời nhưng khỏe khoắn , chắc nịch, có khả năng nảy mầm bung mở…
Đồng thời, Trúc Thông quan niệm tác phẩm thơ phải có giá trị với đời sống tinh thần của con người:
câu thơ rán chín chảo khổ ải cuộc đời nhưng phải có chút nước chấm thánh thần cất từ vô tận…
(Chung quanh lao động sáng tạo thơ)
Trúc Thông quả quyết: Thơ chỉ chiều chính mình, chống vay mượn bắt chước kiểu dáng dù cho kiểu dáng đó là của thiên tài hay một nhà thơ cùng thời đang rộ lên ăn khách Giữ cho mình cái tôi nhưng là cái tôi không bảo thủ, luôn kháng cự những ỷ lại, những quen mòn Một cái tôi luôn khao khát vươn tới đa thanh, đa sắc… Một cuộc đời thầm lặng nỗ lực hết mình, một tinh thần lao động miệt mài nghiêm túc với tất cả sự đam mê tâm huyết với thơ, đó chính là văn đức của người cầm bút
Với thiên chức cao cả của người cầm bút, Trúc Thông đã ý thức rất rõ về vai trò của nhà thơ, công cuộc lao động sáng tạo thơ và ý nghĩa của thơ ca với đời sống con người Bởi vậy, thơ Trúc Thông đã vượt qua giới hạn của thời gian và không gian để đến với đông đảo độc giả với áng thi ca giá trị sâu sắc
Trang 31Tiểu kết
Trên đây, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu quan niệm mỹ học về cái đẹp,
quan niệm về thơ của Trúc Thông qua năm tập thơ Chậm chậm tới mình,
Maratong, Một ngọn đèn xanh, Vừa đi vừa ở, Mắt trong veo Cái đẹp trong
thơ ông là cái bình dị, gần gũi xuất hiện trong đời sống thường ngày của con người và cảnh vật thiên nhiên Đồng thời, đó cũng là cái đẹp tinh khiết, trong lành bao trùm khắp các nẻo đường thơ của Trúc Thông Với thiên chức của người cầm bút, ông ý thức rất rõ về vai trò, trách nhiệm của nhà thơ Sự nghiệp lao động sáng tạo thơ là sự khổ công rèn luyện, một lòng một dạ với thơ Với Trúc Thông làm thơ là một công cuộc nghiệt ngã và nặng nhọc Nhà thơ quan niệm tác phẩm thơ phải có giá trị thiết thực trong đời sống tinh thần của con người Những xác lập ban đầu này sẽ mở đường cho những tiếp cận sâu hơn vào thế giới nghệ thuật thơ ông
Trang 32Chương 2
HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ
TRÚC THÔNG 2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình
2.1.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình
Cái tôi thực chất là một khái niệm triết học Các nhà triết học duy tâm R Decac, J.gphichte, G.x.Heghen, H Becxong, S Freud… là những người đầu tiên chú ý đến cái tôi khi đề cao ý thức, chủ quan- khách quan, cá nhân xã hội Nhà triết học Becxong (1859-1941) cho rằng con người có hai cái tôi: cái tôi
bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội, còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức và ý thức mới chính là đối tượng của nghệ thuật
S.Freud (1856- 1939), cái tôi là sự hiện diện của động cơ bên trong ý thức con người Các nhà tâm lí học đều coi cái tôi là yếu tố cơ bản cấu thành
ý thức, nhân cách của con người Cái tôi cũng là một đối tượng quan tâm của các ngành khoa học xã hội như đạo đức, xã hội học
Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, khái niệm cái tôi vừa mang bản chất
xã hội vừa có quan hệ gắn bó khăng khít với hoàn cảnh, lịch sử và mang bản
chất cá nhân độc đáo Từ xưa đến nay, cái tôi vẫn được coi như là căn nguyên
hay sự khơi nguồn của động tác sáng tạo Vì thế nó có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật nói chung và thơ ca trữ tình nói riêng Sáng tác thơ ca là một nhu cầu tự thể hiện, là sự thôi thúc bên trong tâm hồn con người Trong thơ, vấn
đề chủ thể, cái tôi trữ tình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vị trí của cái tôi trữ tình, mối liên hệ giữa khách thể và chủ thể luôn đặt ra trong thơ: “Thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình.Trong đó, cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách gián tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình
Trang 33Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới chính kiến, những tư tưởng triết học” [31, tr.31]
Trong tác phẩm Mỹ học của Heghen, khi đề cập đến nội dung của thơ trữ
tình, tác giả cho rằng: “Nguồn gốc và điểm tựa của nó là ở chủ thể và chủ thể
là người duy nhất, độc nhất mang nội dung Chính vì vậy cho nên cá nhân phải có được một bản tính thi sĩ, phải có một trí tưởng tượng phong phú, phải
có một cảm xúc dồi dào và có thể lĩnh hội được những ý niệm sâu sắc và đồ sộ” [46, tr.295]
Thơ trữ tình luôn gắn với cái tôi trữ tình Khái niệm về cái tôi trữ tình tuy có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau nhưng cơ bản vẫn gặp nhau ở nội
hàm: tính trữ tình và tính chủ thể Tác giả Lê Lưu Oanh trong cuốn Thơ trữ
tình Việt Nam 1975- 1990 đã xem cái tôi trữ tình là một thế giới nghệ thuật
riêng: “Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này
là một thể thống nhất có ngôn ngữ và quy luật riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân, thời đại… Đi sâu vào thế giới nghệ thuật được coi như một kênh giao tiếp với những mã số, kí hiệu, giọng nói chương trình riêng, cần có thao tác phù hợp… Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mĩ” [74, tr.33-35]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong công trình Tư duy thơ và tư duy
thơ hiện đại Việt Nam cho rằng: “Thơ trữ tình là bản tốc kí nội tâm” nghĩa là
sự tuôn trào của hình ảnh, từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo Chính vì vậy về bản chất mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ
là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình” [91, tr.166] “Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện của chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ” “Tuy nhiên, do sự chi
Trang 34phối quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định” [91, tr.56-57]
Như vậy, cái tôi là điểm khởi đầu cũng là điểm kết thúc của quá trình sáng tạo nghệ thuật, là linh hồn của chủ thể trữ tình Sự khác biệt của các thời đại thi ca, suy cho cùng cũng chỉ là quan niệm về cái tôi trữ tình và các dạng thức biểu hiện của nó Dù ở dạng nào, ở tư thế khẳng định trực tiếp (tôi, ta, chúng ta…) hay ẩn mình (vô nhân xưng) thì người đọc bao giờ cũng nhận ra cái tôi đang đối thoại hay độc thoại với cuộc đời, với chính mình và mang dấu
ấn của chủ thể sáng tạo Hình tượng cái tôi ấy đôi khi vượt ra khỏi nhà thơ, thậm chí nó có một đời sống riêng mang tính độc lập tương đối với chủ thể sáng tạo nghệ thuật và với độc giả
Với thơ ca hiện đại, nhu cầu giải phóng cái tôi trong sáng tạo càng bức thiết hơn bao giờ hết Nói như Thụy Khuê: “Đối với thơ hiện đại, cứu cánh của động tác thi ca nằm ở sự biểu lộ, phát giác, thoát thai, giải phóng cái tôi thám hiểm thế giới của nó bằng ánh sáng ngôn ngữ” Đặt trong bối cảnh đó,
năm tập thơ Chậm chậm tới mình, Maratong, Một ngọn đèn xanh, Vừa đi vừa
ở, Mắt trong veo đã thể hiện cái tôi trữ tình riêng mang bản sắc Trúc Thông:
cái tôi cảm xúc, tâm tình; cái tôi chiêm nghiệm, suy tư; cái tôi vô thức, tâm linh
2.1.2 Các dạng thức cái tôi trữ tình trong thơ Trúc Thông
2.1.2.1 Cái tôi cảm xúc, tâm tình
Trước hết, đó là cảm xúc của cái tôi cô đơn, hoài niệm Bản thể của con người là cô đơn, người nghệ sĩ với trái tim nhạy cảm, với cái nhìn đầy suy tư
về cuộc đời lại càng cô đơn Thơ Việt Nam sau 1975 trở về với đời tư, với giá trị cá nhân Xã hội có những thay đổi mạnh mẽ, con người hoang mang trước
sự phức tạp của đời sống với sự đảo lộn của những giá trị, những chuẩn mực
cũ Cái tôi trữ tình luôn thấy buồn, thấy cô đơn giữa cuộc sống ồn ào, náo
Trang 35nhiệt, giữa muôn mặt áp lực của đời sống:
Ta lang thang khắp phố phường Người đông lòng vẫn lạnh lùng phố ơi
(Thiếu khoảng trời xanh- Nguyễn Thị Thu Hồng)
Dương Kiều Minh gặm nhấm nỗi cô đơn và thấy cuộc đời thật chơi vơi, mỏng manh, hư vô:
Tiếng gì đơn độc, xa hơn nỗi buồn Ước vọng trường trong thanh vắng Đây là bài ca xưa, đây là vườn trăng xưa Vẫn sống rêu phong mái cổ
Một tình yêu tìm đến tự tình Thềm son nặng bóng mai già đổ
Ừ niềm đau chẳng bao giờ nói
Ừ hi vọng mong manh hơn cả kiếp người
(Củi lửa- Dương Kiều Minh)
Nguyễn Quang Thiều cảm thấy trống vắng đến không ngờ ngay khi đối thoại với chính mình:
Và tôi bắt đầu cuộc trò chuyện với chính tôi
để chống lại sự can thiệp Của những gì không tôi mà lại giống tôi Một đầu bàn tôi ngồi, đầu kia là ảo ảnh…
(Độc thoại)
Cái tôi trữ tình trong thơ Trúc Thông cũng nằm trong xu hướng phát triển chung của cái tôi trong thơ sau 1975 Thơ Trúc Thông giống như một cây cầu luôn muốn nối nhịp với quá khứ, cái tôi ấy luôn muốn trở về quá khứ
để hoài niệm, để nhung nhớ, nhưng dù ở hiện tại hay quá khứ thì luôn ngập tràn trong cảm giác cô đơn Nỗi buồn u uẩn và nỗi cô đơn lạc loài thấm đẫm
Trang 36trong các dòng thơ Hình tượng trữ tình xuất hiện hầu hết trong thế giới thơ Trúc Thông đồng thời cũng là nơi trú ngụ của cái tôi hoài niệm, cô đơn:
từ đỉnh cao các chữ
từ hun hút vực lòng
từ không gian rất đỗi xa xăm
mơ hồ ào ạt sóng anh đã tự chọn chăng núi vắng
hai trai bản âm thầm khiêng cán
họ vô danh như đêm ấy vô danh
(Tìm một nhà thơ)
tôi đi cùng hoang mang gió mùa thu…
(Ghi chép về thơ)
quán chật đầy những tiếng “anh” “em”
nhưng đâu trái tim, đâu tâm hồn hãy những lời hát
thét lên áo cơm cuối năm hăm lăm chân tường tôi muốn vượt
(Chân tường cuối năm)
Có thể thấy, những từ như: “mơ hồ”, “vắng”, “vô danh”, “hoang mang”,
“đâu”, “muốn”, “nhớ”… xuất hiện với tần số khá lớn trong thế giới thơ Trúc Thông Cái tôi trong cảm xúc của sự cô đơn giữa dòng đời tấp nập, xô bồ
Ít khi sống với hiện tại mà triền miên với những suy nghĩ về quá khứ là đặc điểm dễ nhận thấy ở cái tôi trữ tình thơ Trúc Thông Hoài nhớ quá khứ, kỉ niệm là một phần không thế thiếu trong đời sống nội tâm của cái tôi trữ tình
Trang 37và kí ức còn hiện lên như một sinh thể sống động trong thế giới thơ ấy Với
hàng loạt nhan đề: nhớ mẹ sông Châu, nhớ xa, nét nhớ Cà Mau, sân trường
xưa, nhớ Cao minh Trai, nhớ bạn, kỷ niệm thôn Bình An, gặp xưa,chốn đâu xưa, nhớ bạn văn Sơn Đông, xuân nhớ,…giúp bạn đọc hiểu được nỗi lòng tâm
sự băn khoăn, trăn trở của nhà thơ về quá khứ Đó là:
tôi tìm lại hai mươi năm trước
gương mặt Đôn vẫn nét, đâu mờ…
nhớ anh chàng
cô dệt thảm Hàng Kênh ba mươi năm trước
bến phà Bính nhớ chăng người cô độc
đêm tìm một em buôn chuyến đổ bờ
Cái tôi cảm xúc, tâm tình của Trúc Thông còn được thể hiện khi thì vui tươi hớn hở đến với trẻ thơ, khi thì trìu mến, yêu thương, ấm nóng với những trang thơ viết về mẹ, bạn bè Nhiều bài thơ ông viết bằng cả tình thương chân thật nên dễ được bạn đọc đón nhận Khi viết về trẻ em, Trúc Thông viết bằng tình cảm thân thương, nồng hậu nhất:
Trang 38trời xanh rót xuống tràn ánh sáng
chị em bé xíu khoác vai nhau
(Nhờ ở các con)
trái đất mỉm cười mặt mình ngũ sắc
cười rung … gió cây
(Khúc trẻ thơ)
này trẻ con ơi
cho tôi theo với
tôi bé lại đây này
tôi rất trẻ con
tôi làm những bài ca cho mà hát
cho tôi theo với
quá nửa cầu rồi
(Khúc trẻ thơ)
Dưới con mắt của Trúc Thông, hình ảnh trẻ thơ xuất hiện hết sức tự nhiên, đáng yêu với những hành động cụ thể: “khoác vai nhau”, “cười rung gió cây” Phải là người có tâm hồn yêu thương, gần gũi trẻ thơ mới cảm nhận
rõ điều này Không chỉ vậy, Trúc Thông như muốn hòa cùng với trẻ thơ để cảm nhận sự trong trẻo của cuộc sống
Nếu giọng điệu Trúc Thông dành cho trẻ thơ là giọng đùa vui, tự nhiên thì khi viết về mẹ giọng thơ như bị thâm trầm, nghẹn ngào sâu lắng:
xin bão táp hãy lặng đi cho mẹ
cho bình an mái nhà nhỏ bé
(Thơ đón bão)
lá ngô lay ở bờ sông
bờ sông vẫn gió người không thấy về
(Bờ sông vẫn gió)
Trang 39Khi viết về mẹ, cảm xúc của Trúc Thông đượm một nỗi buồn riêng Đó
là nỗi buồn khi mẹ không còn gần bên ta nữa Mọi cảnh vật nơi đây dường như vẫn còn nguyên, vậy mà “người không thấy về” Giọng của câu thơ dương như nghẹn ngào tạo thành tiếc nấc trong bài thơ Đây cũng là phương diện thể hiện độc đáo cái tôi tâm tình của nhà thơ
Dù viết về thế giới trẻ thơ, bạn bè hay hình ảnh mẹ, Trúc Thông đều
dành cho họ những tình cảm, cảm xúc yêu thương nồng hậu tha thiết nhất Bởi lẽ: “Phẩm chất đặc biệt của thơ Trúc Thông là chất thi sĩ, nó không hiển
lộ như Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, mà nó nép sau cách cửa khép hờ của thi tứ Thơ Trúc Thông cầu kỳ chắt lọc tới từng con chữ Nhưng nó dịu dàng ẩn kín nơi sâu thẳm của tâm hồn, ấm áp của tình người, tình đời, quyết liệt của ý chí” [106, tr.333]
2.1.2.2 Cái tôi chiêm nghiệm, suy tư
Không giới hạn tâm hồn chỉ trong tình yêu thương, nỗi buồn, cái tôi trữ tình trong thơ còn mở rộng sự quan sát, suy ngẫm của mình về cuộc sống với những biểu hiện đa chiều, phức tạp và về chính bản thân mình cũng như về nghiệp viết, quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình
Cái tôi trữ tình trong thơ Trúc Thông là cái tôi giàu suy tưởng, giàu trách nhiệm và có những suy ngẫm sâu sắc về đời sống hiện sinh Cái tôi thế sự, đề cập tới các vấn đề thường nhật, về đời sống công chức, danh vọng, quan chức,
về số phận người lính, người lao động xuất hiện trong thơ Trúc Thông Nhà thơ hướng thơ mình tham dự vào đời sống cộng đồng và thể hiện sự phản tư- một phẩm chất của người trí thức như ông
Từ thực tiễn cuộc sống, Trúc Thông đúc kết cuộc đời như một cuộc chạy đua thử thách đầy cam go giữa thắng- thua, được- mất là rất mong manh:
Trang 40Xả thân, tuẫn thánh
họ đã chơi cơn lốc hết mình
nhưng sợi chỉ mong manh may rủi
đã cản vào chấm vạch vinh quanh
Cuộc chạy đua ấy dù có “xả thân”, “chơi cơn lốc hết mình” nhưng thành công của con người là rất mong manh Bởi cuộc đời ấy còn vô số cái “ mơ hồ” ko lí giải hết, mọi ranh giới dường như bị nhòa dần:
mơ hồ ơi xóm làng ơi
hơi ai âm ấm tình người trong trong
(Xin dòng lục bát)
mặc xác vệt mơ hồ
nổi da gà cả một trời đa cảm
(Thu chẳng thèm buồn)
Thế giới của trạng thái “mơ hồ” xuất hiện nhiều trong thơ Trúc Thông
Đó là sự “mơ hồ” không rõ ràng trong tình người, tình đời; trong đời sống lao động hàng ngày của con người Lời thơ mang tính chất phủ định, nghi vấn
“hơi ai”, đó là một câu hỏi không lời đáp mà nhà thơ trăn trở không nguôi Cái “mơ hồ” ấy còn ám ảnh một sự khắc khoải về sự không rõ ràng trong đời sống lao động thường nhật: “ một cái gì mơ hồ sinh lãi/ lãi lại sinh tiếp một
mơ hồ/ không mơ hồ, anh chết…” (ghi chép về thơ) “Mơ hồ” là trạng thái,
cảm giác thực – hư không rõ ràng trong đời sống con người Đây cũng chính
là nỗi suy tư mà Trúc Thông khắc khoải, trăn trở trong nhiều trang thơ
Trước bất kì chiến thắng hay thành quả nào cái tôi ấy luôn tự ý thức rằng:
Lưỡi búa
ánh lên từ cõi chết