1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

On tp van hc 12

57 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Tập Văn Học 12
Người hướng dẫn Cao Thị Sáng
Trường học Trường THPT Trần Đại Nghĩa
Chuyên ngành Văn học
Thể loại tài liệu
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 507 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạo hố cho họ những quyền khơng ai cĩ thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, cĩ quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và “Tuyên ngơn Nhân quyền và Dân quyền” của các

Trang 1

1 Chương trình Văn học THPT - Ơn tập Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX

* Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975:

a) Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hố, gắn bĩ sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước:

- Văn học là vũ khí phụng sự cách mạng.

- Văn học tập trung ở nhiều đề tài: Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

- Nhân vật trung tâm: Người chiến sĩ.

- Văn học ca ngợi lao động và phẩm chất tốt đẹp của người lao động.

b) Nền văn học hướng về đại chúng:

- Đại chúng vừa là đối tượng phản ánh và đối tượng phục vụ, vừa là nguồn cung cấp bổ sung lực lượng sáng tác cho văn học.

- Nĩi lên nỗi bất hạnh của người lao động nghèo khổ bị áp bức, bộc lộ niềm vui và niềm tự hào của họ

về cuộc đời mới.

- Diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động.

- Nền văn học cĩ tính nhân dân sâu sắc và nội dung nhân đạo mới.

- Ngơn ngữ văn học bình dị, trong sáng, dễ hiểu.

c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:

- Khuynh hướng sử thi:

+ Đề cập đến số phận chung của cả cộng đồng, dân tộc.

+ Tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, cĩ nghĩa sống cịn của đất nước, của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.

+ Nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bĩ số phận mình với số phận đất nước Thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cộng đồng.

+ Lời văn sử thi mang giọng điệu ngợi ca, trân trọng và đẹp một cách tráng lệ, hào hùng.

- Cảm hứng lãng mạn:

+ Khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới.

+ Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Tĩm lại: Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn học Việt Nam giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 2

2 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

TUYÊN NGƠN ĐỘC LẬP

Hồ Chí Minh

 PHẦN 1: TÁC GIẢ 

I/ Vài nét về tiểu sử:

- Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước, quê ở làng Kim Liên (làng Sen), nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngơn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng thời là một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào Quốc tế Cộng sản Cùng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người cịn để lại một sự nghiệp văn học to lớn.

II/ Sự nghiệp văn học:

a) Quan điểm sáng tác:

- Người coi văn học là vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng Nhà văn phải cĩ tinh thần xung phong như người chiến sĩ ngồi mặt trận.

- Người luơn tơn trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học.

- Khi cầm bút Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội

dung và hình thức của tác phẩm Người luơn đặt câu hỏi: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?”, “Viết cái

gì?”, “Viết thế nào?”

b) Di sản văn học: Những tác phẩm của Hồ Chí Minh gồm các thể loại:

- Văn chính luận (như Tuyên ngơn độc lập, Lời kêu gọi tồn quốc kháng chiến, Khơng cĩ gì quý hơn độc

lập tự do,…)

- Truyện và kí (như Vi hành, Những trị lố hay là Van-ren và Phan Bội Châu…)

- Thơ ca (như Nhật kí trong tù, Tức cảnh Pác Bĩ, Thu dạ,…)

c) Phong cách nghệ thuật:

- Văn chính luận: Ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng bút pháp.

- Truyện và kí: Rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén.

- Thơ ca: Cĩ sự hồ hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại, giữa chất trữ tình và chất

“thép”, giữa sự trong sáng giản dị và sự hàm súc, sâu sắc.

2/ Các giá trị:

a) Giá trị lịch sử: (mục đích viết Tuyên ngơn Độc lập)

Là lời tuyên bố xố bỏ chế độ thực dân phong kiến, là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên tồn thế giới, là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta.

b) Giá trị văn học:

Là một tác phẩm chính luận đặc sắc Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngơn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc…

Trang 3

3 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

c) Giá trị tư tưởng:

Là một áng văn tâm huyết của chủ tịch Hồ Chí Minh, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Người, đồng thời kết tinh khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc ta.

3/ Các đối tượng: (3 đối tượng)

- Tồn thể nhân dân Việt Nam

- Nhân dân thế giới

- Bọn thực dân đế quốc và lực lượng thù địch

II/ Đọc – hiểu:

Nội dung:

1 Cơ sở pháp lí của bản Tuyên ngơn: Nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng,tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc

Mở đầu văn bản, Người trích dẫn nguyên văn 2 đoạn nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngơn: “Tuyên ngơn

độc lập” năm 1776 của Mĩ: “Tất cả mọi người đều sinh ra cĩ quyền bình đẳng Tạo hố cho họ những

quyền khơng ai cĩ thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, cĩ quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và “Tuyên ngơn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp năm 1791:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luơn luơn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” với mục đích:

- Mục đích:

+ Người tỏ thái độ trân trọng 2 bản Tuyên ngơn, bởi đĩ khơng chỉ là thành quả văn hố của 2 nước Mĩ

và Pháp mà cịn là của tồn nhân loại.

+ Những điều Bác khẳng định về quyền sống, quyền tự do của con người chính là lí lẻ của tổ tiên người

Mĩ và Pháp nên cĩ sức thuyết phục cao Đĩ cũng là hình thức “gậy ơng đập lưng ơng”.

+ Người đặt 3 cuộc cách mạng ngang hàng nhau, 3 bản Tuyên ngơn ngang hàng nhau, 3 nền độc lập ngang hàng nhau Qua đĩ thể hiện niềm tự hào dân tộc.

- Nội dung: Từ quyền con người (cá nhân) trong 2 bản Tuyên ngơn, Bác suy rộng ra thành quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc Đây là một đĩng gĩp lớn của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phĩng dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới Thể hiện giá trị tư tưởng nhân đạo và văn minh nhân loại, tạo tiền đề cho các lập luận tiếp theo.

Tĩm lại: Đoạn văn mở đầu bộc lộ sự khéo léo, kiên quyết, tấm lịng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và trí tuệ sáng suốt của Người Đồng thời bộc lộ tài năng chính luận của Hồ Chí Minh với cách lập luận khoa học, lí lẽ sắc sảo và giọng văn linh hoạt.

2/ Cơ sở thực tế: Là bản cáo trạng tố cáo tội ác của thực dân Pháp

a) Bác bỏ luận điệu bịp bợm của thực dân Pháp ở 2 mặt: Khai hố và bảo hộ

a1) Khai hố:

* Khái niệm: Khai hố là mở mang dân trí.

* Thực chất:

- Chính trị: (5 tội ác)

+ Chúng tuyệt đối khơng cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

+ Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập 3 chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đồn kết.

+ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nịi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

+ Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

+ Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nồi giống ta suy nhược.

- Kinh tế: (4 tội ác)

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 4

4 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

+ Chúng bĩc lột dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp khơng ruộng đất, hầm mỏ, nguyện liệu.

+ Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

+ Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vơ lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buơn trở nên bần cùng.

+ Chúng khơng cho các nhà tư sản ta ngĩc đầu lên Chúng bĩc lột cơng nhân ta một cách vơ cùng tàn nhẫn.

Vậy là: thơng qua biện pháp nghệ thuật liệt kê, điệp từ “chúng” được đặt đầu mỗi câu, cùng kiểu câu

song hành Bác đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với dân ta ở 2 mặt chính trị và kinh tế nhằm bác bỏ luận điệu khai hố của chúng.

a2) Bảo hộ:

* Khái niệm: Bảo hộ là che chở, giữ gìn.

* Thực chất: Trong vịng 5 năm, chúng đã bán nước ta 2 lần cho Nhật “Mùa thu năm 1940, phát xít

Nhật đến xâm lăng Đơng Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa rước Nhật Từ đĩ nhân dân ta chịu 2 tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đĩ dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối năm ngối sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đĩi” Hồ Chí Minh đã đưa ra những bằng chứng xác thực cùng cách sử dụng

các động từ ẩn dụ “quỳ gối rước Nhật” đầy mỉa mai châm biếm để vạch trần bộ mặt đớn hèn của thực

dân Pháp trước phát xít Nhật Trước dân ta, chúng hung hăng bao nhiêu thì trước phát xít Nhật, chúng hèn hạ bấy nhiêu.

b) Bác bỏ luận điệu xuyên tạc sự thật lịch sử ở 2 mặt:

b1) Thực dân Pháp tuyên bố nhân danh Đồng minh chiến thắng Phát xít Nhật:

b2) Thực dân Pháp tuyên bố ta là thuộc địa của chúng:

Thực chất:

- Pháp bán nước ta cho Nhật, ta giành chính quyền từ tay Nhật, do vậy ta là thuộc địa của Nhật chứ khơng phải của Pháp Điều này được Hồ Chí Minh khẳng định qua 2 câu văn:

+ “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ khơng phải thuộc địa của

Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hồ”.

+ “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ khơng phải từ tay Pháp”.

 Đây là 2 câu văn khẳng định khiến cho lập luận trở nên đanh thép, hùng hồn khơng thể bác bỏ được.

Từ cơ sở pháp lí và cơ sở thực tế trên, Người đưa ra kết luận: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại

thối vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hồ”.

3/ Lời tuyên bố độc lập: (Phần tuyên ngơn)

- Tuyên bố thốt li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xố bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xố bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

- Kêu gọi tồn dân Việt Nam, trên dưới một lịng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

- Kêu gọi cộng đồng quốc tế cơng nhận quyền tự do, độc lập của Việt Nam.

- Từ những lẽ trên, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hồ, trịnh trọng tuyên bố

Trang 5

5 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

với thế giới về một nước Việt Nam cĩ quyền hưởng tự do độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự

do độc lập Tồn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy

 Tĩm lại: Như vậy, bằng lí lẽ, bằng sự thật, bằng ý chí và quyết tâm, Tuyên ngơn Độc lập đã khẳng định quyền độc lập và thực tế độc lập của nước ta.

B Nghệ thuật:

- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục.

- Ngơn ngữ vừa chính xác, vừa gợi cảm.

- Giọng văn linh hoạt.

C Ý nghĩa:

- Tuyên ngơn Độc lập là một văn kiện lịch sử vơ giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định sự quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy.

- Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phĩng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do.

- Là một áng văn chính luận mẫu mực.

1/ Phần mở bài: Nêu vấn đề trọng tâm

Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là một hiện tượng độc đáo, cĩ vẻ đẹp riêng khơng dễ nhận ra “Trên

trời cĩ những vì sao cĩ ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng” Đây là cách tiếp cận vừa cĩ tính khoa học, vừa cĩ tính

phương pháp luận đối với thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.

2/ Phần thân bài: Ý nghĩa giá trị to lớn về cuộc đời văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu

a) Cuộc đời và quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu:

- Cuộc đời: Sinh ra giữa lúc nước nhà lâm nguy, lại bị mù cả 2 mắt nên khơng thể cầm vũ khí cùng

nhân dân chiến đấu nhưng ơng vẫn giữ trọn khí tiết của một nhà nho yêu nước “Kiến nghĩa bất vi

vơ dõng dã!”, trọn đời phấn đấu, hi sinh vì nghĩa lớn của dân tộc.

- Quan niệm sáng tác: Coi thơ văn là vũ khí chiến đấu

“Chở bao nhiêu đạo thuyền khơng khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.

Dùng thơ văn để vạch trần âm mưu, thủ đoạn và lên án kẻ lợi dụng văn chương làm điều phi nghĩa

“Thấy nay cũng nhĩm văn chương

Vĩc dê da cọp khơn lường thực hư”.

b) Thơ văn yêu nước:

- Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại một thời kì khổ nhục nhưng vĩ đại, tham

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 6

6 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại bằng những hình tượng văn học sinh động và não nùng làm xúc động lịng người “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” làm sống dậy một hình tượng mà từ trước tới nay chưa từng cĩ trong văn chương thời trung đại Hình tượng người nơng dân – những con người chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước Lần đầu tiên người nơng dân bước vào những trang văn của Nguyễn Đình Chiểu để tạc nên bức tượng đài lịch sử sừng sững trong văn học.

- Mặt khác, Phạm Văn Đồng cịn đặt tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ngang với “Bình Ngơ Đại Cáo” của Nguyễn Trãi Một bên là khúc ca khải hồn ca ngợi chiến cơng oanh liệt, một bên là

khúc ca ca ngợi những con người thất thế nhưng vẫn hiên ngang “Sống đánh giặc, thác cũng đánh

giặc…”

c) Tác phẩm Lục Vân Tiên:

Lục Vân Tiên là một tác phẩm lớn chứa đựng nhiều tư tưởng gần với quần chúng nhân dân, là bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức quý trọng ở đời cĩ thể truyền bá rộng rãi trong dân gian Dẫu cịn đơi chỗ sơ sĩt về văn chương, song khơng làm giảm giá trị văn nghệ của bản trường

ca Trong dân gian miền Nam, người ta say sưa nghe kể Lục Vân Tiên, khơng chỉ vì nội dung mà cịn vì văn hay.

3 Kết bài: Khẳng định vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc

“Nguyễn Đình Chiểu là một người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hố và tư tưởng”.

THƠNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI PHỊNG CHỐNG AIDS

Trang 7

7 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

- Phần điểm tình hình khơng dài nhưng đầy sức thuyết phục và lay động bởi tầm bao quát rộng

lớn, những số liệu cụ thể “mỗi phút đồng hồ của một ngày trơi đi, cĩ khoảng 10 người bị nhiễm HIV”,

chỉ ra những nguy cơ, những tiếc nuối của tác giả vì những điều lẽ ra phải làm được thì thực tế chưa làm được.

3 Nhiệm vụ:

Kêu gọi mọi người, mọi quốc gia nỗ lực hơn nữa, “đưa vấn đề HIV/AIDS lên vị trí hàng đầu trong

chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình” Khơng kì thị, phân biệt đối xử với

người bị nhiễm HIV/AIDS và phải đồn kết hợp tác hơn nữa trong việc đấu tranh đẩy lùi căn bệnh thế kỉ.

B Nghệ thuật:

- Cách trình bày chặt chẽ, logic, cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của cuộc chiến chống lại HIV/AIDS.

- Bên cạnh những câu văn truyền thơng điệp trực tiếp, cĩ nhiều những câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc Do đĩ tránh được lối hơ hào, sáo mịn, truyền tâm huyết của tác giả tới người nghe, người đọc.

C Ý nghĩa:

Văn bản tuy ngắn gọn nhưng giàu sức thuyết phục, bởi những lí lẽ sâu sắc, những dẫn chứng, số liệu

cụ thể, thể hiện trách nhiệm và lương tâm của người đứng đầu Liên hiệp quốc Giá trị của văn bản cịn thể hiện được tư tưởng cĩ tầm chiến lược, giàu tính nhân văn khi đặt ra nhiệm vụ phịng chống căn bệnh của thế kỉ.

xa đơn vị cũ chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đơng cũ), Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, in trong tập “Mây đầu ơ” Khi in lại, tác giả đổi tên lại là “Tây Tiến”.

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 8

8 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

II/ Đọc – hiểu:

A Nội dung:

1 Khổ 1: Nhớ về núi rừng Tây Bắc và đồn quân Tây Tiến

- Hai câu đầu: “Sơng Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”.

Mở đầu bài thơ là câu thơ cảm thán, bộc lộ nỗi nhớ chơi vơi về Sơng Mã, về Tây Tiến, về Tây Bắc của một thời đã qua.

a) Núi rừng Tây Bắc:

- Địa danh: Xa lạ mà gần gũi: “Sài Khao, Mường Lát, Pha Luơng, Mường Hịch, Mai Châu” là

những địa danh xa lạ với các chàng trai xứ Hà thành, nhưng đấy cũng là những tên đất, tên bản, tên làng gắn bĩ thắm thiết tình quân dân trong cuộc đời người lính.

- Địa hình: Cheo leo, hiểm trở

+ 3 câu thơ: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Sử dụng nhiều thanh trắc, từ láy, từ tạo hình đã dựng lên bức tranh thiên nhiên dữ dội, dốc tiếp dốc,

rừng tiếp rừng, trùng trùng điệp điệp về độ cao Đặc biệt câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước

xuống” nhịp thơ 4/3 phân biệt rạch rịi 2 hướng lên xuống đối lập, núi cao bao nhiêu vực sâu bấy

nhiêu.

+ Câu thơ: “Nhà ai Pha Luơng mưa xa khơi” được gieo tồn thanh bằng, mở ra khơng gian mênh

mang với hình ảnh nhà ai thấp thống trong màn sương giăng.

4 câu thơ đã mở ra khơng gian 3 chiều: chiều cao, chiều sâu và chiều rộng tơ đậm thiên nhiên Tây Bắc thật hùng vĩ, gân guốc, tráng lệ mà khơng kém phần thơ mộng, trữ tình.

- Khí hậu: Khắc nghiệt, lạnh lẽo Cảnh vật mịt mù trong mưa rơi, sương giăng, “sương lấp”, “hoa

về trong đêm hơi”, “mưa xa khơi”.

- Cảnh sắc: Dữ dội, hoang sơ

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Sử dụng từ láy, biện pháp nghệ thuật nhân hố mục đích nhấn mạnh người lính luơn luơn phải đối đầu với mọi hiểm nguy đe doạ tính mạng mình mọi nơi, mọi lúc.

Tĩm lại: Núi rừng Tây Bắc hoang sơ, hiểm trở qua ngịi bút của Quang Dũng hiện lên thật sống động với đủ cả núi cao, vực sâu, thác dữ, cọp rừng,… Và nổi bật trên nền cảnh thiên nhiên khắc nghiệt ấy là đồn quân Tây Tiến.

b) Đồn quân Tây Tiến:

- Họ (người lính Tây Tiến): Hành quân nhiều ngày trong sương, trong đêm, trong mưa giữa núi

rừng Tây Bắc trùng trùng điệp điệp, đầy rẫy hiểm nguy, nên mệt mỏi, kiệt sức, hi sinh là điều khơng tránh khỏi.

“Anh bạn dãi dầu khơng bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

- Nhưng họ: Quyết khơng lùi bước trước mọi gian lao, vẫn vững tin tiến về phía trước qua hình

ảnh “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, người lính lặn lội trên đèo cao, dốc thẳm, súng tưởng như chạm

trời.

- Bên cạnh đĩ, họ cịn nhớ về tình quân dân thắm thiết:

“Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khĩi

Mai Châu mùa em thơm nếp xơi”

đã trở thành điểm tựa tinh thần trong tâm hồn họ, tiếp thêm sức mạnh cho họ trong cuộc chiến khốc liệt này.

Trang 9

9 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, bút pháp lãng mạn, âm hưởng bi tráng, ngơn ngữ giàu tính tạo hình đã khắc hoạ đậm nét hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc khắc nghiệt, gân guốc, hùng vĩ tráng

lệ và thơ mộng trữ tình Nổi bật trên nền cảnh ấy là hình ảnh người lính Tây Tiến với ý chí, nghị lực, bản lĩnh mạnh mẽ, cùng tâm hồn lạc quan, trẻ trung, yêu cuộc sống của họ.

- Nhân vật trung tâm: Là các cơ gái Thái duyên dáng, yêu kiều, kiêu sa, lộng lẫy trong những bộ xiêm

y dân tộc rực rỡ, với những điệu múa mang đậm bản sắc dân tộc.

- Tâm trạng người lính: Ngỡ ngàng, say mê, sung sướng trước những vẻ đẹp kiêu sa của những

bơng hoa rừng, bật lên những tiếng reo “kìa em”.

 Tĩm lại: 4 câu thơ ngập tràn ánh sáng, âm thanh, vũ điệu đã diễn tả tình quân dân thắm thiết, tâm hồn lạc quan, trẻ trung yêu đời, khao khát được yêu đương của người lính Mặt khác, ở đây chất thơ, chất hoạ, chất nhạc cịn chấp cánh cho tâm hồn người lính đến với vùng đất đẹp của nước bạn xa

xơi “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

b) 4 câu sau: Sơng nước Tây Bắc thơ mộng, trữ tình

- Thời gian được bao bọc bởi khơng gian đẫm sương, cảnh sắc vừa thực vừa ảo, mang vẻ đẹp hiền

hồ, thơ mộng, trữ tình Cảnh như cĩ hồn người “hồn lau nẻo bến bờ”

- Cặp câu hỏi tu từ: “Cĩ thấy hồn lau nẻo bến bờ

Cĩ nhớ dáng người trên độc mộc”

Câu trước gợi câu sau, cảnh gợi tình làm hiện lên dáng người mềm mại, uyển chuyển của các cơ gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc được ví như bơng hoa đang đong đưa trên dịng nước lũ chảy xiết Cảnh và người hài hồ tạo nên vẻ đẹp hư ảo, lãng mạn.

 Tĩm lại: Thơng qua bút pháp tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng cùng cách nĩi vừa tả thực, vừa tượng trưng, hình ảnh thơ hiện lên với đủ sắc màu, đường nét, thực ảo đan cài, gợi cảm giác nhớ nhung, bâng khuâng, xao xuyến, khĩ quên trong tâm hồn người lính Tây Tiến.

3 Khổ 3: Chân dung người lính Tây Tiến

- Ngoại hình: Khác thường Sống giữa chốn rừng thiêng nước độc, sốt rét hồnh hành, tĩc khơng

mọc nổi, da xanh như lá.

- Tinh thần: Mạnh mẽ

+ Cách nĩi: “đồn binh” khơng chỉ gợi lên lực lượng đơng đảo mà cịn thể hiện khí thế hào hùng

của cả đồn quân.

+ Dáng vẻ: “dữ oai hùm” dù đứng ở bất cứ gĩc độ nào soi vào thì người lính Tây Tiến vẫn giữ

được dáng vẻ oai như chúa sơn lâm.

- Tâm hồn: Hào hoa “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, mơ về người con gái Hà thành, đĩ cĩ thể

là người yêu, là bạn gái Những giấc mơ đẹp ấy đã trở thành động lực nâng đỡ bước chân người lính trong những đêm hành quân giữa rừng già lạnh buốt.

- Lí tưởng sống: Cao đẹp “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

+ Âm điệu câu thơ vang lên dứt khốt như lời thề, thể hiện quyết tâm cao độ của người lính Tây

Tiến “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

+ Với cách sử dụng một loạt từ Hán Việt như “biên cương”, “viễn xứ”, “áo bào”, “độc hành”

trong con mắt nhà thơ cái khổ cực đã thành cái oai hùng và cái chết là sự hi sinh cao cả Thực tế người lính Tây Tiến ngã xuống trên đường hành quân đơi khi khơng cĩ cả một manh chiếu bĩ thây Nhưng

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 10

10 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

Quang Dũng lại để cho thân xác các anh được khâm liệm trong những tấm áo bào đỏ thắm của các vị tướng ngày xưa mặc ra trận, khiến các chết trở nên thiêng liêng, chĩi lồ, cao đẹp.

+ Với cách nĩi giảm “về đất” đã thể hiện tình cảm yêu thương của đồng đội dành cho các anh Và

tiễn đưa các anh khơng chỉ cĩ đồng đội mà cịn cĩ tiếng gầm của dịng Sơng Mã, âm vang như một khúc độc hành bi tráng Bi thương nhưng khơng hề bi luỵ mà ngược lại hào hùng, thấm đẫm tinh thần

bi tráng.

 Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, cảm hứng lãng mạn, âm hưởng bị tráng cùng với biện pháp nghệ thuật đối là chính, Quang Dũng đã khắc đậm chân dung người lính Tây Tiến, những con người cĩ ngoại hình khác thường song cĩ tinh thần mạnh mẽ, cĩ tâm hồn hào hoa, cĩ lí tưởng sống cao đẹp Họ

cĩ tình yêu thương rạch rịi, cĩ lịng căm thù giặc sâu sắc; vì mùa xuân muơn đời của tổ quốc họ sẵn sàng hi sinh tuổi thanh xuân của mình.

4 Khổ 4: Những hồi niệm và lời thề quyết tử

- Người lính Tây Tiến – những con người cĩ lịng căm thù giặc sâu sắc – ra đi khơng hẹn ngày trở lại bởi đĩ khơng chỉ là cuộc chiến ác liệt mà cịn là thiên nhiên khốc liệt, với bao đèo cao, dốc thẳm, rừng hoang, sương muối.

- Câu thơ: “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy” như gợi nhớ về mùa xuân năm nào đồn quân Tây Tiến

được thành lập, gợi nhắc về tuổi xuân của đồn quân Tây Tiến và mùa xuân tương lai của đất nước.

- Khép lại bài thơ là lời thề quyết tâm “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuơi” Một khi lý tưởng cao đẹp

của người lính Tây Tiến chưa đạt được thì dù cĩ chết người lính Tây Tiến khơng rời cây súng, khơng rời chiến trường.

1 8 câu thơ đầu: Khung cảnh chia tay và tâm trạng con người

a) Đoạn 1 (4 câu đầu): Lời người ở lại – nhân dân Việt Bắc như hĩa thân vào vai một cơ gái dân tộc

- Người ở lại lên tiếng trước và chọn cách xưng hơ “mình – ta”, “ta – mình” như lời đối đáp trong

Trang 11

11 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

ca dao dân ca, để thể hiện tình cảm gần gũi, ân tình, tha thiết.

- Người ở lại gợi nhắc khoảng thời gian gắn bĩ “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” (tính từ

khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến 1954) đã từng trải qua biết bao ngọt bùi cay đắng, đồng cam cộng khổ: “Mình đây ta đĩ, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.

- Người ở lại gợi nhắc khoảng khơng gian gắn bĩ thấm đẫm tính cội nguồn “Nhìn cây nhớ núi,

nhìn sơng nhớ nguồn?”, thể hiện tình cảm bền chặt, thiêng liêng, cao đẹp.

- Song mặt khác, qua 2 câu hỏi tu từ “Mình về mình cĩ nhớ ta”, “Mình về mình cĩ nhớ khơng” trên,

người ở lại như bộc lộ một chút nghi ngờ khơng biết người ra đi, khi về đến phố phường, thành thị xa

xơi dưới kia liệu cĩ cịn nhớ, cĩ cịn “thiết tha mặn nồng” với người ở lại nữa khơng? Và câu hỏi cũng

chỉ là cái cớ để người ở lại khẳng định lịng mình, tình cảm của mình, tình cảm nhớ thương da diết của người ở lại với người ra đi.

b) Đoạn 2 (4 câu sau): Lời người ra đi – tập thể cán bộ kháng chiến như được hĩa thân vào vai anh bộ đội

Người ra đi khơng trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại mà đang trải lịng mình ra, lắng nghe

được “tiếng ai tha thiết bên cồn” Tiếng của ai mà sao tha thiết, diết da, như xốy vào trái tim người đi, níu kéo bước chân người đi, khiến người đi phải “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi” Để rồi im lặng giữa bộn bề cảm xúc trong giây phút chia tay, đong đầy nỗi nhớ “Cầm tay nhau biết nĩi gì hơm

nay…” Và hình ảnh hốn dụ “áo chàm” đã trở thành điểm nhớ thân thương trong tâm trí người đi.

Điều đĩ chứng tỏ tình cảm của người ra đi đối với người ở lại đậm đà, sâu sắc, thủy chung khơng kém Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ lục bát, kết cấu theo lối đối đáp giao duyên “mình - ta”, “ta - mình”; hình ảnh tượng trưng, hốn dụ; âm điệu mượt mà, sâu lắng đã thể hiện được tình cảm thủy chung, nghĩa tình của người ở lại đối với người ra đi và ngược lại của người ra đi đối với người ở lại.

2 82 câu cịn lại: Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hồi niệm

a) Đoạn 3 (12 câu tiếp theo): Lời người ở lại được thể hiện qua 6 cặp câu hỏi tu từ: Câu lục: câu hỏi

Câu bát: câu kể câu gợi

- Nhớ về thiên nhiên Việt Bắc: Khắc nghiệt “Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”, mây mù

như phủ kín đất trời, mưa ào ào như trút, nước lũ dâng cao Trong những ngày ấy, cán bộ vẫn kiên gan bám dân, cùng dân đương đầu chống chọi với mọi mưa giĩ để đảm bảo được an tồn tính mạng cho nhân dân.

- Nhớ về cuộc sống vật chất ở Việt Bắc: Vơ cùng thiếu thốn, cơ cực “miếng cơm chấm muối”, thậm chí khơng cĩ cả muối để mà chấm “Trám, măng” là những sản vật của núi rừng Việt Bắc thì trong

những ngày gian khổ đĩ được dùng thay cho cơm, sắn, ngơ, khoai Cuộc sống khổ cực của người dân

cịn được thể hiện qua hình ảnh “hắt hiu lau xám”, những mái nhà tranh đơn sơ nằm nép mình bên

sườn núi.

- Cuộc sống vật chất dẫu cơ cực, thiếu thốn là vậy nhưng cuộc sống tinh thần thì hồn tồn ngược

lại Đối với giặc thì căm thù sâu sắc “mối thù nặng vai” bởi tội ác chồng chất chúng gây ra cho dân ta

(dẫn chứng trong tác phẩm Tuyên ngơn Độc lập của Hồ Chí Minh: 5 tội ác chính trị, 4 tội ác kinh tế) Đối

với cách mạng thì “đậm dà lịng son”, thủy chung sâu sắc, trước sau như một.

- Nhớ về thời gian kháng chiến: “Nhớ khi kháng Nhật thuở cịn Việt Minh”, Pháp bán nước ta cho

Nhật, nhân dân ta chịu 2 tầng xiềng xích là thực dân Pháp và phát xít Nhật Vì vậy ta nổi dậy vừa đánh Pháp và Nhật để cứu nước.

- Nhớ về khơng gian kháng chiến: Mang đậm dấu ấn lịch sử “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây

đa”, cây đa Tân Trào là nơi làm lễ xuất quân của đội Việt Nam tuyên truyền giải phĩng quân, tiền thân

của Quân đội nhân dân Việt Nam; đình Hồng Thái là nơi họp Quốc dân Đại hội thành lập Ủy ban Dân

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 12

12 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

tộc giải phĩng và phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ lục bát cùng với các biện pháp nghệ thuật tiểu đối (2 vế đối trong một câu bát), đối câu (giữa các câu bát với nhau), trùng điệp (mình đi – mình về) được kết hợp một cách khéo léo đã tạo nên nhạc điệu cho cả đoạn thơ, khiến các kỉ niệm trở nên ngân nga, trầm bổng, khắc sâu trong lịng kẻ ở người đi.

b) Đoạn 4 (4 câu tiếp theo): Lời đáp của người ra đi

Lời đáp của người về xuơi, bộc lộ nỗi nhớ da diết của người ra đi đối với người Việt Bắc Mượn chiều dài của thời gian để khắc đậm chiều sâu của nỗi nhớ Khẳng định ta với mình đã hịa làm một, trái tim tình cảm của ta trước sau như một, khơng dễ gì thay đổi Và để tạo ấn tượng hơn, nhà thơ

mượn hình ảnh “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”  Thể hiện tình cảm dạt dào, bền

chặt như nước trong nguồn chảy ra.

c) Đoạn 5 (18 câu tiếp theo): Nhớ về thiên nhiên, núi rừng, về con người và cuộc sống nơi đây

- Thiên nhiên: Thơ mộng, trữ tình Với biện pháp nghệ thuật đối, liệt kê, thiên nhiên hiện lên đủ

sắc màu, đường nét, cĩ “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, cĩ bản làng bồng bềnh trong

sương khĩi, cĩ rừng nứa bờ tre Ngịi Thia, Sơng Đáy, Suối Lê vơi đầy trong nỗi nhớ thương.

- Con người:

+ Nhớ về những con người cần cù, lam lũ, chịu thương, chịu khĩ đã từng đồng cam cộng khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi với cách mạng

“Mình đây ta đĩ, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”.

Ấn tượng là hình ảnh người mẹ dưới cái nắng chang chang, nắng như đổ lửa, nắng đến cháy lưng vẫn địu con thơ lên rẫy, bẻ từng bắp ngơ nuơi cán bộ

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngơ”.

+ Nhớ về hình ảnh của chính mình – người cán bộ dạy chữ cho đồng bào dân tộc “Nhớ sao lớp học i

tờ”.

+ Nhớ về những đêm liên hoan văn nghệ, cùng cất vang lời ca tiếng hát lạc quan yêu đời, dù cuộc đời

cịn nhiều gian nan “Gian nan đời vẫn ca vang núi đồi”.

- Nhớ về âm thanh bình dị của cuộc sống nơi đây: âm thanh tiếng mõ rừng chiều, tiếng mõ gọi trâu bị

về bản mỗi khi chiều buơng Tiếng chày giã gạo rộn rã vui tươi, thể hiện cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ lục bát, điệp từ “nhớ” được đặt ở đầu mỗi câu, điệp khúc “mình – ta”,

giọng thơ mượt mà êm ái như đưa người đọc quay trở về với những kỉ niệm sâu lắng của một thời kháng chiến gian nan, anh dũng, thắm thiết tình quân dân Chính vì vậy mà Việt Bắc trở thành người

yêu, người thương trong nỗi nhớ người ra đi “Nhớ gì như nhớ người yêu”.

d) Đoạn 6 (10 câu tiếp theo): Nhớ về bức tranh tứ bình sinh động

- Mùa đơng: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Với hình ảnh hoa chuối đỏ tươi nổi bật giữa gam màu xanh bạt ngàn của núi rừng như xua đi cái

lạnh lẽo, băng giá nơi đây Và càng đẹp hơn nữa là hình ảnh con người trên đèo cao “nắng ánh dao gài

thắt lưng” với dáng vẻ mạnh mẽ, khoẻ khoắn của người đi rừng.

Trang 13

13 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

- Mùa xuân: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”, cả cánh rừng ngời lên sắc trắng tinh khiết của hoa

mơ, gợi sự thanh thản, nhẹ nhàng, ấm áp cho mùa xuân Và nổi bật trên nền cảnh ấy là con người lao

động đang cần cù, tỉ mỉ, miệt mài, chỉn chu, khéo léo với cơng việc trong từng động tác, “chuốt từng sợi

giang”.

- Mùa hè: Rực lên sắc vàng của rừng phách “Ve kêu rừng phách đổ vàng” Câu thơ tạo cảm giác liên tưởng tiếng ve như nhuộm vàng cả rừng phách, được thể hiện qua động từ “đổ” Thiên nhiên đẹp rực rỡ và càng sống động hơn khi ở đĩ cịn thấp thống bĩng dáng cơ sơn nữ “hái măng một mình”.

- Mùa hè qua đi, mùa thu lại đến:

“Rừng thu trăng rọi hịa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Đây là năm đầu tiên Miền Bắc được độc lập, ánh trăng hịa bình soi rợi khắp muơn nơi và vang vọng núi rừng là tiếng hát ân tình, thủy chung của 2 con người – kẻ ở, người đi – cùng thương, cùng nhớ, cùng đồng vọng về nhau.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ lục bát, điệp khúc “mình – ta”, lối kết cấu tương đồng, câu lục nhớ cảnh

câu bát nhớ người, cùng nhịp điệu thơ mượt mà, sâu lắng đã mở ra trước mắt người đọc khung cảnh

đa dạng của Việt Bắc qua 4 mùa đơng, xuân, hè, thu với đủ sắc màu, đường nét, âm thanh khiến cảnh vừa hùng vĩ, tráng lệ lại vừa thơ mộng, trữ tình Và nổi bật trên nền cảnh ấy là hình ảnh con người lao động khỏe mạnh, cần cù, chăm chỉ, tài hoa… đã thể hiện tình cảm sâu nặng của nhà thơ đối với cảnh vật và con người Việt Bắc.

e) Đoạn 7 (10 câu tiếp theo): Ca ngợi sức mạnh thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc và con người

- Câu thơ: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng” nhớ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp biết

bao gian nan, cơ cực, vất vả khi giặc Tây vây ráp.

- “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây” đại từ “ta” thể hiện sự hợp lực giữa thiên nhiên và con người

đã tạo nên sức mạnh vơ song, sức mạnh Việt Nam đánh thắng kẻ thù.

- Cụ thể: Nhà thơ tập trung ca ngợi sức mạnh của thiên nhiên:

+ Sức mạnh của núi: qua phép nhân hĩa, ta như thấy hiện lên hình ảnh núi sát núi giăng lên thành lũy sắt dày, khiến quân thù khơng thể nào phá vỡ mà tiến vào được.

+ Sức mạnh của rừng: nghệ thuật tiểu đối, đối với ta rừng che bộ đội, đối với giặc rừng bao vây 4 phía.

+ Sức mạnh của sương mù: sương mù che khuất tầm nhìn của giặc, khiến giặc khơng thể định hướng được quân ta đang ở đâu.

=> Thiên nhiên và con người đồng tâm hiệp lực với nhau như vậy thì chiến thắng là lẽ tất yếu.

- Câu hỏi tu từ “Ai về ai cĩ nhớ khơng?” chỉ là cái cớ để nhà thơ bày tỏ sự vui mừng, phấn khởi trước

những thắng lợi vang dội được bắt đầu từ Việt Bắc thơng qua một loạt địa danh được liệt kê ra như

“Phủ Thơng”, “đèo Giàng”, “sơng Lơ”, “phố Ràng”, “Cao – Lạng”, “Nhị Hà”.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ lục bát, nghệ thuật nhân hĩa, liệt kê, điệp từ, câu hỏi tu từ, tiểu đối; nhịp điệu thơ vừa mượt mà, sâu lắng, vừa hồ hởi, phấn khởi đã làm sống dậy những ngày đầu oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp ở chiến khu Việt Bắc.

f) Đoạn 8 (12 câu tiếp theo): Tập trung ca ngợi sức mạnh của con người – sức mạnh của tồn quân, tồn dân

- Sức mạnh của tinh thần, khí thế: Biện pháp điệp ngữ “rầm rập, điệp điệp, trùng trùng”, hình ảnh so sánh “như là đất rung”, cùng cách nĩi ngoa dụ “bước chân nát đá” đã nhấn mạnh được lực lượng đơng

đảo, hùng hậu của tồn dân, tồn quân Đêm đêm từng đồn quân hành quân ra mặt trận, từng đồn dân cơng với đủ mọi thành phần lứa tuổi, già trẻ, gái trai cĩ tinh thần yêu nước đều xung phong tải hàng ra chiến trường Cả nước cùng xuống đường ra trận với hào khí ngất trời, khiến đất cũng phải rung, đá cũng phải nát.

- Sức mạnh của tâm hồn: Ngay giữa chiến trường khốc liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 14

14 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

mong manh, nhưng tâm hồn họ vẫn ánh lên những khoảng khắc thơ mộng để cảm nhận vẻ đẹp của ánh sao treo nơi đầu súng, thiên nhiên đồng hành cùng họ ra chiến trường.

- Sức mạnh của niềm tin: “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” thực tế đèn pha xe ơ tơ bật sáng xé

toang màn đêm của núi rừng dày đặc, thế nhưng trong cái nhìn lãng mạn, lạc quan của tác giả thì lại như ánh sáng của bình minh, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng đang rực sáng lên.

Kết quả: Ta đã chiến thắng, những chiến thắng trải theo chiều dài của đất nước Thơng qua nghệ thuật

liệt kê, một loạt địa danh được kể ra “Hịa Bình, Tây Bắc, Điện Biên”, “Đồng Tháp, An Khê”, “Việt

Bắc, đèo De, núi Hồng”.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ lục bát, phép liệt kê, so sánh, điệp từ, từ láy, cách nĩi ngoa dụ, hình ảnh tượng trưng, cùng giọng thơ mang âm hưởng sử thi đã tái hiện khung cảnh Việt Bắc trong những ngày đầu kháng chiến với khí thế hào hùng của tồn quân và tồn dân đã giáng cho thực dân Pháp những địn chí mạng.

g) Đoạn 9 và 10 (16 câu cịn lại): Nhớ về cảnh Việt Bắc, người Việt Bắc và những kỉ niệm trong kháng chiến

- Câu thơ: “Ai về ai cĩ nhớ khơng?” là câu hỏi tu từ tác giả hỏi ai hay tự hỏi chính mình để bọc lộ cảm

xúc đối với Việt Bắc.

- Việt Bắc là chiến khu vững chắc, là nơi đĩng quân của các cơ quan đầu não Trung ương, chính phủ Cuộc họp của Trung ương, chính phủ diễn ra trong hang núi, chan hịa ánh nắng, rực rỡ màu cờ đỏ

sao vàng để họp bàn về việc vừa đánh giặc “Điều quân chiến dịch Thu – đơng”, vừa đảm bảo cuộc sống cho nhân dân Một loạt các sự kiện được nêu ra thơng qua phép liệt kê:“Nơng thơn phát động, giao

thơng mở đường” phát động phong trào giảm nộp tơ thuế cho địa chủ và mở thêm đường xá, cầu cống

để người dân tiện đi lại giao lưu sinh hoạt “Giữ đê, phịng hạn, thu lương” đắp đê cho vững chắc, dự trữ lương thực để đề phịng hạn hán, lũ lụt cịn cĩ mà cứu trợ cho dân “Gửi dao miền ngược, thêm

trường các khu…” gửi các dụng cụ sản xuất như dao, cuốc, xẻng,… lên miền núi để nhân dân trên đấy

cĩ cái mà lao động và mở thêm các trường học ở chiến khu để dạy chữ cho đồng bào dân tộc Cĩ làm tốt những cơng việc ấy thì mới thực hiện được trường kì kháng chiến.

- Ngồi ra, Việt Bắc cịn là nơi đặt niềm tin và hi vọng của con người Việt Nam khắp mọi miền tổ quốc.

Đặc biệt là những nơi “u ám quân thù”, “đau đớn giống nịi” – những nơi đang nằm trong khu vực địch tạm chiến, bị giặc áp bức, giày xéo,… – thì trơng về Việt Bắc bởi đấy cĩ Đảng, cĩ Bác “Cụ Hồ sáng

soi”, cĩ những người dân anh hùng, gan dạ, quyết liệt chống kẻ thù, sắc son với cách mạng và đấy cũng

là “Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hịa”.

- Với một Việt Bắc kháng chiến anh hùng, thủy chung son sắc như thế, người ra đi làm sao cĩ thể quên

được, cho nên khép lại đoạn thơ, tác giả một lần nữa láy lại điệp khúc “mình – ta”, “ta – mình” để

khẳng định tình cảm trước sau như một, dạt dào, bền chặt.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ lục bát, nghệ thuật liệt kê, câu hỏi tu từ, hình ảnh ẩn dụ tượng trưng, cùng giọng thơ mượt mà, sâu lắng, trang trọng đã thể hiện được niềm tin của nhà thơ đối với Trung ương, chính phủ Việt Bắc và đặc biệt đối với Bác Hồ Niềm tin của tác giả cũng là niềm tin của cả dân tộc Việt Nam.

B Tổng kết:

Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến Thể thơ lục bát, kiểu kết cấu đối đáp, ngơn ngữ đậm sắc thái dân gian – tất cả đã gĩp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu: hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thủy chung của cách mạng, của con người Việt Nam.

ĐẤT NƯỚC

Trang 15

15 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

Nguyễn Khoa Điềm

I/ Tiểu dẫn:

1 Tác giả:

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong khĩi lửa của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ ơng hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàng và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam.

2 Tác phẩm:

Trường ca “Mặt đường khát vọng” được tác giả hồn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, viết về

sự thức tỉnh của tuổi trẻ đơ thị vùng tạm chiến miền Nam về non sơng đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hịa nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược Đoạn trích Đất Nước thuộc phần đầu chương V của trường ca, là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại, tiêu biểu là đoạn thơ…

II/ Đọc – hiểu:

A Nội dung:

Xuyên suốt đoạn trích, cụm từ “Đất Nước” được viết hoa một cách trang trọng thể hiện sự ngưỡng mộ

tự hào về đất nước của nhà thơ

1 Phần 1: Nêu các cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành và phát triển của đất nước, từ đấy khơi dậy ý thức trách nhiệm với Đất Nước:

a) Đoạn 1 (từ đầu đến Đất Nước cĩ từ ngày đĩ): Bề dày văn hĩa

* Đất nước cĩ từ đâu???

- Đất Nước cĩ trong truyện cổ dân gian, được bắt đầu bằng mơ típ “ngày xửa ngày xưa” là thế giới

mơ ước của tuổi thơ và cũng là nhận thức ban đầu của con người về Đất Nước

- Đất Nước cĩ từ những phong tục:

+ Tục ăn trầu: Người xưa cĩ quan niệm “miếng trầu là đầu câu chuyện”, khách đến chơi nhà bao

giờ cũng cĩ đĩa trầu cau để mời khách Trong lễ cưới hỏi của người Việt từ xưa đến nay dứt khốt

khơng thể thiếu khay trầu cau Mặt khác, miếng trầu, quả cau gợi nhắc câu chuyện “sự tích trầu cau”

thấm đẫm nghĩa tình anh em, chồng vợ.

+ Tục bới tĩc sau đầu: Một trong những thĩi quen sinh hoạt của người phụ nữ Việt Nam trải qua

1000 năm Bắc thuộc mà vẫn khơng bị đồng hĩa.

- Đất Nước cĩ từ ý thức bảo vệ tổ quốc, truyền thống đánh giặc ngoại xâm: “Đất Nước lớn lên khi

dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”, gợi nhắc truyền thuyết Thánh Giĩng đánh giặc Ân Sức mạnh

Việt Nam là sức mạnh Phù Đổng Thiên Vương, sức mạnh đấy đã đánh tan bao lũ giặc ngoại xâm qua thực tế 4000 năm lịch sử.

- Đất Nước cĩ từ lối sống sâu nặng nghĩa tình trong tình cảm vợ chồng: “Cha mẹ thương nhau

bằng gừng cay muối mặn” gợi nhắc câu ca dao “Tay nâng chén muối đĩa gừng / Gừng cay muối mặn xin đừng cĩ quên”.

- Đất Nước cĩ từ cuộc sống lao động cần cù, chịu thương chịu khĩ, vất vả gian truân của người

nơng dân, họ phải “một nắng hai sương” bán mặt cho đất bán lưng cho trời để làm ra hạt thĩc Từ hạt

thĩc thành hạt gạo phải trải qua 4 cơng đoạn: xay, giã, giần, sàng Gắn liền với cuộc sống lao động, nơi trú ẩn bình yên cho cuộc đời người dân là mái nhà che nắng che mưa, được nhân dân đặt cho những

cái tên nơm na, dân dã “cái kèo, cái cột”.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, sử dụng chất liệu văn hĩa dân gian, ngơn từ hình ảnh bình dị, dân

dã giàu sức gợi, giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt, chất trữ tình chính luận hịa quyện Đất Nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm hiện lên thật gần gũi, thân thương trong những câu chuyện cổ tích từ tục ăn trầu, bới tĩc sau đầu đến lối sống tình nghĩa vợ chồng, cuộc sống lao động gian nan vất vả Đất Nước thật bình dị và sâu lắng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam.

b) Đoạn 2 (… đến Yêu nhau và sinh con đẻ cái): Nhấn mạnh bề rộng khơng gian, chiều dài lịch sử: Đất

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 16

16 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

Nước là gì???

- Đất Nước được hiểu theo nghĩa hẹp:

+ Đất Nước là khơng gian của cuộc sống con người:

▪ Khơng gian sinh hoạt rất đỗi đời thường: “Đất là nơi anh đến trường / Nước là nơi em tắm”, hai thành

tố Đất và Nước được tách ra độc lập nhưng cĩ ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đời thường.

▪ Bên cạnh đấy, Đất Nước cịn là khơng gian của tình yêu đơi lứa Hai thành tố Đất và Nước đứng liền

nhau như anh bên em “Đất Nước là nơi ta hị hẹn” và ấn tượng hơn là nơi em đánh rơi chiếc khăn

trong nỗi nhớ thầm Hình ảnh chiếc khăn được nhớ đến trong câu ca dao:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai”.

▪ Đất Nước là khơng gian sinh tồn:

“Lạc Long Quân và Âu Cơ / Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

“Yêu nhau và sinh con đẻ cái”

 Để duy trì nịi giống qua bao thế hệ.

+ Đất Nước là khơng gian của cuộc sống tự nhiên: “Đất là nơi con chim phượng hồng bay về hịn núi

bạc / Nước là nơi con cá ngư ơng mĩng nước biển khơi” đã gợi nhắc câu hị Bình - Trị - Thiên Con

chim phượng hồng, con cá ngư ơng là 2 con vật tượng trưng cho Đất và Nước Nếu khơng cĩ Đất thì làm sao cĩ núi để chim bay về, nếu khơng cĩ Nước thì làm sao cĩ biển khơi cho cá vẫy vùng.

- Đất Nước được hiểu theo nghĩa rộng: Hãy nhìn sâu vào chiều dài lịch sử “Thời gian đằng đẵng”, Đất Nước là nơi dân mình đồn tụ, quây quần nên cộng đồng “Đất là nơi Chim về / Nước là nơi Rồng ở”, Lạc Long Quân và Âu Cơ gợi truyền thuyết “cha rồng mẹ tiên” thấm đẫm tính cội nguồn, thể hiện

niềm tự hào dân tộc Mỗi người dân đất Việt đều mang trong mình dịng máu Lạc Hồng, 54 dân tộc anh em cĩ cùng chung một mái nhà Việt Nam.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, sử dụng chất liệu văn hĩa dân gian, ngơn từ hình ảnh bình dị, dân

dã giàu sức gợi, giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt, chất trữ tình chính luận hịa quyện Đất Nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm hiện lên thật gần gũi, thân thương trong hơi thở của cuộc sống thường ngày.

c) Đoạn cịn lại (… đến Làm nên Đất Nước muơn đời):Ý thức trách nhiệm đối với Đất Nước

- Ý thức:

+ Phải biết gánh vác phần người đi trước: Thế hệ này làm chưa xong thế hệ sau phải tiếp nối.

+ Phải biết nhớ về tổ tiên nguồn cội: “Hàng năm ăn đâu làm đâu / Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ

Tổ” Ca dao cĩ câu “Dù ai đi ngược về xuơi / Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”.

+ Phải cĩ tinh thần đồn kết: Đặt Đất Nước trong mối quan hệ cá nhân của tình yêu đơi lứa, “khi 2

đứa cầm tay nhau” thì Đất Nước mới chỉ ở mức độ “hài hịa nồng thắm” Nhưng nếu đặt Đất Nước

trong vịng tay lớn của cộng đồng “khi chúng ta cầm tay mọi người” thì Đất Nước sẽ vẹn trịn to lớn biết bao Hình ảnh ẩn dụ “vẹn trịn to lớn” như muốn nhấn mạnh tinh thần đồn kết đã tạo nên sức

mạnh Việt Nam, sức mạnh đấy khơng chỉ đánh thắng kẻ thù mà cịn dựng xây Đất Nước ngày càng đàng hồng hơn, tươi đẹp hơn Cĩ đạt được như vậy thì mai này con cái chúng ta mới mang được Đất Nước đi xa, đến những tháng ngày mơ mộng sánh ngang với các cường quốc năm châu trên thế giới.

- Trách nhiệm: “Em ơi Đất Nước là máu xương của mình” lời thơ là lời nhắn nhủ của nhân vật trữ

tình với nhân vật em Đất Nước khơng bên lề cuộc sống mà ngay trong cơ thể chúng ta, là một

phần của máu xương “Trong anh và em hơm nay đều cĩ một phần Đất Nước” Do vậy phải biết

“gắn bĩ và san sẻ” Điệp từ “phải biết” vang lên như một mệnh lệnh của trái tim, trở thành lời

thúc giục tới thế hệ trẻ - phải biết hi sinh cho Đất Nước hơm nay thì mới cĩ sự trường tồn của Đất

Trang 17

17 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

Nước đến muơn đời sau “Làm nên Đất Nước muơn đời”.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, hình ảnh thơ đậm chất liệu văn hĩa dân gian, câu thơ biến đổi linh hoạt, chất trữ tình chính luận hịa quyện, tất cả như muốn nhắn nhủ với mọi người rằng đã là cơng dân Việt nam - sống thì phải cĩ ý thức, trách nhiệm với Đất Nước.

2 Phần 2: Ai đã làm ra Đất Nước?  Nhân dân:

a) Về mặt địa lý:

* Mỗi danh lam thắng cảnh đều gắn liền với một huyền thoại dân gian, khắc đậm vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân cùng bao đức tính đáng quý.

- Lịng thủy chung: “Núi vọng phu” hình ảnh người đàn bà chờ chồng đến hĩa đá.

- Tình nghĩa vợ chồng keo sơn bền chặt: Luơn luơn cận kề bên nhau “Hịn trống mái”.

- Tinh thần yêu nước, sức mạnh quật khởi của dân tộc trong đánh giặc ngoại xâm: “Gĩt ngựa

Thánh Giĩng đi qua cịn trăm ao đầm để lại”.

- Ý thức hướng về tổ tơng nguồn cội: “Chín mươi chín con voi gĩp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”,

theo truyền thuyết những núi đồi bao quanh núi Hi Cương - nơi cĩ đền thờ các vua Hùng chính là

99 con voi quây quần phục đất Tổ.

- Ý thức của tinh thần hiếu học, ý chí vượt khĩ vươn lên: Người Việt Nam cĩ truyền thống hiếu học, từ xưa đến đã cĩ biết bao tấm gương học trị nghèo vượt khĩ vươn lên được sử sách ghi danh:

Mạc Đĩnh Chi (thuở nhỏ nhà rất nghèo, khơng được đến lớp học, phải đứng sau cánh cửa để nghe

lén thầy giảng bài Tối bắt đom đĩm bỏ vào vỏ trứng thay cho đèn để học bài), Trạng Hiền (vị trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam đỗ trạng nguyên năm 12 tuổi, nhà rất nghèo).

- Ý thức xả thân vì cộng đồng dân tộc, mở mang bờ cõi: “Ơng Đốc, Ơng Trang, Bà Đen, Bà Điểm”,

tên của những người cĩ cơng với dân với nước đã thành sơn danh, địa danh ở Nam Bộ.

- Và ngay cả những con vật gần gũi trong đời sống như con cĩc, con gà cũng được nhân dân lấy tên

để đặt tên cho những danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Hạ Long “Con cĩc, con gà” Và trong trí

tưởng tượng của nhân dân ẩn mình trong những dịng sơng của Đất Nước là hình ảnh của những con rồng đã gĩp phần làm cho sắc nước trở nên xanh thẳm hơn Từ đấy, nhà thơ nâng lên thành triết lí sâu sắc đậm tính chính luận:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gị bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ơng cha

Ơi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hĩa núi sơng ta ”

Nhân dân đã tạo dựng nên Đất Nước, đã khắc ghi dấu ấn cuộc đời mình lên những ngọn núi, dịng sơng, tất đất những lối sống quen thuộc của ơng cha Do vậy, hồn sơng núi cũng là hồn dân tộc mà hơn 4000 năm qua, đi đâu ta cũng thấy những cuộc đời đã hĩa thành sơng núi.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, được viết theo lối quy nạp, sử dụng phép liệt kê, điệp từ Hình ảnh thơ bình dị, dân dã, gần gũi, đậm chất liệu văn hĩa dân gian, thấm đẫm tính trữ tình chính luận Ngợi ca vẻ đẹp của non sơng đất nước, của tâm hồn con người Việt Nam cùng bao đức tính đáng quý.

b) Về mặt lịch sử:

b1) Quá trình giữ nước:

- Đoạn thơ được mở đầu bằng lời tâm sự nhắn nhủ của nhà thơ với nhân vật trữ tình “Em ơi

em” hãy nhìn xa vào quá khứ, vào 4000 năm đã thấy rõ “Năm tháng nào cũng người người lớp lớp / Con gái con trai bằng tuổi chúng ta”

- Trong cuộc sống đời thường: Họ cần cù làm lụng

- Nhưng khi cĩ giặc: Bất phân già trẻ, gái trai, người người đồng lịng đứng lên đánh giặc “Khi

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 18

18 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

cĩ giặc người con trai ra trận”, thậm chí “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Trong số họ, nhiều

người đã trở thành anh hùng:

+ Những người anh hùng hữu danh: Bà Trưng, Bà Triệu cả anh và em đều nhớ.

+ Song cái chính, nhà thơ muốn khắc đậm những anh hùng vơ danh “Khơng ai nhớ mặt đặt tên”

nhưng họ cĩ chung một phẩm chất cao đẹp: Sống giản dị, chết bình tâm, chiến đấu hi sinh vì một

lẽ thiêng liêng cao cả là bảo vệ Đất Nước.

b2) Quá trình dựng nước:

- Đại từ “họ” được lặp lại và đứng đầu mỗi câu thơ cùng phép liệt kê đã làm nổi bật vai trị của

nhân dân trước những thành quả lao động mà họ đã làm được về mặt tinh thần cũng như vật chất.

- Họ tạo ra của cải vật chất: Hạt lúa, ngọn lửa để duy trì sự sống của cộng đồng, đem lại áo ấm cơm no cho mọi người.

- Họ tạo ra của cải tinh thần: Họ giữ gìn phong tục tập quán (tục cưới hỏi), giọng nĩi cha ơng,

họ gánh theo tên xã tên làng sau mỗi chuyến di dân để bảo tồn bản sắc dân tộc.

- Họ biết hi sinh cho thế hệ sau: “đắp đập be bờ để người sau trồng cây hái trái”, do vậy chúng

ta ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây.

c) Về mặt văn hĩa:

- Một lần nữa để khẳng định tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”, nhà thơ trở về với cội nguồn

văn hĩa dân gian – nơi lưu giữ đời sống tinh thần, tình cảm của nhân dân qua bao thế hệ Từ đĩ

làm bật lên tư tưởng cốt lõi của cả bài thơ “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân / Đất Nước của

Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” và nhà thơ đã chọn từ đấy 3 nét đẹp tiêu biểu cho tâm

hồn con người Việt Nam được phản ánh trong ca dao:

+ Say đắm, thiết tha trong tình yêu: “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nơi”- lấy ý từ câu ca dao

“Yêu em từ thuở trong nơi / Em nằm em khĩc, anh ngồi anh ru”.

+ Lối sống biết quý trọng tình nghĩa: “Biết quý cơng cầm vàng những ngày lặn lội” được lấy ý từ câu ca dao “Cầm vàng mà lội qua sơng / Vàng rơi khơng tiếc, tiếc cơng cầm vàng”.

+ Quyết liệt trong việc chống kẻ thù: “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy”, lấy ý từ câu ca dao

“Thù này ắt hẳn cịn lâu / Trồng tre thành gậy, gặp đâu đánh què”.

- Khép lại đoạn thơ là tiếng hát của dịng sơng hồ trong tiếng hát người chèo đị khi kéo thuyền vượt thác, thể hiện niềm lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống trên con đường đi tới tương lai.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do các câu thơ biến đổi linh hoạt, sử dụng chất liệu văn hĩa dân gian, ngơn từ hình ảnh thơ bình dị, dân dã, giàu sức gợi, chất chính luận trữ tình hồ quyện đã khắc hoạ đậm nét vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân, vai trị của nhân dân trong lịch sử, trong sáng tạo văn hố dân gian Từ đấy, khẳng định tư tưởng Đất Nước là đất nước của nhân dân, do nhân dân

đã làm ra Đất Nước.

B Tổng kết:

- Đoạn trích thể hiện cảm nghĩ mới mẻ của tác giả về Đất Nước qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hố.

- Đĩng gĩp riêng của đoạn trích là ở sự nhấn mạnh tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” bằng

hình thức biểu đạt giàu suy tư, qua giọng thơ trữ tình chính luận sâu lắng thiết tha.

- Các chất liệu của văn hố dân gian được sử dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo, đem lại sự hấp dẫn cho đoạn trích.

Sóng

Trang 19

19 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

2.Tác phẩm:

Sĩng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh Bài thơ in trong tập “Hoa dọc chiến hào”.

- Hành trình của sĩng: Từ sơng ra bể, bởi “sơng khơng hiểu nổi mình” nên “sĩng tìm ra tận bể”.

Hay nĩi một cách khác, mỗi con sĩng đều mang trong mình một khát vọng lớn nên khi gặp sự cố, sơng khơng hiểu được nĩ thì sĩng sẽ từ bỏ sơng để đến với bể Một phản ứng quyết liệt, dám từ bỏ một khơng gian chật hẹp là sơng để đến với một khơng gian rộng lớn hơn là bể.

Tĩm lại: 4 câu thơ mở đầu khơng cĩ một câu chữ nào nĩi đến tình yêu nhưng khi đọc khổ thơ thì bao trùm tất cả là cảm xúc yêu đương, cĩ cái gì đĩ xơn xao, cuồng nhiệt mà cũng rất đắm sâu, lắng đọng như dữ dội, ồn ào để rồi dịu êm, lặng lẽ Tình yêu là vậy đấy, tâm trạng của người con gái đang yêu cũng là vậy đấy, thất thường, khĩ đốn Và em cũng như sĩng nếu gặp phải tình yêu vị kỉ, chật hẹp, em cũng sẵn sàng từ bỏ nĩ để đến với một tình yêu khác bao dung, cao đẹp, lớn lao hơn Ở đây, Xuân Quỳnh đã đưa ra một quan điểm mới của tình yêu, người phụ nữ giữ vai trị chủ động, khác nào

- Từ sĩng, nhà thơ liên tưởng đến tình yêu Tình yêu trở thành nỗi khát vọng bồi hồi trong ngực trẻ Thực tế, tình yêu khơng phân biệt tuổi tác nhưng tình yêu thường gắn liền với tuổi trẻ, với những đam mê, khát vọng nồng nhiệt

“Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”.

Xuân Diệu từng nĩi: “Làm sao sống được mà khơng yêu, khơng nhớ, khơng thương một kẻ nào”, và Xuân Diệu cũng nĩi: “Hãy để trẻ con nĩi cái ngon của kẹo – Hãy để tuổi trẻ nĩi hộ tình yêu” Do vậy,

tình yêu trở thành khát vọng đam mê, cháy bỏng đối với tuổi trẻ và đĩ lại là tiếng nĩi của người phụ

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 20

20 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

nữ thì thật đáng trân trọng - một nét mới trong thơ của Xuân Quỳnh.

3 Khổ 3 và 4: Đi tìm điểm khởi đầu của sĩng và tình yêu

Đứng trước muơn trùng sĩng bể mênh mơng, tác giả nghĩ về tình yêu, nghĩ về biển lớn và muốn truy

tìm nơi khởi đầu của sĩng “Từ nơi nào sĩng lên?”, để từ đĩ tác giả tìm nơi khởi đầu của tình yêu.

- Sĩng: “Sĩng bắt đầu từ giĩ

Giĩ bắt đầu từ đâu?”

+ Xét ở gĩc nhìn khoa học: Sĩng, giĩ là hiện tượng của thiên nhiên nên vẫn cĩ lời giải đáp.

+ Xét ở gĩc nhìn tình yêu: Sĩng, giĩ trở nên bí ẩn, bởi cĩ những ngọn giĩ làm lan dậy sĩng tình như bài

ca dao “Giĩ sao giĩ mát sau lưng

Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này”

Vậy giĩ bắt đầu từ đâu?

- Tình yêu: Thuộc phạm trù tình cảm, những tình cảm được rung lên từ trái tim, chiều sâu của tâm hồn thì làm sao ta cĩ thể biết được Do vậy, tình yêu trở thành ẩn số diệu kì khiến Xuân Quỳnh phải thốt lên “Em cũng khơng biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”.

Đại từ “ta” hàm ý sự hịa hợp giữa 2 trái tim, tâm hồn Và tình yêu bao giờ cũng đi liền với nỗi nhớ.

4 Khổ 5: Nỗi nhớ của sĩng và em

“Con sĩng dưới lịng sâu

Con sĩng trên mặt nước

Ơi con sĩng nhớ bờ

Ngày đêm khơng ngủ được”

- Sĩng nhớ bờ trong cõi thực: “dưới lịng sâu”, “trên mặt nước”, “ngày – đêm”, các biện pháp nghệ

thuật điệp ngữ, điệp cấu trúc, đối lập, ẩn dụ, nhân hĩa đã diễn tả nỗi nhớ da diết của sĩng với bờ.

Từ nỗi nhớ của sĩng, Xuân Quỳnh chính thức cất lên tiếng nĩi nhớ nhung của trái tim em:

5 Khổ 6: Lịng chung thủy (Khổ thơ khơng cĩ hình tượng sĩng, chỉ cĩ anh – em và tình yêu)

Tình yêu luơn phải đối đầu với bao thử thách Ở đây, tình yêu đang đứng trước thử thách:

- Xa cách: Các biện pháp nghệ thuật điệp ngữ, điệp cấu trúc, tương phản, vận dụng thành ngữ “ngược

Bắc - xuơi Nam” thành “xuơi Bắc - ngược Nam” để nhấn mạnh dẫu cuộc đời cĩ nhiều cách trở, em cĩ

lúc phải xuơi Bắc ngược Nam và dù ở nơi nào thì trái tim vẫn hướng được về phương cĩ anh.

- Khẳng định tình yêu chung thủy:

“Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh - một phương”

Yêu và giữ trọn lịng chung thủy với người mình yêu là một nét đẹp tuyệt vời trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh Và đĩ cũng là phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

6 Khổ 7: Ý chí, nghị lực, bản lĩnh và niềm tin

- Sĩng: Theo quy luật tự nhiên ở ngồi đại dương xa xơi, cách trở, biển cĩ lúc dữ dội, dịu êm, cĩ lúc ồn

ào, lặng lẽ nhưng sĩng vẫn vượt qua được để đến với bờ, nhờ cĩ ý chí, nghị lực, bản lĩnh, niềm tin mãnh liệt vào bờ.

- Em: Cũng giống như sĩng, cĩ niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, niềm tin ấy giúp em cĩ đủ ý chí, nghị lực, bản lĩnh vượt qua trắc trở, gian nan để đến với anh – bến bờ hạnh phúc của tình em.

7 Khổ 8: Những suy tư trăn trở trong cuộc đời

Trang 21

21 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

- Sau những cảm xúc nồng nàn, mãnh liệt của tình yêu, tác giả lại cĩ những suy tư, trăn trở trước cuộc đời khi đặt mình trong các mối quan hệ:

+ Với thời gian: “Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua”

Cặp quan hệ từ “tuy – vẫn” khẳng định cuộc đời tưởng đã rất dài vậy mà dịng chảy thời gian vẫn vơ

tình trơi qua được.

+ Với khơng gian: “Như biển kia dẫu rộng

Mây vẫn bay về xa”

Cặp quan hệ từ “dẫu – vẫn” khẳng định biển dẫu rộng lớn nhưng khơng gian đất trời cịn rộng hơn

biển nên mây vẫn bay về xa.

Khổ 9: Khát vọng tình yêu

- Xuân Quỳnh nhận thức được sự hữu hạn của đời người đối lập với sự trường cửu của tự nhiên Trong khi khát vọng tình yêu của Xuân Quỳnh lại muốn vượt qua giới hạn đĩ để trường tồn mãi mãi.

- Xuân Quỳnh ước muốn được hĩa thân thành trăm con sĩng nhỏ để vĩnh viễn hĩa tình yêu của mình,

để nĩ sống mãi với thời gian “ngàn năm cịn vỗ” Ở khổ thơ này, sĩng và em đã hịa thành một trong

cái tơi trữ tình của Xuân Quỳnh.

Tĩm lại: Hình tượng sĩng xuyên suốt 9 khổ thơ, mỗi khổ thơ mang một cung bậc trạng thái khác nhau của sĩng và ẩn trong sĩng chính là tình yêu, là em với những nét tương đồng Mặt khác, Sĩng và em cĩ lúc phân tách, cĩ lúc hịa nhập Hành trình của sĩng cũng là hành trình của em, từ bỏ lịng sơng chật hẹp, từ bỏ tình yêu vị kỉ để đến với biển bao la, đến với một tình yêu cao cả.

B Nghệ thuật:

- Thể thơ ngũ ngơn, cách ngắt nhịp gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng.

- Xây dựng hình ảnh ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

2 Tác phẩm:

Tác phẩm “Đàn ghi ta của Lor-ca” được in trong tập thơ “Khối vuơng ru-bích” năm 1985, là một trong

những tác phẩm tiêu biểu cho kiểu tư duy tượng trưng Tác giả viết về Lor-ca (1898 – 1936), nhà thơ thiên tài của Tây Ban Nha, người cĩ khát vọng tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật mãnh liệt, song

đã bị chính quyền thân phát xít bắt giam rồi giết hại Ấn tượng ở bài thơ là đoạn thơ…

II/ Đọc – hiểu:

A Nội dung:

1 Hai khổ đầu: Vẻ đẹp của hình tượng Lor-ca

- Đất nước Tây Ban Nha:

+ Đất nước của những làn điệu ghi ta làm đắm say lịng người Giai điệu li-la li-la li-la gợi lên một

lồi hoa quen thuộc của Tây Ban Nha – hoa “Tử Đinh Hương” Câu thơ “những tiếng đàn bọt nước” sử

dụng nghệ thuật chuyển đổi cảm giác, vừa mang tính tượng trưng, vừa mang tính siêu thực, từ âm

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 22

22 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

thanh “tiếng đàn” nhìn thấy hình ảnh “bọt nước”.

+ Đất nước của mơn đấu bị tĩt rực lửa “Tây Ban Nha áo chồng đỏ gắt”.

+ Đất nước của vầng trăng thơ mộng, của những thảo nguyên xanh mênh mang, bao la Và nổi bật trên nền cảnh ấy là hình tượng Lor-ca.

- Hình tượng Lor-ca:

+ Một Lor-ca nghệ sĩ, người nghệ sĩ lãng du lang thang trên yên ngựa mỏi mịn để đi tìm cái đẹp, sáng tạo cái đẹp và lưu giữ cái đẹp cho đời Trên hành trình ấy, Lor-ca hiện lên thật mạnh mẽ, song cũng thật lẻ loi, cơ độc trên con đường gập ghềnh, xa xơi, trắc trở, gian nan bởi việc cách tân nghệ thuật mới chỉ cĩ một mình chàng.

+ Một Lor-ca chiến sĩ, người chiến sĩ đầy dũng khí dám đấu tranh:

▪ Dám chống lại nền chính trị hà khắc của chế độ độc tài Pri-nơ đê Ri-vê-ra.

▪ Dám chống lại nền nghệ thuật già nua để đem lại nền nghệ thuật mới cách tân.

Chính vì vậy mà bọn thân phát xít đã hèn hạ bắt chàng giữ lúc chàng đang hát nghêu ngao rồi bắn

chàng Thanh Thảo đã khắc họa đậm nét cái chết bi thương của chàng qua hình ảnh hốn dụ “áo

chồng bê bết đỏ”.

Tây Ban Nha đang chính là đấu trường đẫm máu và chàng bị sát hại ngay trên đấu trường này, áo chồng thấm đỏ máu chàng.

Trước cái chết của chàng, cả Tây Ban Nha bỗng kinh hồng, cả thế giới bàng hồng, sửng sốt Cịn

chàng khi điệu về bãi bắn, chàng đi trong tâm trạng “như người mộng du” Mặc dù luơn bị ám ảnh bởi

cái chết nhưng chàng khơng ngờ cái chết lại đến nhanh như vậy.

 Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, sử dụng thành cơng những thủ pháp tiêu biểu của kiểu thơ siêu thực, đặc biệt là chuỗi hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng, hốn dụ; nghệ thuật chuyển đổi cảm giác, ngơn ngữ thơ hàm súc, giàu sức gợi đã khắc họa đậm nét hình tượng Lor-ca – người nghệ sĩ tài hoa, người chiến sĩ dũng cảm dám hi sinh cuộc đời mình cho đất nước.

2 Hai khổ giữa: Vẻ đẹp của hình tượng tiếng đàn

Lor-ca chết nhưng Thanh Thảo với lịng tiếc thương, ngưỡng mộ đã mượn vẻ đẹp của hình tượng tiếng đàn để khắc họa đậm nét vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn của Lor-ca.

a) Khổ 1:

- Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác: Âm thanh thành màu sắc, âm thanh thành hình khối và âm thanh thành số phận

+ Màu sắc:

▪ Màu nâu: Của đất, của vỏ đàn ghi ta, màu da của cơ gái Di-gan.

▪ Màu xanh: Của trời, của lá.

Qua sắc màu giúp ta cảm nhận được tình yêu quê hương đất nước, tình yêu nghệ thuật, tình yêu đơi lứa thấm đẫm tâm hồn người nghệ sĩ, chiến sĩ Lor-ca.

+ Hình khối: “tiếng ghi ta trịn bọt nước vỡ tan” sử dụng biện pháp nghệ thuật tiểu đối giữa “trịn” và

“tan” Nhà thơ muốn nhấn mạnh sau cái chết của Lor-ca, bầu trời, niềm tin, tình yêu và hi vọng đều vỡ

tan theo tiếng đàn.

+ Số phận: Nghệ thuật nhân hĩa “tiếng ghi ta rịng rịng / máu chảy”, tiếng đàn cũng cảm nhận được

nỗi đau như con người và nĩ cĩ số phận như chính con người tạo ra.

b) Khổ 2:

- 2 câu đầu: “khơng ai chơn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang”

Câu thơ đầu được viết lại từ lời để từ “Khi tơi chết hãy chơn tơi với cây đàn” Thực tế khơng ai chơn

được tiếng đàn bởi nĩ thuộc giá trị tinh thần nên nĩ trường cửu, cĩ sức sống mãnh liệt và sức sống ấy

được so sánh với “cỏ mọc hoang” Mặt khác, câu thơ cịn cĩ ý, sau cái chết của Lor-ca nền nghệ thuật

Tây Ban Nha khơng cĩ ai dẫn dắt, định hướng nên nĩ phát triển như cỏ mọc hoang.

Trang 23

23 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

- 2 câu sau: “giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng”

Phải chăng đây là giọt nước mắt khĩc thương của người đời “cả thế giới bỗng kinh hồng”, giọt nước mắt khĩc thương của người tình “sau cái chết của Lor-ca, An-na Ma-ri-a khơng một lần lên xe hoa”,

giọt nước mắt khĩc thương của nhà thơ Thanh Thảo dành cho Lor-ca nên nĩ đẹp như vầng trăng, long lanh trong im lặng, thăm thẳm trong đáy giếng và càng thăm thẳm hơn nữa trong lịng người.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, sử dụng thành cơng những thủ pháp tiêu biểu của kiểu thơ siêu thực, nghệ thuật chuyển đổi cảm giác; đặc biệt là chuỗi hình ảnh ẩn dụ, nhân hĩa, so sánh; ngơn ngữ thơ hàm súc, giàu sức gợi đã khắc họa đậm nét vẻ đẹp của hình tượng tiếng đàn Đĩ cũng là vẻ đẹp tâm hồn con người của Lor-ca, qua đĩ bộc lộ tình cảm tiếc thương của lịng người dành cho Lor-ca.

3 Hai khổ cuối: Vẻ đẹp của sự bất tử Lor-ca – tiếng đàn

- Câu thơ: “đường chỉ tay đã đứt” theo tướng số học, những đường rãnh trên bàn tay mỗi người thể

hiện những bí mật về tính cách, số phận và sinh mệnh của họ Đường chỉ tay đứt ấn định cái chết được báo trước qua điềm triệu thể hiện trên đường rãnh bàn tay Vậy là cái chết của Lor-ca đã được báo trước trên đường chỉ tay của chàng.

- “Dịng sơng rộng vơ cùng”: Dịng sơng chia 2 cõi âm dương cách biệt.

- Thực tế, cái chết của Lor-ca rất bi thương, chàng bị điệu về bãi bắn, áo chồng thấm đỏ máu chàng nhưng Thanh Thảo với lịng tiếc thương, ngưỡng mộ đã chọn cho Lor-ca và cây đàn ghi ta chủ động về

thế giới bên kia, động từ “bơi” đã nhấn mạnh điều này.

- Các câu thơ: “Lor-ca bơi sang ngang

trên chiếc ghi ta màu bạc”

Chiếc ghi ta trở thành con thuyền nghệ thuật đưa chàng về thế giới bên kia bỗng tỏa sáng lấp lánh trên dịng sơng Chàng cùng chiếc ghi ta đi vào cõi tử đẹp như một huyền thoại để trở thành bất tử.

- Các câu thơ: “chàng ném lá bùa cơ gái Di-gan

vào xốy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt”

Đã thể hiện những hành động cuối cùng của chàng nhằm rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian, để sự ra đi được nhẹ nhàng, thanh thản Bi thương nhưng khơng hề bi lụy mà ngược lại thấm đẫm vẻ đẹp bi tráng Lor-

ca khơng chỉ chiến thắng kẻ thù mà cịn chiến thắng ngay số phận của mình, để cùng tiếng đàn trường

tồn theo năm tháng “li-la li-la li-la”

- Mở đầu bài thơ là những giai điệu li-la ngọt ngào, ngân nga và khép lại bài thơ cũng là những giai điệu li-la diết da, sâu lắng Chính vì vậy mà tiếng đàn ghi ta của Lor-ca đã trở thành khúc tráng ca, ca ngợi vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lor-ca.

Tĩm lại: Đoạn thơ với thể thơ tự do, sử dụng thành cơng những thủ pháp tiêu biểu của kiểu thơ siêu thực, đặc biệt là chuỗi hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng, nhân hĩa; ngơn ngữ thơ giàu sức gợi đã khắc tơ đậm nét vẻ đẹp bất tử của Lor-ca và tiếng đàn Cái chết khơng thể hủy diệt được tâm hồn và những sáng tạo nghệ thuật của Lor-ca, nhà cách tân vĩ đại của đất nước Tây Ban Nha, đã trở thành bất tử trong chính cuộc giã từ này.

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 24

24 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

Nguyễn Tuân

I/ Tiểu dẫn:

- Người lái đị Sơng Đà là bài tuỳ bút được in trong tập “Sơng Đà” (1960) của Nguyễn Tuân.

- Sơng Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xơi, khơng chỉ để thoả mãn cái thú tìm đến những miền đất lạ cho thoả niềm khao khát “xê dịch”, mà chủ yếu để tìm kiếm cái chất vàng của thiên nhiên cùng

“thứ vàng mười đã qua thử lửa” ở tâm hồn của những con người lao động và chiến đấu trên miền núi sơng hùng vĩ và thơ mộng đĩ, ấn tượng là đoạn…

+ Đá 2 bên bờ sơng: “dựng vách thành che hết ánh nắng mặt trời, phải đúng ngọ mới nhìn thấy mặt

trời” Câu văn miêu tả cĩ tác dụng vừa giúp người đọc cảm nhận được độ cao của vách đá, vừa diễn tả

được sự âm u, lạnh lẽo ở nơi đây khi bị vách đá che hết ánh sáng.

+ “Đá chẹt lịng Sơng Đà như một cái yết hầu” khiến dịng sơng nơi đây nhỏ và hẹp, “con nai, con hổ đã

cĩ lần vọt từ bờ này sang bờ kia” Mục đích nhấn mạnh dịng chảy nơi đây rất xiết, đặc biệt vào mùa

mưa lũ sẽ rất nguy hiểm cho những con thuyền nào đi trên dịng sơng này.

+ Đá tạo thành ghềnh, “quãng mặt ghềnh Hát Loĩng, dài hàng cây số nước xơ đá, đá xơ sĩng, sĩng xơ

giĩ”, với các biện pháp điệp ngữ, điệp cấu trúc, câu văn mĩc xích tạo âm hưởng dồn dập mạnh mẽ, cả

ghềnh sơng như đang sơi lên, cuộn chảy dữ dội trước sự hợp lực của đá, sĩng, giĩ.

+ Đá ngàn năm vẫn mai phục trong lịng sơng, chúng bày thạch trận trên sơng sẵn sàng dìm chết con thuyền nào đi qua đây.

- Hút nước:

+ Hình ảnh: Nhà văn so sánh nĩ giống như “cái giếng bê tơng để thả xuống sơng để chuẩn bị làm mĩng

cầu”, “mặt thành giếng được xây bằng nước sơng xanh ve một ánh thuỷ tinh khối đúc dày”.

+ Âm thanh: Nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc, những cái hút nước đĩ trở thành những cái bẫy chết người trên sơng mà bất cứ con thuyền nào bị nĩ hút xuống thì trồng ngay cây chuối ngược, rồi mươi phút sau tan xác ở khuỷnh sơng dưới.

- Thác nước: “tiếng nước réo gần mãi lại réo to, tiếng nước thác nghe như oan trách, rồi như là van xin,

rồi lại như là khiêu khích, thế rồi nĩ rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng tre nứa” Nghệ thuật nhân hố, câu văn giàu trí tưởng tượng khiến ta liên tưởng dịng sơng giống

như một con thủy quái khổng lồ đang vật vã trong nhiều âm thanh hỗn loạn, ghê rợn.

 Tĩm lại: Qua thể văn tuỳ bút đã thể hiện được nét tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân, tài hoa trong dựng cảnh, uyên bác trong miêu tả Bằng vốn kiến thức của nhiều ngành như hội hoạ, giao thơng, điện ảnh, cùng với những câu văn so sánh nhân hố giàu sức gợi đã dựng nên một dịng Sơng

Đà hung bạo, trở thành kẻ thù số 1 của con người Song cũng theo nhà văn, ơng đã tìm được thứ vàng của thiên nhiên Tây Bắc chính là tiềm năng thuỷ điện to lớn của Sơng Đà.

b) Dịng sơng thơ mộng, trữ tình:

- Dáng sơng: Được miêu tả như “một áng tĩc trữ tình của người thiếu nữ, đầu tĩc chân tĩc ẩn hiện trong

mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng 2 và cuồn cuộn mù khĩi núi Mèo đốt nương xuân”.

- Sắc nước: Thay đổi theo mùa, “mùa xuân xanh màu xanh ngọc bích chứ khơng xanh màu xanh canh

hến của Sơng Gâm Sơng Lơ Mùa thu nước Sơng Đà lừ lừ chính đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người rất bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

Trang 25

25 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

- Cảnh sắc:

+ Mặt sơng: Loang lống sắc nắng tháng 3 Đường thi, chất thơ như thấm đẫm vào dịng sơng.

+ Bờ, bãi Sơng Đà: Chuồn chuồn, bươm bướm bay lượn từng đàn, dệt nên bức gấm hoa muơn màu tuyệt đẹp.

+ Hai bên bờ Sơng Đà: Mang một vẻ đẹp yên ả, thanh bình như trơi đến từ quá khứ “cảnh ven sơng ở

đây lặng tờ, hình như từ đời Lý đến đời Lê quãng sơng này cũng lặng tờ đến thế” Một vẻ đẹp tươi mới

tràn trề nhựa sống, “nương ngơ nhú lên mấy lá ngơ non đầu mùa” Một vẻ đẹp hoang sơ, đẫm sắc màu huyền thoại: “Bờ sơng hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sơng hồn nhiên như một nỗi niềm cỗ tích tuổi

Hình tượng ơng lái đị:

a) Tương quan lực lượng giữa 2 bên:

- Sơng Đà biểu tượng cho sức mạnh của thiên nhiên hoang dã, dữ dội, hiểm độc “Nước xơ đá, đá

xơ sĩng, sĩng xơ giĩ…” sơng Đà bày thạch trận trên sơng Cịn bên kia là những con người bé nhỏ trên

một chiếc thuyền đơn độc và vũ khí là 6 bơi chèo, đây là một cuộc chiến khơng hề cân sức.

b) Diễn biến cuộc chiến:

- Mở ra 5 cửa trận: gồm 4 cửa tử và 1 cửa

sinh Cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn Thạch

trận vừa bày xong thì con thuyền vụt tới, đối

phương tung ra đội quân nước với các địn

hiểm độc: đá trái, thúc gối vào bụng và hơng

thuyền Ác độc hơn chúng nhằm vào chỗ hiểm

người chỉ huy để đánh liên tiếp, đánh hồi lùng,

đánh địn tỉa Ở đây, Nguyễn Tuân đã vận

dụng kiến thức của nhiều ngành: võ thuật,

quân sự, nghệ thuật Mục đích nhằm nhấn

mạnh sự hung hăng, hiểm độc của Sơng Đà

hiệp đầu.

- Giữ thế phịng thủ, cố nén vết thương, 2 chân vẫn kẹp chặt cuống lái Mặc dù mặt méo bệch vì đau nhưng trên chiếc thuyền cĩ 6 bơi chèo vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo của người cầm lái.

- Kết quả: ơng lái đị đã phá vỡ trùng vi 1.

c)

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

- Thay đổi chiến thuật, tăng thêm nhiều cửa

tử, cửa sinh bố trí lệch về phía bờ hữu ngạn.

- Nắm chắc binh pháp của thần sơng, thần

đá, thuộc quy luật phục kích của ải đá nơi đây, ơng bình tĩnh, tự tin, mưu trí thay đổi chiến thuật từ thế phịng thủ sang thế phản cơng, phĩng thẳng con thuyền về phía cửa sinh với những ải nước xơ ra nhằm níu con thuyền vào cửa tử Đứa thì ơng tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ơng đè sấn lên mà chặt đơi ra để mở đường tiến trong tư thế vừa oai phong, hùng dũng, vừa táo bạo, nhanh nhẹn.

- Kết quả: ơng đã phá vỡ được trùng vi thứ 2.

- Sơng Đà lại một lần nữa thay đổi chiến

thuật, bên phải, bên trái đều là cửa tử, cửa

sinh nằm ở chính giữa dịng.

- Ơng lái đị như một người chỉ huy dạn dày, dũng mãnh, chủ động tấn cơng phĩng thẳng con thuyền chọc thủng cửa giữa Thuyền vút qua cổng đá, cánh mở cánh khép, vút vút cửa ngồi, cửa trong lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Đây là một tay lái điêu luyện vừa mạnh mẽ, vừa mềm mại của người

nghệ sĩ tài hoa được ví như “tay lái ra hoa”.

- Kết quả: ơng đã phá được trùng vi thứ 3

và cũng là lúc hết thác.

Trùng vi 1:

Trùng vi 2:

Trùng vi 3:

Trang 26

26 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

Nguyên nhân thắng lợi:

- Sự ngoan cường, lịng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua mọi thử thách khốc liệt trong cuộc sống.

- Tài chí của con người, sự hiểu biết, kinh nghiệm sơng nước.

Tĩm lại: Với thể văn tuỳ bút, nét tài hoa uyên bác của tác giả được thể hiện qua các ví von, so sánh, liên tưởng độc đáo bất ngờ, từ ngữ phong phú sống động giàu hình ảnh và sức gợi cảm cao Câu văn đa dạng, nhiều tầng nghĩa, giàu nhịp điệu, lúc hối hả gấp rút, lúc chậm rãi trữ tình đã khắc hoạ đậm vẻ đẹp của người lái đị vơ danh – vẻ đẹp bình dị nhưng trí tuệ và sức mạnh đầy ý chí và nghị lực, tài năng

và tài hoa, cĩ khả năng chinh phục thiên nhiên, bắt nĩ phải phục vụ con người Đĩ chính là “chất vàng mười” của con người Tây Bắc nĩi riêng và nhân dân lao động Việt Nam nĩi chung trong thời kì đổi mới.

B Ý nghĩa:

Người lái đị Sơng Đà là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước say đắm, thiết tha của một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên, và nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc.

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DỊNG SƠNG

I/ Tiểu dẫn:

Hồng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, nhà văn gắn bĩ mật thiết với Huế, cĩ vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực chuyên về bút kí, là “một trong mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên Ngọc) Sáng tác luơn cĩ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều bằng một lối hành văn hướng nội xúc tích, mê đắm tài hoa Tiêu biểu là tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dịng sơng” được sáng tác vào ngày 4-1-1981 in trong tập sách cùng tên, ấn tượng là…

II/ Đọc – hiểu:

A Nội dung:

1 Thủy trình dịng Hương Giang:

a) Hương Giang ở thượng nguồn:

- Bản trường ca của rừng già bởi khởi nguồn dịng chảy là dãy Trường Sơn đại ngàn Ở đây, sơng

Hương tốt lên một sức sống mãnh liệt vừa hùng tráng vừa trữ tình, “rầm rộ giữa bĩng cây đại ngàn,

mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xốy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng cĩ lúc

nĩ trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chĩi lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” Đoạn văn

sử dụng nhiều động từ mạnh với những câu văn dài chia thành nhiều vế như gợi dậy dư vang của trường ca.

- Cơ gái Di-gan phĩng khống và man dại: Những cơ gái Bơ-hê-miêng thích ca hát nhảy múa, tính tình phĩng khống mạnh mẽ Một liên tưởng so sánh nhân hĩa độc đáo, một phát hiện sâu sắc bất ngờ mà tác giả gọi đây là tâm hồn sâu thẳm của dịng sơng, thì ra trong cái dịu dàng thơ mộng vẫn ẩn chứa một cơ gái Di-gan.

- Khi ra khỏi rừng nĩ trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hĩa xứ sở bởi sơng Hương khơng chỉ bồi đắp phù sa cho 2 bên bờ, quan trọng hơn nĩ cịn nuơi dưỡng một nền văn hĩa Huế độc đáo Tĩm lại: Sơng Hương ở thượng nguồn vừa mạnh mẽ hoang dã, vừa dịu dàng đắm say và là người mẹ phù sa của một nền văn hĩa xứ sở.

Trang 27

27 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

b) Sơng Hương ở ngoại vi thành phố Huế:

- Sơng Hương được ví như người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hĩa đầy hoa dại được người tình mong đợi đến đánh thức, trên đường đến với thành phố thân yêu Sơng Hương khốc lên mình những vẻ đẹp:

+ Vẻ đẹp mềm mại, duyên dáng, gợi cảm của dịng chảy được khắc họa đậm nét qua những câu văn

giàu chất họa, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”, “vẽ một hình cung thật trịn” và từ trên

cao nhìn xuống dịng sơng mềm như một tấm lụa.

+ Vẻ đẹp biến ảo của sắc nước: Sáng xanh, trưa vàng, chiều tím do sự phản quang của những ngọn đồi xung quanh.

+ Vẻ đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi khi nĩ chảy trơi giữa “giấc ngủ nghìn năm của những vua

chúa được phong kín trong lịng những rừng thơng u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của

Trường THPT Trần Đại Nghĩa

Trang 28

28 Chương trình Văn học THPT - Văn học 12 Giáo viên: Cao Thị Sáng

những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu Bốn bề núi phủ mây phong – Mảnh trăng thiên cổ bĩng tùng Vạn Niên”.

Tĩm lại: Hành trình của sơng Hương khi bắt đầu về xuơi tựa như một cuộc tìm kiếm cĩ ý thức người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình yêu lãng mạn nhuốm màu cổ tích.

c) Sơng Hương ở giữa lịng thành phố Huế:

- Từ đây sơng Hương như đã tìm đúng đường về và nĩ vui hẳn lên, kéo một nét theo hướng tây nam – đơng bắc, từ xa ta đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vành trăng non Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sơng Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dịng sơng mềm hẳn đi, như một

tiếng “vâng” khơng nĩi ra của tình yêu Vậy là sơng Hương đã đến được với thành phố Huế, ở

giữa lịng thành phố Huế nĩ được so sánh như sơng Xen của Pa-ri, sơng Đa-nuýp của Ba-đa-pét nhưng nĩ mang những vẻ đẹp khác biệt riêng:

+ Sơng Hương được ngắm nhìn ở gĩc độ hội họa: các chi lưu của sơng Hương tỏa đi khắp đơ thị

đã tạo nên những đường nét thật tinh tế, gĩp phần làm tăng thêm vẻ đẹp cho cố đơ “Đầu và

cuối ngõ thành phố, những nhánh sơng đào mang nước sơng Hương tỏa đi khắp phố thị, với những cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống những xĩm thuyền chài xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lịe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mơ tê xưa cũ mà khơng một thành phố hiện đại nào cịn nhìn thấy được”.

+ Sơng Hương được ngắm nhìn ở gĩc độ âm nhạc:

▪ Sơng Hương đẹp như một điệu Slow tình cảm dành riêng cho Huế với dịng chảy chậm, thật chậm, cơ hồ chỉ là một mặt hồ yên tĩnh.

Nguyên nhân khiến cho sơng Hương cĩ dịng chảy chậm:

○ Được lí giải ở gĩc độ địa lí: Những chi lưu ấy cùng với 2 hịn đảo nhỏ trên sơng đã làm giảm hẳn lưu tốc của dịng nước Để làm nổi bật dịng chảy chậm của sơng Hương, nhà văn đã so sánh

nĩ với dịng sơng Nê-va chảy qua thành phố Lê-nin-grát cĩ dịng chảy quá nhanh khiến cho những chú hải âu đậu trên những phiến băng chưa kịp nĩi điều gì với những người bạn đơi bờ Xưa cĩ một nhà triết học tên là Hê-ra-clít đã từng khĩc cho những dịng sơng trơi quá nhanh như vậy.

○ Được lí giải ở gĩc độ trái tim: Vì nĩ quá yêu thương thành phố nên muốn ở lại thật lâu bên cạnh người tình trước khi phải rời xa Và hình như trong khoảng khắc chùng lại ấy, sơng Hương

đã trở thành người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.

▪ Người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya: Tồn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế được sinh thành trên mặt nước của dịng sơng này, trong một khoang thuyền nào đĩ, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo đêm khuya Qua đấy nhà văn muốn khẳng định mối quan hệ sâu sắc giữa sơng Hương với nền âm nhạc cổ điển, thậm chí nhà văn cịn nhấn mạnh một số câu thơ trong tác

phẩm truyện Kiều của nhà thơ Nguyễn Du: “Trong như tiếng hạc bay qua / Đục như tiếng suối

mới sa nửa vời” cũng được bắt đầu từ dịng sơng này.

Tĩm lại: Với cách so sánh ví von nhân hĩa, sơng Hương khơng chỉ đơn thuần là dịng sơng của thiên nhiên mà cịn là dịng sơng của thơ ca nhạc họa.

d) Sơng Hương trước khi từ biệt thành phố Huế:

Ngày đăng: 15/12/2021, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng ông lái đò: - On tp van hc 12
Hình t ượng ông lái đò: (Trang 25)
Hình gợi cảm. - On tp van hc 12
Hình g ợi cảm (Trang 56)
w