1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUT PHAP QUC t v HOT DNG QUAN s t

149 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luật Pháp Quốc Tế Về Hoạt Động Quân Sự Trên Biển Và Thực Trạng Ở Biển Đông
Tác giả Trần Thị Kim Nguyên, Võ Thị Thanh Nguyên, Lê Thị Xuân Phương
Người hướng dẫn Trần Thị Kim Nguyên
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, việc nghiên cứu các quy định của luật pháp quốc tế có liên quan đến hoạt động quân sự và mối quan hệ biện chứng với an ninh biển là vô cùng cần thiết để nhận diện được khuôn khổ p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN Lần thứ XX Năm học: 2015 – 2016

Tên đề tài:

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRÊN BIỂN

VÀ THỰC TRẠNG Ở BIỂN ĐÔNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ

1 Trần Thị Kim Nguyên

2 Võ Thị Thanh Nguyên

3 Lê Thị Xuân Phương

Chủ nhiệm đề tài: Trần Thị Kim Nguyên

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ VÀ AN NINH BIỂN 2

1.1 Khái niệm về hoạt động quân sự và an ninh biển 2

1.1.1 Khái niệm về hoạt động quân sự 2

1.1.2 Khái niệm về an ninh biển 12

1.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động quân sự và an ninh biển 25

1.2 Luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự 31

1.2.1 Các nguyên tắc và quy định của luật biển quốc tế về hoạt động quân sự 32

1.2.2 Các quy định khác của luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 53

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHÔNG GIAN BIỂN ĐÔNG 54

2.1 Thực trạng hoạt động quân sự và sự tác động đến an ninh biển của một số quốc gia trong khu vực Biển Đông 54

2.1.1 Thực trạng hoạt động quân sự của Việt Nam và sự tác động đến an ninh Biển Đông 54

2.1.2 Thực trạng hoạt động quân sự của Trung Quốc và tác động đến an ninh Biển Đông 66

2.1.3 Thực trạng hoạt động quân sự của Philippines và sự tác động đến an ninh Biển Đông 81

2.2 Thực trạng hoạt động quân sự và sự tác động đến an ninh biển của một số quốc gia ngoài khu vực nhưng có lợi ích ở Biển Đông 89

Trang 3

Đông 89 2.2.2 Thực trạng hoạt động quân sự của Nhật Bản và sự tác động đến an

ninh Biển Đông 92

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 96

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

Phụ lục số 01: Bảng Ngân sách quốc phòng Việt Nam

Phụ lục số 02a: Biểu đồ chi phí quốc phòng của Việt Nam giai đoạn 2008-2014 (tính

Phụ lục số 05: Hình Vùng nhận diện phòng không ở Biển Hoa Đông

Phụ lục số 06: Hình Danh sách 10 quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới giai

đoạn 2011-2015

Phụ lục số 07: Hình Tiến trình thời gian việc xây dựng và cải tạo của các quốc gia ở

Trường Sa

Phụ lục số 08: Hình Mối tương quan về phương tiện chiến đấu của hải quân các nước

trong khu vực Biển Đông năm 2015

Phụ lục số 09: Hình Danh sách 20 quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới

Phụ lục số 10: Ảnh vệ tinh chụp đá Chữ Thập ngày 14/02/2016 (Fiery Cross Reef) Phụ lục số 11: Ảnh vệ tinh chụp đá Gạc Ma ngày 04/3/2015 (Johnson Reef or Johnson

South Reef)

Trang 5

Phụ lục số 13: Ảnh vệ tinh chụp đá Ga ven ngày 20/02/2015 (Gaven Reefs) Phụ lục số 14: Ảnh vệ tinh chụp đá Tư nghĩa ngày 14/02/2015 (Hughes Reef) Phụ lục số 15: Ảnh vệ tinh chụp đá Xu Bi ngày 05/6/2015 (Subi Reef)

Phụ lục số 16: Ảnh vệ tinh chụp đá Vành Khăn ngày 27/5/2015 (Mischief Reef)

Trang 6

STT Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

1 ADIZ Air Defense Identification

Zone

Vùng nhận diện phòng không

2 ASEAN Association of Southeast

Declaration on the Conduct of the Parties in the South China Sea

Tuyên bố ASEAN – Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các quốc gia ngày càng nhận thức được nhiều hơn các lợi ích mà biển và đại dương mang lại Tuy nhiên, bên cạnh sự thịnh vượng mà các quốc gia có thể thụ đắc thì những mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia trong quá trình quản lý, khai thác và

sử dụng biển và đại dương xuất hiện ngày càng nhiều và có xu hướng trở nên gay gắt Thêm vào đó, một số quốc gia đã và đang hiện thực hóa tham vọng độc chiếm các vùng biển bằng sự gia tăng cả về cường độ lẫn quy mô của hoạt động quân sự trên biển Theo hướng đó, hoạt động quân sự trên biển đã trở thành một thách thức lớn đối với hòa bình và an ninh của mỗi quốc gia ven biển, khu vực và thế giới; trước hết là an ninh hàng hải và an ninh hàng không

Riêng trong khu vực Biển Đông, Trung Quốc đã và đang tiến hành hàng loạt hoạt động quân sự, từng bước quân sự hóa khu vực này nhằm mục đích củng cố và mở rộng tham vọng, yêu sách phi pháp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của

họ Cụ thể, Trung Quốc đã và đang tiến hành bồi lấp, xây dựng bảy thực thể địa lý mà nước này đang chiếm đóng trái phép ở quần đảo Trường Sa thành các đảo nhân tạo, từng bước thiết lập khu căn cứ quân sự nhằm kiểm soát toàn bộ Biển Đông Về tốc độ,

từ năm 2013 đến nay, Trung Quốc đã tăng diện tích cải tạo đất từ 20-810ha trên Biển Đông Trung bình mỗi ngày các thực thể địa lý đó được xây dựng thêm 96,5m2

Trang 8

với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam chịu tác động trực tiếp và sâu sắc

từ sự mở rộng hoạt động quân sự trên biển của Trung Quốc Các quyền và lợi ích cơ bản của Việt Nam về chủ quyền, quyền chủ quyền trên các thực thể địa lý, các vùng biển và thềm lục địa được xác định phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, bị ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng Trong khi đó, nhóm tác giả nhận thấy rằng, luật pháp quốc tế đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 không trực tiếp điều chỉnh về hoạt động quân

sự trên biển mà chỉ ghi nhận một nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt là “sử dụng biển cả

nhằm mục đích hòa bình” Theo đó, các khái niệm về hoạt động quân sự, hoạt động

quân sự trên biển cùng mối quan hệ với an ninh biển vẫn chưa nhận được nhiều sự đầu

tư nghiên cứu nghiêm túc và bài bản dưới góc độ khoa học pháp lý Vì lẽ đó cho đến nay, cơ sở lý luận để đánh giá tính hợp pháp hay bất hợp pháp của hoạt động quân sự

là chưa được hoàn bị Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động quân

sự của các quốc gia rất ít được kiểm soát nên đã trở thành một thách thức không nhỏ đối với an ninh biển

Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, tồn tại một số nguyên tắc và quy định trong luật quốc tế cũng có một phần gián tiếp hình thành nên một khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quân sự của các quốc gia Từ đó, việc nghiên cứu các quy định của luật pháp quốc tế có liên quan đến hoạt động quân sự và mối quan hệ biện chứng với an ninh biển là vô cùng cần thiết để nhận diện được khuôn khổ pháp lý này cũng như là đưa ra các kiến nghị khả dụng nhằm hạn chế hay đi đến loại trừ nguy cơ đe dọa hòa bình và

an ninh từ các hoạt động quân sự trên biển

Trước xu hướng gia tăng của hoạt động quân sự trên biển và tình trạng quân sự hóa của Trung Quốc tại Biển Đông đang từng ngày đe dọa đến hòa bình và an ninh của Việt Nam, các nước trong khu vực và thế giới trong khi luật pháp quốc tế điều chỉnh

về hoạt động quân sự trên biển vẫn còn chưa sâu sát, nhóm tác giả tâm huyết chọn vấn

đề “Luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự trên biển và thực trạng ở Biển Đông”

để viết nên Công trình nghiên cứu khoa học này

2 Tình hình nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về hoạt động quân sự trên biển và mối quan hệ biện chứng an ninh biển là khá mới Cho đến nay, chúng tôi chưa tiếp cận được tài liệu nào có liên quan một cách toàn diện đến đề tài này Tuy vậy, để đảm bảo chiều sâu của nội dung, chúng tôi đã tham khảo nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu trong từng khía cạnh của

Trang 9

gồm:

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

(1) Vũ Khanh (2014), “Chính sách của Việt Nam về an ninh biển”, Tạp chí Dân

chủ và Pháp luật Bài viết đề cập đến khái niệm và vai trò của an ninh biển cũng như

chính sách của Việt Nam về an ninh biển Bài viết này đóng vai trò rất quan trọng trong việc học hỏi để xây dựng khái niệm về an ninh biển và nghiên cứu chính sách của Việt Nam về an ninh biển Tuy nhiên, bài viết không bàn đến khía cạnh hoạt động quân sự trên biển và do đó cũng chưa đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động quân sự trên biển đối với an ninh biển

(2) Nguyễn Thị Lan Anh (2011), Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp

quốc và an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông (bản gốc bằng tiếng Anh: UNCLOS

and maritime security of the South China Sea), bài tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong khu vực” do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ 04-05/11/2011 Bài tham luận này đã làm sáng tỏ những vấn đề sau: mối đe dọa đến an ninh hàng hải tại khu vực Biển Đông, mối liên hệ giữa UNCLOS 1982 và các mối đe dọa an ninh hàng hải cũng như vai trò của UNCLOS 1982 trong việc kiềm chế và quản lý các mối đe dọa an ninh hàng hải Từ bài tham luận này, chúng tôi học hỏi để tìm ra các quy định pháp lý quốc tế về an ninh biển nói chung Tuy nhiên, Công trình chúng tôi không chỉ giới hạn trong phạm vi các quy định của UNCLOS 1982 mà còn mở ra đến một số nguyên tắc, điều ước quốc tế khác có liên quan đến hoạt động quân sự nói chung và hoạt động quân sự trên biển nói riêng

(3) Phạm Đức Lĩnh (2008), Một số nội dung, biện pháp đấu tranh phòng chống tội

phạm buôn lậu và gian lận thương mại trên các vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lưu hành nội bộ, Cục Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ Quốc phòng

Đây là công trình nghiên cứu khoa học trong nội bộ ngành của Cục Cảnh sát biển Việt Nam (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam) mà chúng tôi có được thông qua chuyến đi khảo sát thực tế tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi Tuy rằng, nội dung công trình này nói về hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển và lực lượng này không phải là lực lượng quân đội nhưng kiến thức từ công trình này là cơ sở giúp chúng tôi phân biệt được hoạt động dân sự và hoạt động quân sự trong không gian đặc thù là trên mặt biển

Trang 10

Bắc Á Bài viết đã phân tích vai trò của Trung Quốc trong vấn đề an ninh Biển Đông,

bao gồm: quan điểm về an ninh Biển Đông trong bối cảnh an ninh Đông Á nói chung; chủ trương, chính sách của Trung Quốc đối với an ninh Biển Đông trong bối cảnh khu vực và quốc tế và việc thực thi những chủ trương chính sách an ninh Biển Đông của Trung Quốc: hiện trạng và triển vọng Bài viết này là một tư liệu quan trọng đem đến cho chúng tôi một góc nhìn tổng quan về vai trò của Trung Quốc trong vấn đề an ninh Biển Đông Tuy nhiên, bài viết ra đời vào năm 2009 nên chưa ghi nhận những diễn biến mới đây Công trình của chúng tôi, trên cơ sở học hỏi cách nhận diện được chủ trương đường lối quân sự của Trung Quốc, đã phát triển và cập nhật thêm một số sự kiện quan trọng diễn ra ở Biển Đông sau năm 2009

2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

(1) Christian Bueger (2005), What is maritime security? (dịch: An ninh biển là

gì?), Marine Policy 53, trang 159-164 Bài viết chủ yếu bàn về khái niệm an ninh biển

và đã chỉ ra ba khuôn khổ an ninh biển rất đáng được chú ý Một là, an ninh biển có thể hiểu là một ma trận mối liên hệ với những khái niệm khác như: an toàn hàng hải, năng lượng biển, kinh tế biển và sự ổn định Hai là, an ninh biển được hiểu như một khuôn khổ an ninh nhằm nghiên cứu cách thức mà các mối đe dọa an ninh được tạo lập Và ba là, an ninh biển được hiểu như những học thuyết an ninh nghiên cứu về những tác nhân và tác động của chúng trong việc củng cố an ninh biển Đây là một trong những bài viết đóng vai trò quan trọng, là cơ sở để chúng tôi cho ra khái niệm an ninh biển trong Công trình này Tuy nhiên, bài viết cũng chưa đề cập nhiều về hoạt động quân sự trên biển và do đó mối quan hệ giữa hoạt động quân sự trên biển và an ninh biển vẫn còn chưa được làm rõ

(2) Raul (Pete) Pedrozo (2014), Military Activities in the Exclusive Economic

Zone: East Asia Focus (dịch: Hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế: Những

điểm đáng chú ý ở Đông Á), International Law Studies, U.S Naval war college, Volume 90 Trong tài liệu này, tác giả nghiên cứu về các hoạt động quân sự của các nước vùng Đông Á trong vùng đặc quyền kinh tế Hoạt động quân sự của Trung Quốc cũng được phân tích nhiều Tuy nhiên, chúng tôi không chỉ xem xét hoạt động quân sự của Trung Quốc trong riêng vùng đặc quyền kinh tế Thêm vào đó, chúng tôi chỉ xem xét hoạt động quân sự của nước này tại vùng Biển Đông Do đó, chúng tôi học hỏi nhiều nhất từ tài liệu này là các loại hình hoạt động quân sự và các tiêu chí đánh giá mục đích hòa bình của các hoạt động đó

Trang 11

Threat of Force in the South China Sea Disputes Since 1945: A Timeline (dịch: Việc

sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông), chương 25, Power Politics in Asia’s Contested do Enrico Fels và Truong-Minh Vu biên soạn Đây là tiến trình thời gian ghi nhận lại các hoạt động có tính chất sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông từ năm 1945 Tuy nhiên, các hoạt động được ghi nhận không hoàn toàn là các hoạt động quân sự Phục vụ cho Công trình này, chúng tôi chắt lọc thông tin về hoạt động quân sự Những thông tin này đóng vai trò quan trọng trong phần viết về thực trạng hoạt động quân sự của các quốc gia

(4) Bộ Quốc phòng Mỹ, Military and security developments involving the People’s

Republic of China 2015 (dịch: Sự phát triển quân đội và an ninh ở Cộng hòa Nhân dân

Trung Hoa 2015), Báo cáo thường niên trước Quốc hội Mỹ Tài liệu cung cấp rất nhiều thông tin về chiến lược của Trung Quốc, xu hướng và mục tiêu hiện đại hóa các lực lượng, những nguồn lực cho việc hiện đại hóa các lực lượng, … Phạm vi của Công trình chúng tôi chỉ trong không gian Biển Đông nên thông qua tài liệu này chúng tôi tìm nghiên cứu và đánh giá các hoạt động quân sự của Trung Quốc riêng tại khu vực Biển Đông

(5) The Science Council of the ASIA (2015), Maritime Security and Vietnamese

Perspective (dịch: An ninh biển và quan điểm của Việt Nam), bài thuyết trình trong

buổi hội đàm dự án phối hợp SCA về An ninh đại dương tại châu Á, Dawhoo – Hà Nội, Việt Nam, tháng 5/2005 Trong tài liệu này, tác giả đã chỉ ra được những vấn đề sau: an ninh ở Biển Đông, pháp luật của Việt Nam về biển trong hai giai đoạn trước và sau UNCLOS 1982 Đây là tài liệu quan trọng trong việc nghiên cứu và đánh giá về chính sách cũng như hoạt động quân sự trên thực tế của Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề trọng tâm của tài liệu cũng không phải là hoạt động quân sự, do đó, hoạt động quân sự trên biển trong mối quan hệ với an ninh biển vẫn chưa được làm rõ

(6) Deparment of Defense (2015), Asia – Pacific Maritime Security Strategy:

Achieving U.S National Security objectives in a changing Enviroment (dịch: Bộ Quốc

phòng (2015), Chiến lược an ninh biển Châu Á – Thái Bình Dương: Đạt được mục tiêu quốc gia của Mỹ trong một môi trường biến động) Tài liệu này gồm nhiều vấn đề, chúng tôi chủ yếu tiếp cận những phân tích về hoạt động quân sự của các quốc gia Việt Nam, Trung Quốc và Philippines Đây là tài liệu hiếm hoi có đề cập đến hoạt động quân sự trong mối liên hệ với an ninh biển Tuy nhiên, tài liệu đặt trọng tâm vào những hoạt động quân sự trên biển cụ thể và sự tác động đến an ninh biển chứ không dành nhiều dung lượng để phân tích về mối quan hệ này dưới góc độ lý luận Công trình của chúng tôi đã sử dụng chất liệu thực tiễn từ tài liệu này và đã phát triển để

Trang 12

hệ giữa chúng dưới góc độ pháp lý

(7) H.Cordesman, Steven Colley, Michael Wang, Chinese Strategy and Military

Modernization in 2015: A Comparative Analysis, Center for Strategic and international studies (Dịch: Chiến lược và sự hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc

trong năm 2015: Một phân tích so sánh) Tài liệu này rất đồ sộ bao gồm nhiều nội dung; để phục vụ Công trình này, chúng tôi chỉ tiếp cận đến những phần có liên quan đến chiến lược quân sự của Trung Quốc được tác giả tài liệu này phân tích qua các sách trắng quốc phòng của Trung Quốc các năm 2010, 2013 và 2015; song song đó là

xu hướng quan tâm đến Biển Đông của Mỹ Tài liệu cung cấp thông tin phong phú về chủ trương, đường lối quân sự cũng như là một số hoạt động quân sự trên biển cụ thể của Trung Quốc và Mỹ trong khu vực Biển Đông Tuy nhiên, tài liệu không đề cập đến an ninh biển và không phân tích về mối quan hệ giữa an ninh biển và hoạt động quân sự trên biển

(8) Chris Rahman (2009), Concepts of Maritime Security, Center for Strategic

Studies: New Zealand (Dịch: Chris Rahman 2009, Khái niệm an ninh hàng hải, Trung tâm nghiên cứu chiến lược New Zealand) Bài viết này tiếp cận khái niệm an ninh và

an ninh biển dưới góc độ lý luận Chúng tôi cũng đã học hỏi bài viết này trong việc xây dựng khái niệm an ninh biển và phân tích những đặc điểm của an ninh biển Tuy nhiên, bài viết cũng không đề cập và phân tích về hoạt động quân sự trên biển trong mối quan hệ với an ninh biển

(9) M.Taylor Fravel, Chapter II: Maritime security in the South China Sea and

competition or maritime rights (Dịch: M.Taylor Fravel, Chương 2: An ninh hàng hải ở

Biển Đông sự cạnh tranh hoặc quyền hàng hải) Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về những nội dung có liên quan đến an ninh Biển Đông và hoạt động quân sự trên biển của Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Mỹ và Nhật Bản trong tài liệu này Đây là một trong số ít các tài liệu có đề cập đồng thời đến hoạt động quân sự và an ninh biển Tuy nhiên, tài liệu cung cấp nhiều thông tin thực tiễn Chúng tôi đã tiếp thu và phát triển thêm về khía cạnh lý luận dưới góc độ khoa học pháp lý cho các khái niệm hoạt động quân sự trên biển, an ninh biển và mối quan hệ giữa chúng

(10) Simon O.Williams (2014), International Legal framework governing

Maritime security: Examining UNCLOS maritime zones (dịch: Khuôn khổ pháp lý về

an ninh hàng hải quốc tế: Kiểm tra các vùng biển UNCLOS) Bài viết chỉ ra khuôn khổ pháp lý mà UNCLOS 1982 đã tạo ra về an ninh biển Chúng tôi đã học hỏi bài viết này trong việc tìm ra các quy phạm pháp luật điều chỉnh về an ninh biển Tuy nhiên, bài

Trang 13

Công trình chúng tôi còn mở rộng ra các nguyên tắc và quy định khác của luật pháp quốc tế ngoài UNCLOS 1982 Do đó, bên cạnh kế thừa khuôn khổ pháp lý mà bài viết này đã chỉ ra, chúng tôi đã nghiên cứu sâu và rộng hơn khuôn khổ pháp lý về hoạt động quân sự trên biển và an ninh biển

Bên cạnh việc tiếp thu và kế thừa những tinh hoa nghiên cứu trước đó, chúng tôi

đã nỗ lực đào sâu về kiến thức chuyên môn trong từng khía cạnh thuộc phạm vi của đề tài Không dừng lại ở đó, chúng tôi đã phát triển thêm về lý luận dưới góc độ khoa học pháp lý các khái niệm hoạt động quân sự trên biển, an ninh biển và mối quan hệ biện chứng giữa chúng và cập nhật thêm thực trạng hoạt động quân sự của các quốc gia Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Mỹ và Nhật Bản trong thời gian gần đây

3 Tính mới của đề tài

Cho đến nay, nhóm tác giả chưa tiếp cận được công trình nghiên cứu nào có nội dung và mục đích giống với Công trình này Kết quả nghiên cứu của Công trình có những điểm mới như sau:

Thứ nhất, Công trình đã đưa ra được khái niệm hoạt động quân sự và an ninh biển

dưới khía cạnh pháp lý quốc tế Thêm vào đó, phân tích và làm rõ sự ảnh hưởng tác động qua lại giữa hoạt động quân sự đối với an ninh biển;

Thứ hai, hệ thống và phân tích những quy định của luật pháp quốc tế về hoạt động

quân sự, an ninh biển;

Thứ ba, hệ thống, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quân sự ở Biển

Đông trên cơ sở những quy định của luật pháp quốc tế

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Công trình được viết ra nhằm mục đích làm sáng tỏ khuôn khổ của luật pháp quốc

tế về hoạt động quân sự trên biển, an ninh biển và luận giải mối quan hệ biện chứng của hoạt động quân sự đối với an ninh biển trong khu vực Biển Đông

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, Công trình có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất, xây dựng khái niệm hoạt động quân sự và an ninh biển dưới góc độ

khoa học pháp lý;

Thứ hai, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động quân sự đối với an ninh

biển;

Trang 14

động quân sự trên biển và an ninh biển;

Thứ tư, hệ thống, phân tích và đánh giá tính hợp pháp hay bất hợp pháp của

những hoạt động quân sự được tiến hành bởi một số quốc gia trong khu vực Biển Đông trên nền tảng lý luận ở Chương 1

5 Hướng tiếp cận của Công trình nghiên cứu

Công trình là sự kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố trước đó với mục đích bổ sung và hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của Công trình

Là một Công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành luật quốc tế, hướng nghiên cứu của Công trình chỉ tập trung vào khía cạnh pháp lý; đặc biệt là những quy định của pháp luật quốc tế về hoạt động quân sự, an ninh biển và thực trạng ở Biển Đông Nhóm tác giả phân tích từ góc độ lý luận và thực tiễn để làm rõ khái niệm và đặc điểm của các thuật ngữ này, song song đó, tìm ra mối quan hệ biện chứng giữa chúng và hơn hết là làm rõ được sự ảnh hưởng của hoạt động quân sự đến hòa bình và an ninh khu vực

Ngoài ra, Công trình nghiên cứu còn liên hệ với việc phân tích vấn đề dưới góc độ khoa học quân sự trong sự so sánh đối chiếu giữa chính sách và thực tế hoạt động quân

sự của từng quốc gia để có thể đưa ra kết luận toàn diện và hợp lý

6 Phương pháp nghiên cứu

Để viết nên Công trình này, nhóm tác giả đã phối hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học theo ba cấp độ sau đây:

6.1 Phương pháp luận

Công trình được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Marx-Lenin

6.2 Phương pháp hệ

Là một công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, chuyên ngành pháp luật, các phương pháp nghiên cứu mà nhóm tác giả đã sử dụng bao gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt nội

dung của Công trình trong việc tiếp cận, nghiên cứu các khái niệm và những luận điểm khoa học Bên cạnh đó, làm rõ những quy định của luật pháp quốc tế về vấn đề hoạt động quân sự và an ninh biển; tạo cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng trong

chương 2

Trang 15

phát sinh, quá trình phát triển và chuyển hóa để phát hiện bản chất và quy luật vận động của các khái niệm hoạt động quân sự và an ninh biển Bên cạnh đó phương pháp này còn được sử dụng để phân tích các tài liệu lý thuyết đã có nhằm phát hiện xu hướng, các trường phái nghiên cứu, … từ đó xây dựng tổng quan về các khái niệm nói

trên

Phương pháp so sánh: Phương pháp này được vận dụng để tìm ra những nét

tương đồng hay khác biệt giữa các khái niệm hoạt động quân sự và an ninh biển trong những nghiên cứu có trước Ngoài ra, phương pháp này được sử dụng trong việc đối chiếu mức độ và quy mô hoạt động quân sự của một số quốc gia trong khu vực Biển Đông

Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng cho việc hệ thống những

khái niệm về hoạt động quân sự và an ninh biển đã có từ trước giúp nhóm tác giả có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên nhiều phương diện từ đó đưa ra khái niệm phù hợp Song song đó, nhóm tác giả sử dụng phương pháp này để thống kê các nguyên tắc và quy định của luật pháp quốc tế điều chỉnh về hoạt động quân sự và an ninh biển Qua chương 2 thì phương pháp này sử dụng để ghi nhận các chuỗi hoạt động quân sự cụ thể của từng quốc gia, nhờ đó, đánh giá được mức độ cũng như cường

độ tiến hành hoạt động quân sự trong khu vực Biển Đông

Phương pháp chuyên gia: Phương pháp được sử dụng trong quá trình xây dựng

khái niệm hoạt động quân sự và an ninh biển Nhóm tác giả đã trực tiếp tiếp xúc với lực lượng chuyên trách (Bộ đội biên phòng và Cảnh sát biển) tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Qua đó, nhóm tác giả làm rõ được những đặc thù của hoạt động quân

sự trên biển; phân biệt được hoạt động quân sự và hoạt động dân sự Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng tham vấn một số chuyên gia để đưa ra được những đánh giá về hoạt

động quân sự của các quốc gia là phù hợp hay không phù hợp với luật pháp quốc tế

6.3 Phương pháp lập luận cụ thể

Trong quá trình viết nên Công trình, nhóm tác giả cũng đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp lập luận để hành văn rõ ràng nhưng cũng đảm bảo tính trôi chảy, mạch lạc như: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp

7 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

7.1 Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ đề ra của Công trình, nhóm tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của Công trình là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động quân sự trên biển trong mối quan hệ biện chứng với an ninh biển dưới góc

độ của luật pháp quốc tế

7.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 16

trên khía cạnh pháp lý quốc tế Công trình nghiên cứu về hoạt động quân sự và an ninh biển trên các mặt như sau: (1) khái niệm thuật ngữ và mối quan hệ biện chứng giữa chúng; (2) những quy định pháp lý quốc tế điều chỉnh về vấn đề này như các nguyên tắc của luật quốc tế, các điều ước quốc tế song phương, đa phương hay pháp luật quốc

gia; (3) thực trạng hoạt động quân sự trong khu vực Biển Đông

Về không gian: Công trình tập trung nghiên cứu về hoạt động quân sự trên biển

trong khu vực Biển Đông được tiến hành bởi một số quốc gia như Việt Nam, Trung

Quốc, Philippines, Mỹ và Nhật Bản

Về thời gian: Công trình này phân tích và đánh giá hoạt động quân sự của một số

quốc gia trong khu vực Biển Đông được lấy mốc thời gian từ năm 2008 cho đến thời điểm thực hiện Công trình

8 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của Công trình

8.2 Ứng dụng thực tiễn

Các kiến nghị – đề xuất trong Công trình góp phần hoàn thiện pháp luật quốc tế nhằm bảo vệ tối ưu và có hiệu quả các chủ thể khi tham gia vào mối quan hệ quốc tế; Kết quả đạt được của Công trình giúp cho quốc gia trong khu vực nhận thức rõ hành vi của chính quốc gia mình hay của quốc gia khác là phù hợp hay không phù hợp với luật pháp quốc tế hướng tới việc điều chỉnh hoạt động quân sự sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế trên tinh thần thượng tôn pháp luật;

Công trình là nguồn tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy

và đào tạo ngành luật nói chung và chuyên ngành luật quốc tế nói riêng; ngoài ra, Công trình còn có thể là nguồn tài liệu cho một số ngành khác có liên quan như: quan

hệ quốc tế, chính trị – ngoại giao, khoa học quân sự, …;

Công trình còn có giá trị tham khảo cho một số cơ quan nhà nước, cơ quan chấp pháp và các lực lượng chuyên trách bảo vệ biển đảo vận dụng trong công tác trên thực

tế

9 Trình tự nghiên cứu của đề tài

Trang 17

Bước thứ nhất: Nhóm tác giả phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động quân

sự và an ninh biển ở chương 1

Đầu tiên, nhóm tác giả tập hợp những cách hiểu về các thuật ngữ “hoạt động quân sự” và “an ninh biển” từ nhiều nguồn khác nhau trên cơ sở phân tích đánh giá Sau đó, nhóm đề xuất ra khái niệm về hai thuật ngữ trên ở khía cạnh mới mà nhóm cho rằng phù hợp với mục đích nghiên cứu là dưới góc độ pháp lý Trên cơ sở khái niệm đưa ra nhóm phân tích mối quan hệ giữa chúng trên bốn nội dung: (1) an ninh hàng hải, (2)

an ninh hàng không, (3) thương mại quốc tế và (4) môi trường biển Từ đó rút ra được mức độ ảnh hưởng của hoạt động quân sự đến an ninh biển

Tiếp theo, tìm hiểu, phân tích và đánh giá các quy định của luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự và an ninh biển dựa trên: nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, UNCLOS 1982, hiệp định, công ước hay cam kết quốc tế song phương và đa phương

Bước thứ hai: Trong chương 2, nhóm tác giả phân tích và đánh giá thực trạng

hoạt động quân sự của một số quốc gia trong không gian Biển Đông dựa trên nền tảng

lý luận ở chương 1

Đầu tiên, phân tích chính sách và thực trạng hoạt động quân sự của các nước trong khu vực như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines Sau đó đánh giá sự phù hợp hay không phù hợp giữa thực trạng tiến hành và chính sách mà các quốc gia này đề ra, hơn hết là sự phù hợp với luật pháp quốc tế cùng với sự tác động của những hoạt động quân sự đó đến an ninh Biển Đông

Tiếp theo, nhóm còn phân tích và đánh giá mức độ phù hợp với luật pháp quốc tế hoạt động quân sự của các quốc gia ngoài khu vực nhưng có lợi ích ở Biển Đông đó là

Mỹ và Nhật Bản cùng với sự tác động đến an ninh Biển Đông

Cuối cùng, đưa ra kết luận về những kết quả nghiên cứu, hạn chế thiếu sót, các kiến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 18

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động quân sự là một trong những thách thức lớn đối với an ninh nói chung và an ninh biển nói riêng, đặc biệt đối với những vùng biển có tranh chấp như Biển Đông Tuy nhiên, luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự trên biển vẫn chưa được quy định chặt chẽ và sâu sát Chính vì vậy, việc nghiên cứu để nhận diện và đưa ra kiến nghị hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động quân sự trên biển đóng vai trò vô cùng cần thiết

Công trình này được triển khai thành hai chương Chương 1 “những vấn đề lý luận

về hoạt động quân sự và an ninh biển” và chương 2 “thực trạng hoạt động quân sự của một số quốc gia trong không gian Biển Đông”

Trong chương 1, nhóm tác giả đã thành công trong việc đưa ra được các khái niệm về

hoạt động quân sự và an ninh biển Theo đó, hoạt động quân sự là: “hoạt động có kế hoạch

được tiến hành bởi quân đội của các quốc gia, dựa trên sự liên minh, hợp tác hay chính các quốc gia tự thực hiện nhằm mục đích chiến tranh hoặc hòa bình” Còn khái niệm an ninh

biển được hiểu là: “một khái niệm pháp lý chỉ trạng thái hòa bình, an toàn và n đ nh trong

không gian biển; cho các chủ thể khai thác, sử dụng và quản lý biển và đại dương nhằm mục đích hòa bình” Đồng thời, nhóm tác giả đã luận giải được mối quan hệ biện chứng giữa

hoạt động quân sự và an ninh biển dựa trên bốn khía cạnh: an ninh hàng hải, an ninh hàng không, thương mại quốc tế và môi trường biển Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã phân tích được những quy định của luật pháp quốc tế có liên quan hoạt động quân sự theo hai hướng: luật biển quốc tế và các quy định khác của luật pháp quốc tế về hoạt động quân sự

Trong chương 2, nhóm tác giả phân tích thực trạng hoạt động quân sự của một số quốc gia tiêu biểu trong không gian Biển Đông như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Mỹ và Nhật Bản theo hai cấp độ: chủ trương, chính sách và thực tiễn Ba nhóm hoạt động quân sự chính được phân tích là: (1) việc chiếm giữ và xây dựng các thực thể địa lý ở Biển Đông, (2) hiện đại hóa quân đội và (3) một số hoạt động quân sự

có quy mô sâu, rộng từ năm 2008 đến nay Từ đó, nhóm tác giả đưa ra nhận xét và đánh giá về sự phù hợp với luật pháp quốc tế trong hoạt động quân sự và sự tác động đến an ninh Biển Đông của các quốc gia này

Qua quá trình nghiên cứu nghiêm túc và khách quan, nhóm tác giả đi đến kết luận: Hoạt động quân sự của các quốc gia ở Biển Đông đang diễn ra với mức độ rất đáng quan ngại, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hoạt động quân sự của Trung Quốc Vì vậy, các quốc gia cần sớm xây dựng một văn kiện pháp lý có điều chỉnh trực tiếp về hoạt động quân sự nhằm duy trì hòa bình và an ninh Biển Đông

Trang 19

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ VÀ

1.1 Khái niệm về hoạt động quân sự và an ninh biển

Một khái niệm nếu được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau sẽ dẫn đến những nhìn nhận khác nhau Trong phạm vi công trình này, khái niệm “hoạt động quân sự”

và “an ninh biển” sẽ được tiếp cận dưới góc độ pháp lý

1.1.1 Khái niệm về hoạt động quân sự

Quân đội là một phần không thể thiếu của bất kỳ quốc gia Hầu như không có quốc gia nào có thể tồn tại mà không có quân đội, cũng như là các hoạt động quân sự Từ

điển bách khoa quân sự Việt Nam định nghĩa: “quân sự, (1) lĩnh vực hoạt động đặc

biệt của xã hội liên quan đến vũ trang, chiến tranh và quân đội (lực lượng vũ trang); (2) một trong những hoạt động cơ bản trong quân đội, cùng các hoạt động khác (chính

tr , hậu cần, kỹ thuật, ) tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội”3 Tuy nhiên, qua nghiên cứu, nhóm tác giả vẫn chưa tìm được định nghĩa của cụm từ “hoạt động quân sự” một cách chính thức, cụ thể và rõ ràng phù hợp với phạm vi và mục đích của Công trình

Theo cách định nghĩa của Baidu, hoạt động quân sự là “sử dụng một cách có t

chức các lực lượng vũ trang”4 Trong thời kỳ không có chiến tranh, các hoạt động này được biểu hiện thành các hoạt động như: phòng bị lật đổ chính quyền, diễn tập quân

sự, thiết quân luật bình ổn các cuộc bạo loạn và cứu trợ nhân đạo5

Bên cạnh đó, hoạt động quân sự còn được hiểu là hoạt động có phối hợp quân sự của một quốc gia hay của một tác nhân phi quốc gia để đáp ứng một tình hình đang phát triển Những hành động này được xây dựng như một kế hoạch quân sự để giải quyết tình huống vì lợi ích của quốc gia Các hoạt động có thể có tính chất chiến đấu hay phi chiến đấu và được liên hệ dưới danh nghĩa vì mục đích an ninh quốc gia6

Nguyên văn tiếng Anh: “A military operation is the coordinated military actions of a state, or a non-state

actor, in response to a developing situation These actions are designed as a military plan to resolve the situation in the state's favor Operations may be of a combat or non-combat nature and are referred to by a code name for the purpose of national security.” Tham khảo tại: [https://en.wikipedia.org/wiki/Military_operation]

(truy cập 01/3/2016)

Trang 20

Một cách định nghĩa khác rất đáng chú ý trong Từ điển tiếng Pháp – Dictionnaire Français – thì hoạt động quân sự là hành động của lực lượng vũ trang đã được kế hoạch hóa và có thể dẫn đến một sự liên minh về lực lượng không quân, hải quân, hoặc lục quân Hành động đó được lên kế hoạch trong một khuôn khổ chiến lược quân

sự, chiến lược ấy được tiến hành bởi nhà nước hoặc vùng lãnh thổ7

Theo như nhìn nhận của nhóm tác giả, có ba nét tương đồng trong các cách định

nghĩa trên Một là, chủ thể thực hiện hoạt động là các lực lượng vũ trang của các quốc gia Hai là, các hoạt động đó được tiến hành theo một kế hoạch Ba là, mục đích của

các hoạt động đó gồm hai hướng chính: chiến tranh hoặc hòa bình Mặc dù các định nghĩa này rất khoa học và khách quan nhưng nhóm tác giả nhận thấy nội hàm của khái niệm này vẫn chưa có khả năng phân biệt với khái niệm khác, đặc biệt là hoạt động dân sự, hoạt động này cũng có thể được tiến hành bởi lực lượng vũ trang và được lên

kế hoạch Chính vì lẽ đó, nhóm tác giả định hướng thuật ngữ hoạt động quân sự dưới một góc độ khác bên cạnh việc phân tích trên nhiều phương diện của vấn đề, từ đó mới

có thể đúc kết ra khái niệm chuẩn xác và có khả năng phân biệt với những khái niệm khác

Giới hạn phạm vi thuật ngữ “hoạt động quân sự”

Hoạt động quân sự trong phạm vi Công trình là hoạt động quân sự trên biển Qua quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy hoạt động quân sự trên biển có ba đặc điểm sau đây để phân biệt với hoạt động quân sự trên mặt đất

Thứ nhất, không gian tiến hành là không gian biển Không gian này có tính chất

rất đặc biệt Biển bao phủ bởi nước ở thể lỏng; môi trường nước là một khối thống nhất không thể chia tách và phân định rõ ràng Bên cạnh đó, tuyệt nhiên con người không thể sinh sống, hoạt động trực tiếp trên mặt biển mà phải có hệ thống phương tiện hay công trình nhân tạo trợ giúp; nên ranh giới giữa các quốc gia trên biển được phân định không như trên đất liền

Hoạt động quân sự trên biển có mối liên hệ mật thiết với hoạt động quân sự trên không Không gian trên không là vùng liên kết của hai vùng trên bộ và trên biển Vùng trời là khoảng không bao trùm lên phần lãnh thổ trên biển và trên bộ Thêm vào đó, khi tiến hành hoạt động quân sự trên bộ thì có thể kết hợp trên không và ngược lại trên biển thì cũng kết hợp trên không

Thứ hai, lực lượng tiến hành hoạt động quân sự trên không gian biển, là sự kết

hợp giữa lực lượng trên không và trên biển bao gồm không quân, hải quân (như cách thức tổ chức quân đội hầu hết các quốc gia) Ngoài ra, còn có một số lực lượng khác

7

Nguyên văn tiếng Pháp: “Action de forces armées, qui a été planifiée et qui peut entraîner un engagement de

forces aériennes, navales ou terrestres Elle s'inscrit dans le cadre d'une stratégie militaire, menée soit par un état ou un territoire.” Tham khảo tại: [http://www.linternaute.com/dictionnaire/fr/definition/operation-

militaire/#definition] (truy cập ngày 02/3/2016)

Trang 21

như ở Việt Nam là Bộ đội biên phòng, Trung Quốc là lực lượng Tên lửa chi viện chiến lược Còn các hoạt động quân sự trên bộ được tiến hành chủ yếu bởi bộ binh và đôi khi cũng kết hợp với không quân

Thứ ba, về phương tiện tiến hành, do đặc thù của từng vùng nên sẽ có những

phương tiện hỗ trợ khác nhau Trên bộ có thể di chuyển bằng tăng – thiết giáp, máy bay, hay là không cần phương tiện hỗ trợ di chuyển Còn trên biển thì phải có phương tiện hỗ trợ như tàu ngầm, tàu thuyền nổi trên mặt nước, máy bay Như đã đề cập, cũng

vì con người không thể trực tiếp di chuyển trên mặt nước

Nhận thấy, trong ba đặc điểm trên thì không gian tiến hành hoạt động quân sự là trên bộ hay trên biển sẽ đóng vai trò quyết định đối với hai đặc điểm còn lại

Phân loại hoạt động quân sự

Để thực hiện thao tác này, nhóm tác giả đã chia ra thành hai tiêu chí chính, bao gồm: (1) chủ thể thực hiện và (2) mục đích tiến hành

Thứ nhất, về chủ thể, đối với tiêu chí chủ thể thực hiện hoạt động quân sự thì có

ba trường hợp xảy ra là: đơn phương; song phương và đa phương

Một là, hình thức đơn phương, có nghĩa là một quốc gia tự mình tiến hành các

hoạt động quân sự mà không có sự tham gia của bất kỳ chủ thể nào khác Hình thức này rất rõ ràng và đơn giản, bản thân mỗi quốc gia đều có quyền tiến hành hoặc không tiến hành hoạt động quân sự miễn là hoạt động đó nằm trong khuôn khổ của luật pháp quốc tế và không gây phương hại đến lợi ích của bất kỳ quốc gia nào

Hai là, hình thức song phương hoặc đa phương, xét cho cùng hai hình thức này

giống nhau ở điểm là có sự cùng tham gia của một hoặc nhiều chủ thể khác của luật quốc tế; hay nói cách khác là có nhiều bên cùng tham gia vào một hoạt động quân sự tại một khu vực xác định Hình thức hoạt động quân sự song phương hoặc đa phương này có thể xuất phát từ mối quan hệ liên minh quân sự hoặc hợp tác quân sự

Về mối liên hệ liên minh quân sự, thuật ngữ “liên minh quân sự” hay “liên minh chiến đấu” xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử quân sự và chiến tranh trên thế giới Liên minh quân sự, liên minh chiến đấu là một hiện tượng phổ biến nhằm mục đích xâm lược hoặc chống xâm lược, hoạt động liên minh có thể nhất thời, tồn tại trong khoảng thời gian ngắn hay lâu dài8

tùy thuộc vào mục đích của các quốc gia tham gia liên minh

Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam thì:

Liên minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích

8

Nguyễn Văn Quang, “Mưu đồ gì ẩn sau những lời kêu gọi Liên minh quân sự”, Viện Khoa học XHQSVN – Bộ

quốc phòng, Tạp chí quốc phòng toàn dân, xem tại:

[http://tapchiqptd.vn/zh/van-de-su-kien/muu-do-gi-an-sau-nhung-loi-keu-goi-lien-minh-quan-su/7302.html] (truy cập ngày 12/4/2016)

Trang 22

Liên minh quân sự có thể tổ chức ra khối quân sự hoặc chỉ lập thành đơn vị chiến đấu chung Tùy thuộc vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược9

Như vậy, căn cứ vào cách hiểu trên có thể nhận thấy liên minh quân sự có bao gồm hai mặt là tích cực và tiêu cực Cụ thể:

Mặt tích cực: Liên minh quân sự góp phần tăng cường sức mạnh quân sự, quốc

phòng cho hành động chống xâm lược; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường, nhằm thực hiện các chiến lược chiến tranh hay chiến dịch quân sự tiến công hoặc phòng ngự nhằm mục đích tự vệ Đồng thời, mục đích của hoạt động liên minh có thể là sự giúp sức tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia cùng phát triển, học hỏi kinh nghiệm, tài trợ tài chính hay vì mục đích nhân đạo cứu giúp người ở địa phận ranh giới chung Do đó, có thể nhìn nhận mặt tích cực của hoạt động này là vì lợi ích chung của các bên và phù hợp với luật pháp quốc tế

Mặt tiêu cực: Liên minh quân sự làm gia tăng căng thẳng và đối đầu giữa các

nước, các khối quân sự sẵn có các mâu thuẫn về mục đích và lợi ích; là nguyên cớ để các nước, các khối quân sự chạy đua vũ trang, gia tăng tiềm lực, thực lực và đẩy mạnh hoạt động quân sự, tăng cường hiện diện quân sự Điều này đẩy thế giới, khu vực và đất nước đến “miệng hố chiến tranh”, “chiến tranh đẻ ra chiến tranh” Các quốc gia trong khối liên minh phải từ bỏ một phần hoặc hy sinh những lợi ích căn bản, đặc biệt

là quyền dân tộc tự quyết Đây là điều kiện thuận lợi để các nước lớn, các tập đoàn tài phiệt, tập đoàn quân sự hùng mạnh hay các thế lực phản động thỏa hiệp với nhau, thực hiện chính sách hai mặt đối với các quốc gia, dân tộc nhỏ yếu bị lôi kéo, ép buộc vào liên minh,

Nhìn chung, tính chất tích cực và tiêu cực của hành động liên minh quân sự đan xen, chuyển hóa tác động lẫn nhau; gây nguy hại đến các mục tiêu chung là hòa bình,

ổn định và an ninh của đất nước, khu vực và thế giới10

Tùy theo mục đích chính trị, mà có liên minh quân sự, liên minh chiến đấu chính nghĩa, tiến bộ hoặc phi nghĩa, phản động; Tùy theo hình thức và thời gian tiến hành,

mà có liên minh lâu dài hoặc tạm thời Các quốc gia có thể xem xét thực hiện những hoạt động này một mình hoặc liên minh tùy thuộc vào mục đích của mình Từ đầu thế

kỷ XX đến nay, trên thế giới đã xuất hiện những liên minh quân sự, liên minh chiến đấu tiến bộ, chính nghĩa, như: Liên minh chống chủ nghĩa phát xít của các nước đồng

9

Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự (2004), chú thích số 3, tr 610

10

Nguyễn Văn Quang, “Mưu đồ gì ẩn sau những lời kêu gọi Liên minh quân sự”, Viện Khoa học XHQSVN –

Bộ quốc phòng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, xem tại:

[http://tapchiqptd.vn/zh/van-de-su-kien/muu-do-gi-an-sau-nhung-loi-keu-goi-lien-minh-quan-su/7302.html] (truy cập ngày 12/4/2016)

Trang 23

minh (1940-1945)11, Liên minh ba nước Đông Dương: Việt Nam, Campuchia và Lào (1945-1975)12, Tổ chức Hiệp ước Warszawa (Vác-sa-va) (1955-1989)13 Thời kì chiến tranh thì liên minh quân sự nhằm mục đích gia tăng sức mạnh quân sự chống xâm lược Ngày nay liên minh nhằm giúp đỡ nhau trong việc tăng cường thế mạnh quốc phòng, phát huy sức mạnh tổng hợp từ nhiều quốc gia Đơn cử như liên minh giữa Philippines – Mỹ nhằm hai mục tiêu chiến lược là chính trị và quân sự Bên cạnh đó còn có các tổ chức được thành lập ra dựa trên sự liên minh giữa các nước như: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Liên minh Phòng thủ Đông Nam Á (SEATO), Khối hiệp ước quân sự Úc – New Zealand – Mỹ (ANZUS), …

Về mối quan hệ hợp tác, cần phân biệt giữa liên minh thực hiện hoạt động quân sự với những sáng kiến hợp tác quân sự được thực hiện bởi các quốc gia Hai thuật ngữ

“liên minh” và “hợp tác” không cùng nội hàm Hai hành động này cùng có điểm tương đồng là sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các quốc gia có chung lợi ích hoặc cùng thực hiện mục tiêu chung Thời gian tồn tại cùng là tạm thời hay lâu dài tùy thuộc vào mục tiêu chiến lược giữa các quốc gia tham gia ký kết thỏa thuận

Hai thuật ngữ này không đồng nhất, điểm khác biệt cơ bản như sau: (1) Liên minh

là sự thống nhất ý chí giữa các bên có sự ràng buộc về trách nhiệm thực hiện cao hơn hợp tác; biểu hiện của việc này là sự tồn tại của văn bản pháp lý ghi nhận cam kết liên minh quân sự, thường được thể hiện dưới hình thức hiệp định; (2) Liên minh có cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng khi vi phạm sẽ bị xử lý theo quy tắc đã đưa ra trước đó, cơ chế này không bảo vệ lợi ích của một bên hay nhóm các bên tham gia mà bảo vệ cho quá trình thực thi trách nhiệm được hiệu quả; hợp tác trên cơ sở thiện chí thực hiện các thỏa thuận nên không có bất kì cơ chế nào ràng buộc trách nhiệm; (3) Các bên tham

11

Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, các nước phát xít Đức, Italia và Nhật Bản liên kết thành liên minh phát xít

(trục Đức – Ý – Nhật), tăng cường các hoạt động quân sự và gây chiến tranh xâm lược ở nhiều khu vực khác

nhau trên thế giới Ngày 01/01/1942, tại Washington, 26 quốc gia, đứng đầu là Liên Xô, Mĩ, Anh đã ra “Tuyên

ngôn Liên hiệp quốc” cam kết cùng nhau chống phát xít với toàn bộ lực lượng của mình Khối Đồng minh chống

phát xít được thành lập” Đoàn Thị Hồng Điệp, Bài giảng Lịch sử lớp 11 bài 17, Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945); xem tại:

[http://cadasa.vn/khoi-lop-11/chien-tranh-the-gioi-thu-hai.aspx] (truy cập ngày 13/12/2015)

12

Theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, ngày 11/3/1951 Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương khai mạc tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Các đại biểu đại diện Mặt trận Liên Việt của Việt Nam, của Mặt trận Lào Ítxalạ, của Mặt trận Khơme Ítxarắc đã thảo luận và nhất trí thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng nhau đánh đuổi bọn thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập thực sự cho nhân dân Đông Dương Hội nghị đề ra chương trình hành động chung và cử Ủy ban liên minh gồm đại diện của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.”

Đào Ngọc Dũng, “Liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam trong 30 năm chiến tranh giải phóng

(1945-1975)”, Đảng Cộng Sản Việt Nam Xem tại:

[http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/sach-chinh-tri/books-5105201511232846/index-31052015112237463.html] (truy cập ngày 20/01/2016)

13

Khối Warszawa (phiên âm tiếng Việt: khối Vác-sa-va) là một hiệp ước quân sự được ký kết tại Warszawa (Ba Lan) vào năm 1955 giữa tám nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung và Đông Âu, gồm Liên Xô, Albania (rút ra năm 1968), Ba Lan, Bulgaria, Đông Đức, Hungary, Romania và Tiệp Khắc Liên minh quân sự này do Liên Xô thành lập và chỉ huy nhằm chống lại khối quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) do

Mỹ đứng đầu, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh Trụ sở của khối đặt tại thủ đô Warszawa của Ba Lan Xem tại: [https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%91i_Warszawa] (truy cập ngày 13/4/2016)

Trang 24

gia liên minh có trách nhiệm liên đới, chịu sự chi phối ràng buộc của các bên vì lợi ích chung của các bên; còn đối với hợp tác thì các bên độc lập thực hiện các hoạt động, không chịu sự chi phối phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình thực hiện Dựa vào những điểm khác biệt trên, nhận thấy rằng, tính chất của liên minh quân sự mang tính ràng buộc và có tầm ảnh hưởng đến các bên tham gia nhiều hơn, nên khi tham gia cần có sự xem xét tính đến lợi ích đạt được và hệ lụy của nó vì vậy, thông thường các quốc gia chọn hợp tác quân sự hơn là liên minh quân sự Sáng kiến an ninh cũng là một trong những biểu hiện của sự hợp tác quân sự

Trong số đó phải kể đến những sáng kiến an ninh giữa các quốc gia điển hình như:

Một là, sáng kiến An ninh Eo biển Malacca (MSSI) và các hoạt động tuần tra

chung tại Malacca (MSSP) chính thức được triển khai vào năm 2004 Sáng kiến An ninh Eo biển Malacca (MSSI) nhấn mạnh tới sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm giải quyết một mối đe doạ an ninh cụ thể – cướp biển và tội phạm xuyên quốc gia Sáng kiến An ninh Eo biển Malacca (MSSI) nhiệm vụ tuần tra chống cướp biển, các vấn đề

an ninh phi truyền thống; khu vực hoạt động là khu vực eo biển Malacca (mang tầm khu vực) Sáng kiến này gồm 4 nước thành viên ASEAN và có sự tham gia một cách

có giới hạn của các quốc gia bên ngoài14

Hai là, sáng kiến mô hình Lực lượng biển hỗn hợp (Combined Maritime Forces –

CMF) Lực lượng biển hỗn hợp (CMF) là “sự hợp tác hải quân đa quốc gia, với mục

tiêu thúc đẩy an ninh, n đ nh và th nh vượng tại vùng lãnh hải quốc tế rộng 2,5 triệu dặm vuông, bao gồm một số tuyến đường biển quan trọng nhất của thế giới” Lực

lượng biển hỗn hợp (CMF) nhiệm vụ đảm bảo an ninh hàng hải, chống cướp biển; khu vực hoạt động vùng biển Somalia và vịnh Aden, phía tây Ấn Độ Dương (mang tầm quốc tế)15

Một hình thức khác của hợp tác quân sự là tổ chức các cuộc tập trận chung khu vực, có thể tổ chức định kỳ hoặc chỉ là nhất thời ở một giai đoạn nào đó tùy thuộc vào tình hình và mục đích của các bên Trong đó, phải kể đến cuộc tập trận Komodo

14

Hoạt động này là quá trình kết hợp các thoả thuận song phương về tuần tra chung giữa ba nước Malaysia, Indonesia, Singapore, sau đó có sự tham gia của Thái Lan vào năm 2008, nhằm đối phó với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống ở eo Malacca Sáng kiến này hiện tại gồm ba thành tố: một là các hoạt động tuần tra chung tại Malacca (MSSP); hai là mạng lưới Eyes-in-the-sky (EiS) – hoạt động phối hợp tuần tra trên không giữa các nước; và ba là nhóm trao đổi thông tin tình báo MSP Nguyễn Thế Phương, “Triển vọng xây dựng lực lượng

tuần tra chung trên Biển Đông”, Nghiên cứu quốc tế, xem tại:

[http://nghiencuuquocte.org/2015/06/04/trien-vong-xay-dung-luc-luong-tuan-tra-chung-tren-bien-dong/] (truy cập ngày 20/3/2016)

15

Sáng kiến Lực lượng biển hỗn hợp (CMF) là các nỗ lực chống cướp biển và bảo đảm an ninh hàng hải đa phương tại vùng biển ngoài khơi Somalia và phía tây Ấn Độ Dương Thành viên: 30 nước, tham gia một cách tự do; tổ chức – kết hợp dựa trên Ủy ban điều phối chung ba bên – sáng kiến đa phương của Mỹ, do Mỹ điều phối – Hạm đội 5 của Mỹ là nhân tố điều phối chính; pháp lý vùng biển quốc tế, dựa trên các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Nguyễn Thế Phương, “Triển vọng xây dựng lực lượng tuần tra chung trên Biển Đông”,

Nghiên cứu quốc tế, xem tại:

[http://nghiencuuquocte.org/2015/06/04/trien-vong-xay-dung-luc-luong-tuan-tra-chung-tren-bien-dong/] (truy cập ngày 20/3/2016)

Trang 25

(MNEK) do Indonesia thành lập năm 201416

Ngoài ra còn có một số hoạt động hợp tác khác giữa các quốc gia17

Từ những hoạt động trên cho thấy xu thế hợp tác chung giữa các quốc gia trong lĩnh vực quân sự ngày càng trở nên phổ biến và mang tính chất thường niên Không những thế, giống với liên minh quân sự, hợp tác quốc tế cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực Trong đó, hợp tác nhằm mục đích củng cố bảo trợ giúp đỡ lẫn nhau vì hòa bình an ninh khu vực và thế giới là hợp tác tích cực Còn đối với việc hợp tác nhằm củng cố quan hệ đồng minh gây đe dọa căng thẳng tình hình và tìm ẩn nguy cơ gây chiến tranh là hợp tác tiêu cực

Thứ hai, về mục đích hoạt động quân sự, nhóm tác giả chia thành hai mục đích

chính: (1) đe dọa và chiến tranh; (2) bảo vệ và hòa bình

Một là, đe dọa và chiến tranh Phải thấy rằng, các hoạt động quân sự mang tính

chất chiến tranh là hết sức nguy hiểm Luật pháp quốc tế ra đời với mục đích là duy trì nền hòa bình của thế giới Do vậy, loại trừ chiến tranh là mục tiêu của nhân loại tiến

bộ đang hướng tới Từ Hiến chương Liên hợp quốc 1945, Tuyên bố về các nguyên tắc luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 đều ra đời nhằm mục tiêu chấm dứt chiến tranh, chấm dứt tình trạng sử dụng vũ lực để giải quyết những tranh chấp bất đồng giữa các quốc gia Ngay cả trong UNCLOS 1982 cũng luật hóa “mục đích hòa bình” của việc sử dụng biển cả và đại dương trong hai Điều 88 và Điều 141 Từ đó thấy rằng, các hoạt động quân sự theo hướng này là vi phạm nghiêm trọng luật pháp

16

Cuộc tập trận này là sự hợp tác của ASEAN và ASEAN Plus được tổ chức định kì hai năm một lần Ngày 31/3/2014 cuộc tập trận lần đầu tiên được tổ chức tại Batam và quần đảo của Anambas và Natuna có sự tham gia của các quốc gia châu Á Tàu chiến của Nga, Indonesia, Nhật Bản, Việt Nam, Australia và Philippines đã bắt đầu cuộc tập trận hải quân chung mang tên “Komodo – 2014” ở Biển Đông Các chiến hạm của Nga kết hợp với các lực lượng đa quốc gia sẽ tiến hành những hoạt động tìm kiếm cứu nạn, diễn tập thông tin liên lạc và máy bay trực thăng Sáng 31/3/2014, các lực lượng tham gia tập trận thực hiện hoạt động tìm kiếm cứu nạn người trên biển đã đến khu vực quần đảo Natuna Cuộc tập trận sẽ tiếp tục ở khu vực này vào ngày 01/4/2014 Lính thủy của một số quốc gia châu Á – Thái Bình Dương sẽ cùng nhau tiến hành chiến dịch sơ tán các nạn nhân giả định của thảm họa sóng thần Các nạn nhân này sẽ được đưa ra khỏi khu vực thiên tai trên các máy bay trực thăng của

lực lượng không quân trên tàu chiến Văn Linh, “Tàu chiến sáu nước đã bắt đầu tập trận ở Biển Đông”, Đời sống

và pháp luật, xem tại:

[http://www.doisongphapluat.com/the-gioi/the-gioi-24h/tau-chien-6-nuoc-bat-dau-tap-tran-o-bien-dong-a27609.html] (truy cập ngày 26/3/2016)

Cuộc tập trận Komodo (MNEK) thứ hai được tổ chức vào năm 2016 với chủ đề là “sẵn sàng và sự hợp tác vì hòa bình”, sẽ tập trung vào các hoạt động gìn giữ hòa bình trên biển Cuộc tập trận lần này sẽ rất đặc biệt vì sẽ được

tổ chức cùng với Hội nghị Hải quân Tây Thái Bình Dương lần thứ 15 và năm 2016 Lễ duyệt binh Hải quân quốc

tế Tất cả những sự kiện này sẽ diễn ra tại thành phố Padang và các đảo Mentawai, nằm ở Tây Sumatra vào ngày 12-16/4/2016 Tham khảo tại: Jalesveva Jayamahe, “About Multilateral Naval Excersise” Xem tại:

[http://www.komodoexercise.org/#!about/cee5] (truy cập ngày 12/4/2016)

17

Năm 2012 Singapore và Indonesia đã ký một thỏa thuận hợp tác và hỗ trợ giải cứu tàu ngầm, giúp đỡ nhau trong trường hợp có tai nạn; Ngày 17/11/2015 Philippines – Việt Nam ký thỏa thuận đối tác chiến lược trong thỏa thuận có ghi nhận sự hợp tác tập trận chung giữa hai nước “vì mục đích này, tham gia tự tin và khả năng xây dựng những hoạt động sẽ được tiến hành dẫn đến việc nắm giữ cuối cùng của cuộc tập trận chung thực sự giữa hải quân hai nước", đoạn 16 của thỏa thuận nói Xem thêm tại: [http://verafiles.org/ph-vietnam-to-hold- naval-drills-scientific-research-in-south-china-sea/] (truy cập ngày 12/3/2016)

Trang 26

quốc tế, đe dọa rất lớn đến hòa bình, an ninh khu vực và thế giới, là chống lại sự phát triển của con người

Các hoạt động quân sự theo hướng chiến tranh cũng giống với hoạt động quân sự theo hướng hòa bình về chủ thể thực hiện nhưng nó có hai dấu hiệu cơ bản như sau: (1) danh nghĩa pháp lý nơi thực hiện hoạt động quân sự không phù hợp luật pháp quốc

tế và (2) với quy mô tính chất ảnh hưởng sâu rộng

(1) Nơi thực hiện hoạt động quân sự có thể là vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia hay vùng thuộc quyền chủ quyền, vùng đặc quyền, biển cả và cũng không loại trừ trường hợp thực hiện hoạt động quân sự trên vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia khác Tuy nhiên dựa vào tính chất pháp lý những nơi đó thì phạm vi thực hiện hoạt động sẽ khác nhau theo sự giảm dần từ vùng lãnh thổ ra đến biển cả Điều đặc biệt cần chú ý là các hoạt động quân sự thực hiện ở khu vực ranh giới giữa các quốc gia hay lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia khác mà không được sự đồng ý của quốc gia có chủ quyền thì tính chất rất khác và là cơ sở xem xét hoạt động quân sự

đó nhằm mục đích chiến tranh Nhóm tác giả nhận thấy, dấu hiệu thứ nhất này có tính chất quyết định, làm phái sinh hai dấu hiệu còn lại Nếu nơi tiến hành hoạt động quân

sự không phù hợp với luật pháp quốc tế thì đương nhiên đe dọa đến an ninh hòa bình của quốc gia khác không cần phải căn cứ vào mục đích tính chất quy mô của hành vi (2) Quy mô và tính chất của hoạt động quân sự được đánh giá là sâu rộng khi hoạt động quân sự này gây ảnh hưởng đến quốc gia khác ngoài chính quốc gia đang là chủ thể thực hiện hoạt động quân sự Bên cạnh đó, có thể dựa vào số lượng chủ thể tham gia, nếu có hơn một quốc gia cùng thực hiện hoạt động quân sự thì có thể xem là sâu rộng Thêm vào đó, có thể dựa vào sức công phá của khí tài và sự tối tân của phương tiện được sử dụng, nếu hoạt động quân sự được tiến hành với phương tiện vũ khí hiện đại, sức sát thương cao và trong phạm vi đủ rộng để ảnh hưởng quốc gia khác thì có thể xem là sâu rộng

Hoạt động quân sự vì mục đích chiến tranh bao gồm: quân sự hóa, chạy đua vũ trang, xây dựng căn cứ quân sự, thường xuyên tập trận với quy mô rộng lớn, đe dọa và khiêu khích chiến tranh, xâm phạm chủ quyền quốc gia khác, gây rối loạn và căng thẳng thêm tình hình, …

Trong đó, quân sự hóa là hoạt động của các chủ thể là quốc gia làm cho một khu vực lãnh thổ dân sự bình thường trở thành một khu vực có khả năng thực hiện các hoạt động quân sự như chính trị, hậu cần, kỹ thuật, … tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội Hoạt động này được đánh giá là làm căng thẳng thêm tình hình và tiến gần đến

nguy cơ chiến tranh Hay theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam hiểu rằng: “Quân

sự hóa, áp đặt cơ chế của hoạt động quân sự vào hoạt động của một bộ phận hay toàn

bộ đời sống xã hội (kinh tế, chính tr , xã hội, văn hóa, tư tưởng, …) Mục đích và tính

Trang 27

chất quân sự hóa phụ thuộc vào bản chất chế độ chính tr – xã hội và nhà nước chủ trương quân sự hóa Quân sự hóa thường được sử dụng khi chuẩn b hoặc tiến hành chiến tranh Trong l ch sử, các nhà nước đế quốc chủ nghĩa lợi dụng quân sự hóa để tăng cường bóc lột nhân dân, đàn áp phong trào đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh và xâm lược nước khác”18

Hai là, bảo vệ và hòa bình, hoạt động quân sự trong nhóm này sẽ loại trừ những

dấu hiệu của hoạt động quân sự nhằm mục đích, đe dọa và chiến tranh Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, luật pháp quốc tế không can thiệp vào việc một quốc gia phát triển củng cố lực lượng quân đội vì an ninh quốc gia Các hoạt động trong nhóm này là: về hậu cần kỹ thuật gồm cung cấp quân nhu, quân lương và quân trang; về sẵn sàng chiến đấu như thử vũ khí, di chuyển vũ khí, huấn luyện quân đội, hợp tác quốc tế, … Nhìn chung, hoạt động quân sự phải được đánh giá dựa trên hai dấu hiệu cơ bản đã đưa ra: (1) danh nghĩa pháp lý nơi thực hiện hoạt động quân sự không phù hợp luật pháp quốc tế và (2) với quy mô tính chất ảnh hưởng sâu rộng để có thể phân loại một cách chuẩn xác

Từ những phân tích trên, nhóm tác giả đưa ra khái niệm hoạt động quân sự: hoạt

động có kế hoạch được tiến hành bởi quân đội của các quốc gia, dựa trên sự liên minh, hợp tác hay chính các quốc gia tự thực hiện nhằm mục đích chiến tranh hoặc hòa bình

Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động quân sự có hai đặc điểm cơ bản giống với bất kỳ hoạt động nào kể cả dân sự lẫn quân sự; và hai đặc điểm đặc trưng để phân biệt hoạt động quân sự với hoạt động dân sự

Thứ nhất, hoạt động quân sự là hoạt động có kế hoạch Kế hoạch là sản phẩm của

công tác lập kế hoạch Kế hoạch có thể là các chương trình hành động, danh sách, bảng biểu hay sơ đồ được sắp xếp theo một trình tự nhất định, mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp, sự chuẩn bị, triển khai thực hiện nhằm đạt được một mục tiêu, chỉ tiêu

đã được đề ra Thông thường kế hoạch được hiểu như là một khoảng thời gian cho những dự định sẽ hành động và thông qua đó có cơ hội đạt được mục tiêu nhanh hơn hoặc tỉ lệ thành công sẽ cao hơn khi không có kế hoạch Căn cứ vào thời gian của kế hoạch thì có thể chia thành kế hoạch ngắn – trung – dài hạn Căn cứ vào tính chất thì

kế hoạch định tính và kế hoạch định lượng

Kế hoạch có thể được thực hiện một cách chính thức hoặc không chính thức, bằng văn bản, văn kiện hoặc bất thành văn, công khai minh bạch hoặc bí mật (đối với các kế

18

Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự (2004), chú thích số 3, tr 844

Trang 28

hoạch tác chiến, tình báo, chính trị, đối ngoại hay tội phạm, gây án, hãm hại, trả thù hoặc một phần trong kế hoạch kinh doanh, làm ăn, tài chính, …)19

Thứ hai, cách thức tiến hành hoạt động quân sự có thể là liên minh, hợp tác giữa

các quốc gia hoặc quốc gia độc lập thực hiện Như đã phân tích ở trên mỗi quốc gia đều có quyền tự quyết trong hoạt động của mình và tùy thuộc vào mục tiêu chiến lược

đề ra mà có cách thức tiến hành phù hợp

Thứ ba, chủ thể tiến hành hoạt động quân sự là lực lượng quân đội của quốc gia

Khái niệm mà nhóm tác giả đưa ra có điểm khác biệt quan trọng là chủ thể tiến hành Các quan điểm mà đã phân tích ở trên đều cho rằng chủ thể là các lực lượng vũ trang còn nhóm tác giả lại nhận định phải là quân đội Chủ thể thuộc lượng lực quân đội bao gồm: quân nhân và công dân được trưng tập phục vụ cho quân đội Điều 29 UNCLOS 1982 khi nêu định nghĩa về tàu quân sự, chủ thể điều kiển tàu theo quy định phải là một công chức được nhà nước ủy nhiệm chỉ huy và người điều kiển này phải

có tên trong danh sách giao nhiệm vụ hoặc tương đương20

Như vậy, nhận định chủ thể của hoạt động quân sự nhất thiết phải mang danh nghĩa quân đội là phù hợp

Bên cạnh đó, theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam thì lực lượng vũ trang nhân dân là lực lượng do chính đảng của giai cấp công nhân tổ chức và lãnh đạo; mang chất cách mạng và tính nhân dân sâu sắc Tổ chức và cơ cấu của lực lượng vũ trang nhân dân tùy thuộc đặc điểm và truyền thống của mỗi nước Ở Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm: quân đội nhân dân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ, lực lượng cảnh sát biển và công an nhân dân Đối với Philippines thì có lực lượng quân đội và cảnh sát vũ trang thực hiện chế độ quân sự chuyên nghiệp21

Lực lượng vũ trang được hiểu là các lực lượng do nhà nước thành lập tham gia bảo vệ an ninh quốc phòng của quốc gia và được trang bị vũ khí Nhưng không phải lực lượng nào trong hệ thống lực lượng vũ trang đều mang tính chất quân

sự Có thể kể đến là lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư theo cách gọi của Việt Nam; còn Trung Quốc thì gọi hai lực lượng này là Ngư chính và Hải giám, những lực lượng này mang tính chất hành chính – dân sự Có thể rút ra kết luận, hoạt động quân sự phải được tiến hành bởi chủ thể là quân đội của các quốc gia Đây được xem là đặc điểm đặc trưng của hoạt động quân sự dùng để phân biệt với hoạt động dân sự

Thứ tư, mục đích thực hiện là nhằm chiến tranh hoặc hòa bình

19

Tham khảo tại: [https://en.wikipedia.org/wiki/Plan] (truy cập ngày 09/9/2016)

20 Nguyên văn tiếng Anh: “under the command of an officer duly commissioned by the government of the State

and whose name appears in the appropriate service list or its equivalent”.

21

Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự (2004), chú thích số 3, tr 630

Trang 29

Đây là một đặc điểm đặc trưng dùng để phân biệt với hoạt động dân sự Hoạt động quân sự khi được tiến hành thì các chủ thể luôn đặt ra mục tiêu hướng đến gọi là mục đích mà các quốc gia mong muốn đạt được Vì tính chất của hoạt động này là có sử dụng sức mạnh quân đội (một lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia) Nên khi có sự tham gia của lực lượng này thì tất yếu dẫn đến hai con đường:

Một là, đối với mục đích chiến tranh Chiến tranh là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ

chức giữa các đơn vị chính trị đối kháng và gây ra hậu quả đáng kể22

Chiến tranh được đề cập ở đây là chiến tranh phi nghĩa; là do mong muốn của các quốc gia nhằm xâm chiếm bất hợp pháp một quốc gia khác Đây được xem là một hành vi vi phạm luật quốc tế và không được cộng đồng quốc tế tiến bộ ủng hộ Sau chiến tranh các quốc gia có thể được mở rộng lãnh thổ, được gia tăng sức ảnh hưởng Chính vì thế mà các quốc gia tham vọng lớn luôn có mong muốn chiến tranh xâm lược Chiến tranh phi nghĩa gây ra sự hỗn loạn trật tự thế giới làm thay đổi cán cân quyền lực làm bất ổn an ninh và hòa bình

Hai là, đối với mục đích hòa bình Một thế giới trật tự và văn minh luôn hướng

đến hòa bình ổn định Mục đích này xét ở góc độ pháp lý thì phù hợp với pháp luật quốc tế và được cộng đồng ủng hộ Ở góc độ xã hội, hành động này là văn minh – nhân đạo như hoạt động cứu trợ nhân đạo, giúp đỡ quốc gia khác giành độc lập, … Bên cạnh đó, hoạt động quân sự được dùng cho chiến tranh chính nghĩa (just wars) cũng được xem như là vì mục đích hòa bình Chiến tranh chính nghĩa là chiến tranh được tiến hành với mục đích phù hợp với luật pháp quốc tế và giá trị đạo đức nhân loại Chiến tranh chống xâm lược và giải phóng dân tộc là chiến tranh chính nghĩa23

1.1.2 Khái niệm về an ninh biển

An ninh là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm, đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội24 “An ninh”, hiểu theo một nghĩa đơn giản nhất, là khả năng giữ vững sự an toàn trước các mối đe dọa Tuy nhiên, “an ninh” không phải là một khái niệm tĩnh mà là một khái niệm động và trải qua nhiều thay đổi về cách hiểu cũng như cách tiếp cận Từ một ý niệm truyền thống xoay quanh các chủ đề quân sự, chiến

22

Trần Thanh Huyền, “Chiến tranh (war)”, Nghiên cứu quốc tế, xem tại:

[http://nghiencuuquocte.org/2015/01/11/chien-tranh/#sthash.L944lNzK.dpuf] (truy cập ngày 10/5/2016)

23

Trần Thanh Huyền, “Chiến tranh (war)”, Nghiên cứu quốc tế, xem tại:

[http://nghiencuuquocte.org/2015/01/11/chien-tranh/#sthash.L944lNzK.dpuf] (truy cập ngày 10/5/2016)

24

Trung tâm từ điển Bách khoa Quân sự (2004), chú thích số 3, tr 25

Xem thêm: Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, tr 21

Trang 30

tranh và bạo lực, khái niệm an ninh với những kết nối mới đã mở ra những chiều kích xuất phát từ nhiều lĩnh vực khác nhau Từ góc nhìn ban đầu tập trung vào Nhà nước (với vai trò vừa là chủ thể, vừa là cấp độ phân tích) các học giả đang nói về những

“hình thái an ninh” mới, với sự thay đổi về chủ thể lẫn khách thể, cũng như phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của những tác nhân mới này25

Khái niệm “an ninh” ở thế kỷ XX trong chính trị quốc tế thường gắn liền với bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang: Thế chiến I, Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh Trong bối cảnh đó, an ninh được hiểu như khả năng của một quốc gia có thể ngăn chặn được các cuộc xâm lược vũ trang đến từ bên ngoài Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay, khả năng xảy ra các cuộc xâm lược hay xung đột vũ trang từ bên ngoài vẫn còn nhưng ngày càng suy giảm, trong khi đó lại xuất hiện nhiều mối đe dọa từ các lĩnh vực đời sống khác Từ những hiện thực đó đòi hỏi một cách tiếp cận khác trong nghiên cứu về

an ninh26

Khi phân loại khái niệm an ninh theo chủ thể quốc gia và yếu tố thời gian, người ta chia thành an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Khái niệm an ninh phi truyền thống xuất hiện từ sau Chiến tranh lạnh nhưng cho đến nay vẫn chưa có quan điểm chung về khái niệm của thuật ngữ này Những quan điểm khác nhau về thuật ngữ này có thể chia ra thành hai trường phái: (1) an ninh phi truyền thống bao gồm an ninh quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội; trường phái này cho rằng an ninh phi truyền thống

là một khái niệm mở rộng nội hàm của khái niệm an ninh truyền thống – quan niệm lấy an ninh quân sự làm trung tâm; (2) an ninh phi truyền thống là một khái niệm đối lập với an ninh truyền thống; phạm vi của an ninh phi truyền thống không bao gồm an ninh quân sự Ở Việt Nam, an ninh biển bao gồm nhiều lĩnh vực như: an ninh chủ quyền lãnh hải, bảo vệ quyền lợi biển, an ninh giao thông chiến lược trên biển, an ninh trong các hoạt động kinh tế biển27 Tuy nhiên, phần lớn các học giả nghiên cứu về quan hệ quốc tế theo quan điểm thứ hai về an ninh phi truyền thống28

An ninh biển được nhắc đến nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì trật

tự trong việc sử dụng và quản lý biển vì mục tiêu phát triển con người An ninh biển là khái niệm khá mới và có nhiều cách tiếp cận về nội hàm trong tổng thể an ninh chung

25

Trương Minh Huy Vũ, “An ninh (Security), Nghiên cứu quốc tế, xem tại:

[http://nghiencuuquocte.org/2014/11/12/an-ninh/#sthash.DixFKask.dpuf] (truy cập ngày 27/01/2016)

Chu Duy Ly, “An ninh phi truyền thống (Nontraditional Security)”, Nghiên cứu quốc tế, xem tại:

[http://nghiencuuquocte.org/2014/11/12/an-ninh/#sthash.DixFKask.dpuf] (truy cập ngày 27/01/2016)

Trang 31

của quan hệ quốc tế29 Chính vì vậy, cho đến nay vẫn chưa tồn tại một khái niệm an ninh biển dưới góc độ luật pháp quốc tế một cách thống nhất Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát một số lượng nhất định các quan điểm liên quan đến khái niệm về an ninh biển và nhận thấy, các nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm an ninh biển theo hai xu hướng chính: (1) Các hoạt động quản lý biển (2) Các mối đe dọa truyền thống và phi truyền thống đến an ninh biển

Thứ nhất, các quan điểm nhìn nhận khái niệm an ninh biển như các hoạt động

quản lý biển Cụm từ “hoạt động quản lý biển” ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng,

đó là sự tác động có chủ đích của con người vào môi trường biển Các khái niệm tiếp cận theo xu hướng này đều có một đặc điểm chung là khái niệm an ninh biển thông qua những thành tố cấu thành nên một nền an ninh trên biển

Trong xu hướng này, các khái niệm cũng biểu hiện ra thành hai nhóm có cấu tạo gần nhau: (1) các khái niệm xuất phát từ những nhà nghiên cứu và (2) các khái niệm xuất phát từ những tổ chức, chiến lược quốc gia

Một là, theo quan điểm của các học giả, chuyên gia, nhà nghiên cứu

Các tác giả Lutz Feldt, Peter Roell và Ralph D.Thiele đã cho rằng an ninh biển là một khái niệm lớn và đôi khi mơ hồ Trên thực tế, an ninh biển đã trở thành một nhiệm

vụ lớn bao gồm nhiều thực thể từ các lĩnh vực quốc tế cả công lẫn tư nhằm: (1) giữ gìn

sự tự do biển cả, (2) tạo điều kiện và bảo vệ thương mại và (3) duy trì sự quản lý tốt trên biển30 “An ninh biển” là trách nhiệm, vẫn chưa có bất kỳ khái niệm rõ ràng nào khi nhắc đến các hoạt động an ninh biển: Đó là trách nhiệm thuộc chính phủ nhưng thẩm quyền để hành động thay mặt cho quốc gia là một quyết định mang tính chủ quyền với những sự lựa chọn khác nhau Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến hợp tác trên biển Sở dĩ vẫn chưa có khái niệm pháp lý chung hoặc có thể chấp nhận được là vì dựa vào sự thật đây là một chủ đề rộng lớn bao hàm nhiều lĩnh vực chính trị Các thành tố của an ninh biển bao gồm: hòa bình, an ninh quốc gia và quốc tế; chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và độc lập về chính trị; an ninh từ các tội phạm trên biển; an ninh tài nguyên; an ninh môi trường và an ninh cho các thủy thủ và ngư dân31

29

Nguyễn Thị Lan Anh (2011), UNCLOS và an ninh biển tại Biển Đông, Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học

Quốc tế lần thứ ba: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực” do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia đồng tổ chức tại Hà Nội từ ngày 04-05/11/2011

30

Nguyên văn tiếng Anh: ““Maritime Security” appears to be a large and sometimes nebulous concept In fact

it has become a large task involving many entities from international, public and private sectors aiming at:

• preserving the freedom of the seas,

• facilitating and defending commerce, and

• maintaining good governance at sea.”

31

Lutz Feldt, Dr Peter Roell, Ralph D Thiele (2013), Maritime Security – Perspectives for a Comprehensive

Approach, ISPSW Strategy Series: Focus on Defense and International Security, Issue No 222, April 2013

Trang 32

Hai tác giả Michele Ameri và Michael Shewchuk khái niệm an ninh biển là một chủ đề rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực chính trị thông qua những thành tố trong cơ chế an ninh biển như: hòa bình và an ninh quốc tế; chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và độc lập về chính trị; an ninh từ các tội phạm trên biển; an ninh tài nguyên; an ninh môi trường và an ninh cho các thủy thủ và ngư dân32

Còn như tác giả Chris Rahman thì cho rằng khái niệm an ninh biển gồm năm khía cạnh: (1) An ninh trên biển cả, (2) quản lý đại dương, (3) bảo vệ biên giới biển, (4) các hoạt động quân sự trên biển và (5) Cơ chế an ninh của giao thông vận tải biển Các khía cạnh đó ngẫu nhiên và không quá khắt khe: chúng có mối liên quan và chồng chéo lên nhau, ở một mức độ nhất định, chúng đại diện cho những khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề là quản lý có hiệu quả và trật tự tốt trên các vùng biển Các chính sách thiết thực và đáp ứng hoạt động của các quốc gia đối với an ninh biển thường cần kết hợp nhiều khía cạnh hơn là chỉ một trong những cách tiếp cận này33

Bên cạnh đó theo các tác giả Anne Fransas, Enni Nieminnen và Mirva Salokorpi,

“An ninh biển được hiểu là bao gồm việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh th và chủ quyền, và

việc duy trì hòa bình và trật tự, để đảm bảo an toàn và bảo vệ các tàu thuyền cùng với hành khách, thủy thủ và hàng hóa của họ, và bảo vệ tài nguyên và môi trường.”34

Theo Wang Kunyi (Vương Côn Nghĩa) thì:

An ninh biển chỉ hoạt động trên biển của cá nhân hoặc quốc gia, quyền lợi và lợi ích, không bị xâm hại và nguy hiểm từ những lực lượng chính phủ hoặc phi chính phủ bên ngoài, mục đích chủ yếu là cho quốc gia có khả năng sử dụng triệt để và có hiệu quả đại dương thế giới Do đó, bảo vệ an ninh biển không chỉ tập trung vào an ninh lãnh thổ, lãnh hải hoặc vùng trời trong phạm vi chủ quyền mà còn chú ý vào quyền tài phán ngoài phạm vi

Nguyên văn tiếng Anh: “These perspectives are, of course, arbitrary and non-exclusive: they are interrelated

and overlap and, to a certain degree, represent different aspects of the same problem – effective management of the oceans and good order upon them The practical policy and operational responses by states to their maritime security needs usually incorporate aspects of more than one of these approaches The five perspectives are:

1 Security of the sea itself

2 Ocean governance

3 Maritime border protection

4 Military activities at sea

5 Security regulation of the maritime transportation system”

Chris Rahman (2009), Concepts of Maritime Security, Center for Strategic Studies: New Zealand, tr 31

34

Nguyên văn tiếng Anh: “Maritime security is understood to include the preservation of territorial integrity

and sovereignty, and the maintenance of peace and order, so as to ensure the safety and protection of ships together their passengers, crews and cargoes, and the protection of property and the environment” Anne

Fransas, Enni Nieminnen, Mirva Salokorpi (2013), Maritime Security and Security Measures Mimic Study in the

Baltic Sea Area, Publications of Kymenlaakso University of Applied Sciences, tr 12

Trang 33

các tuyến đường biển, an ninh các tuyến đường cung cấp năng lượng và tàu thuyền đi lại”35

Nhóm tác giả nhận thấy rằng, các khái niệm đã đề cập có hai điểm chung sau đây: (1) vấn đề an ninh biển là trách nhiệm được quy về cho quốc gia ven biển, theo đó, các quốc gia có nghĩa vụ phải đảm bảo được an ninh trên biển bằng những hoạt động quản

lý có hiệu quả vùng biển; (2) an ninh biển là trạng thái ổn định, trật tự có sẵn trên vùng biển có được nhờ sự phối hợp của nhiều yếu tố Tuy nhiên, các khái niệm này có sự khác biệt về định danh các yếu tố cấu thành nên an ninh biển

Hai là, theo quan điểm của các tổ chức quốc tế liên quốc gia

Theo quan điểm của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) thì an ninh

biển có thể được khái niệm như là “điều kiện diễn ra trong môi trường biển, nơi pháp

luật quốc tế và quốc gia được tôn trọng, quyền hàng hải được duy trì và công dân, tàu thuyền, cơ sở hạ tầng và các nguồn tài nguyên được an toàn36”

Trong Chiến lược Quốc gia về An ninh Biển, nước Anh xem an ninh biển là “sự

tiến bộ và bảo vệ các lợi ích quốc gia của Anh, ở trong và ngoài nước, thông qua sự quản lý chủ động các rủi ro và các cơ hội trong và từ vùng biển để tăng cường và mở rộng sự th nh vượng, an ninh và khả năng phục hồi và góp phần xây dựng một thế giới

n đ nh”37

Không khó để nhận ra rằng khái niệm an ninh biển đã bị chi phối mạnh mẽ bởi yếu

tố lợi ích tổ chức và quốc gia thông qua hai khái niệm trên Theo quan điểm của nhóm tác giả, khái niệm về an ninh biển của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)

là rất đáng chú ý ở ba khía cạnh sau: (1) đề cập đến an ninh biển là trạng thái khách quan diễn ra trong môi trường biển; (2) quan điểm của tổ chức này nhấn mạnh đến yếu

tố pháp lý của an ninh biển; (3) đề cập đến quyền công dân nói riêng và quyền con người nói chung

35

Nguyên văn tiếng Trung:

“「海上安全」是指个人或国家在海上的活动、权利与利益,不受外部政府或非政府力量的侵害与遭遇 风险,主要目标是一个国家尽可能取得对世界海洋充分而有效的利用。所以维护「海上安全」,不仅着 眼于主权管辖范围内的领土、领海或领空的安全,还要放眼于主权管辖范围以外的海上通道、能源供给 线和公海航行的安全。” 王昆义, 淺析美「中」當前海上安全戰略發展, 青年日报,青年日报, xem tại: [http://www.youth.com.tw/db/epaper/es001001/m980710-f.htm] (truy cập ngày 27/01/2016)

36

Nguyên văn tiếng Anh: “The ongoing condition in the maritime environment where international and national

laws are adhered to, the right of navigation is preserved, and citizens, vessels, infrastructure, and resources are safe.”, Xem tại: Delivering Maritime Security in Global Partnership, xem tại: [http://www.act.nato.int/article-

2013-2-14] (truy cập ngày 24/01/2016)

37

Nguyên văn tiếng Anh: “The advancement and protection of the UK’s national interests, at home and abroad,

through the active management of risks and opportunities in and from the maritime domain, in order to strengthen and extend the UK’s prosperity, security and resilience and to help shape a stable world.” The

Controller of Her Majesty’s Stationery Office (2014), The UK National Strategy for Maritime Security, tr 15

Trang 34

Thứ hai, các quan điểm tiếp cận khái niệm an ninh biển từ các mối đe dọa Trong

xu hướng này có hai nhóm chính: (1) các mối đe dọa chung và (2) các mối đe dọa được phân thành truyền thống và phi truyền thống

Một là, các khái niệm an ninh biển tiếp cận từ các mối đe dọa chung bao gồm các

khái niệm được ghi nhận như sau:

Các chiến lược biển mới của nước Mỹ nhìn nhận “an ninh biển” như là: “Sự tạo

lập và duy trì an ninh trên biển là thiết yếu để làm giảm các mối đe dọa từ chiến tranh, trong đó có cướp biển, khủng bố, ph biến vũ khí, buôn bán ma túy và các hoạt động bất hợp pháp khác Chống lại các mối đe dọa thường xuyên và xuyên quốc gia để bảo

vệ T quốc, củng cố n đ nh toàn cầu và giữ gìn tự do hàng hải vì lợi ích của tất cả các quốc gia38

Theo Trung tâm An ninh Biển Quốc tế (Center for International Maritime Security

– CIMSEC) thì an ninh biển là: “sự không tồn tại các nguy cơ xâm phạm nghiêm trọng

đối với chủ quyền của một quốc gia xuất phát từ vùng biển và từ các nguy cơ tấn công vào lợi ích hàng hải của một quốc gia”39

Hai là, các khái niệm an ninh biển tiếp cận từ các mối đe dọa truyền thống và phi

truyền thống Xét thấy, đây là xu hướng bắt nguồn trực tiếp từ sự phân hóa của khái niệm an ninh Xu hướng này chiếm đa số trong các quan điểm về khái niệm an ninh biển mà nhóm tác giả ghi nhận được Học hỏi từ cách nhìn nhận có hai trường phái về cách hiểu khái niệm an ninh phi truyền thống đã được phân tích phía trên, các quan điểm an ninh biển trong xu hướng này cũng được nhìn nhận chủ yếu từ hai hướng: (i)

an ninh biển phi truyền thống có bao gồm an ninh quân sự và (ii) an ninh biển phi truyền thống không bao gồm an ninh quân sự

Hướng thứ nhất, an ninh biển phi truyền thống có bao gồm an ninh quân sự:

Các tác giả Fernando del Pozo, Anthony Dymock, Lutz Feldt, Patrick Hebrard và Ferdinando Sanfelice di Monteforte thì khái niệm an ninh biển là sự kết hợp giữa các biện pháp phòng ngừa và phản ứng để bảo vệ vùng biển (maritime domain) trước các

38

Nguyên văn tiếng Anh: “The creation and maintenance of security at sea is essential to mitigating threats

short of war, including piracy, terrorism, weapons proliferation, drug trafficking, and other illicit activities Countering these irregular and transnational threats protects our homeland, enhances global stability, and secures freedom of navigation for the benefit of all nations” Chris Rahman (2009), Concepts of Maritime Security, Center for Strategic Studies: New Zealand, tr 30

39

Nguyên văn tiếng Anh: “freedom from the risk of serious incursions against a nation’s sovereignty launched

from the maritime domain, and from the risk of successful attack against a nation’s maritime interests” Doyle

(2012), “What is international maritime security?”, Center for International Maritime Security Xem tại:

[http://cimsec.org/what-is-international-maritime-security/2698] (truy cập ngày 27/01/2016)

Trang 35

mối đe dọa và những hành vi trái pháp luật có chủ ý40 Khái niệm, bằng cách bao gồm

cả hai biện pháp phòng ngừa và phản ứng, nhằm mục đích bao gồm cả việc thực thi pháp luật (dân sự và quân sự) và các hoạt động quốc phòng Ngoài ra, thuật ngữ vùng biển (maritime domain) mang nhiều nghĩa hơn là vận chuyển và hải cảng (loại trừ thuyền viên và con người), đây là những thứ được bảo vệ theo văn bản đã được phê duyệt bởi Hội đồng Liên minh châu Âu (EU) Khái niệm nâng cao, tập trung vào việc

sử dụng trái pháp luật vùng biển, đã làm cho an ninh biển trở thành hoạt động liên tục, mang tính chất quốc tế và liên ngành, dân sự và quân sự để giảm thiểu những rủi ro và đối phó với các mối đe dọa của các hoạt động bất hợp pháp hay gây sức ép lên những hoạt động bình thường trên các vùng biển, từ đó chúng có thể được kiểm soát để thực thi pháp luật và bảo vệ công dân cũng như các lợi ích quốc gia và quốc tế Cả hai lực lượng cảnh sát và quốc phòng đều chịu trách nhiệm chuyên biệt và trực tiếp trong an ninh biển41

Các vấn đề an ninh biển đã chuyển biến rất đáng kể trong những thập kỷ gần đây nhờ vào nhiều yếu tố Tác giả Joseph S Szyliowicz nhận định rằng an ninh biển, dù là rất thường được sử dụng nhưng không phải là một thuật ngữ dễ dàng khái niệm bởi vì

nó bao hàm một số lượng lớn các vấn đề Các vấn đề này bao gồm các nguyên nhân truyền thống tại sao các quốc gia hàng thế kỷ phát triển lực lượng hải quân – lợi ích quốc phòng trên biển, bao gồm sự quản lý các vùng biển giáp ranh của quốc gia cũng như khả năng củng cố sức mạnh hải quân cần thiết để bảo vệ quốc gia Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, các vấn đề an ninh đã được mở rộng đáng kể vì một mối

đe dọa mới – khủng bố – và những hiểm họa gia tăng được gây ra bởi các tội phạm, bao gồm cướp biển hiện đại Do đó, an ninh biển ngày nay bao gồm các lĩnh vực được

mở rộng ra xa hơn những cuộc chiến tranh truyền thống và sự ngăn ngừa các cuộc tấn công của cướp biển hay buôn lậu Thuật ngữ này ngày nay còn bao hàm cả việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia và cơ sở hạ tầng hàng hải trên đất liền cũng như trên lãnh hải ra khỏi bất kỳ đe dọa nào có nguồn gốc từ biển Các mối đe dọa đó có thể xuất phát từ các loại hình tội phạm như là buôn bán vũ khí, con người, ma túy cũng như các vấn đề môi trường như đánh bắt cá bất hợp pháp và đổ chất thải trái phép Hậu quả của những hành vi đó gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến xã hội, kinh tế, chính trị và con người

40

Nguyên văn tiếng Anh: “Maritime Security: The combination of preventive and responsive measures to

protect the maritime domain against threats and intentional unlawful acts”

Trang 36

Đánh giá đúng mức về bản chất và ý nghĩa của các thách thức thì sẽ nhận thấy được sự cần thiết của một khái niệm đa chiều về an ninh biển42

Hướng thứ hai, an ninh biển phi truyền thống tách biệt khỏi an ninh quân sự

Theo tác giả Đỗ Minh Cao, khái niệm an ninh ngày nay không chỉ bó hẹp theo quan điểm truyền thống trước đây mà còn mở rộng theo quan điểm phi truyền thống Thông thường nói tới an ninh người ta hiểu theo quan điểm truyền thống nghĩa là: coi

an ninh quốc gia là bảo vệ đất nước khỏi các mối đe doạ hoặc tấn công quân sự từ bên ngoài; theo nghĩa rộng là bảo vệ đất nước trước mối đe doạ từ bên ngoài và bên trong

An ninh phi truyền thống bao gồm cả bảo vệ con người (cá nhân) và cả cộng đồng Liên hợp quốc coi an ninh phi truyền thống gồm bảy lĩnh vực: kinh tế, lương thực, sức khoẻ, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị Có khái niệm khác coi an ninh phi truyền thống chỉ gồm năm lĩnh vực: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hoá Quan điểm khác cho rằng an ninh phi truyền thống gồm việc chống lại các nguy

cơ mới xuất hiện hoặc mới bùng phát như khủng hoảng kinh tế, thiếu hụt năng lượng, đói nghèo, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh lan tràn, tội phạm xuyên quốc gia, di cư trái phép, sự vi phạm dân chủ, nhân quyền, …43

Theo như phân tích của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh, thuật ngữ “biển” có thể được dùng như một tính từ chỉ không gian biển, cũng có thể được hiểu như một khía cạnh của quan hệ quốc tế tương tự như chính trị, kinh tế môi trường, … Với cách hiểu thứ hai, an ninh biển là một thuật ngữ tương đối hẹp, thường nhấn mạnh đến khía cạnh an ninh của việc sử dụng biển vào mục đích giao thông và thương mại Theo đó, cướp biển, cướp có vũ trang trên biển hay tai nạn, sự cố giữa các tàu thuyền là các mối đe dọa đối với an ninh biển Với cách hiểu thứ nhất, không gian biển là một không gian tương tự như đất liền, vì vậy an ninh biển là một khái niệm rộng bao trùm một số lĩnh vực từ an ninh truyền thống đến phi truyền thống Do đặc trưng của không gian biển,

an ninh biển theo nghĩa này nhấn mạnh đến trật tự trên biển Theo đó, biển là một nguồn tài nguyên, nhưng cũng là môi trường cho giao thông, thông tin liên lạc và thương mại Trật tự trên biển cần được duy trì nhằm phục vụ cho sự phát triển của con người và trật tự này có thể bị đe dọa từ các nguyên nhân như chiến tranh, cướp biển, khủng bố, phổ biến vũ khí, buôn lậu ma túy, và các hành vi bất hợp pháp khác44

42

Joseph S.Szyliowicz (2014), The dimensions of maritime security, Global Maritime Security New Horizons,

Turkish Naval Forces Printing Office, tr 3-4

43

Đỗ Minh Cao, “Trung Quốc và an ninh Biển Đông”, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á

Xem tại:[http://www.inas.gov.vn/491-trung-quoc-va-an-ninh-bien-dong.html] (truy cập ngày 23/01/2016) 44

Nguyễn Thị Lan Anh (2011), chú thích số 29

Trang 37

Theo như nhìn nhận của hai tác giả Wu Shicun và Zou Keyuan, trong kỷ nguyên hiện đại, an ninh biển liên quan chính đến an toàn hàng hải, sự trấn áp tội phạm xuyên quốc gia trong đó có cướp biển và khủng bố trên biển, và ngăn ngừa và giải quyết xung đột Trong khía cạnh an ninh phi truyền thống, những vấn đề như bảo vệ môi trường biển và tìm kiếm cứu nạn trên biển cũng được bao hàm45

Theo hai tác giả Ceng Fusheng (Đặng Phục Sinh) và Lin Wenlong (Lâm Văn Long) thì các khái niệm về an toàn chỉ là tương đối so với các mối đe dọa Khái niệm

an ninh ngày nay có thể được nói gọn lại thành hai loại an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống và theo đó, an ninh biển cũng được chia thành an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Các khái niệm truyền thống về an ninh liên quan chính đến việc gây ảnh hưởng chính trị đến nước ngoài, khai thác kinh tế và gây hấn quân sự; các hành động trên thường liên quan đến một cuộc xung đột quốc gia rõ ràng

và cụ thể về quyền lợi, và thường sử dụng vũ lực như một phương tiện giải quyết các tranh chấp; do đó, các khái niệm truyền thống về an ninh, về cơ bản cốt lõi là an ninh quân sự An ninh biển truyền thống, chủ yếu là các mối quan tâm bao gồm: sự đối kháng đối với các vùng nước có chủ quyền và nguồn lực cho các vị trí chiến lược và cạnh tranh cho dòng giao thông trên biển và các loại tương tự có tiềm ẩn xung đột46 Theo tác giả Vũ Khanh thì an ninh biển là một bộ phận của an ninh quốc gia, khu vực và thế giới, có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề an ninh trên đất liền Khái niệm về “an ninh biển” có thể được hiểu là trạng thái ổn định, an toàn, không có các mối đe dọa xuất phát từ biển và các vùng đất đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên biển hoặc các mối đe dọa từ biển đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên đất liền Như vậy, nội hàm của an ninh biển cũng giống như an ninh trên đất liền, bao gồm an ninh truyền thống

và an ninh phi truyền thống Các vấn đề an ninh truyền thống trên biển liên quan đến chiến tranh, xung đột, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển Các vấn đề an ninh phi

45

Nguyên văn tiếng Anh: “In the modern era, maritime security mainly concerns the safety of navigation, the

cracking down on transnational crimes including sea piracy and maritime terrorism, and conflict prevention and resolution In the context of non-traditional security, issues such as maritime environmental security and search and rescue at sea are included.” Shicun Wu and Keyuan Zou (1988), Maritime Security in the South China Sea,

Ashgate Publishing Limited Wey Court East Union Road Farnham Surrey, tr 3

46 Nguyên văn tiếng Trung:

“安全的概念乃相对于威胁而来。今日「安全」概念可概分为传统与非传统安全两大类;海上安全也可 从传统和非传统安全面向去理解。传统的安全概念,主要关切的是外来的政治胁迫、经济剥削和军事侵 略;由于上述行动往往涉及明确而具体的国家利益冲突,且通常是以武力作为解决纠纷的手段,因此传 统的安全概念,基本上是以军事安全为核心。传统的海上安全,主要关注事项包括:争夺海域主权与资

上安全合作的行動方案, 國政基金會, xem tại:

[http://www.npf.org.tw/2/9347] (truy cập ngày 25/01/2016)

Trang 38

truyền thống trên biển bao gồm khủng bố, cướp biển, tội phạm xuyên quốc gia, di dân bất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, thảm họa thiên nhiên, 47

Nhận thấy rằng, còn điểm khác biệt lớn nhất trong những khái niệm theo hướng phân chia mối đe dọa thành truyền thống và phi truyền thống chính là nội hàm của khái niệm an ninh phi truyền thống, cụ thể là nằm ở yếu tố an ninh quân sự Bên cạnh

đó, vẫn chưa có sự thống nhất trong việc định lượng các lĩnh vực an ninh biển phi truyền thống Trong thời điểm hiện tại, hầu như những vấn đề mới có liên quan đến biển được nảy sinh nếu không liên quan đến chính trị, quyền lực, quân sự và chiến tranh thì sẽ có khuynh hướng đưa vấn đề mới đó vào trong an ninh biển phi truyền thống Từ đó dẫn đến thực trạng các vấn đề của an ninh biển phi truyền thống có xu hướng ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng Do vậy, các vấn đề về

an ninh biển phi truyền thống ngày nay ngày càng chiếm được nhiều hơn sự quan tâm của cộng đồng

Có thể nhận ra rằng, nhìn trong tổng thể các khái niệm theo xu hướng tiếp cận từ các mối đe dọa, điểm chung lớn nhất của các khái niệm theo hướng này chính là khẳng định an ninh biển chỉ có được khi không có những mối đe dọa hoặc là kiểm soát và quản lý tốt các mối đe dọa đó Góc nhìn này làm nổi bật được các mối đe dọa đến an ninh biển Nếu như cách hình thành khái niệm nêu ra ở xu hướng thứ nhất đem đến một ý niệm về sự thiết lập và duy trì an ninh biển thì ở xu hướng thứ hai, các khái niệm đó gợi mở hướng bảo vệ nền an ninh trên biển ra khỏi những đe dọa và thách thức Các xu hướng trên không phủ nhận nhau mà là tương hỗ để phản ánh khái niệm

an ninh biển được toàn diện hơn Xu hướng thứ nhất thiên về lý luận còn xu hướng thứ hai thiên về thực tiễn Trước tình hình an ninh biển ngày càng trở nên phức tạp ngày nay thì nhìn nhận an ninh biển theo xu hướng thứ hai mang lại nhiều lợi ích nhanh chóng và thiết thực hơn Do vậy, dễ hiểu vì sao xu hướng này chiếm đa số trong các khái niệm mà nhóm tác giả được tiếp cận

Qua quá trình nghiên cứu các khái niệm đã có từ trước về an ninh biển, nhóm tác giả nhận thấy khái niệm an ninh biển đã được nhìn nhận rất đa diện nhưng trong đó, góc độ quan hệ quốc tế, địa chính trị đóng vai trò chủ đạo Những khái niệm đó ra đời nhằm phục vụ cho mục đích nhất định của các tác giả Tuy nhiên, các khái niệm đó chưa thể đáp ứng được các yếu tố mà nhóm tác giả cần cho Công trình nghiên cứu này

Đó là (1) về góc độ nhìn nhận thì khái niệm phải xuất phát từ cơ sở pháp lý mà cụ thể

47

Vũ Khanh, “An ninh biển có tầm quan trọng đặc biệt”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, xem tại:

[http://www.moj.gov.vn/BTP_UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/tcdcpl/tintuc/Lists/SuKien NoiBat&ListId=87b3c276-9852-40b3-a0e5-8478cf513e09&SiteId=3fb08b99-f7c8-4cff-89b8-

b1b6ea4f55e9&ItemID=431&OptionLogo=2&SiteRootID=63d81917-c1c4-48e4-bebb-f2afcd9691e5] (truy cập ngày 20/12/2015)

Trang 39

là UNCLOS 1982 và (2) về mục đích nghiên cứu là làm rõ được các quy định về an ninh biển của UNCLOS 1982 Từ đó, để đạt được mục đích nghiên cứu, nhóm tác giả tiến hành xây dựng một khái niệm an ninh biển thỏa mãn được hai yếu tố đó

Xét thấy, an ninh biển rất cần phải được nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, cụ thể là thông qua UNCLOS 1982 Bởi lẽ, UNCLOS 1982 đóng vai trò như Hiến pháp của biển và đại dương ràng buộc tất cả các quốc gia thành viên của mình trong một khung pháp lý Do đó, phải nhìn nhận khái niệm an ninh biển dưới góc độ pháp lý thì mới nhận diện được chân xác khung pháp lý mà Công ước đã đề ra Khung pháp lý này được xây dựng từ những quy phạm pháp luật về an ninh biển trong UNCLOS 1982, theo đó, các quốc gia thấy rõ được quyền và nghĩa vụ của mình, những điều không được làm, những điều nên làm và những điều buộc phải làm trong khuôn khổ Dựa vào hiệu lực pháp lý rất cao của UNCLOS 1982, khung pháp lý này càng phải được tuân thủ một cách chặt chẽ và thiện chí nhất

Dựa trên cơ sở những quy định của UNCLOS 1982, nhóm tác giả cho rằng: An

ninh biển là một khái niệm pháp lý chỉ trạng thái hòa bình, an toàn và n đ nh trong không gian biển; cho các chủ thể khai thác, sử dụng và quản lý biển và đại dương nhằm mục đích hòa bình

Như đã đề ra, khái niệm an ninh biển này có những đặc điểm phù hợp với mục đích nghiên cứu của Công trình này

Thứ nhất, an ninh biển được nhìn nhận như một khái niệm pháp lý Tuy rằng vấn

đề an ninh biển không được quy định cụ thể thành từng chương mục như những chế định pháp lý về biển khác nhưng tồn tại rất nhiều quy phạm pháp luật trong UNCLOS

1982 đã có điều chỉnh cả trực tiếp lẫn gián tiếp vấn đề an ninh biển Đơn cử là quyền

đi qua không gây hại được quy định tại khoản 1 Điều 19 UNCLOS 1982: “Đi qua là

không gây hại nếu nó không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển Việc đi qua này cần phải được thực hiện phù hợp với các quy đ nh của Công ước này và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế 48”, rõ ràng rằng vấn đề bảo đảm an ninh của quốc gia ven biển – một trong những khía cạnh của an ninh biển

đã được phản ánh Do đó, hoàn toàn có cơ sở để cho rằng an ninh biển cũng là một khái niệm pháp lý

Thứ hai, khái niệm này chỉ ra trạng thái hòa bình, an toàn và ổn định trong không

gian biển Theo đó, an ninh biển không phải tự nhiên mà có mà là nhờ nỗ lực giữ gìn

48

Nguyên văn tiếng Anh: “Passage is innocent so long as it is not prejudicial to the peace, good order or

security of the coastal State Such passage shall take place in conformity with this Convention and with other rules of international law” Khoản 1 Điều 19 UNCLOS 1982

Trang 40

của các chủ thể “Hòa bình” là trạng thái không có chiến tranh, xung đột Con người ngày càng nhận thức được nhiều hơn những lợi ích mà biển mang lại, từ đó, mâu thuẫn lợi ích của các chủ thể cùng khai thác, sử dụng và quản lý biển là không thể tránh khỏi

Để tránh xảy ra chiến tranh, xung đột đòi hỏi các chủ thể phải kiềm chế và tôn trọng lợi ích của các chủ thể khác “An toàn” là trạng thái không bị đe dọa bởi các tác nhân thiên nhiên lẫn con người Để có được sự an toàn này, các chủ thể phải ra sức ngăn chặn các tội phạm trên biển cũng như phát triển hệ thống dự báo, cứu hộ thiên tai “Ổn định” là trạng thái có trật tự Sự trật tự ổn định phải đến từ sự điều tiết của các chủ thể

có trách nhiệm và sự tôn trọng các quy tắc trong khi hoạt động trên biển

Thứ ba, chủ thể của các hoạt động trên biển bao gồm quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ

chức, pháp nhân, cá nhân khi khai thác, sử dụng và quản lý biển và đại dương Có thể nhận ra rằng, các chủ thể trên không chỉ bao gồm chủ thể của luật quốc tế mà còn có các tổ chức (phi chính phủ), pháp nhân và cá nhân Điều này cho thấy biển là không gian chung cho tất cả các chủ thể có thể khai thác, sử dụng và quản lý Từ đó, an ninh biển gắn bó mật thiết và là điều kiện nền tảng cho các hoạt động trên biển có thể tiến hành một cách bình thường

Thứ tư, mục đích hòa bình Điều này có nghĩa là: khai thác, sử dụng và quản lý

biển bằng phương pháp hòa bình và mục đích của các hoạt động trên biển đó là hòa bình “Phương pháp hòa bình” được nhắc đến ở đây có nghĩa là các cách thức khai thác, sử dụng và quản lý biển phải phù hợp với luật pháp quốc tế Sự phù hợp này được đánh giá qua nhiều tiêu chí, điển hình là danh nghĩa pháp lý nơi thực hiện hành

vi, phương tiện và chủ thể tiến hành các hoạt động “Mục đích hòa bình” có nghĩa là mục tiêu mà các hoạt động trên biển hướng đến không phải là khiêu khích, chiến tranh, không đe dọa, gây phương hại cho các chủ thể khác

Với cách khái niệm này, nhóm tác giả không đi theo các xu hướng chung của phần lớn các tác giả là an ninh biển là một hoạt động quản lý biển hay xuất phát từ các mối

đe dọa mà khởi điểm của khái niệm chính là tinh thần của luật biển quốc tế Do đó, khái niệm này không bị chi phối cũng như không nhấn mạnh vào yếu tố lợi ích của các quốc gia trên biển Khái niệm này thừa nhận và học hỏi bản chất của an ninh biển có trong những khái niệm trước ở chỗ đảm bảo trạng thái an toàn, ổn định trong quá trình khai thác, quản lý và sử dụng biển và đại dương

Điều kiện đảm bảo an ninh biển

Qua quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy có ba điều kiện để đảm bảo an ninh biển

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo quốc gia xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc năm 2009 Khác
4. Hướng dẫn số 188/HD-PCT ngày 31 tháng 3 năm 2014 về Tuyên truyền chủ quyền biển, đảo Việt Nam của Phòng Chính trị Bộ Tham mưu Quân khu 7 Khác
10. Nghị định 04/NĐNN-BQP ngày 09/6/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam Khác
11. Nghị định 104/2012/NĐ-CP ngày 05/12/2012 quy định đối với tàu quân sự nước ngoài đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
12. Nghị định 30/1980/CP ngày 29/01/1980 quy định về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
13. Nghị định 35/2011/NĐ-CP ngày 18/5/2011 quy định về biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Khác
14. Nghị Quyết 48/2005/NQ-TW ngày 24/5/2005 quy định về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2020 Khác
15. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 11 năm 2016 Khác
16. Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Khác
18. Quyết định 186/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2014 về Phê duyệt đề án xây dựng đảo thanh niên toàn quốc năm 2013-2020 Khác
19. Quyết định 28/2008/QĐ-UBND ngày 03/4/2008 về ban hành Kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện Chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ Khác
23. Thông tư liên tịch 04/2015/TTLT-BCA-BNNPTNT ngày 13/01/2015 quy định về trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ và thiết bị chuyên dùng của lực lượng kiểm ngư Khác
24. Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Khác
25. Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.Trung Quốc Khác
27. National People’s Congress of China, Exclusive economic zone and the continental shelf act, 26 June 1998. (Dịch: Quốc vụ viện Trung Quốc, Luật Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, ngày 26/6/1998) Khác
28. National People’s Congress of China, Law on the Territorial Sea and the Contiguous Zone of the People’s Republic of China, 25 February 1992. (Dịch:Quốc vụ viện Trung Quốc, Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp, ngày 25/2/1992) Khác
30. 中华人民共和国政府,中华人民共和国政府关于领海的声明,北京,一九五八年九月四日. (Dịch: Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về lãnh hải, Bắc Kinh, ngày 04/9/1958) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục số 01: Bảng Ngân sách quốc phòng Việt Nam - LUT PHAP QUC t v HOT DNG QUAN s t
h ụ lục số 01: Bảng Ngân sách quốc phòng Việt Nam (Trang 138)
Phụ lục số 05: Hình Vùng nhận diện phòng không ở Biển Hoa Đông - LUT PHAP QUC t v HOT DNG QUAN s t
h ụ lục số 05: Hình Vùng nhận diện phòng không ở Biển Hoa Đông (Trang 142)
Phụ lục số 07: Hình Tiến trình thời gian của việc xây dựng và cải tạo của các - LUT PHAP QUC t v HOT DNG QUAN s t
h ụ lục số 07: Hình Tiến trình thời gian của việc xây dựng và cải tạo của các (Trang 144)
Phụ lục số 08: Hình Mối tương quan về phương tiện chiến đấu của hải quân các  nước trong khu vực Biển Đông 2015 - LUT PHAP QUC t v HOT DNG QUAN s t
h ụ lục số 08: Hình Mối tương quan về phương tiện chiến đấu của hải quân các nước trong khu vực Biển Đông 2015 (Trang 145)
Phụ lục số 09: Hình Danh sách 20 quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới. - LUT PHAP QUC t v HOT DNG QUAN s t
h ụ lục số 09: Hình Danh sách 20 quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới (Trang 146)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w