Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính dể đảm bảo nguồn chi tiêu của nhà nước, và là công cụ điều tiết nền kinh tế, đảm bảo cho sự ổn định phát triển đồng đều giữa các th
Trang 1I MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia muốn ổn định , kinh tế phát triển , xã hội văn minh, giàu có cần phải dự vào nhiều yếu tố Một trong số những yếu tố quan trọng nhất đó là tiềm lực về tài chính mà điển hình phải nói tới ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất của nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân , cũng như mối quan hệ khăn khít với tất cả các khâu của hệ thống tài chính Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính dể đảm bảo nguồn chi tiêu của nhà nước, và là công cụ điều tiết nền kinh tế, đảm bảo cho sự ổn định phát triển đồng đều giữa các thành phần kinh tế và đảm bảo thu nhập cho người dân
Bởi tầm quan của NSNN(ngân sách nhà nước) như vậy nên việc phân tích cơ cấu của NSNN cũng vô cùng thiết yếu nó có thể cho chúng ta thấy rõ tình hình thuchi biến động như thế nào trong những năm vừa qua và trong những năm sắp tới
Từ đó mà chúng ta có thể thiết lập thu chi một cách khoa học, hợp lý và phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước hơn Hơn nữa, trong thời gian gần đây việc thu chi của NSNN có nhiều biến động và có chiều hướng mất cân bằng thu chi Việc này ảnh hưởng không hề nhỏ tới sự phát triển của nền kinh tế Thiết nghĩ việc phân tích cơ cấu NSNN cực kì quan trọng nên nhóm 13 chúng tôi đã quyết định chon đề tài :” Phân tích cơ cấu NSNN trong thời gian qua Nguyên nhân dẫn đến sự thâm hụt ngân sách nặng nề” để nghiên cứu
I.2 Mục tiêu
• Phân tích tình hình thu chi NSNN trong giai đoạn 2010 đến nay
• Tìm hiểu nguyên nhân của sự thâm hụt ngân sách nặng nề
• Đề ra một số giải pháp giải quyết vấn đề thâm hụt trên
I.3 Phạm vi
Đề tài nghiên cứu sâu và cơ cấu thi chi của NSNN giai đoạn năm 2010 đến nay
và nguyên nhân thâm hụt ngân sách nặng nề Bởi vậy số liệu sử dụng trong bài là
số liệu của các năn 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 2015 và 2016
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGÂN SÁCH VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
II.1 Ngân sách nhà nước
II.1.1 Khái niệm và hệ thống NSNN :
Trang 2 Khái niệm ngân sách Nhà nước:
Thuật ngữ “ngân sách Nhà nước” được phổ biến rộng rãi ở nhiều quốc gia, tuy nhiên chưa có khái niệm thống nhất cho ngân sách Nhà nước Hiện nay có 2 quan niệm phổ biến về ngân sách Nhà nước là:
− NSNN là bản dự toán thu – chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian xác định, thường là 1 năm
− NSNN là quỹ tiền tệ của Nhà nước
Ở Việt Nam, Luật Ngân sách Nhà nước ngày 16/12/2002 có ghi: “NSNN là toàn bộ các khoản thuu, chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng,nhiệm
vụ của Nhà nước”
Hệ thống ngân sách Nhà nước:
− Là một quỹ tiền tệ với các khoản thu và khoản chi của nó
− Là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
− Vậy, về bản chất, có thể xác định: NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối va sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằmthực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định
− Hệ thống ngân sách Nhà nước bao gồm: ngân sách trung ương và ngân sách địa phương
II.1.2 Đặc điểm ngân sách Nhà nước:
NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữuhiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên
có những đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định
NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng
Trang 3 NSNN là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủphải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo.
NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tàichính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình Trong đó tài chính Nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia
Đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua vớingân sách của Nhà nước phong kiến Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có)
NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân
II.1.3 Vai trò của ngân sách Nhà nước:
Trong nền kinh tế thị trường vai trò của Ngân sách Nhà nước được thay đổi vàtrở nên hết sức quan trọng Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách Nhà nước có các vai trò như sau:
Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước: Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách Nhà nước, để đảm
bảo cho hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Đây là vai trò lịch sử của Ngân sách Nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách Nhà nước đều phải thực hiện
Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát: Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà
doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường
Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất: Để định
hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác Nhà nước
sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thíchsản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng
Trang 4những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.
Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư: Ngân sách Nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để
điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách Nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp
=>Các vai trò trên của Ngân sách Nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách Nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế
II.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thu ngân sách Nhà nước:
Khái niệm thu ngân sách Nhà nước:
− Là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
− Thu ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản thu thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp cúa các tổ chức
cá nhân; các khoản viện trợ và các khoản thu khác của pháp luật
Đặc điểm thu ngân sách Nhà nước:
− Là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện chức năng niệm vụ của Nhà nước
− Mọi khoản thu của Nhà nước đều được thể chế hoá bằng chính sách, chế
độ và pháp luật của Nhà nước
− Thu NSNN phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế
− Thu NSNN phải thực hiện trên nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủyếu
II.2.2 Nội dung và phân loại của thu ngân sách Nhà nước:
Nội dung của thu ngân sách Nhà nước:
Trang 5− Các khoản thu từ thuế: Thuế là nguồn thu quan trọng của NSNN là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế.
− Các khoản thu từ phí, lệ phí:
+ Phí: là khỏan thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng không thuần túy theo quy định của pháp luật và là khỏan tiền mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó Dịch vụ công cộng thuần túy là những dịch vụ mà Nhà nước có thể lượng hóa được mức độ sử dụng của từng cá nhân tổ chức vì vậy mà Nhà nước có thể thu lại một phần hoặc tòan bộ chi phí đã bỏ ra để cung cấp dịch vụ cho các đối tượng này thông qua chế độ thu phí
+ Lệ phí: là những khỏan thu gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý của Nhà nước cho các cá nhân và tổ chức nhằm phục vụ cho công việc quản lý hành chính Nhà nước theo qui định của pháp luật
Phân loại của thu ngân sách Nhà nước:
Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn góp thuộc
sở hữu Nhà nước
Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của Nhà nước
Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước:
• Thu từ hoạt động sự nghiệp
• Thu từ bán hoặc cho thêu tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
• Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản
II.2.3 Bồi dưỡng nguồn thu:
(1) Trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho ngân sách, Nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên vì mục đích trước mắt
(2) Chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, vừa khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư
(3) Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước phải được đặttrên cơ sở thu nhập và mức sống của dân
(4) Dùng ngân sách Nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới
Trang 6(5) Nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng, tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư.(6) Thực hiện mở rộng dịch vụ đăng ký thuế, khai thuế điện tử; mở rộng hệ thống nhận tờ khai thuế qua mạng và kê khai thuế trực tuyến, nộp thuế qua hệ thống ngân hàng thương mại, kết nối thông tin giữa bốn ngành thuế – hải quan – kho bạc – tài chính.
(7) Các ngành, các cấp trên địa bàn tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định quản lý giá để xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tăng giá nhằm thu lợi bất chính, định giá bất hợp lý, đầu cơ nâng giá…
(8) Theo dõi kịp thời biến động về giá cả để thu đầy đủ các khoản thu vào NSNN
II.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu:
− GDP bình quân đầu người: GDP bình quân đầu người là một yếu
tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN
− Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế: Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động của NSNN không gây khó khăn về mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế
− Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên: Khả năngkhai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ và khoáng sản) lànhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn NSNN Đối với các nước có nguồn tàinguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên
sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho NSNN
− Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăngmức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên
− Tổ chức bộ máy thu nộp: Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này Nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN
2.3 Chi ngân sách nhà nước
2.3.1 Khái niệm và đặc điểm của chi NSNN
- Khái niệm chi ngân sách nhà nước: Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối
Trang 7và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thểkhông chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.
-Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước:
+Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế,chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ;
+Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, mang tích chất pháp lý cao;
+Các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô; +Các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu;
+Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, v.v (các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ)
2.3.2 Nội dung chi NSNN
Nội dung của chi ngân sách nhà nước:
* Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm:
+ Chi tích lũy:Chi cho tăng cường cơ sở vật chất như đầu tư phát triển kinh tế
và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội + Chi tiêu dùng:Không tạo ra sản phẩm vật chất để xã hội sử dụng trong tương lại (chi bảo đảm xã hội), bao gồm:
Trang 8- Lương hưu và trợ cấp xã hội;
* Các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế;
- Quản lý hành chính;
- An ninh, quốc phòng;
- Các khoản chi khác;
- Dự trữ tài chính;
- Trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài
* Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước được chia ra:
- Căn cứ vào nội dung chi tiêu
- Căn cứ vào tính chất và phương thức quản lý Ngân sách Nhà nước
- Chi thường xuyên một cách chính đáng
- Chi đầu tư phát triển
- Chi vào hạng mục dự trữ
- Chi trả nợ vay
2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn chi
Với đặc điểm của chi NSNN thì chi ngân sách phụ thuộc chủ yếu vào các nhân tố sau:
- Nhiệm vụ về phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ: Một trong những đặc điểm của chi ngân sách nhà nước là để phục vụ các hoạt động kinh tế, xã hội chung, mục tiêu là tăng trưởng và phát triển của toàn xã hội Do vậycác khoản chi ngân sách nhà nước sẽ tăng lên khi đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế cần sự trợ giúp của chính phủ để kích thích sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế
- Khả năng tích tụ và tích lũy của nền kinh tế: với một quốc gia, nếu khả năng này của nền kinh tế tốt thì không những hạn chế được mức chi của ngân sách, ,mà còn cho thấy sự hoạt động tốt của nền kinh tế, một đồng bỏ ra có hiệu quả cho tăngtrưởng và phát triển, không lãng phí
- Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, hạn hán, động đất, dịch bệnh: Chi ngân sách nhà nước luôn đảm bảo vì lợi ích chung và đảm bảo sự công bằng cho một bộ phận những người có hoàn cảnh đặc biệt Khi quốc gia gặp thiên tai, thì việc tăng chi tiêu để trợ cấp cho những gia đình gặp khó khăn, khắc phục hậu quả, giữ ổn định kinh tế là điều tất yếu phải làm của chi ngân sách nhà nước Và do đó, mức chi ngân sách cũng sẽ tăng
Trang 9- Hiệu quả chi của bộ máy chi Ngân sách nhà nước: Cũng giống như thu ngân sách nhà nước, bộ máy chi ngân sách nhà nước đạt hiệu quả tốt sẽ tránh được tình trạng lãng phí, tham ô trong quá trình chi tiêu thì sẽ tiết kiệm được cho quốc gia một khoản chi lớn, số chi vô ích sẽ giảm đi đáng kể.
2.4 Lý thuyết về thâm hụt ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "khôngmang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước.Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng
số thu trong ngân sách nhà nước.Thâm hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gianthâm hụt Nói chung nếu tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực
Thâm hụt ngân sách nhà nước cần phải đặt trên cơ sở thu nhập và mức sống của người dân do thuế là một trong những nguồn bù đắp ngân sách lớn nhất của ngân sách nhà nước mà việc thu thuế cần phải dựa vào mức thu nhập của người dân, hơn nữa nhà nước có thể lựa chọn vay từ dân cư trong nước mà để định mức vay hợp lý thì lại phải dựa trên thu nhập và mức sống của người dân
Giải pháp khắc phục: dưới đây là các biện pháp chính phủ sử dụng để bù đắp bội chi:
• Tăng thu, giảm chi ngân sách nhà nước;
• Vay nợ trong nước và nước ngoài để bù đắp sự thâm hụt;
• Tăng phát hành trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc
• Phát hành tiền giấy…
III THỰC TRẠNG CƠ CẤU NGÂN SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (2011-2016)
III.1Tình hình thu ngân sách từ năm 2011-2016
Cơ cấu thu chi ngân sách đã có những chuyển biến tích cực theo hướng bền vững hơn Trong thu ngân sách, tỷ trọng thu nội địa đã tăng từ 58% giai đoạn
Trang 102006-2010 lên khoảng 68% giai đoạn 2011-2015, đến năm 2015 ước chiếm khoảng74% tổng thu NSNN Trong khi đó, sự phụ thuộc vào nguồn thu từ dầu thô, thu cânđối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đang có xu hướng giảm dần Trong cơ cấu thu nội địa, nguồn thu từ sản xuất kinh doanh đã trở thành nguồn thu giữ vai trò quan trọng của NSNN Năm 2016 , ngân sách tăng, bằng 93% dự toán năm.
Đơn vị: tỷ đồng
Thu cân đối từ hoạt
BẢNG SỐ LIỆU TỔNG THU NGÂN SÁCH NĂM 2010-2016
- Năm 2011: Tình hình trốn thuế vẫn đang nhiều mặc dù chính phủ đánh giá tổng
thu ngân sách vượt 11,3% so với dự toán Tuy nhiên giám sát,tình trạng gian lận trốn thuế vẫn diễn ra khá phổ biến ,nhất là ở một số thành phố lớn Vẫn có thể khai thác nguồn thu từ đất đai,kinh doanh bất động sản, từ khai thác tài nguyên khoáng sản Vì vậy thu ngân sách từ nội địa giảm xuống, còn chiếm 61,47% tổng thu ngân
Trang 11sách giảm so với 2010 Nhưng nhìn chung tổng thu ngân sách tăng cao hơn cũng làmột thành công của chính phủ, dễ nhận thấy việc ổn định kinh doanh của thị
trường có nhiều khởi sắc so với 2010 Tuy thu ngân sách có tăng nhưng kéo theo
đó là chi ngân sách cũng tăng, làm cho chính phủ thâm hụt ngân sách, tăng từ
60405 tỷ đồng lên 65750 tỷ đồng, tăng 8,84% so với 2010
- Năm 2012: Thu ngân sách năm 2012 chỉ tăng rất nhẹ, 1,81% so với 2011 Thu từ
hoạt động xuất nhập khẩu giảm vì trong năm này xảy ra vấn đề chính trị, đó là việctranh chấp biển Đông của Việt Nam với Trung Quốc làm cho hoạt động xuất nhập khẩu giảm xuống 45,02% so với 2011
- Năm 2013: Tổng thu ngân sách vẫn dựa nhiều trên việc thu từ nội địa và từ hoạt
động xuất nhập khẩu Tổng thu tăng khá đáng kể so với năm trước
- Năm 2014: Dự toán của chính phủ trong 2014 là thu ngân sách giảm 4,25% Tuy
nhiên thu tăng so với dự toán của chính phủ
- Năm 2015: Mặc dù thu ngân sách nhà nước trong bối cảnh còn nhiều khó khăn,
giá dầu thô sụt giảm mạnh nhưng theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 28/12/2015, thu cân đối NSNN đạt xấp xỉ 957 nghìn tỷ đồng, đạt 105% dự toán, bằng 103,1% số ước thu cả năm đã báo cáo Quốc hội Trong đó, đáng chý ý nhất làthu nội địa đạt 110,9% dự toán, bằng 103,1% số báo cáo Quốc hội; thu dầu thô đạt 73,1% dự toán, bằng 111,4% số báo cáo Quốc hội; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 98,2% dự toán và số báo cáo Quốc hội
- Năm 2016: Thu ngân sách đã đạt 100,7% dự toán, riêng ngân sách địa phương vượt 15%, tính đến hết năm vượt khoảng 70.000 tỷ đồng Tổng thu năm 2016 tăngnhiều so với năm 2015, cho thấy nhiều chuyển biến tốt trong nền kinh tế để chính phủ xây dựng kế hoạch cụ thể cho năm 2017
Đơn vị: nghìn tỷ
Trang 12Biểu đồ so sánh dự toán và quyết toán chi ngân sách NN 2010-2014
III.2 Tình hình chi ngân sách năm 2011- 2016
-Năm 2011: Các khoản chi thường xuyên chiếm tỷ trọng cao nhất sau đó là các
khoản chi đầu tư và phát triển Mặc dù , vẫn có thể nhận thấy lượng chi năm 2011 không cao.Tuy nhiên so với dự kiến lại cao hơn rất nhiều
Trang 13-Năm 2012: Tổng chi cao hơn rất nhiều so với năm 2011 chi ngân sách năm 2012
tăng 24,24% so với 2011 Các khoản chi ngân sách thì việc chi cho chi thường xuyên tăng đột biến, khoản mục này tăng 29,19% so với 2011 Nguyên nhân là do chính phủ chi nhiều cho quân sự, quốc phòng và các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên biển Đông
-Năm 2013: Dù các khoản chi vẫn tăng nhưng ức tăng không đột ngột cao như
năm trước Chi thường xuyên vẫn tăng cao xong chi đầu tư và phát triển có xu hướng giảm Tỷ lệ chênh lệch giữa chi dự kiến và quyết toán là không đáng kể
-Năm 2014: Dự toán của chính phủ trong 2014 là chi ngân sách tăng 5,16% so với
cùng kỳ 2013, xong mực chi thực tế lại thấp hơn dự toán Trong đó ngân sách thi thường xuyên chiếm tỷ trọng cao, chiếm 71,33% tổng chi ngân sách nhà nước, trong khi các khoản chi cho đầu tư phát triển giảm nhẹ và chi cho trả nợ và viện trợtăng nhẹ Điều này cho thấy trong năm 2014, chính phủ ít quan tâm hơn đến việc đầu tư và phát triển mà chú trọng nhiều hơn vào khoản mục chi cho hoạt động xã hội
-Năm 2015: Tổng chi tăng , nhưng lượng tăng không cao so với năm 2014, trong
mức cho phép của chính phủ Chi quyết toán vẫn cao hơn chi dự toán 10.1%
-Năm 2016: Nhờ những chính sách hợp lý của chính phủ, năm 2016 không sảy ra
tình trạng chi tăng đột biến tuy nhiên vẫn tăng và ở mức cao Tính đến ngày 15/12, bội chi ngân sách ước tính đã khoảng 190.200 tỷ đồng
Đơn vị: nghìn tỷ