1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần tìm hiểu khu di tích phúc quang từ đường và thừa hoa điện ở định hoà yên định thanh hoá

88 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 654,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví nh- khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện đ-ợc gắn liền với dòng họ Ngô và vùng đất Định Hoà - Yên Định - Thanh Hoá.. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Khu di tích Phúc Quang từ đ

Trang 1

tr-ờng đại học VInh khoa lịch sử

-o0o -

Lê bá v-ơng

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Góp phần Tìm hiểu khu di tích phúc quang từ đ-ờng và thừa hoa

điện ở định hòa - yên định - thanh

hóa

chuyên ngành lịch sử văn hóa

Giáo viên h-ớng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Duyên

Trang 2

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cám ơn chân thành tới cô giáo Th.s Nguyễn Thị Duyên, ng-ời đã trực tiếp h-ớng dẫn, động viên chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa lịch sử tr-ờng ĐH Vinh đã giúp đỡ chu đáo Đồng thời tôi cũng xin chân thành cám ơn đến dòng họ Ngô ở làng Nhì - Định Hòa - Yên Định - Thanh HoáẩnTung tâm VH - TDTT huyện Yên

Định; Cục Bảo tồn bảo tàng Thanh Hoá; Th- viện tỉnh Thanh Hoá và bạn bè ng-ời thân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù đ-ợc sự giúp đỡ to lớn cùng với sự nổ lực hết mình,song đây là công trình nghiên cứu đầu tay, hơn nữa do thời gian có hạn vì thế không thể không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong tiếp tục nhận đ-ợc sự giúp đỡ của các thầy cô cùng bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5/2006

Trang 3

B¶ng quy -íc tõ viÕt t¾t

CHXHCN : Céng hoµ x· héi chñ nghÜa NXB : Nhµ xuÊt b¶n

KHXH- NV : Khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n VH-TT : V¨n ho¸ th«ng tin

UBND : Uû ban nh©n d©n

Trang 4

mục lục

A- Phần mở đầu ……… 5

1 Lý do chọn đề tài……… 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu ……… 6

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu ……… 7

3.1 Đối t-ợng nghiên cứu ……… 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu ……… 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 7

5 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu 7 5.1 Nguồn tài liệu ……… 7

5.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của khoá luận 8

7 Bố cục của khoá luận 8

B - Nội dung 9

Ch-ơng 1 Khái l-ợc dòng họ Ngô từ thuỷ tổ đến đời thứ hai m-ơi mốt ( từ TK VIII đến TK XV)

9 1.1 Đồng Phang (Định Hòa - Yên Định - Thanh Hóa) - vùng đất phát tích họ Ngô Việt Nam 9

1 2 Khái l-ợc về dòng họ Ngô từ thuỷ tổ đến đời thứ hai m-ơi mốt (từ TK VIII đến TK XV) 12

1.3 Những nhân vật họ Ngô Việt Nam gắn liền với khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện 19

1.3.1 Bảo Chính công thần Thái Phó H-ng Quốc Công Ngô Kinh……… 19

1.3.2 Thái Bảo Tr-ơng Khang truy phong Diên ý Dụ V-ơng Ngô Từ ……… 21

Trang 5

1.3.3 Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao… 25

Ch-ơng 2 Khu di tích Phúc Quang từ

đ-ờng, Thừa Hoa điện và lễ hội phủ nhì… 30

2.1 Phúc Quang từ đ-ờng……… 30

2.1.1 Lịch sử xây dựng……… 30

2.1.2 Đặc điểm kiến trúc và nghệ thuật bài trí của Phúc Quang từ đ-ờng……… 34

2.2 Thừa Hoa điện……… 39

2.2.1 Cung đệ Nhất của Thừa Hoa điện……… 42

2.2.2 Cung đệ Nhị của Thừa Hoa điện……… 46

2.3 Khái quát lễ hội Phủ Nhì 46

2.3.1 Khái niệm lễ hội truyền thống 48

2.3.2 Phần lễ trong lễ hội Phủ Nhì……… 48

2.3.2.1 Tế lễ ở Phúc Quang từ đ-ờng……… 49

2.3.2.2 Tế lễ ở Thừa Hoa điện……… 53

2.3.3 Phần hội trong lễ hội Phủ Nhì……… 53

2.3.3.1 Các trò thi diễn truyền thống……… 57

2.3.3.2 Các trò thi diễn hiện đại……… 58

2.4 Giá trị của Khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện trong đời sống văn hoá nhân dân………… 58

2.5 Thực trạng khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện với một số giải pháp……… 64

C Kết luận ……… 69

D Tài liệu tham khảo ……… 71

E Phụ lục

Trang 6

A Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

“ Những thành phố văn hóa đều cúi nhìn quá khứ của mình trên những

di tích Chính là nhờ biết nhìn các di tích bằng đôi mắt chăm chú, con ng-ời

có thể sống lại với thời gian xa xăm đầy những biến cố kì lạ đã dệt thành tấm vải vĩnh hằng của hiện hữu gọi là lịch sử” [1; 301]

Phong tục, tập quán, nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc một phần

đ-ợc l-u giữ trong các khu di tích và các lễ hội dân gian Do nhiều yếu tố, đặc biệt là trong một thời gian dài dân tộc ta chịu nạn ngoại xâm và những cuộc chiến tranh ác liệt, làm cho nhiều khu di tích, nhiều giá trị văn hoá truyền thống có phần mai một Ngoài ra thời gian vừa là chất men cho sự quên lãng, nh-ng đó cũng lại vừa là thứ thuốc hiện hình để làm sáng rõ dần và minh bạch những sự thật đ-ợc thăng hoa thành những biểu t-ợng, những bài học có giá trị lâu dài trong lịch sử Với chủ tr-ơng xây dựng một nền văn hoá “ tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc” , hiện nay chúng ta đang rất quan tâm nghiên cứu các

di tích và lễ hội truyền thống, tìm về cội nguồn, khôi phục truyền thống văn hoá để khẳng định bản sắc riêng của mình

Một di tích lịch sử - văn hoá th-ờng gắn liền với một vùng đất, một số nhân vật hoặc một dòng họ Ví nh- khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện đ-ợc gắn liền với dòng họ Ngô và vùng đất Định Hoà - Yên

Định - Thanh Hoá

Ngay từ thời phong kiến, nhà sử học Phan Huy Chú đã từng nhận định

về vùng đất Đồng Phang - Định Hoà - Yên Định: “ Đồng Phang là đất “ kết huyệt” của vùng đất đế v-ơng, một dòng suối, một quả núi cũng danh tiếng

Do sông núi hun đúc linh khí nên ngoài bậc v-ơng, công, t-ớng văn, t-ớng võ tiếp nhau xuất hiện toàn là những bậc tinh anh” [17; 119]

Là một sinh viên chuyên ngành lịch sử văn hoá, sinh ra và lớn lên trên vùng đất “ địa linh nhân kiệt” này Hơn nữa bản thân nhận thấy sự hiểu biết còn rất nông cạn về quê h-ơng Vì vậy, tôi luôn mong có cơ hội tìm hiểu về

Trang 7

con ng-ời và quê h-ơng mình Đồng thời cũng muốn giới thiệu về mảnh đất Yên Định - Thanh Hoá Vì những lý do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài với tên:

“Góp phần tìm hiểu Khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện ở

Định Hòa - Yên Định - Thanh Hóa” để làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện đã từ lâu

là một không gian thiêng liêng không chỉ của dòng họ Ngô Việt Nam mà còn của cả vùng Nó có sự ảnh h-ởng rất lớn dến đời sống văn hoá của nhân dân vùng Yên Định - Thanh Hoá

Khu di tích và gắn liền với nó là lễ hội Phủ Nhì trở thành nơi l-u giữ và phát huy những phong tục, tập quán, tín ng-ỡng tốt đẹp của dòng họ Ngô và nhân dân trong vùng Thời gian gần đây Khu di tích trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học Các cuốn “ Phả họ Ngô Việt Nam” , NXB

VH - TT 2003; “ Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Định” , NXB Quốc Gia, Hà Nội 1999; “ Đền miếu Việt Nam” , NXB Thanh Niên Hà Nội 2000; tác phẩm

“chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam”, NXB Phụ nữ, 2005; cuốn

“Hoàng thái hậu sinh vua Lê Thánh Tông”, NXB Thanh Hoá, 2001; cuốn “Hồ sơ di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện” của Bộ xây dựng và Cục bảo tồn bảo tàng Thanh Hóa lập năm 2003, đã nêu một cách khá đầy đủ cũng nh- làm sáng tỏ nhiều vấn đề của khu di tích và đề cập đến một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Ngô Việt Nam, đồng thời có những ghi chép sơ l-ợc về

lễ hội Phủ Nhì

Có thể nói khu di tích đã đ-ợc tập trung nghiên cứu Tuy nhiên các công trình nói trên chỉ tập trung đi sâu vào một số lĩnh vực nào đó nh- về dòng họ; lịch sử xây dựng di tích Cho đến nay ch-a có công trình nào nghiên cứu về khu di tích cũng nh- những giá trị của nó đối với đời sống văn hoá nhân dân trong vùng một cách tổng thể và có hệ thống Đó là một điều đáng tiếc Mặc dù vậy, những công trình đó cũng trở thành nguồn t- liệu quý giá và cần thiết để giải quyết những nội dung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu về khu di tích

Trang 8

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối t-ợng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện ở Định Hoà - Yên Định - Thanh Hoá trên các mặt chủ yếu: kiến trúc, điêu khắc, lễ hội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận đi sâu nghiên cứu khu di tích và các hoạt động văn hóa liên quan trên các mặt nh- lịch sử xây dựng, đặc điểm kiến trúc điêu khắc, lễ hội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài này sẽ thực hiện những nhiêm vụ sau:

- Khái quát về mảnh đất phát tích của dòng họ Ngô việt Nam

- Tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Ngô

- Nghiên cứu Khu du tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện trên một số mặt: lịch sử xây dựng; kiến trúc, nghệ thuật bài trí; lễ hội Phủ Nhì

- Giá trị của khu di tích đối với đời sống của nhân dân trong vùng

5 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện khoá luận chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn

vê các nguồn tài liệu Các công trình nghiên cứu, các bài viết còn tản mạn Vì vậy, chúng tôi phải thu thập, so sánh, chỉnh sửa cẩn trọng Có thể chia ra các loại tài liệu sau:

- Nguồn tài liệu thành văn gồm: các công trình đã nêu ở phần lịch sử vấn đề Bên cạnh đó chúng tôi có sử dụng các cuốn lịch sử thời phong kiến và các sách nghiên cứu về văn hoá Việt Nam

- Nguồn tài liệu bia kí: Phúc Quang Từ Đ-ờng kí; Bia Sơn Lăng

- Nguồn tài liệu dân gian gồm: các bài ca dao, tục ngữ,các huyền tích

Trang 9

Chúng tôi chọn đề tài “ Góp phần tìm hiểu Khu di tích Phúc Quang từ

đ-ờng và Thừa Hoà điện ở Định Hòa - Yên Định - Thanh Hoá” làm khoá luận nghiệp nhằm đem lại những hiểu biết về khu di tích lịch sử văn hóa này, cũng nh- những truyền thống văn hoá của dòng họ Ngô và vùng đất Yên Định - Thanh Hoá Cuốn khoá luận này cũng sẽ là một đóng nhỏ bé trong việc giới thiệu về truyền thống văn hoá của một dòng họ lớn ở Việt Nam, đồng thời giới thiệu về con ng-ời và những truyền thống văn hoá của vùng Yên Định - Thanh Hoá

Công trình đi sâu nghiên cứu khu di tích trên các mặt: nghệ thuật kiên trúc, cách bài trí, lễ hội để làm nổi rõ giá trị, ý nghĩa của khu di tích Từ đó có những đề xuất để dòng họ Ngô, Ban quản lý di tích cũng nh- nhân dân trong vùng có những cách thức bảo vệ và sử dụng hiệu quả

7 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của khóa luận gồm hai ch-ơng:

Ch-ơng 1: Khái quát về dòng họ Ngô Việt Nam từ khởi tổ đến đời thứ hai m-ơi

mốt ( từ TK VIII đến TK XV)

Ch-ơng 2: Khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện

b nội dung ch-ơng 1 Khái l-ợc dòng họ Ngô từ thuỷ tổ đến đời thứ

hai m-ơi mốt (từ tk viii đến tk xv)

1.1 Đồng Phang (Định Hòa - Yên Định - Thanh Hóa) – vùng đất phát tích họ Ngô Việt Nam

Đồng Phang tên chữ là Động Bàng Thời tr-ớc vùng đất này thuộc phủ Thiệu Yên đất ái Châu Ngày nay là vùng đất thuộc xã Định Hoà, huyện Yên

Định, tỉnh Thanh Hoá Đồng Phang cách thành phố Thanh Hoá 25 km về phía

Đông – Bắc theo đ-ờng Quốc lộ 45 "Từ khi có sự phân chia hành chính của

Trang 10

nhà n-ớc phong kiến độc lập đến đầu thế kỉ XX, Đồng Phang gồm bốn giáp với sáu làng:

- Giáp 1: Làng Thung Th-ợng, còn gọi là làng Nhất hay làng Phấng hiện nay

- Giáp 2: Thung thôn ở trung tâm, tức làng Nhì bây giờ

- Giáp 3: Gồm Mai thôn và Nội thôn

- Giáp 4: Bùi thôn và Lập thôn Hai thôn này hiện nay thuộc xã Định Bình” [8; 9]

Thời phong kiến, đất Đồng Phang thuộc tổng Yên Định Sau cách mạng Tháng Tám 1945, Yên Định vẫn là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Thanh Hoá, đã bỏ đơn vị hành chính trung gian là cấp tổng và lập đơn vị hành chính cấp xã nh- hiện nay

Theo Phan Huy Chú: “ Đồng Phang “ kết huyệt” của vùng đất đế v-ơng, một dòng suối, một quả núi cũng danh tiếng Vùng đất có sông Ngọc Chuỳ, núi Đồng Cổ là tai mắt của n-ớc nhà Sông thì ứng với Thiên hà hợp dòng về

Đông Hải Do non sông vun đúc linh khí nên ngoài bậc v-ơng, công, t-ớng văn, t-ớng võ tiếp nhau xuất hiện toàn là những ng-ời tinh anh” [7; 119]

Vùng đất này đ-ợc hình thành bởi sự bồi đắp phù sa của sông Cầu Chày, còn gọi là Cầu Chùy hay Chùy Thuỷ, có tên chữ là Ngọc Chùy Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi Ngọc Lặc, đến Cửa Bao vào Yên Định Dòng chảy xuôi h-ớng Đông đến địa phận Bầu Nga ở Đồng Phang thì uốn l-ợn: “ Sớm Bầu Nga, tối lại Bầu Nga”

Vùng đất Yên Định (Quan Yên) nói chung, Đồng Phang nói riêng, ngay

từ thời tiền sử, ng-ời Việt đã đến đây khai phá Các dấu tích về đồ đá tìm thấy

ở núi Nuông, còn gọi là núi Tiên Nông hay núi Nội thuộc địa Nội thôn, xã

Định Hoà nằm bên tả ngạn sông Cầu Chày hiện nay, cũng nh- ở núi Quan Yên bên hữu ngạn sông Mã (cách Đồng Phang 8km về phía Đông), hay Đa Bút, núi Đọ là những di chỉ tìm thấy dấu tích của ng-ời nguyên thủy Điều

đó minh chứng rằng, ngay từ xa x-a ng-ời Việt đã định c- ở đây Cùng với sự phát triển của lịch sử, vùng đất này đã sản sinh ra nhiều anh tài, danh nhân,

Trang 11

anh hùng dân tộc “ Chỉ tính những nhà đại khoa thời phong kiến thì: Phía Nam Đồng Phang có hai anh em Kh-ơng Công Phụ và Kh-ơng Công Phục, Phía Bắc có Trịnh Thiết Tr-ờng, Hoàng Hối Khanh, anh em Yên Đôn Lỗ và Yên Đôn Phác, rồi cái kể đến Trịnh Cảnh Thụy, Lê Đình Kiên, Trần Ân Chiêm, Hà Tông Huân Có thể nói mảnh đất Đồng Phang nằm trong vùng đất văn hiến” [18; 12]

D-ới cách nhìn của thuật phong thủy, khi xây dừng từ đ-ờng Phúc Quang, Diên ý Dụ V-ơng Ngô Từ đã nhờ một hàng t-ớng của quân Minh là Công bộ Th-ợng th- Hoàng Phúc, nổi tiếng tinh thông địa lý xem "long mạch" Hoàng Phúc luận rằng: “ Xem đất Giao Châu này rất quý, các công thần ngày nay đều đ-ợc phúc địa cả, cho nên mới có hội Long Vân này Nh-ng đất phát nhiều kẻ quyền quý mà bảo vệ đ-ợc trọn vẹn thì rất ít Nh- Nguyễn Trãi đất Nhị Khê, mạch đất ngắn, họ chu di thê thảm Bố con Đinh Vĩnh Thái là ng-ời Đô Kha, đất Đô Kha khí xung tan, quý đấy, nh-ng dễ suy vong, những ví dụ nh- thế kể không hết

Duy có đất Đồng Phang, mạch đất nh- bàn tay Tiên, các mạch n-ớc đổ

về, tám h-ớng gió chẳng dông, long mạch chín vòng chầu vào trục chính mà xuống, qua hàng trăm dặm xuyên rừng v-ợt sông, đổi cái thô lấy cái tinh, trong năm ngôi sao của Ngũ Hành đều bao hàm cái quý giá, nay lại kết nghiệp nơi giáp với sông núi thành hình chữ Nhật, thuộc về Văn tinh, ngôi sao chủ về văn học Có ba ụ thần đồng, một ụ đứng riêng, hai ụ bố con tất sẽ có phụ tử

đồng khoa Sách có câu “ đinh long h-ớng, h-ớng về đinh mũ son áo tía chật cung đình” , đất nhà đ-ợc điều này cho nên con cháu thịnh v-ợng Ngũ hành dẫn mạch mà chỗ ở giữa là “ Ngũ khí triều viên cách” , huyệt này ngồi trên cổ

ân, Thổ tinh chủ phát về lộc, đ-ợc ban ruộng đất, nhà cửa, khi sống đ-ợc phong hầu khi chết đ-ợc liệt vào đền miếu không ngoa chút nào” [6; 125] Đồng Phang, Định Hoà ngày nay là một vùng đồng bằng nhỏ, có bốn ngọn núi thấp mọc lên đột ngột xung quanh nằm ven vùng hạ l-u phía bắc của sông Cầu Chày Đây là vùng đất đ-ợc dòng sông Cầu Chày bồi đắp phù sa hàng năm rất màu mỡ, đất chủ yếu là phù sa cổ Bên cạnh đó có nguồn n-ớc dồi

Trang 12

dào thích hợp cho cây nông nghiệp phát triển Năm Canh Dần (1470) khi Vua

Lê Thánh Tông về bái yết Tây Kinh và qua bái yết tổ ngoại, đến đây đã “ tức cảnh sinh tình” vịnh một bài thơ :

“ Vạn khoảnh thanh thanh thiên hạ điều

Tế dân đ-ơng dĩ thác vi thiên

Thôn đầu tam l-ỡng nông phu đáo

Giai vị kim niên thắng tích niên.”

Tạm dịch là:

(Đồng chiêm muôn khoảnh lúa xanh t-ơi

Dân chúng coi ăn chính ấy trời

Đầu làng nông phu dăm kẻ đến

Nói: Năm nay v-ợt mọi năm rồi) ” [13; 430]

Chính vùng đất này đ-ợc thuỷ tổ họ Ngô là Ngô Nhật Đại chọn làm nơi để khai cơ lập nghiệp “ Để từ đó phát triển, có những ng-ời ở lại quê cũ, có những ng-ời rời xa quê đến những vùng khác sinh nghiệp và chỉ biết mình là họ Ngô mà gốc từ Đồng Phang” [8;12]

1.2 Khái l-ợc về dòng họ Ngô Việt Nam từ khởi thuỷ đến đời thứ hai m-ơi mốt (từ TK VIII đến TK XV)

Họ Ngô là một trong những dòng họ lớn ở Việt Nam Từ thuỷ tổ đến nay đã qua 97 thế hệ Họ Ngô ở Việt Nam đã phát triển với rất nhiều chi nhánh, con cháu họ Ngô c- trú và sinh sống trên mọi miền tổ quốc và cả n-ớc ngoài nh- Canada Do giới hạn về mặt thời gian nên công trình nhỏ hẹp này chỉ xin khái l-ợc về dòng họ Ngô Việt Nam từ thuỷ tổ đến đời thứ hai m-ơi mốt, tức là đến đời đánh dấu sự phục h-ng của họ Ngô sau nhiều thăng trầm sóng gió Hơn nữa, đến đời thứ hai m-ơi mốt thì nhà thờ họ Ngô mới đ-ợc chính thức xây cất ở Đồng Phang khẳng định gốc tích của họ mình ở vùng đất này Mặt khác cũng vì ch-a có điều kiện và do khuôn khổ của khoá luận, nên

ở đây chỉ chủ yếu đề cập đến dòng tr-ởng

Trang 13

Theo Gia phả họ Ngô, hiện nay đang đ-ợc l-u giữ tại Phúc Quang từ

đ-ờng thì: “ Họ Ngô vốn thuỷ tổ là Ngô Nhật Đại sống ở khoảng TK VIII, khởi nghiệp bằng nghề nông tại Đồng Phang ở ái Châu, tức vùng đất thuộc xã

Định Hoà, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá ngày nay Ngô Nhật Đại tr-ớc khi đến khai cơ lập nghiệp ở ái Châu đã là hào tr-ởng châu Phúc Lộc (vùng Cửa Sót, thuộc Hà Tĩnh ngày nay) Ông đã tham gia cuộc khởi nghĩa chống quân L-ơng do Mai Thúc Loan lãnh đạo (năm 722) Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, ông đã chuyển c- ra ái Châu Từ đó lấy nghề nông lập nghiệp” [4; 19]

Ngô Nhật Đại sinh ra con là Ngô Nhật Dụ, nổi tiếng là bậc “ đại Nho” Ngô Nhật Dụ ham đọc sách, làm nghề dạy học khai hoá cho dân trong vùng

Ông đã đ-ợc huyền thoại hoá là “ có cả mắt sáng ở sau l-ng, để phúc lâu dài” [8; 13]

Đời thứ ba của họ Ngô là Ngô Nhật Hạo Ngô Nhật Hạo sinh ra Ngô

Đình Thực Đình Thực lúc này đã là hào tr-ởng ở Động Bàng (Đồng Phang) Ngô Đình Thực sinh ra Ngô Đình Mân, tức Ngô Mân

Đến đời thứ năm, Ngô Mân ra Bắc làm Châu mục ở Đ-ờng Lâm (ngày nay thuộc Phúc Thọ, huyện Sơn Tây, tỉnh Hà Tây) Bấy giờ, Ngô Mân là một thổ hào rất có thế lực ở Đ-ờng Lâm Ngô Mân sinh ra Ngô Quyền và Ngô Tịnh ở Đ-ờng Lâm

Ngô Quyền là con tr-ởng của Ngô Mân, hậu duệ đời thứ sáu của dòng

họ Ngô Ông sinh ra và lớn lên ở Đ-ờng Lâm, sau đó đã về đất tổ ái Châu làm nha t-ớng và cũng là con rể của D-ơng Đình Nghệ Phả họ Ngô và theo giáo s- Ngô Vi Thiện đã khẳng định: “ Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh

Tỵ (897), là con Ngô Đình Mân (gốc ở Châu ái, Thanh Hoá, làm châu mục

Đ-ờng Lâm thời Khúc Thừa Hạo Nguyên quán của Ngô Quyền là Đồng Phang, phủ Thiệu Thiên, ái Châu (Thanh Hoá), sinh quán là Đ-ờng Lâm, còn trú quán là Cổ Loa (vì sau khi x-ng v-ơng Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa)” [4; 523] Mẹ là Phùng Thị Tịnh Phong (ng-ời Đ-ờng Lâm, hậu duệ của Phùng H-ng, Phùng Hải)

Trang 14

Ngô Quyền mất ngày 18 tháng giêng năm Giáp Tý (944) ở Cổ Loa, táng trên đồi thôn Cam Lâm, Đ-ờng Lâm Nay vẫn còn lăng và đền thờ ở Đ-ờng Lâm

Ngô Quyền là một t-ớng tài, đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi thù trong giặc ngoài vào thế kỉ thứ X Với trận quyết chiến chiến l-ợc ở sông Bạch

Đằng (938) – một trận phản công theo đánh giá của các nhà nghiên cứu là nhanh nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, đã đ-a dân tộc ta thoát khỏi “ nghìn năm Bắc thuộc” Lịch sử dân tộc b-ớc sang một trang mới, đó là thời kì độc lập, tự chủ lâu dài Tháng giêng năm Kỉ Hợi (939), nghĩa là một năm sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền x-ng v-ơng trở thành vị vua trung h-ng của đất n-ớc sau thời kì Hùng V-ơng dựng n-ớc Ngô Quyền đ-ợc nhân dân đời sau tôn x-ng là anh hùng dân tộc

Nhà yêu n-ớc nổi tiếng đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu đã tôn vinh Ngô quyền với chiến công Bạch Đằng: “ là vị tổ trung h-ng của n-ớc ta”

Còn Bác Hồ trong cuốn “ Lịch sử n-ớc ta” thì ca ngợi ng-ời anh hùng dân tộc một cách mộc mạc:

“ Ngô Quyền ng-ời ở Đ-ờng Lâm

Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm”

Năm 1994, trong cuộc hội thảo khoa học nhân kỉ nệm 1050 ngày mất của vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền, để đánh giá về công lao của ông Giáo s- Vũ Khiêu đã kính đề đôi câu đối:

“Gi-ơng cờ Hồng Lạc giành lại núi sông thoả chí bốn ph-ơng hào kiệt Nổi sóng Bạch Đằng dìm sâu quân giặc nêu g-ơng vạn thế anh hùng” [6; 526]

Ngô Quyền đã làm rạng danh cho dân tộc, đồng thời cũng là ng-ời đ-a

họ Ngô trở thành một dòng họ nổi tiếng từ đây

Từ thuỷ tổ Ngô Nhật Đại đến Ngô Mân, dòng họ Ngô năm đời độc

đinh Đến đời thứ năm, Ngô Mân sinh đ-ợc hai con trai là Ngô Quyền và Ngô Tịnh

Trang 15

Ngô Tịnh sinh đ-ợc năm ng-ời con: Ngô Tiến, Ngô Hoan, Ngô Vi, Ngô Ngàn, Ngô Mục Đến đây không hiểu lý do gì nhánh thứ của Ngô Tịnh thất truyền

Còn về ngành tr-ởng, Ngô Quyền sinh đ-ợc bốn ng-ời con gồm: Ngô X-ơng Ngập, Ngô X-ơng Văn, Ngô Nam H-ng và Ngô Càn H-ng

Ngô X-ơng Ngập là con tr-ởng của Ngô Quyền, đ-ợc kế vị làm vua từ năm 944, sau đó bị cậu ruột là D-ơng Tam Kha c-ớp ngôi, phải chạy về Nam Sách (Hải D-ơng) lánh nạn D-ơng Tam Kha lại bị em của X-ơng Ngập là X-ơng Văn tiêu diệt Khi Ngô X-ơng Văn giành lại đ-ợc ngôi vua, đã mời Ngô X-ơng Ngập trở về kinh đô cùng trông coi triều chính Lúc này Ngô X-ơng Ngập làm vua với hiệu là Thiên Sách V-ơng Năm 954, Ngô X-ơng Ngập mất

Ngô X-ơng Văn là con thứ hai của Ngô Quyền Khi giành lại ngôi vua

từ tay D-ơng Tam Kha thì x-ng là Nam Tấn V-ơng cùng anh trông coi việc n-ớc Sau khi Thiên Sách V-ơng chết thì Ngô X-ơng Văn một mình làm vua, trị vì đ-ợc m-ời một năm nữa Năm 1965, Ngô X-ơng Văn bị chết trong khi

đi dẹp loạn, kết thúc thời kì Hậu Ngô V-ơng trong lịch sử

Ngô X-ơng Văn sinh ra Ngô Nhật Khánh và Ngô Nhật Chung

Ngành tr-ởng, đời thứ bảy Ngô X-ơng Ngập sinh ra Ngô X-ơng Xí và Ngô X-ơng Tỷ

Ngô X-ơng Tỷ tức là Ngô Chân L-u Ông đ-ợc sinh ra và lớn lên ở làng Cát Lợi quận Th-ờng Lạc ái Châu, nay là làng Cát Lỵ huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá Ông "xuất gia" từ nhỏ ở chùa Phật Đà, thụ giáo Văn Phong Thiền ở chùa Khai Quốc Năm 971 đ-ợc Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng thống, tức là ng-ời đứng đầu Phật giáo và ban cho hiệu Khuông Việt Đại S-

Ngô X-ơng Xí là con tr-ởng của Ngô X-ơng Ngập, là ng-ời kế vị ngôi vua Sau khi Nam Tấn V-ơng Ngô X-ơng Văn tử trận (965), lúc này các thế lực phong kiến cát cứ khắp nơi nổi lên 12 sứ mạnh nhất gọi là “ 12 sứ quân” Năm 967 thì Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp tan đ-ợc 12 sứ quân, không giữ đ-ợc ngôi

Trang 16

vị Ngô X-ơng Xí đã đến ẩn c- ở vùng Th-ợng Du (vùng rừng núi) của đất ái Châu Ngô X-ơng Xí sinh ra Ngô X-ơng Sắc và Ngô ích Vệ

Ngành tr-ởng đời thứ chín của dòng họ Ngô là Ngô X-ơng Sắc vẫn ẩn c- ở vùng Th-ợng Du ái Châu Ngô X-ơng Sắc sinh ra Ngô Tử án

Ngô Tử án là ng-ời tài giỏi, có công lớn đối với triều Tiền Lê Ông từng giữ chức Phụ quốc, cùng với một ng-ời anh em họ là Ngô Tử Canh và Từ Mục

là những trụ cột của triều Tiền Lê Ngô Tử án sinh ra Ngô Tử Uy Ngô Tử

Uy là đời thứ m-ời sinh ra Ngô Từ Vĩnh Đời thứ m-ời hai là Ngô Đắc Dũng Ngô Đắc Dũng sinh ra Ngô Đấu Lăng Ngô Đấu Lăng sinh ra Ngô Hữu Liêu

là đời thứ m-ời lăm Ngô Hữu Liêu sinh ra Ngô Ma L- Hậu duệ thứ m-ời sáu thuộc ngành tr-ởng của họ Ngô là Ngô Ma L- sinh ra Ngô Rô

Ngành thứ, đến đời thứ chín, em của Ngô X-ơng Sắc là Ngô ích Vệ đến

ẩn c- ở Châu Hoan (thuộc Nghệ An) sinh ra Ngô án Ngữ Ngô án Ngữ có làm một chức quan nhỏ thời Lý Ngô án Ngữ sinh ra Ngô Tuấn tức là Lý Th-ờng Kiệt và Ngô Ch-ơng tức là Lý Th-ờng Hiến

Lý Th-ờng Kiệt là một danh t-ớng, một vị anh hùng dân tộc, một nhà quân sự có tài thao l-ợc lỗi lạc cùng với tài chính trị ngoại giao xuất sắc Trong c-ơng vị Phụ quốc Thái uý, ông là ng-ời có công lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống (1075 - 1077) Qua đó khẳng định quyền độc lập tự chủ thiêng liêng của đất n-ớc, thể hiện quyết tâm sắt đá của dân tộc ta trong việc giữ vững độc lập chủ quyền của quốc gia Bài thơ Nam quốc sơn hà đã đi vào lịch sử dân tộc nh- một bản Tuyên ngôn độc lập thứ nhất:

“Nam quốc sơn hà Nam đế c-

Tiệt nhiên định phận tại thiên th- Nh- hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại h-”

Các nhà sử học phong kiến đánh giá rất cao công lao của Lý Th-ờng Kiệt đối với lịch sử dân tộc Trong tác phẩm Lịch triều hiến ch-ơng loại trí, Phan Huy Chú đã ca ngợi: “ Đào Cam Mộc giúp vua lên ngôi, Tông Đản đánh giặc, dẫu có công lao một thời, nh-ng m-u l-ợc không rõ rệt; công việc trong

Trang 17

lúc làm quan không thấy gì cho nên không chép Danh t-ớng triều Lý chỉ có

Lê Phụng Hiểu, Lý Th-ờng Kiệt là hơn cả Công dẹp nạn, mở mang bờ cõi của hai ng-ời rõ rệt đáng ghi, không hổ là bậc t-ớng có tiếng và tài giỏi” [7; 249]

Năm ất Dậu (1005), Lý Th-ờng Kiệt mất, ông h-ởng thọ 86 tuổi, đ-ợc truy tặng Kiểm hiệu Thái úy Việt quốc công Lý Th-ờng Kiệt không có con" [6; 535]

Em Lý Th-ờng Kiệt là Ngô Ch-ơng sinh ra Ngô Khảo Tích Ngô Khảo Tích sinh ra Ngô Tịnh, là hậu duệ họ Ngô thuộc ngành thứ đời m-ời ba Con của Ngô Tịnh là Ngô Thực Ngô Thực sinh ra Ngô Giáo Đời thứ m-ời lăm Ngô Giáo sinh đ-ợc ba con là Ngô Minh Đức, Ngô Minh Hiếu và Ngô Minh Nghĩa

Ngô Minh Đức là anh cả, sinh ra 3 trai, 2 gái gồm: Ngô Phúc, Ngô Hậu, Ngô Sinh, Ngô Thị Ngọc Giao, Ngô Thị Ngọc Dung Từ đây ngành thứ bị thất truyền

Còn về ngành tr-ởng, sau đời thứ m-ời Ngô Tử án, con cháu sa sút Từ Ngô Tử Uy đến Ngô Tử Vĩnh chủ yếu làm nghề nông không làm quan chừc gì Đến cuối triều Lý, trải qua ba đời đến đời của Ngô Đấu Lăng, cảnh nhà túng bấn, phải chuyển cả về gia đình về Đồng Phang và ngày càng nghèo đói, khó khăn Từ đời Ngô Hữu Liêu đến Ngô Ma L-, rồi đời tiếp đó là Ngô Rô nhiều khi phải tha ph-ơng cầu thực Vợ chồng Ngô Rô phải n-ơng nhờ cửa Phật, trông coi chùa Thiên Phúc thuộc làng Thung Th-ợng, nghĩa là làng Nhất của xã Định Hoà - Yên Định - Thanh Hoá ngày nay Ngô Rô đ-ợc coi là đời thứ nhất của họ Ngô ở Đồng Phang Không rõ năm sinh, ông mất ngày 28 tháng 3 âm lịch năm Bính Tý 1336 Mộ táng tại thôn Thung Th-ợng, Đồng Phang, tục gọi là “ xứ Bờ Đó” Vợ của Ngô Rô là Đinh Thị Quỳnh Côi, ng-ời Thẩm Khê - Đô Kỳ - Thiệu Yên - Thanh Hoá Đinh Thị Quỳnh Côi mất ngày

10 tháng 3, mộ táng tại phía đông chùa Thiên Phúc tục truyền là “ xứ Xó Chùa” Hai ông bà khi còn sống rất nghèo khó, phải xin trông coi chùa Thiên Phúc để n-ơng thân, lúc chết cũng chỉ đ-ợc an táng sơ sài T-ơng truyền cả

Trang 18

hai ông bà đều đ-ợc “ Thiên táng” Gia phả họ Ngô ở Đồng Phang còn ghi lại huyền tích: “ ông Bờ Đó, bà Xó Chùa”

Ngô Rô sinh ra Ngô Tây Ngô Tây gia cảnh khó khăn Lúc sinh thời phải đi làm thuê ở xã Lâm Hạ (Gia Lâm, Hà Nội), lấy Lê Thị Quỳnh ng-ời cùng xã Sau đó, ở lại quê vợ lập nghiệp Ngô Tây sinh ra Ngô Kinh, là hậu duệ thứ m-ời tám của dòng họ Ngô Ngô Kinh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống nhờ bên ngoại, lớn lên đ-ợc ng-ời bà con họ mẹ là Lê Đức đ-a đến đất Khả Lam( Lam Sơn) làm thuê cho Lê Khoáng Đ-ợc Lê Khoáng gả con gái là Lê Thị M-ơi làm vợ Ngô Kinh sinh ra Ngô Từ nối đời thứ hai m-ơi cho dòng họ Ngô

Hai cha con Ngô Kinh và Ngô Từ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã có nhiều công lao Cùng “ nằm gai nếm mật” , khi cuộc kháng chiến toàn thắng, hai cha con Ngô Kinh và Ngô Từ trở thành khai quốc công thần và đ-ợc phong chức t-ớc Họ Ngô từ đây h-ng khởi

Theo tập tục của ng-ời Việt, sau chín đời có thể tách làm họ mới Họ Ngô đã phát h-ng, tách ra nhiều chi nhánh, nhiều dòng khác nhau trên mọi miền đất n-ớc đến nay phân ra nh- sau:

- Dòng họ Ngô - Đồng Phang - Định Hòa - Yên Định - Thanh Hóa

- Dòng họ Ngô - Tam Sơn - Đông Ngàn, nay là ở Từ Sơn - Bắc Ninh

- Dòng họ Ngô - Nghiêm Xá - Th-ờng Tín - Hà Tây

- Dòng họ Ngô - Phù Vệ- Đ-ờng Hào, phủ Th-ợng Hồng, chấn Hải D-ơng, nay thuộc H-ng Yên

- Dòng họ Ngô - Lý Trai, nay là xã Diễn Kỷ - Diễn Châu- Nghệ An

- Dòng họ Ngô Sách - Đông Ngàn, nay thuộc Từ Sơn Bắc Ninh

- Dòng họ Ngô Thời -Tả Thanh Oai- Thanh Trì - Hà Nội

- Dòng họ Ngô Vi - Tả Thanh Oai - Thanh Trì - Hà Nội

- Dòng họ Ngô - Lạc Khê - Từ Liêm - Hà Nội

- Dòng họ Ngô Chi Nê - Lạc Khê ở Ch-ơng Mỹ - Hà Tây

Ngoài ra còn nhiều chi nhánh khác Các dòng nhánh họ Ngô đã cống hiến cho dân tộc nhiều nhân tài, tuấn kiệt có công trong lịch sử của dân tộc

Trang 19

“Vạn đại chi lan”, đúng nh- Hoàng Giáp Lễ Bộ Th-ợng th- Hà Tông Huân đã nhận xét trong “ Phúc quang từ đ-ờng kí” : “ Từ đấy về sau (từ TK XV), các bậc công, hầu, bá, quan chức, khoa bảng trải hàng trăm năm với hàng ngàn ng-ời con -u tú, tất cả đều trung trinh một dạ, giúp n-ớc hết lòng, ân huệ khắp cho dân, niềm vui lớn để mãi cho con cháu, âm vang mãi trong tai mắt mọi ng-ời,

đó là sự nối tiếp” [24; 2] Họ Ngô Việt Nam đến ngày nay đã trở thành một trong những dòng họ lớn, có bề dày truyền thống văn hoá trong dòng họ

1.3 Những nhân vật gắn liền với khu di tích Phúc Quang từ đ-ờng và Thừa Hoa điện

1.3.1 Bảo Chính công thần Thái phó H-ng quốc công Ngô Kinh

Ngô Kinh là con của Ngô Tây, hậu duệ đời thứ hai m-ơi của dòng họ Ngô Ông sinh năm 1350 Lúc này triều Trần đang trên đà khủng hoảng, dẫn

đến việc họ Hồ tiếm ngôi, sau đó đất n-ớc lại bị giặc Minh xâm l-ợc, đô hộ n-ớc ta Sinh ra và lớn lên trong cảnh lầm than, cảnh nhà nghèo túng từ đời cha mẹ, đến đời của Ngô Kinh lại càng sơ xác, túng quẫn Ngô Kinh sinh ra ở

Hà Nội Cha mẹ Ngô Kinh đã nghèo lại mất sớm Từ nhỏ ông đã phải đi ở trong chùa Thiên Phúc Ngô Kinh sống nhờ bên họ ngoại, sau đó về quê Đồng Phang sinh sống Khi tr-ởng thành, cùng một ng-ời bà con họ mẹ tha h-ơng lên sách Khả Lam (Lam Sơn) kiếm kế sinh nhai Ngô Kinh xin đ-ợc làm gia nô cho Lê Khoáng, là một hào tr-ởng lớn ở ái châu lúc bây giờ” [18; 144]

Ngô Kinh bản tính siêng năng, cần cù, ngay thẳng lại rất cẩn thận trong việc làm Ông đ-ợc Lê Khoáng tin yêu giao cho chuyên trông coi việc cày bừa, ruộng n-ơng Ngô Kinh ngày càng đ-ợc cha con Lê Khoáng tin dùng

Đến tuổi tr-ởng thành, Lê Khoáng đã gả con gái của mình tên là Lê Thị M-ơi (tức là Lê Thị Quỳnh Hoan) cho ông

Vợ chồng Ngô Kinh sinh đ-ợc 4 ng-ời con trai và một con gái: Ngô Từ, Ngô Đức, Ngô Khiêm, Ngô Đam và Ngô Thị Ngọc Sách

Từ thân phận một gia nô, sau này thành con rể của Lê Khoáng Ngô Kinh và con là Ngô Từ đ-ợc Lê Lợi rất tin dùng Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi giao phó cho hai cha con trông nom việc trang trại, chăm lo sản

Trang 20

xuất để chuẩn cấp quân l-ơng và tiếp đón nhân tài từ khắp nơi đến m-u việc

đại nghĩa Xuất thân từ một gia nô, tr-ớc cảnh n-ớc mất nhà tan nên Ngô Kinh thấu hiểu đ-ợc nổi đau của một ng-ời dân mất n-ớc, nỗi nhục của một dân tộc

bị đô hộ Hiện thực tr-ớc mắt đã làm nỗi căm phẫn quân c-ớp n-ớc trong lòng

ông trỗi dậy Vì thế, Ngô Kinh sớm có tinh thần chống giặc ngoại xâm để giành độc lập cho đất n-ớc Khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, trong số những ng-ời h-ởng ứng đầu tiên ở Hội thề Lũng Nhai có hai cha con Ngô Kinh và Ngô Từ

Ngô Kinh có nhiệm vụ vừa lo đôn đốc mọi ng-ời, vừa trực tiếp cày bừa cấy hái Ông nhận thức rõ đ-ợc sự cần thiết của hậu cần: “ Thực túc binh c-ờng” và vai trò chiến l-ợc của hậu ph-ơng trong cuộc khởi nghĩa Ngô Kinh luôn luôn “ giữ vững và mở rộng căn cứ Lam Sơn, tổ chức sản xuất, chăn nuôi, tích trữ l-ơng thực, vũ khí, tiếp đón những ng-ời đến tụ nghĩa” [4; 571]

Năm 1423, khi cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn đang trong giai đoạn ác liệt,

Lê Lợi về Lam Kinh động viên nhân dân, thu nạp thêm quân sĩ, đã phong cho Ngô Kinh làm Kiến T-ờng hầu, các con ông ai cũng đựơc phong t-ớc để ghi nhận công lao của ông Năm 1428, cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi hoàn toàn với sự kiện Hội thề Đông Quan Trong buổi chầu đầu tiên của triều Hậu

Lê, vua đã khẳng định công lao của ông: “ Các khanh trong khi đi theo tên

đạn, có đ-ợc đầy đủ l-ơng thực thì đó là công đóng góp của cha con Ngô Kinh Khi Trẫm ch-a khởi binh thì cha con Ngô Kinh là ng-ời ở của cha Ta, Ngô Từ lại là tôi tớ của Ta Lúc Trẫm mới nêu lên việc nghĩa, cha con Ngô Kinh là ng-ời đầu tiên cùng Trẫm m-u quyết Trẫm với ch- khanh đi khắp nơi, trốn tránh nơi rừng núi đều trông mong cha con Ngô Từ ở lại giữ căn cứ, cung cấp quân l-ơng, điều binh sĩ Nay, cha con Ngô Kinh vừa có công thủ bản, vừa có m-u đánh giặc nên Trẫm đánh giá Ngô Kinh, Ngô Từ là đệ nhất công thần Luận công với các t-ớng xong, vua còn nói vơi Ngô Kinh: “ Việc của ông phi thần thánh không ai làm nổi Ông đúng là Cốc Thần nên lo việc quân l-ơng mới đ-ợc nh- vậy Thực là Trời đã cho Ta một công thần vô giá!” [8; 20]

Trang 21

Ngô Kinh đ-ợc phong tặng chức Bảo chính công thần, Nhập nội hành khiển Th-ợng t-ớng quân, thăng Thái phó H-ng quốc công Ông mất ngày 7 thang 7 (âm lịch) năm Kỷ Mùi (1439) Khi chết đ-ợc ban tên thụy là Dụ khê th-ợng sĩ Sau đó chắt ngoại là vua Lê Thánh Tông lại ban thụy: Trung Hiền th-ợng sĩ Ngô Kinh có 4 con trai và một con gái đều tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và lập đ-ợc nhiều công trạng, đặc biệt là Bình Ngô khai quốc công thần Ngô Từ Các con khác của Ngô Kinh đ-ợc phong t-ớc gồm: Mỹ quận công Ngô Đức; Thuận quận công Ngô Khiêm; Đô đốc th-ợng t-ớng quân Ngô Đam và con gái là Ngô Thị Ngọc Sách Ngô Thị Ngọc Sách là vợ của L-ơng Quận công Nguyễn Tín, cũng là một trong những khai quốc công thần của triều Lê Sơ

Có thể nói Ngô Kinh đã góp công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc vào thế kỉ thứ XV Sau khi ông chết, con cháu

đem về mai táng ở quê Đồng Phang, gần mộ tổ Đền thờ ông đ-ợc xây và đặt tên là Thuần Mậu Đ-ờng Sau này Thuần Mậu Đ-ờng trở thành nhà thờ chung của họ Ngô Năm 1470 vua Lê Thánh Tông về bái yết tổ ngoại đã cho sửa chữa và đổi từ đ-ờng này thành Phúc Quang Từ Đ-ờng

1.3.2 Thái Bảo Tr-ơng Khánh truy phong Diên ý Dụ V-ơng

Ngô Từ

Ngô Từ sinh ngày mồng 2 tháng 5 năm Canh Tuất (1370) Ông là con tr-ởng của Ngô Kinh Cùng với cha và các em, Ngô Từ tham gia tích cực vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Ngô Từ sinh ra ở Khả Lam Tr-ớc khởi nghĩa Lam Sơn, cha Ngô Kinh làm gia nô cho Lê Khoáng, Ông cũng trở thành gia nô của nhà họ Lê Sau này Ngô Kinh là con rể của Lê Khoáng, Ngô Từ trở thành cháu ngoại “ Ngô Từ lớn hơn Lê Lợi 15 tuổi, đ-ợc Lê Khoáng tin yêu giao cho chăm nom, săn sóc

Lê Lợi lúc nhỏ Bên nhau từ bé, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, Lê Lợi rất hiểu và tin t-ởng Ngô Từ Khi lớn lên, Ngô Từ càng tỏ ra có tài về việc quản lý nông trang, lao động chăm chỉ, đắc lực nên Lê Lợi càng quý trọng Đến tuổi tr-ởng

Trang 22

thành Ngô Từ đ-ợc ông ngoại là Lê Khoáng c-ới vợ cho Vợ Ngô Từ là Đinh Thị Ngọc Kế, con gái của khai quốc công thần Đinh Lễ” [6; 572]

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất n-ớc bị nô lệ, đặc biệt lại ở bên cạnh Lê Lợi là ng-ời có chí phục quốc, vì nghĩa lớn chống xâm l-ợc giải phóng dân tộc, Ngô Từ đã sớm hình thành trong mình tinh thần chống giặc cứu n-ớc

Năm Đinh Dậu 1417, Lê Lợi quyết định phất cờ khởi nghĩa Muốn biết lòng mọi ng-ời, Lê Lợi bàn với Ngô Từ: “ Ng-ời nhà Minh xâm lấn bờ cõi đất n-ớc, tàn phá nhân dân ta, trông thấy cùng cực Ta muốn khởi quân đánh giặc cứu dân, ý của ng-ơi thế nào?

- Ngô Từ th-a rằng: “ Chúa công nói thế là phúc bốn bể vậy Cha con tôi

ơn nhờ Chúa công mới sống, một ngày tôi không rời bên Nếu khởi binh thì cha tôi ở lại giữ căn cứ, tôi xin theo sát Chúa công đi đánh giặc để báo đền

đức lớn của Chúa công” [18;144]

Ba em trai của Ngô Từ là Ngô Đức, Ngô Đam, Ngô Thuần nhập đoàn quân kháng chiến chống giặc Minh do Lê Lợi lãnh đạo ngoài tiền tuyến Riêng Ngô Từ và cha là Ngô Kinh đã bảo vệ căn cứ Lam Sơn, đảm bảo việc quân l-ơng, hậu cần cho quân khởi nghĩa

Lê Lợi rất tin cậy tài năng hai cha con Ngô Từ nên giao phó cho việc chăm nom trang trại, chăm lo sản xuất để chuẩn bị quân l-ơng và tiếp đón nhân tài các nơi tới để m-u việc đại nghĩa Trong khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi luôn căn dặn Ngô Từ: "Binh, l-ơng hai việc trong lúc gây dựng đất n-ớc là vô cùng bức thiết, nhà ng-ơi nên ở lại gìn giữ căn cứ, thu nhận nhân tài hào kiệt, để ta cùng các t-ớng chuyên bàn m-u tính kế ra quân

là việc hàng đầu Ng-ời x-a coi công trạng việc giữ gìn căn cứ ngang với công

đánh giặc Ng-ơi cần hiểu sâu lời ta nói” [18;144]

Thực hiện lời căn dặn của Lê Lợi, với tinh thần yêu n-ớc căm thù giặc sâu sắc, trong cái tuổi sung sức (tuổi tứ tuần), Ngô Từ đã dốc hết sức mình, tận tâm hăng hái “ phò vua cứu n-ớc” Công việc trông nom trang trại của Lê

Trang 23

Lợi, xây dựng và củng cố căn cứ Lam Sơn hoàn toàn do cha con Ngô Từ đảm nhiệm

Với tài quản lý và chỉ huy của mình, Ngô Từ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: giải quyết việc tiếp tế quân l-ơng cho nghĩa quân Lam Sơn một cách đầy đủ và kịp thời Đồng thời cùng với cha, Ngô Từ đã đón tiếp và “ cung cấp” cho Lê Lợi nhiều hào kiệt nh- Đinh Liệt, Bùi Bị và đặc biệt là m-u sĩ Nguyễn Trãi

Có lần vào năm 1420, quân Minh tấn công Lam Sơn nhằm phá hoại hậu ph-ơng của quân khởi nghĩa, Ngô Từ đã trực tiếp chỉ huy một đội quân, dùng chiến thuật chiến tranh du kích đánh lui đội quân nhà Minh, bảo vệ an toàn cho căn cứ địa Lam Sơn

Sự đóng góp của Ngô Từ trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn giải phóng dân tộc có thể nói là rất lớn Lê Thái Tổ đáng giá công lao của ông nh- sau:

“các Khanh cùng Trẫm ra trận đ-ợc cung cấp đủ l-ơng thực, đó là công của cha con Ngô Kinh , Ngô Từ Cha con Ngô Từ đã bảo vệ căn cứ địa, cung đốn l-ơng thực, bổ sung binh sĩ X-a kia Hán Cao Tổ đ-ợc thiên hạ, đã quy công cho Tiêu Hà giữ đất Quan Trung, cung đốn l-ơng binh đầy đủ là công bậc nhất Nay cha con Ngô Từ cũng đáng đ-ợc phong đệ nhất công thần” [6; 572] Sau đó Ngô Từ đ-ợc phong là Bình Ngô khai quuốc đệ nhất công thần Bàng khê hầu, thăng Thụ Thái bảo Ch-ơng Khánh công thần, Tả Kim ngô vệ Th-ợng t-ớng quân, chi nội đại hành khiển phụ quốc chính, Gia mỹ tự Đại trí

Đ-ợc ban quốc tính là Lê Từ Khi mất vua ban thuỵ: Bàng khê th-ợng sĩ, tặng phong Diên ý Dụ v-ơng

Ngô Từ có 2 vợ, sinh đ-ợc 10 ng-ời con trai và 8 ng-ời con gái Các con trai đều là võ t-ớng d-ới triều Hậu Lê, lập đ-ợc nhiều công trạng

Con trai tr-ởng là Ngô Việt, đã tử trận khi con trẻ, đ-ợc phong t-ớc Chiêu mỹ hầu

Các con thứ theo gia phả ghi :

- Ngô Lộc: Nhập nội kiểm điểm, Mỹ quận công

- Ngô Hồng: Đô đốc tham quân, Điện Bàn hầu

Trang 24

- Ngô Kí ; Thiệu uý Nghĩa quận công

Ngô Khế: Cố mệnh đại thần Thanh Quốc công

Ngô Lan: Thái bảo Hán quốc công Đ-ợc thờ ở điện Diễn An do Lê Thánh Tông xây dựng tại Đồng Phang

Ngô Nạp: Chỉ huy sứ, Hòa quận công, tặng Huệ quốc công

Còn Ngô Thị Ngọc Thung đ-ợc phong là: Hoa Dung công chúa; Ngô Thị Ngọc Giao đ-ợc phong là Tiệp D- công chúa, sau là Hoàng Thái Hậu

Thái bảo Ch-ơng khánh công Ngô Từ là khai quốc công thần triều Hậu

Lê “ Ông đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm, đồng thời

có nhiều đóng góp cho triều Hậu Lê Ngô Từ mất ngày mồng 8 tháng 3 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1370), thọ 83 tuổi Khi chết con cháu mai táng Ngô Từ

ở Đồng Phang và thờ ông trong Phúc Quang Từ Đ-ờng” [4;572]

Có thể nói, đến hậu duệ đời thứ m-ời chín và hai m-ơi của dòng họ Ngô, những công lao đóng góp của cha con Ngô Kinh, Ngô Từ đã đ-ợc ghi công trạng vào sử sách Cũng từ đây họ Ngô Việt Nam có thể nói đã đ-ợc trung h-ng

1.3.3 Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao

Ngô Thị Ngọc Giao sinh năm Canh Tý (1420), là con thứ sáu của Ngô

Từ Mẹ của Ngọc Giao là Đinh Thị Ngọc Kế, ông ngoại Đinh Lễ là Khai quốc công thần của triều Hậu Lê Cố ngoại của Ngô Thị Ngọc Giao là Trần Thị Ngọc Huy thuộc dòng dõi Chiêu Văn V-ơng Trần Nhật Duật

Ngô Thị Ngọc Giao đ-ợc sinh ra và lớn lên tại Đồng Phang, nay thuộc xã Định Hoà huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá Từ nhỏ Ngọc Giao đã mồ côi

Trang 25

mẹ, đ-ợc bà ngoại nuôi d-ỡng, đ-ợc học hành cẩn thận tỏ, ra thông minh, chăm chỉ, ham thích thơ ca và sùng đạo Phật Ngay từ thuở bé đã lộ vẻ xinh

đẹp, hiền thục của một quý nhân Huyền tích kể lại rằng: "Có lần gặp mặt ng-ời lạ, ng-ời ấy nói: “ Cô bé này sẽ đáng là mẹ thiên hạ” Nói xong ng-ời ấy biến mất" [30; 1]

Chị gái Ngọc Giao là Ngô Thị Ngọc Thung (còn gọi là Xuân hay Viên)

là vợ của Lê Thái Tông Niên hiệu Thiệu Bình thứ ba (1435), một hôm chị Ngọc Thung vào hầu Thái Tông ở hậu cung, Ngọc Giao theo chị vào nội đình, nhà vua trông thấy đẹp, gọi vào; Tháng 6, Canh Thân năm Đại Bào thứ nhất (1440) bà đ-ợc phong chức Tiệp D- (tức đứng hàng đầu của 6 bậc nữ quan, d-ới tam phi, cửu tần) Khi vào cung làm vợ Thái Tông, Ngọc Giao “ ăn nói

đúng mực, nết na hợp khuôn phép Đối bậc trên đúng lễ độ, tiếp kẻ d-ới có ân tình, đ-ợc Thái Tông rất yêu mến” [23; 352]

Bà sinh đ-ợc hai con Lần đầu sinh Thao Quốc tr-ởng công chúa, tức là con thứ 5 của Văn Hoàng đế Lê Thái Tông nh-ng mất sớm

Giờ Tý ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) sinh con trai thứ đặt tên huý

là T- Thành tức Lê Thánh Tông sau này

T- Thành sinh mới đ-ợc nửa tháng thì đêm mồng 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442) xảy ra vụ án "Lệ Chi viên" Trong khoảng hai năm, từ 1440 đến tháng 8 năm 1442, không chép rõ khi nào, bà Tiệp D- họ Ngô có mắc “ tội” và

là tội gì phải bị đ-a ra khỏi cung Khánh Ph-ơng về giam ở “ V-ờn hoa”

Chính sử chép lờ mờ nh- vậy! Huyền tích đua nở quanh chuyên này Ngay chính sử lúc bấy giờ nh- “ Đại Việt sử kí toàn th-” cũng ghi: “ Năm Nhâm Tuất (1442) Tiệp D- Ngô Thị Ngọc Giao khi đi "cầu tự" mơ thấy mình

đến chỗ Th-ợng đế Th-ợng đế sai một tiên đồng xuống làm con Tiên đồng chần chừ không chịu đi, Th-ợng đế nổi giận lấy cái hốt ngọc đánh vào trán chảy máu ra Sau tỉnh dậy sinh ra vua trên trán vẫn còn dấu vết nh- thấy trong mơ Mãi đến chết vết ấy vẫn không mất” [13; 387]

Lại còn huyền tích: "Một tiên đồng khác đ-ợc sai xuống theo hầu tiên

đồng trên cũng không chịu, bị đạp vào vai Sau là Trạng Nguyên L-ơng Thế

Trang 26

Vinh, lệch vai thật Một ngọc nữ đ-ợc sai xuống làm vợ tiên đồng – vua, sau

là con gái Nguyễn Trãi, bị câm, theo mẹ nuôi vào cung hầu yến, gõ phách, trông thấy vua mới cất lên lời ca và do vua “ nhớ lại giấc chiêm bao x-a của

mẹ nên cho tuyển vào cung làm vợ” [26;171] Chính sử hoàn toàn im lặng tr-ớc “ chuyện” Thánh Tông lấy con gái Nguyễn Trãi

Theo Phả họ Ngô ghi: "Nguyễn Thị Anh là ng-ời hay ghen ghét, muốn giữ ngôi Thái tử cho con mình sau này đã xúc xiểm với vua để phế truất Huệ Phi là con của Lê Ngân, phế truất D-ơng Thị Bí và con là Hoàng tử Nghi Dân Khi biết chuyện về giấc mộng của Ngô Thị Ngọc Giao lại xúc xiểm với vua là Ngọc Giao có dính líu tới Huệ Phi âm m-u ám hại Hoàng Thái Tử Bang Cơ,

có mang 11 tháng mà không đẻ là điềm gở Vua định giết Ngọc Giao Vợ lẽ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ lúc đó là Lễ nghi nữ học sĩ vốn là bạn với Ngọc Giao đã can ngăn vua không nên làm chuyện thất đức đó Vua tha không giết Ngọc Giao nh-ng phế chức Tiệp D- và cho ra ở chùa Huy Văn (nay thuộc Ngô Văn Ch-ơng - Hàng Bột - Hà Nội) Nguyễn Thị Lộ cho ng-ời chăm sóc, khi sinh con là T- Thành, Nguyễn Trãi đ-a đi lánh nạn ở An Bang (Quảng Yên)” [6; 574] Sau này chính “ nhờ sinh đ-ợc quý tử mà Ngô Thị Ngọc Giao vừa tránh đ-ợc họa vừa cứu đ-ợc nhà Lê” [27; 194]

Sử gia Lê Quý Đôn lại chép: “ Khi Quang Thục hoàng thái hậu là Tiệp D- đã từng vì trái ý, bị vua Thái Tông bỏ tù ở V-ờn hoa Ông Trịnh Khả cứu

bà thoát nạn Cho nên vua Thánh Tông nhớ lại ơn tr-ớc nên cân nhắc con cháu

ôn hơn đã hơn các bề tôi khác” [32; 213] Nguồn sử liệu này đáng tin cậy hơn

Thời gian này triều chính hỗn loạn giữa các phe phái Lê Nhân Tông lên ngôi Tuyên Từ hoàng thái hậu buông rèm nhiếp chính Sau đó Lê Nghi Dân c-ớp ngôi, phong cho T- Thành làm Gia V-ơng,

Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), “ Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm, Lê Thọ Vực cùng con em các đại thần dẹp đ-ợc loạn rồi r-ớc Thánh Tông lên nối ngôi, Thánh Tông phong mẹ làm Quang Thục Hoàng Thái Hậu” [30; 123]

Từ đó chấm dứt quãng đời sóng gió của Ngô Thị Ngọc Giao

Trang 27

Là Quang Thục Hoàng Thái Hậu, nh-ng Ngọc Giao không ở trong cung

mà vẫn ở lại chùa Huy Văn để yên tĩnh tuổi già “ Thánh Tông xây thêm điện cho Thái Hậu ở cạnh chùa, hàng tuần ra chùa thăm mẹ” [6; 575]

Từ khi làm mẹ của một ng-ời, rồi làm mẹ của muôn dân, bà luôn là một tấm g-ơng sáng về đức độ Ngô Thị Ngọc Giao không phải là một võ t-ớng lập nhiều chiến công hiển hách trên sa tr-ờng, bà cũng không phải nh- Nguyên Phi ỷ Lan x-a, một tay lo việc việc triều chính khi vua Lý dẫn quân

mở cõi Nh-ng công lao của Bà đ-ợc thể hiện ở việc nuôi dạy đ-ợc một ông vua sáng: Lê Thánh Tông, đ-a đất n-ớc vào thời thịnh trị nhất của phong kiến Việt Nam Bên cạnh đó cũng chính Bà cùng với con đã minh oan cho Nguyễn Trãi

Phả họ Ngô viết: “ Một lần nhà vua ra thăm mẹ về, ra đến cổng chùa thấy một bà già quỳ lạy giữa đ-ờng Hoàng thái hậu đỡ dậy và hỏi han Bà ta dâng một lá đơn xin minh oan Hai mẹ con trở vào chùa xem Vua không hiểu nội tình ra sao Thái hậu nói: “ Những việc nói trong này đều đúng Tr-ớc đây

mẹ ch-a kể cho con biết vì lúc đó có nói cũng ch-a ích gì!” Bà bèn kể đầu

đuôi câu chuyện Về triều vua hỏi các quan: “ Ai là học trò của Nguyễn Trãi?” Im lặng hồi lâu Một ng-ời đứng lên rồi nhiều ng-ời, gần nửa bên Vua

đọc lá đơn và cùng mẹ minh oan cho Nguyễn Trãi” [6; 575]

Đánh giá về Ngô Thị Ngọc Giao, Đại Việt sử kí toàn th- viết: “ Hoàng Thái hậu Ngọc Giao là ng-ời nhân hậu có thừa, mà không đủ quả quyết, răn dạy con cháu ch-a bao giờ đổi sắc mặt, có khi đánh bằng roi vọt, nh-ng chỉ là một thoáng th-ơng xót” Ngô Thị Ngọc Giao làm Hoàng thái hậu 36 năm cùng thời gian trị vì của Lê Thánh Tông Đến giờ Hợi ngày 26 tháng 3 nhuận thì băng tại chính tẩm Thừa Hà điện, thọ 76 tuổi Mọi việc mặc áo, khâm liệm,

bỏ gạo vào miệng ng-ời chết, vua đều tự tay làm lấy để tỏ lòng đau xót” [13; 514]

Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1458) niên hiệu Cảnh Thống thứ ba vua Lê Hiến Tông cho soạn văn bia Sơn Lăng ghi công, bái ơn bà nội có đoạn viết:

Trang 28

Khí làm mẹ thì âm d-ơng linh thiêng

Trăng làm mẹ thì hình t-ợng sáng suốt

Đất làm mẹ thì phẩm vật sinh sôi

Thái hậu làm mẹ thì việc cai trị đất n-ớc sẽ hoàn tất

Việc không phải lẽ không làm, điều không chính đáng không nghe Nghiêm nghị mà không độc ác, giản dị mà có văn hoá, tôn trọng lễ phép, ít rời phòng khác Kẻ sang ng-ời hầu đều khom ng-ời nh- Phật sống Đ-ợc cấp vàng bạc thì cho mọi ng-ời ở xung quanh, giúp đỡ cho tất cả kẻ nghèo khó, không dành của riêng Chỉ có lời hay, việc tốt in trong tai mắt mọi ng-ời Ơn này dày thấm trong da thịt mọi ng-ời xử trí đúng mực làm cho cội gốc n-ớc nhà vững chắc, dòng dõi tông miếu nối dài Hoàng thái hậu đức sánh với đất trời, công rạng rỡ Tam Thánh (Thái Tông, Thánh Tông, Hiếu Tông), xứng

đáng là hàng đầu các vị Hoàng hậu của Đại Việt ta” [23; 5]

Lịch sử đã giành cho vùng đất Yên Định niềm tự hào mà không phải nơi nào cũng có ở đây hội tụ đủ hai khuôn diện phụ nữ tiêu biểu cho hai thời kì: “ trong chiến đấu và trong xây dựng Triệu Thị Trinh là nét đặc tr-ng cho sự bất khuất của một danh t-ớng trong đêm dài ngàn năm Bắc thuộc, Ngô Thị Ngọc Giao thì t-ợng tr-ng cho tấm lòng biết vun đắp ng-ời trác Việt cho dân tộc thời thanh bình Đó là những tấm lòng, những ng-ời yêu đất n-ớc thiết tha” [21; 28]

Trang 29

Ch-ơng 2 khu di tích Phúc quang từ đ-ờng, thừa hoa điện và lễ hội Phủ Nhì

2.1 Phúc Quang từ đ-ờng

2.1.1 Lịch sử xây dựng

ở n-ớc ta, thờ cúng tổ tiên là một tín ng-ỡng, một nét đẹp văn hoá của ng-ời Việt Từ bao đời cho đến nay, gia tộc nào cũng lập bàn thờ tổ tiên, đặt ở nơi trang trọng nhất trong từ đ-ờng để thờ họ Tuy vậy, "phải đến thế kỉ XV, khi Nho giáo đ-ợc đề cao thì tín ng-ỡng thờ cúng tổ tiên của ng-ời Việt mới trở nên có triết lý hơn" [9; 181] Bắt nguồn từ truyền thống "uống n-ớc nhớ nguồn" thời kì này nhà thờ họ mới xuất hiện Việc lập nhà thờ họ nhằm giáo dục con cháu đời sau tự hào, biết ơn tiên tổ, ông bà, đồng thời tỏ lòng thành kính, hiếu thảo nhân nghĩa, ý thức nhớ về cội nguồn của đời sau Họ Ngô cũng

ý thức rất sớm việc này, đã lập nhà thờ họ để thờ tổ tông và những ng-ời có công lao với đất n-ớc trong dòng họ mình Nhà thờ họ Ngô đầu tiên đ-ợc Ngô Rô xây cất Tuy nhiên lúc bấy giờ chỉ là một nhà thờ nhỏ, hơn nữa trong thời loạn lạc, giặc Minh xâm l-ợc với chính sách đồng hoá, chúng muốn phá đi những thuần phong mĩ tục của dân tộc ta, làm cho nhà thờ bị h- hại nhiều Sau khi cuộc khởi nghiã Lam Sơn thắng lợi, đất n-ớc yên bình, Ngô Kinh

đã cho xây dựng Thuần Mậu Đ-ờng để thờ tổ tiên từ khởi tổ Ngô Nhật Đại ở Thung Th-ợng, Đồng Phang tức Làng Nhì xã Định Hoà hiện nay Việc tìm đất xây cất đ-ợc lựa chọn kĩ càng

Vào giai đoạn cuối của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Ngô Từ đã nhờ một hàng t-ớng giỏi thuật phong thuỷ là Hoàng Phúc chọn đất để xây nhà thờ họ Th-ợng th- Hoàng Phúc đã luận rằng: “ chúng ta gặp nhau hôm nay là ý của thiên thánh, tôi xem làng này có hai huyệt đất quý, thì đều là đất táng của nhà t-ớng công cả rồi T-ớng công còn tìm gì nữa T-ớng cần phúc địa để cho con cháu ngày sau đông đúc, lo kế lâu dài, nh-ng cháu con khắc có phúc của con chá, t-ớng công cần tích luỹ âm công, đất phúc ng-ời phúc ngày sau sẽ có

Trang 30

Tôi vừa bàn về huyệt kỵ long vốn là đất quý Đến nh- huyệt long tuyền: “ bàn tay tiên” chẳng phải là mộ của nhà t-ớng công rồi sao ?!

Hoàng Phúc luận tiếp: “ Đây là kiểu đất “ Hồi long tổ cách” , ngồi h-ớng Tốn, trông về h-ớng Càn, nguồn n-ớc rất dài, phát phúc rất nhanh và rất lâu Tôi để lại mấy câu thơ nh- sau:

Hoàng uyên chi mạch

Oa khai phủ diện Ph-ơng lâu ủng hậu Kì cổ la liệt

Th-ợng hạ giao tế Nam công nữ hậu Th-ợng điếu long tuyền Cát huyệt kha thiên Quy sơn triều tiên Tr-ớng cái bàn miên Phúc giáng tự thiên Thế tố tr-ờng diên”

Đất này Kim Quy ở h-ớng Đoài, tất có hoàng hậu sinh thánh chúa Núi Ngũ Ph-ợng ôm phía sau, hình thành vẻ cung điện lầu các, đời sau nhiều ng-ời quý, vài chục đời sau sẽ có anh hùng cái thế

Tôi lấy mạch đất nói chuyện con ng-ời, T-ớng công nghe xem có đúng không Đây là đất “ Đinh long” , khí vút lên rất mạnh, nhiều vòng sáng quý bao lấy, cho nên sinh ra tính rộng nh- lửa, c-ơng trực hào phóng, cởi mở nh-ng không thiếu sự suy nghĩ chín chắn, ăn ở đầy đặn chất phác, gần gũi mọi ng-ời không làm việc mờ ám Đây là hình thế đất l-ợn quanh co, thiên biến vạn hoá,

ẩn dấu phong cách, khí t-ợng tụ vào, tuy nóng nảy cứng rắn mà đảm đ-ợc, tuy cởi mở mà ng-ời không thể gieo tai hoạ cho mình đ-ợc Đời nào cũng có ng-ời trung thần nghĩa sĩ, giúp n-ớc hết lòng, võ tới hàng cao nhất mà có văn học khoa giáp mãi mãi, chỉ có đinh long diện mới đ-ợc nh- thế, có thể nói là Trời đền công

Trang 31

Hôm nay gặp t-ớng công không biết lấy gì l-u tặng, xin chọn cho t-ớng công một nơi để xây dựng từ đ-ờng, cũng chính là Kỵ long cách, chữ Nhật tiếp giáp núi sông ở phía tr-ớc là h-ớng chính, lấy đây làm nơi h-ơng khói muôn đời” [6; 576]

Về sau Dụ V-ơng Ngô Từ đã y lời dựng từ đ-ờng họ Ngô ở đó, gọi là Thuần Mậu Đ-ờng Gia phả họ Ngô l-u ở Đồng Phang cũng ghi: “ Vào năm Hồng Đức thứ nhất (1470), Thái hậu Ngọc Giao bảo Thánh Tông rằng:

“- Con đ-ợc thờ phụng các tiên đế, sở dĩ có đ-ợc ngày nay, đắng cay đã từng Mệnh Trời cho hồng phúc của Hoàng gia, cũng là công của gia đình,

ông cha Ta khó nhọc giúp V-ơng gia, Ta muốn tìm phúc địa, táng các bậc tiền nhân, việc ấy thế nào?”

Thánh Tông th-a:

“- Con quý mẹ, mẹ quý con, truyền thống là nh- thế, gia tiên bên mẹ dựng nên nghiệp V-ơng, công lao nh- núi sông, con mong đời xuất hiện những bậc hiền tài gánh vác việc quốc gia, ý con cũng vậy.”

Lúc bấy giờ có kẻ nói ra nói vào rằng: “ Long mạch nhà họ Ngô rất quý,

đời đờ có ng-ời có công lao lớn, nên tìm cách xử trí tr-ớc đi”

Nhà vua nói: đất ấy sinh ra những ng-ời trung thành,làm gì quá lo nh- vậy Bèn sai một nhà địa lý ng-ời Tàu có tên là Quách đi xem lại mồ mả họ Ngô

Quách về tâu: “ đất ấy x-a Hoàng Phúc đã luận rõ ràng rồi, nói đúng nh- sách, nhất nhất không sai Bên chùa một việc đất gọi là Kỵ long, mặt tr-ớc có rồng mã chầu về, mặt sau nh- hình Ngọc nữ soi ng-ơng, đó là điềm sinh thánh nữ, có mẹ thế thì con nh- thế Bệ hạ bản tính thông minh, tuy là kết

đọng cái tốt đẹp của đât Lam Sơn, nh-ng cũng là chung đúc tinh nhanh của dòng Chùy Thủy Lại ở Bờ Đó, một huyệt thế đất Hồi Long, đời đời sinh ra cung phi, xem hai nơi ấy sinh ra trai cao qúy, gái trinh thục, hơn hẳn các kiểu

đất khác, đời đời xuất hiện kẻ trung thần vì n-ớc hết lòng, không có sự phản loạn Không nên nghe những lời dèm pha sằng bậy, ví nh- cây kia có bồi vững

Trang 32

gốc, mới mẩy bông trĩu hạt, mấy năm sau cho thức ăn đồ dùng, cho gỗ lam r-ờng, làm cột, cái lợi này lớn lắm ” [6; 125]

Sau đó vua Lê Thánh Tông đã cho xây dựng lại nhà thờ tổ của họ ngoại, tức Thuần Mậu Đ-ờng trên nền đất cũ, ở vị trí lui lại phìa đông, thuộc Thung Thôn và đổi Thuần Mậu Đ-ờng thành Phúc Quang Từ Đ-ờng cùng năm (1470)

Khi Ngô Kinh chết, đ-ợc thờ trong từ đ-ờng Về sau Ngô Từ chết cũng

đ-ợc đ-a bài vị vào đây thờ chung với các tiền nhân của họ Ngô Đây là từ

đ-ờng chính của họ Ngô Việt Nam, thờ thuỷ tổ và các tiền nhân có công lớn

Đến hàng năm, con cháu trong họ đều về bái tổ Thời phong kiến, các triều

đều có sắc phong cho từ đ-ờng này Trong từ đ-ờng Phúc Quang có đến vài chục bản hiện nay vẫn còn l-u giữ nh-: Sắc phong của Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 3 (1472); sắc phong năm1763, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 24

Thời kì Pháp thuộc, cũng nh- trong ba m-ơi năm chiến tranh ác liệt,

đặc biệt là trong chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ năm 1970, bom đạn đã tàn phá một phần của từ đ-ờng Mặt khác, trong một thời gian dài,

do không có điều kiện và quan điểm ch-a đúng, chính quyền và nhân dân địa ph-ơng đã phá dỡ đi nhiều bộ phận của nhà thờ để phục vụ sản xuất Con cháu

họ Ngô ở Đồng Phang chỉ còn giữ lại đ-ợc một chiếc kiệu r-ớc, ba ngai thờ, cùng tám bài vị và một số đồ thờ khác Tháng 4 năm 1995, cùng với việc công nhận di tích Thừa Hoa điện, Nhà n-ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã

ra quyết định số 2861 QĐ/BT của Bộ tr-ởng Bộ văn hoá-Thông tin, công nhận Phúc Quang từ đ-ờng là di tích lịch sử cấp quốc gia, cho phép trùng tu, tôn tạo lại hai di tích vào một khu Đến tháng 5 năm 2003, theo bản quy hoạch và thiết kế khu di tích của Bộ xây dựng kết hợp với Cục bảo tồn bảo tàng Thanh Hoá, Phúc Quang Từ Đ-ờng đã đ-ợc xây dựng lại theo h-ớng cũ Từ đ-ờng này đ-ợc xây dựng trên cơ sở phục hồi lại theo lối kiến trúc cũ mà các cụ cao niên trong dòng họ kể lại, đồng thời kết hợp với kiểu kiến trúc hiện đại

2.1.2 Đặc điểm kiến trúc và nghệ thuật bài trí của từ đ-ờng Phúc Quang

Trang 33

Hiện nay theo quy hoạch, thì từ đ-ờng đ-ợc dựng lên trong khu di tích

có ba công trình trên diện tích rộng 4000 m2 gồm: Thừa Hoa điện, t-ợng đài liệt sĩ xã Định Hoà và từ đ-ờng Phúc Quang Phía tr-ớc khu di tích là sông Cầu Chày, đằng sau là tr-ờng tiểu học Đinh Hoà Phúc Quang từ đ-ờng đ-ợc xây gồm hai nhà: một nhà khách và từ đ-ờng

Nhà khách là một ngôi nhà 5 gian, đ-ợc xây bằng gạch ngói Ngôi nhà này là nơi dùng để chuẩn bị đồ tế lễ và cũng là nơi để khách hoặc con cháu

ở xa về bái tổ vào ngày giỗ họ sẽ nghỉ tại đây

Đền thờ chính đ-ợc xây dựng rất hoành tráng gồm hai phần: Hậu tẩm và tiền điện Nhìn từ bên ngoài vào, ng ôi nhà thờ đ-ợc xây phân làm ba gian Mỗi gian có một cửa vào, tạo thành “ tam quan” Nhà thờ có chiều dài 9,6m, chiều rộng 9m,chiều cao là5m Mái đ-ợc láng xi măng, uốn cong vòm nh- hình chiếc bát úp kiểu mái chùa, mang ý nghĩa nh- bầu trời Trên nóc đắp h ình “ L-ỡng Long chầu nhật” Hình t-ợng rồng đ-ợc tạc theo phong cách rồng thời Nguyễn Nhìn lên họa tiết và các bộ phận của rồng chúng ta rất dễ phân biệt điều đó Hình t-ợng rồng ở đây không "uốn l-ợn nhịp nhàng, hiền từ nh- thời Lý - Trần; nó cũng không uốn khúc tùy tiện với hình dáng chắp vá nh- rồng thời Mạc" [31; 207], mà

có phần giống với rồng thời Lê đ-ợc khắc trên ngai thờ trong hậu tẩm Quan sát kĩ sẽ dễ dàng nhận ra các con rồng với năm móng chân tỏa đều quặp lại thể hiện quyền uy, kết hợp với mắt , đao mác, các vân xoắn, hàm răng lộ rõ dáng vẻ vêng váo dữ tợn, hung hãn thiên về dọa nạt bề ngoài

Các cột vuông mang phong cách hiện đại T-ờng mái, cột

đều đ-ợc xây đế bằng xi măng, cốt thép Bên trong từ đ-ờng đ-ợc bài trí công phu

Hậu tẩm là một g ian, nơi đây đặt bài vị của tám ng-ời đ-ợc thờ Trên cao treo bức hoành phi đề bốn chữ Hán: “ H-ng Quốc, Thành Quốc” Bài vị của thuỷ tổ Ngô Nhật Đại đ-ợc đặt ở tầng thờ

Trang 34

cao nhất, xuống d-ới lần l-ợc là Ngô Dô, bên trái là Ngô Quyền, bên phải là Ngô Từ, Ngô Lan rồi đến Ngô Kinh, Ngô Tuấn (Lý Th-ờng Kiệt) và Ngô Kế

Do công lao của Ngô Từ lớn hơn cha Ngô Kinh nên đ-ợc đặt trên cao hơn Tất cả các bài vị đều đ-ợc đội mũ, khoác áo nhiễu

điều đỏ đặt trên ngai thờ Riêng Ngô Quyền là vua, nên khoác áo màu vàng

Các bài vị và ba ngai thờ của Ngô Nhật Đại, Ngô Rô và Ngô Tuấn đã có cách đây hơn 500 năm đến nay vẫn còn nguyên ven Các ngai thờ đ-ợc chạm khắc rất nghệ thuật Mỗi dèm chân của ngai có ba hình hổ phù ở ba phía, đ-ợc tạc với t- thế "oẹ mặt trăng", biểu hiện sức mạnh vô biên Hai tay ngai thờ là hai đầu rồng cách điệu Nghệ thuật trang trí này mang rõ nét phong cách của thời Lê sơ Nó còn đ-ợc thể hiện qua cách trang trí các hoa văn cây cỏ Quan sát kĩ thì thấy, so với những ngai thờ đ-ợc làm thời kì sau này, ở đây loại thảo mộc chỉ đ-ợc đ-a vào tạo hình với t- cách phụ, ở vị trí ken giữa các ô ở diềm ngai thờ “ Đó là các cụm lá nhỏ ken nhau hai bên, ở giữa sống uốn l-ợn mang tính chất t-ợng tr-ng ở các ô rộng có trang trí hoa văn dây leo đỡ lấy một hoa cúc cách điệu” [4; 192]

Tiền điện gồm ba gian Gian giữa đặt phần h-ơng án Trên h-ơng án đặt một l- h-ơng đỉnh đồng và các đồ dùng để cúng D-ới l- h-ơng là hai con hạc, cao 1,2m đặt trên l-ng rùa đứng hai bên, t-ợng tr-ng cho sự thanh cao, siêu việt của thánh nhân và sự tr-ờng tồn Tiếp đó là chiếc ban thờ lớn, đ-ợc trải vải đỏ để đặt lễ vật cúng Hai bên h-ơng án là hai hàng lỗ bộ hay còn gọi

là bát kích gồm: long đao, mác tr-ờng, chùy, câu liêm, đinh ba tay th-ớc, côn, dáo và bát xà mâu nhằm nói lên sức mạnh của con nhà võ, diệt trừ xấu

xa, ma quỷ Hai bên của h-ơng án treo đôi câu đối chữ Hán:

Trang 35

“ ức Niên H-ơng Hỏa L-u Giang Chùy Thuỷ Đế L-u

Nhất Tên Linh Từ Quang Lĩnh Lam Sơn Tinh Trĩ”

Bên trái là bàn thờ Bà Mãnh, bên phải là bàn thờ Ông Mãnh, tức những ng-ời họ Ngô chết trẻ, ch-a có gia đình

Nhìn từ bên trong, vòm mái của từ đ-ờng đ-ợc uốn cong tròn hình bát

úp, có trang trí các hình vân xoắn ngũ sắc thể hiện bầu trời T-ờng bên trái của Tiền điện có hình con lân đang hí cầu; bên phải có hình một con ph-ợng

đang đeo dải lụa cuốn hòm sách, là sự cầu mong, -ớc vọng, chỉ học hành Có thể nói, nhà thiết kế đã dựng khung cảnh của toàn vũ trụ, làm nổi lên vẻ linh thiêng, tôn nghiêm của Từ đ-ờng

Ngoài ra, trong còn có một chuông và một trống treo trên giá đặt ở hai bên tả, hữu của tiền điện Trên đỉnh cửa chính có bức hoành phi: Phúc Quang

từ đ-ờng Và hai bên cửa có đôi câu đối bằng chữ Hán:

“ Công Hầu Khanh T-ớng Quốc Quan Âm

Lễ Nhạc Thi Th- Gia Quyến Tại.”

Từ trong cung ra sân qua bậc tam cấp, lối đi xuống của cửa chính, có hai con s- tử đ-ợc tạc bằng đá trắng, đang trong t- thế b-ớc xuống, mặt ngoảnh vào trong nh- chú ý ng-ời vào từ đ-ờng, biểu hiện cho tung hoành của

đấng nam nhi, đồng thời nó còn t-ợng tr-ng cho không gian và thời gian, “ đó

là linh vật của bầu trời cõng vũ trụ chuyển động, nó là linh vật kiểm soát tâm hồn kẻ hành h-ơng” [4; 169]

Tiếp đó là một sân chầu hình vuông rộng 225 m2, nơi đây để con cháu làm đại lễ trong ngày giỗ tổ

Trang 36

Sơ đồ cách bài trí trong Phúc Quang từ đ-ờng:

Ban Thờ

Đồ Bát kích

Trang 37

2.2 Thừa Hoa điện

2.2.1 Cung đệ Nhất

Cung đệ Nhất là điện thờ của Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao Vì ng-ỡng mộ bà Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao n ên nhiều nơi đã lập đền thờ:

- Lăng ở Lam Kinh

- Chùa Hung Văn ở chùa có điện Dục Thánh, có t-ợng bà và Lê Thánh Tông Nhiều thời kì nhà n-ớc phong kiến đã ban sắc phong cho điện thờ nh- các năm: 1679, 1823, 1864

- Chùa Yên Tử, nơi bà đ-ợc Nguyễn Trãi đ-a hai mẹ con đến lánh nạn

- Đền Trung Tả ở Hà Nội ở đây lễ cúng là 26 – 2 âm lịch Bà Ngọc Giao mất ngày 26 – 3 năm Bính Thìn, lăng thờ đ-ợc xây dựng đến 26 – 2 năm Đinh Tỵ mới xong Vì vậy mà ở đây làm lễ vào ngày 26 – 2

- Đền An Lão, ở Quý Sơn, Song An, nay thuộc Vũ Th- tỉnh Thái Bình

ở đây có “ Mộng Thiên cung” Đền này tr-ớc đó do Lê Thái Tông xây dựng để thờ tổ ngoại của Bà là Đinh Lễ, Đinh Liệt

Các nơi thờ trên chỉ là thờ vọng Còn nơi thờ chính là Thừa Hoa Điện ở Đồng Phang, là quê h-ơng cũng nh- nơi Bà trút hơi thở cuối cùng

Điện Thừa Hoa do vua Lê Thánh Tông cho xây dựng từ lúc bà Hoàng thái hậu Ngọc Giao đang còn sống Sau khi bà chết đ-ợc r-ớc vào trong điện thờ Về sau Điện Thừa Hoa còn phối thờ cả Ngô Từ và Lê Thánh Tông

Ngày x-a, khu Thừa Hoa điện nằm trên bờ Bắc sông Cầu Chày, rộng khoảng 18000 m2 bao gồm khu hội tr-ờng, trụ sở xã Định Hoà, tr-ờng phổ thông cơ sở và khu di tích hiện nay Tr-ớc điện là một thửa ruộng sơn lăng rộng hai mẫu, giành cho con cháu canh tác lấy đó làm h-ơng hỏa cúng tế Từ bến sông b-ớc lên một khu chợ đi qua một quãng đ-ờng uốn l-ợn hình rồng ngang ruộng sơn lăng b-ớc vào Tam quan lên điện Nh- vậy có thể hình dung, tr-ớc khu điện thờ thâm nghiêm là cảnh nhộn nhịp: trên chợ d-ới thuyền

Điện thờ đ-ợc xây toàn bộ bằng đá trừ phần mái đ-ợc lợp ngói âm – d-ơng Đến nay vẫn còn lại một vài cột đá hình vuông và một móng đá rất

Trang 38

rộng Đây cũng là một kiểu kiến trúc đặc sắc của Việt Nam những thế kỉ tr-ớc

Trong điện đặt t-ợng bán thân trên ngai thờ (gọi là “ long xa” ) Ngai thờ

và các đồ cúng tế đ-ợc tạo tác tinh xảo và bài trí rất đẹp Thừa Hoa Điện gắn liền với lễ hội Phủ Nhì Ngày x-a, lễ hội đ-ợc coi là Quốc lễ Thời phong kiến nhiều lần đ-ợc phong sắc Từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn, hầu nh- vua nào cũng có sắc phong cho điện thờ Họ Ngô Đồng Phang còn đang giữ đ-ợc 32

đạo sắc phong của các vua Ví dụ nh- sắc phong của vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh H-ng thứ 37 (1776), còn ghi cả những lần các vua Lê: Thánh Tông, Chiêu Tông, Trung Tông, Thần Tông, Dụ Tông ban sắc phong cho Thừa Hoa

điện

Cũng nh- số phận của Phúc Quang Từ Đ-ờng, qua những thăng trầm của lịch sử, đến tr-ớc khi đ-ợc tôn tạo, điện thờ chỉ còn là khu hoang phế Ng-ời nhà họ Ngô còn l-u giữ nguyên vẹn đ-ợc bức hoành phi bằng Hán tự

đề hai chữ: “ Mẫu Nghi” và chiếc ngai cùng t-ợng bán thân của Ngô Thị Ngọc Giao Năm 1993, Sở văn hoá - thông tin tỉnh Thanh Hoá ra quyết định số 55/VHQT công nhận Thừa Hoa điện là di tích lịch sử văn hoá Năm 1995, Bộ văn hoá - thông tin có quyết định số 2861/QĐ/BT, công nhận Thừa Hoa điện

là di tích lịch sử cấp quốc gia cho phép chính quyền và nhân dân địa ph-ơng bảo tồn trùng tu khu di tích Theo quy hoạch thiết kế của Bộ xây dựng và Cục bảo tồn bảo tàng Thanh Hoá thì khu di tích gồm có ba công trình: Phúc Quang

từ đ-ờng, Thừa Hoa điện và t-ợng đài liệt sĩ xã Định Hoà Khu di tích đ-ợc xây theo kiểu “ nội công ngoại quốc” Riêng Thừa Hoa điện gồm hai dãy nhà ngang: Cung đệ Nhất và Cung đệ Nhị

Cung đệ Nhị là chính tẩm thờ Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao, có phối thờ Ngô Từ và Lê Thánh Tông Điện thờ đ-ợc trùng tu lại vào năm 1995

Đó là một ngôi thờ cao 4m, dài 9m, rộng 5m chia làm ba gian thông, mặt h-ớng nam Cung gồm hai phần: Hậu cung và Tiền án Tổng diện tích Cung

đệ Nhị là 45m2 Các cột, kèo cũng nh- các vì ngang đều có trang trí chạm khắc Chẳng hạn nh- trên các vì ngang của điện thờ: "phần xà nách tiếp giáp

Trang 39

với né kê đ-ợc chạm nổi hoa văn hình dây lá và vân mây Giá chiêng chạm trổ dây lá thay cho tàu vân lá đề là một ván chữ nhật đẽo vát bốn góc chạm nổi hình rồng Nhìn nghiêng từ bên phải hai chân tr-ớc của rồng v-ơn ra, râu uốn cong cụp xuống muốn chứng tỏ uy lực" [8; 35] Giá chiêng và hai hệ thống r-ờng cột một đầu gác lên đầu vuông thót đáy; một đầu cắm rộng vào cột chôn giá chiêng Hệ thống r-ờng cột đ-ợc chạm nổi hình vân mây, dây lá

Gian giữa của hậu cung đặt t-ợng thờ Ngô Thị Ngọc Giao trên “ xa long” bên trên là bức hoành phi bằng Hán tự đề hai chữ “ Mẫu Nghi” Gian Bên trái đặt t-ợng thờ Ngô Từ, gian bên phải đặt t-ợng Lê Thánh Tông Cung

đệ Nhất có ba cửa, hai cửa phụ hai bên rộng 1 m cao 2,5m, một cửa chính ở giữa rộng 2m cao 2,5m Hai cửa phụ, mỗi cửa có một cánh đóng, riêng cửa chính có hai cánh

Bức hoành phi, t-ợng bán thân của Hoàng thái hậu và ngai thờ đ-ợc làm

từ thế kỉ thứ XV Nhìn trên đồ án hoa văn hình rồng và hoa cỏ chúng ta thấy

rõ điều đó Còn t-ợng Lê Thánh Tông, Ngô Từ và các đồ thờ cúng mới đ-ợc làm Các t-ợng thờ đ-ợc đặt ở hậu tẩm Còn Tiền án là nơi đặt h-ơng án và các đồ tế lễ Trong điện đặt một quả chuông đồng lớn và một chiếc trống với

đ-ờng kính 80cm ở trên giá

Nhìn từ bên ngoài, mái lợp đ-ợc thiết kế tạo nên nét cong theo lối kiến trúc truyền thống Trên nóc điện đ-ợc đắp một đôi rồng với t- thế: “ L-ỡng long chầu nhật” nh- ở Phúc Quang từ đ-ờng và Cung đệ Nhị Đây là kiểu điêu khắc mang phong cách nhà Nguyễn: hình t-ợng rồng gần nh- đ-ợc bỏ hẳn các

đao mác mà chuyển thành đao đuôi nheo Đáng chú ý vảy l-ng của rồng lớn,

lộ rõ vẻ vênh váo gai góc, năm móng vuốt toả đều thể hiện quyền lực Chiếc

đao mắt phóng ra theo kiểu râu cá trê, cuộn lại nh- lò xo

Ngai thờ đ-ợc chạm khắc tinh xảo các hình rồng, ph-ợng và hoa văn cây cỏ, vân sóng theo phong cách thời Lê Đó là các cụm lá với sống uốn l-ợn nối tiếp nhau của các cung tròn, hai bên sống lá là các lá nhỏ ken nhau theo một quy phạm cứng cỏi từ đó làm nổi bật t-ợng thờ tạo thế trang nghiêm và

Trang 40

uy nghi Trên h-ơng án có ô lọng, biểu hiện quyền uy Tất cả đ-ợc sơn son thiếp vàng

2.2.2 Cung đệ Nhị

Tr-ớc đây Thừa Hoa điện chỉ có duy nhất một nhà thờ, về sau đ-ợc dựng thêm một cung nữa gọi là Cung đệ Nhị Đây là phủ thờ Mẫu của tín ng-ỡng thờ Mẫu Sự hỗn dung tín ng-ỡng này không có gì bất ngờ Đạo Tam phủ, Tứ phủ hình thành trên cơ sở tập tục lâu đời của nhân dân ta đến nay vẫn còn duy trì “ Đó là tục thờ nữ thần Vị nữ thần xa x-a nhất, ở vị trí cao nhất là

Mẹ Âu Cơ Tín ng-ỡng thờ Mẫu hình thành muộn nhất thì cũng từ thế kỉ thứ

XV, trên cơ sở thờ nữ thần, tr-ớc hết là nhiên thần: Mẫu Thoải, Mẫu Cửu Thiên, Mẫu Th-ợng Ngàn, đó gọi là Tam phủ Sau kết hợp với Mẫu Liễu Hạnh thành Tứ phủ” [10; 156], t-ợng tr-ng cho ba yếu tố phụng thờ: thiên - địa - nhân, cũng là bốn cõi: cõi Trời, cõi Ngàn, cõi N-ớc và cõi Nhân gian

Tục thờ Mẫu vốn ăn sâu vào tâm thức dân gian thể hiện một cách sinh

động nhận thức về Đất n-ớc, con ng-ời Việt Nam Trong khi đó Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngoc Giao vốn đ-ợc tôn là “ Mẫu nghi” , là một ng-ời mẹ thực với đức độ của mình đ-ợc tôn thờ, thì sự kết hợp giữa tín ng-ỡng thờ Mẫu với thờ tổ tiên, danh nhân văn hoá cũng dễ giải thích Trong tâm thức của ng-ời dân trong vùng, thì Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao cũng là một “ Thánh Mẫu” và ngự trong “ phủ” riêng : Phủ Nhì

“Tr-ớc kia Cung đệ Nhị nằm ở chùa Thiên Phúc Đến sau đ-ợc đem về

đặt bên cạnh Thừa Hoa Điện” [6; 357] Việc hỗn dung tín ng-ỡng này không làm giảm mà ng-ợc lại còn làm tăng thêm phần linh thiêng của điện thờ ở

đây, Mẫu tối cao trong Cung đệ Nhất là ng-ời thật, hợp với quan niệm: coi con ng-ời là trung tâm của vũ trụ Cung đệ Nhị đ-ợc xây làm năm gian Đằng tr-ớc không có cửa, đằng sau bố trí hai cửa hậu, một trái một phải, nối với Cung đệ Nhất Tr-ớc Cung đệ Nhị là một sân chầu hình vuông rộng 225m2

Ngày đăng: 27/07/2021, 15:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w