1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần tìm hiểu khu di tích phúc quang từ đường và thừa hoa điện ở định hoà yên định thanh hoá

73 514 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần tìm hiểu khu di tích phúc quang từ đường và thừa hoa điện ở định hòa - yên định - thanh hóa
Tác giả Lê Bá Vương
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Thị Duyên
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 310,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví nh khu di tích Phúc Quang từ đờng và ThừaHoa điện đợc gắn liền với dòng họ Ngô và vùng đất Định Hoà - Yên Định -Thanh Hoá.. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Khu di tích Phúc Quang từ đ ờng v

Trang 1

trờng đại học VInh khoa lịch sử

-o0o -Lê bá vơng

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Góp phần Tìm hiểu khu di tích phúc quang từ đờng và thừa hoa

điện ở định hòa - yên định - thanh

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cám ơn chânthành tới cô giáo Th.s Nguyễn Thị Duyên, ngời đã trực tiếp hớng dẫn, độngviên chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận Tôi cũng xin gửi lời cám ơn

Trang 2

chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa lịch sử trờng ĐH Vinh đã giúp đỡchu đáo Đồng thời tôi cũng xin chân thành cám ơn đến dòng họ Ngô ở làngNhì - Định Hòa - Yên Định - Thanh HoáẩnTung tâm VH - TDTT huyện Yên

Định; Cục Bảo tồn bảo tàng Thanh Hoá; Th viện tỉnh Thanh Hoá và bạn bèngời thân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Mặc dù đợc sự giúp đỡ to lớn cùng với sự nổ lực hết mình,song đây làcông trình nghiên cứu đầu tay, hơn nữa do thời gian có hạn vì thế không thểkhông tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong tiếp tục nhận đợc sự giúp đỡcủa các thầy cô cùng bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5/2006.

Trang 3

B¶ng quy íc tõ viÕt t¾t

CHXHCN : Céng hoµ x· héi chñ nghÜaNXB : Nhµ xuÊt b¶n

KHXH- NV : Khoa häc x· héi vµ nh©n v¨nVH-TT : V¨n ho¸ th«ng tin

UBND : Uû ban nh©n d©n

Trang 4

mục lục

A- Phần mở đầu ……… 5

1 Lý do chọn đề tài……… 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu ……… 6

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu ……… 7

3.1 Đối tợng nghiên cứu ……… 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu ……… 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 7

5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 7 5.1 Nguồn tài liệu ……… 7

5.2 Phơng pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của khoá luận 8

7 Bố cục của khoá luận 8

B - Nội dung . 9

Chơng 1 Khái lợc dòng họ Ngô từ thuỷ tổ đến đời thứ hai mơi mốt ( từ TK VIII đến TK XV) 9

1.1 Đồng Phang (Định Hòa Yên Định Thanh Hóa) -vùng đất phát tích họ Ngô Việt Nam 9

1 2 Khái lợc về dòng họ Ngô từ thuỷ tổ đến đời thứ hai mơi mốt (từ TK VIII đến TK XV) 12

1.3 Những nhân vật họ Ngô Việt Nam gắn liền với khu di tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện 19

1.3.1 Bảo Chính công thần Thái Phó Hng Quốc Công Ngô Kinh……… 19

1.3.2 Thái Bảo Trơng Khang truy phong Diên ý Dụ Vơng Ngô Từ ……… 21

1.3.3 Quang Thục Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao… 25 Chơng 2 Khu di tích Phúc Quang từ đờng, Thừa Hoa điện và lễ hội phủ nhì… 30 2.1 Phúc Quang từ đờng……… 30

2.1.1 Lịch sử xây dựng……… 30

2.1.2 Đặc điểm kiến trúc và nghệ thuật bài trí của Phúc Quang từ đờng……… 34

2.2 Thừa Hoa điện……… 39

2.2.1 Cung đệ Nhất của Thừa Hoa điện……… 42

2.2.2 Cung đệ Nhị của Thừa Hoa điện……… 46

2.3 Khái quát lễ hội Phủ Nhì 46

2.3.1 Khái niệm lễ hội truyền thống 48

2.3.2 Phần lễ trong lễ hội Phủ Nhì……… 48

2.3.2.1 Tế lễ ở Phúc Quang từ đờng……… 49

2.3.2.2 Tế lễ ở Thừa Hoa điện……… 53

2.3.3 Phần hội trong lễ hội Phủ Nhì……… 53

2.3.3.1 Các trò thi diễn truyền thống……… 57

2.3.3.2 Các trò thi diễn hiện đại……… 58

2.4 Giá trị của Khu di tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện trong đời sống văn hoá nhân dân………… 58

Trang 5

2.5 Thực trạng khu di tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện với một số giải pháp……… 64

C Kết luận ……… 69

E Phụ lục

Trang 6

Phong tục, tập quán, nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc một phần

đợc lu giữ trong các khu di tích và các lễ hội dân gian Do nhiều yếu tố, đặcbiệt là trong một thời gian dài dân tộc ta chịu nạn ngoại xâm và những cuộcchiến tranh ác liệt, làm cho nhiều khu di tích, nhiều giá trị văn hoá truyềnthống có phần mai một Ngoài ra thời gian vừa là chất men cho sự quên lãng,nhng đó cũng lại vừa là thứ thuốc hiện hình để làm sáng rõ dần và minh bạchnhững sự thật đợc thăng hoa thành những biểu tợng, những bài học có giá trịlâu dài trong lịch sử Với chủ trơng xây dựng một nền văn hoá r tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc” [1; 301]., hiện nay chúng ta đang rất quan tâm nghiên cứu các ditích và lễ hội truyền thống, tìm về cội nguồn, khôi phục truyền thống văn hoá

để khẳng định bản sắc riêng của mình

Một di tích lịch sử - văn hoá thờng gắn liền với một vùng đất, một sốnhân vật hoặc một dòng họ Ví nh khu di tích Phúc Quang từ đờng và ThừaHoa điện đợc gắn liền với dòng họ Ngô và vùng đất Định Hoà - Yên Định -Thanh Hoá

Ngay từ thời phong kiến, nhà sử học Phan Huy Chú đã từng nhận định

về vùng đất Đồng Phang - Định Hoà - Yên Định: rĐồng Phang là đất rkếthuyệt” [1; 301] của vùng đất đế vơng, một dòng suối, một quả núi cũng danh tiếng

Do sông núi hun đúc linh khí nên ngoài bậc vơng, công, tớng văn, tớng võ tiếpnhau xuất hiện toàn là những bậc tinh anh” [1; 301] [17; 119]

Là một sinh viên chuyên ngành lịch sử văn hoá, sinh ra và lớn lên trênvùng đất rđịa linh nhân kiệt” [1; 301] này Hơn nữa bản thân nhận thấy sự hiểu biếtcòn rất nông cạn về quê hơng Vì vậy, tôi luôn mong có cơ hội tìm hiểu về conngời và quê hơng mình Đồng thời cũng muốn giới thiệu về mảnh đất Yên

Định - Thanh Hoá Vì những lý do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài với tên: rGópphần tìm hiểu Khu di tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện ở Định Hòa

- Yên Định - Thanh Hóa” [1; 301] để làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Khu di tích Phúc Quang từ đ ờng và Thừa Hoa điện đã từ lâu

là một không gian thiêng liêng không chỉ của dòng họ Ngô Việt

Trang 7

Nam mà còn của cả vùng Nó có sự ảnh h ởng rất lớn dến đời sốngvăn hoá của nhân dân vùng Yên Định - Thanh Hoá

Khu di tích và gắn liền với nó là lễ hội Phủ Nhì trở thành nơi l u giữ vàphát huy những phong tục, tập quán, tín ngỡng tốt đẹp của dòng họ Ngô vànhân dân trong vùng Thời gian gần đây Khu di tích trở thành mối quan tâmcủa nhiều nhà nghiên cứu khoa học Các cuốn rPhả họ Ngô Việt Nam” [1; 301]., NXB

VH - TT 2003; rLịch sử Đảng bộ huyện Yên Định” [1; 301]., NXB Quốc Gia, Hà Nội1999; rĐền miếu Việt Nam” [1; 301]., NXB Thanh Niên Hà Nội 2000; tác phẩmrchuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam” [1; 301]., NXB Phụ nữ, 2005; cuốnrHoàng thái hậu sinh vua Lê Thánh Tông” [1; 301]., NXB Thanh Hoá, 2001; cuốn rHồsơ di tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện” [1; 301] của Bộ xây dựng và Cụcbảo tồn bảo tàng Thanh Hóa lập năm 2003, đã nêu một cách khá đầy đủ cũng

nh làm sáng tỏ nhiều vấn đề của khu di tích và đề cập đến một số nhân vật tiêubiểu của dòng họ Ngô Việt Nam, đồng thời có những ghi chép sơ lợc về lễ hộiPhủ Nhì

Có thể nói khu di tích đã đợc tập trung nghiên cứu Tuy nhiên các côngtrình nói trên chỉ tập trung đi sâu vào một số lĩnh vực nào đó nh về dòng họ;lịch sử xây dựng di tích Cho đến nay cha có công trình nào nghiên cứu về khu

di tích cũng nh những giá trị của nó đối với đời sống văn hoá nhân dân trongvùng một cách tổng thể và có hệ thống Đó là một điều đáng tiếc Mặc dù vậy,những công trình đó cũng trở thành nguồn t liệu quý giá và cần thiết để giảiquyết những nội dung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quá trình nghiêncứu về khu di tích

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu khu di tích Phúc Quang từ đờng và ThừaHoa điện ở Định Hoà - Yên Định - Thanh Hoá trên các mặt chủ yếu: kiếntrúc, điêu khắc, lễ hội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận đi sâu nghiên cứu khu di tích và các hoạt động văn hóa liênquan trên các mặt nh lịch sử xây dựng, đặc điểm kiến trúc điêu khắc, lễ hội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài này sẽ thực hiện những nhiêm vụ sau:

- Khái quát về mảnh đất phát tích của dòng họ Ngô việt Nam

- Tìm hiểu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Ngô

- Nghiên cứu Khu du tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện trênmột số mặt: lịch sử xây dựng; kiến trúc, nghệ thuật bài trí; lễ hội Phủ Nhì

Trang 8

- Giá trị của khu di tích đối với đời sống của nhân dân trong vùng.

5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện khoá luận chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn

vê các nguồn tài liệu Các công trình nghiên cứu, các bài viết còn tản mạn Vìvậy, chúng tôi phải thu thập, so sánh, chỉnh sửa cẩn trọng Có thể chia ra cácloại tài liệu sau:

- Nguồn tài liệu thành văn gồm: các công trình đã nêu ở phần lịch sửvấn đề Bên cạnh đó chúng tôi có sử dụng các cuốn lịch sử thời phong kiến vàcác sách nghiên cứu về văn hoá Việt Nam

- Nguồn tài liệu bia kí: Phúc Quang Từ Đờng kí; Bia Sơn Lăng

- Nguồn tài liệu dân gian gồm: các bài ca dao, tục ngữ,các huyền tích

5.2 Phơng pháp nghiên cứu

- Kết hợp chặt chẽ giữa phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic

- Các phơng pháp thống kê, diền dã

6 Đóng góp của khoá luận

Chúng tôi chọn đề tài rGóp phần tìm hiểu Khu di tích Phúc Quang từ ờng và Thừa Hoà điện ở Định Hòa - Yên Định - Thanh Hoá” [1; 301] làm khoá luậnnghiệp nhằm đem lại những hiểu biết về khu di tích lịch sử văn hóa này, cũng

đnh đnhững truyền thống văn hoá của dòng họ Ngô và vùng đất Yên Địđnh Thanh Hoá Cuốn khoá luận này cũng sẽ là một đóng nhỏ bé trong việc giớithiệu về truyền thống văn hoá của một dòng họ lớn ở Việt Nam, đồng thời giớithiệu về con ngời và những truyền thống văn hoá của vùng Yên Định - ThanhHoá

-Công trình đi sâu nghiên cứu khu di tích trên các mặt: nghệ thuật kiêntrúc, cách bài trí, lễ hội để làm nổi rõ giá trị, ý nghĩa của khu di tích Từ đó cónhững đề xuất để dòng họ Ngô, Ban quản lý di tích cũng nh nhân dân trongvùng có những cách thức bảo vệ và sử dụng hiệu quả

7 Bố cục của khoá luận.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungcủa khóa luận gồm hai chơng:

Chơng 1: Khái quát về dòng họ Ngô Việt Nam từ khởi tổ đến đời thứ hai mơi mốt

( từ TK VIII đến TK XV)

Chơng 2: Khu di tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện

b nội dung

Trang 9

chơng 1 Khái lợc dòng họ Ngô từ thuỷ tổ đến đời thứ

hai mơi mốt (từ tk viii đến tk xv) 1.1 Đồng Phang (Định Hòa - Yên Định - Thanh Hóa) – vùng đất phát vùng đất phát tích họ Ngô Việt Nam

Đồng Phang tên chữ là Động Bàng Thời trớc vùng đất này thuộc phủThiệu Yên đất ái Châu Ngày nay là vùng đất thuộc xã Định Hoà, huyện Yên

Định, tỉnh Thanh Hoá Đồng Phang cách thành phố Thanh Hoá 25 km về phía

Đông – vùng đất phát Bắc theo đờng Quốc lộ 45 "Từ khi có sự phân chia hành chính củanhà nớc phong kiến độc lập đến đầu thế kỉ XX, Đồng Phang gồm bốn giáp vớisáu làng:

- Giáp 1: Làng Thung Thợng, còn gọi là làng Nhất hay làng Phấng hiệnnay

- Giáp 2: Thung thôn ở trung tâm, tức làng Nhì bây giờ

- Giáp 3: Gồm Mai thôn và Nội thôn

- Giáp 4: Bùi thôn và Lập thôn Hai thôn này hiện nay thuộc xã ĐịnhBình” [1; 301] [8; 9]

Thời phong kiến, đất Đồng Phang thuộc tổng Yên Định Sau cách mạngTháng Tám 1945, Yên Định vẫn là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnhThanh Hoá, đã bỏ đơn vị hành chính trung gian là cấp tổng và lập đơn vị hànhchính cấp xã nh hiện nay

Theo Phan Huy Chú: rĐồng Phang rkết huyệt” [1; 301] của vùng đất đế vơng,một dòng suối, một quả núi cũng danh tiếng Vùng đất có sông Ngọc Chuỳ,núi Đồng Cổ là tai mắt của nớc nhà Sông thì ứng với Thiên hà hợp dòng về

Đông Hải Do non sông vun đúc linh khí nên ngoài bậc vơng, công, tớng văn,tớng võ tiếp nhau xuất hiện toàn là những ngời tinh anh” [1; 301] [7; 119]

Vùng đất này đợc hình thành bởi sự bồi đắp phù sa của sông Cầu Chày,còn gọi là Cầu Chùy hay Chùy Thuỷ, có tên chữ là Ngọc Chùy Sông bắtnguồn từ vùng rừng núi Ngọc Lặc, đến Cửa Bao vào Yên Định Dòng chảyxuôi hớng Đông đến địa phận Bầu Nga ở Đồng Phang thì uốn lợn: rSớm BầuNga, tối lại Bầu Nga” [1; 301]

Vùng đất Yên Định (Quan Yên) nói chung, Đồng Phang nói riêng, ngay

từ thời tiền sử, ngời Việt đã đến đây khai phá Các dấu tích về đồ đá tìm thấy ởnúi Nuông, còn gọi là núi Tiên Nông hay núi Nội thuộc địa Nội thôn, xã ĐịnhHoà nằm bên tả ngạn sông Cầu Chày hiện nay, cũng nh ở núi Quan Yên bênhữu ngạn sông Mã (cách Đồng Phang 8km về phía Đông), hay Đa Bút, núi

Đọ là những di chỉ tìm thấy dấu tích của ngời nguyên thủy Điều đó minh

Trang 10

chứng rằng, ngay từ xa xa ngời Việt đã định c ở đây Cùng với sự phát triểncủa lịch sử, vùng đất này đã sản sinh ra nhiều anh tài, danh nhân, anh hùngdân tộc rChỉ tính những nhà đại khoa thời phong kiến thì: Phía Nam ĐồngPhang có hai anh em Khơng Công Phụ và Khơng Công Phục, Phía Bắc cóTrịnh Thiết Trờng, Hoàng Hối Khanh, anh em Yên Đôn Lỗ và Yên Đôn Phác,rồi cái kể đến Trịnh Cảnh Thụy, Lê Đình Kiên, Trần Ân Chiêm, Hà TôngHuân Có thể nói mảnh đất Đồng Phang nằm trong vùng đất văn hiến” [1; 301] [18;12]

Dới cách nhìn của thuật phong thủy, khi xây dừng từ đờng Phúc Quang,Diên ý Dụ Vơng Ngô Từ đã nhờ một hàng tớng của quân Minh là Công bộThợng th Hoàng Phúc, nổi tiếng tinh thông địa lý xem "long mạch" HoàngPhúc luận rằng: rXem đất Giao Châu này rất quý, các công thần ngày nay đều

đợc phúc địa cả, cho nên mới có hội Long Vân này Nhng đất phát nhiều kẻquyền quý mà bảo vệ đợc trọn vẹn thì rất ít Nh Nguyễn Trãi đất Nhị Khê,mạch đất ngắn, họ chu di thê thảm Bố con Đinh Vĩnh Thái là ngời Đô Kha,

đất Đô Kha khí xung tan, quý đấy, nhng dễ suy vong, những ví dụ nh thế kểkhông hết

Duy có đất Đồng Phang, mạch đất nh bàn tay Tiên, các mạch nớc đổ về,tám hớng gió chẳng dông, long mạch chín vòng chầu vào trục chính màxuống, qua hàng trăm dặm xuyên rừng vợt sông, đổi cái thô lấy cái tinh, trongnăm ngôi sao của Ngũ Hành đều bao hàm cái quý giá, nay lại kết nghiệp nơigiáp với sông núi thành hình chữ Nhật, thuộc về Văn tinh, ngôi sao chủ về vănhọc Có ba ụ thần đồng, một ụ đứng riêng, hai ụ bố con tất sẽ có phụ tử đồngkhoa Sách có câu rđinh long hớng, hớng về đinh mũ son áo tía chật cung

đình” [1; 301]., đất nhà đợc điều này cho nên con cháu thịnh vợng Ngũ hành dẫn mạch

mà chỗ ở giữa là rNgũ khí triều viên cách” [1; 301]., huyệt này ngồi trên cổ ân, Thổtinh chủ phát về lộc, đợc ban ruộng đất, nhà cửa, khi sống đợc phong hầu khichết đợc liệt vào đền miếu không ngoa chút nào” [1; 301] [6; 125]

Đồng Phang, Định Hoà ngày nay là một vùng đồng bằng nhỏ, có bốn ngọnnúi thấp mọc lên đột ngột xung quanh nằm ven vùng hạ lu phía bắc của sôngCầu Chày Đây là vùng đất đợc dòng sông Cầu Chày bồi đắp phù sa hàng nămrất màu mỡ, đất chủ yếu là phù sa cổ Bên cạnh đó có nguồn nớc dồi dàothích hợp cho cây nông nghiệp phát triển Năm Canh Dần (1470) khi Vua LêThánh Tông về bái yết Tây Kinh và qua bái yết tổ ngoại, đến đây đã rtức cảnhsinh tình” [1; 301] vịnh một bài thơ :

rVạn khoảnh thanh thanh thiên hạ điều

Tế dân đơng dĩ thác vi thiên

Trang 11

Thôn đầu tam lỡng nông phu đáo

Giai vị kim niên thắng tích niên.” [1; 301]

Tạm dịch là:

(Đồng chiêm muôn khoảnh lúa xanh tơi

Dân chúng coi ăn chính ấy trời

Đầu làng nông phu dăm kẻ đến

Nói: Năm nay vợt mọi năm rồi)” [1; 301] [13; 430]

Chính vùng đất này đ ợc thuỷ tổ họ Ngô là Ngô Nhật Đạichọn làm nơi để khai cơ lập nghiệp rĐể từ đó phát triển, có nhữngngời ở lại quê cũ, có những ng ời rời xa quê đến những vùng khácsinh nghiệp và chỉ biết mình là họ Ngô mà gốc từ Đồng Phang” [1; 301].[8;12]

1.2 Khái lợc về dòng họ Ngô Việt Nam từ khởi thuỷ đến đời thứ hai mơi mốt (từ TK VIII đến TK XV)

Họ Ngô là một trong những dòng họ lớn ở Việt Nam Từ thuỷ tổ đếnnay đã qua 97 thế hệ Họ Ngô ở Việt Nam đã phát triển với rất nhiều chinhánh, con cháu họ Ngô c trú và sinh sống trên mọi miền tổ quốc và cả nớcngoài nh Canada Do giới hạn về mặt thời gian nên công trình nhỏ hẹp nàychỉ xin khái lợc về dòng họ Ngô Việt Nam từ thuỷ tổ đến đời thứ hai mơi mốt,tức là đến đời đánh dấu sự phục hng của họ Ngô sau nhiều thăng trầm sónggió Hơn nữa, đến đời thứ hai mơi mốt thì nhà thờ họ Ngô mới đợc chính thứcxây cất ở Đồng Phang khẳng định gốc tích của họ mình ở vùng đất này Mặtkhác cũng vì cha có điều kiện và do khuôn khổ của khoá luận, nên ở đây chỉchủ yếu đề cập đến dòng trởng

Theo Gia phả họ Ngô, hiện nay đang đợc lu giữ tại Phúc Quang từ đờngthì: rHọ Ngô vốn thuỷ tổ là Ngô Nhật Đại sống ở khoảng TK VIII, khởinghiệp bằng nghề nông tại Đồng Phang ở ái Châu, tức vùng đất thuộc xã ĐịnhHoà, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá ngày nay Ngô Nhật Đại trớc khi đếnkhai cơ lập nghiệp ở ái Châu đã là hào trởng châu Phúc Lộc (vùng Cửa Sót,thuộc Hà Tĩnh ngày nay) Ông đã tham gia cuộc khởi nghĩa chống quân Lơng

do Mai Thúc Loan lãnh đạo (năm 722) Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, ông

đã chuyển c ra ái Châu Từ đó lấy nghề nông lập nghiệp” [1; 301] [4; 19]

Ngô Nhật Đại sinh ra con là Ngô Nhật Dụ, nổi tiếng là bậc rđại Nho” [1; 301] Ngô Nhật Dụ ham đọc sách, làm nghề dạy học khai hoá cho dân trong vùng

Ông đã đợc huyền thoại hoá là rcó cả mắt sáng ở sau lng, để phúc lâu dài” [1; 301] [8;13]

Trang 12

Đời thứ ba của họ Ngô là Ngô Nhật Hạo Ngô Nhật Hạo sinh ra Ngô

Đình Thực Đình Thực lúc này đã là hào trởng ở Động Bàng (Đồng Phang).Ngô Đình Thực sinh ra Ngô Đình Mân, tức Ngô Mân

Đến đời thứ năm, Ngô Mân ra Bắc làm Châu mục ở Đờng Lâm (ngàynay thuộc Phúc Thọ, huyện Sơn Tây, tỉnh Hà Tây) Bấy giờ, Ngô Mân là mộtthổ hào rất có thế lực ở Đờng Lâm Ngô Mân sinh ra Ngô Quyền và Ngô Tịnh

ở Đờng Lâm

Ngô Quyền là con trởng của Ngô Mân, hậu duệ đời thứ sáu của dòng họNgô Ông sinh ra và lớn lên ở Đờng Lâm, sau đó đã về đất tổ ái Châu làm nhatớng và cũng là con rể của Dơng Đình Nghệ Phả họ Ngô và theo giáo s Ngô

Vi Thiện đã khẳng định: rNgô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ(897), là con Ngô Đình Mân (gốc ở Châu ái, Thanh Hoá, làm châu mục ĐờngLâm thời Khúc Thừa Hạo Nguyên quán của Ngô Quyền là Đồng Phang, phủThiệu Thiên, ái Châu (Thanh Hoá), sinh quán là Đờng Lâm, còn trú quán là

Cổ Loa (vì sau khi xng vơng Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa)” [1; 301] [4; 523] Mẹ làPhùng Thị Tịnh Phong (ngời Đờng Lâm, hậu duệ của Phùng Hng, Phùng Hải)

Ngô Quyền mất ngày 18 tháng giêng năm Giáp Tý (944) ở Cổ Loa,táng trên đồi thôn Cam Lâm, Đờng Lâm Nay vẫn còn lăng và đền thờ ở ĐờngLâm

Ngô Quyền là một tớng tài, đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi thù tronggiặc ngoài vào thế kỉ thứ X Với trận quyết chiến chiến lợc ở sông Bạch Đằng(938) – vùng đất phát một trận phản công theo đánh giá của các nhà nghiên cứu là nhanhnhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, đã đa dân tộc ta thoát khỏirnghìn năm Bắc thuộc” [1; 301] Lịch sử dân tộc bớc sang một trang mới, đó là thời kì

độc lập, tự chủ lâu dài Tháng giêng năm Kỉ Hợi (939), nghĩa là một năm sauchiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền xng vơng trở thành vị vua trung hng của

đất nớc sau thời kì Hùng Vơng dựng nớc Ngô Quyền đợc nhân dân đời sautôn xng là anh hùng dân tộc

Nhà yêu nớc nổi tiếng đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu đã tôn vinh Ngô quyềnvới chiến công Bạch Đằng: rlà vị tổ trung hng của nớc ta” [1; 301]

Còn Bác Hồ trong cuốn rLịch sử nớc ta” [1; 301] thì ca ngợi ngời anh hùng dân tộcmột cách mộc mạc:

r Ngô Quyền ngời ở Đờng Lâm

Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm” [1; 301]

Năm 1994, trong cuộc hội thảo khoa học nhân kỉ nệm 1050 ngày mất của vịanh hùng dân tộc Ngô Quyền, để đánh giá về công lao của ông Giáo s VũKhiêu đã kính đề đôi câu đối:

Trang 13

rGiơng cờ Hồng Lạc giành lại núi sông thoả chí bốn phơng hào kiệt.Nổi sóng Bạch Đằng dìm sâu quân giặc nêu gơng vạn thế anh hùng” [1; 301] [6;526].

Ngô Quyền đã làm rạng danh cho dân tộc, đồng thời cũng là ngời đa họNgô trở thành một dòng họ nổi tiếng từ đây

Từ thuỷ tổ Ngô Nhật Đại đến Ngô Mân, dòng họ Ngô năm đời độc

đinh Đến đời thứ năm, Ngô Mân sinh đợc hai con trai là Ngô Quyền và NgôTịnh

Ngô Tịnh sinh đợc năm ngời con: Ngô Tiến, Ngô Hoan, Ngô Vi, NgôNgàn, Ngô Mục Đến đây không hiểu lý do gì nhánh thứ của Ngô Tịnh thấttruyền

Còn về ngành trởng, Ngô Quyền sinh đợc bốn ngời con gồm: Ngô XơngNgập, Ngô Xơng Văn, Ngô Nam Hng và Ngô Càn Hng

Ngô Xơng Ngập là con trởng của Ngô Quyền, đợc kế vị làm vua từ năm

944, sau đó bị cậu ruột là Dơng Tam Kha cớp ngôi, phải chạy về Nam Sách(Hải Dơng) lánh nạn Dơng Tam Kha lại bị em của Xơng Ngập là Xơng Văntiêu diệt Khi Ngô Xơng Văn giành lại đợc ngôi vua, đã mời Ngô Xơng Ngậptrở về kinh đô cùng trông coi triều chính Lúc này Ngô Xơng Ngập làm vuavới hiệu là Thiên Sách Vơng Năm 954, Ngô Xơng Ngập mất

Ngô Xơng Văn là con thứ hai của Ngô Quyền Khi giành lại ngôi vua từtay Dơng Tam Kha thì xng là Nam Tấn Vơng cùng anh trông coi việc nớc Saukhi Thiên Sách Vơng chết thì Ngô Xơng Văn một mình làm vua, trị vì đợc m-

ời một năm nữa Năm 1965, Ngô Xơng Văn bị chết trong khi đi dẹp loạn, kếtthúc thời kì Hậu Ngô Vơng trong lịch sử

Ngô Xơng Văn sinh ra Ngô Nhật Khánh và Ngô Nhật Chung

Ngành trởng, đời thứ bảy Ngô Xơng Ngập sinh ra Ngô Xơng Xí và NgôXơng Tỷ

Ngô Xơng Tỷ tức là Ngô Chân Lu Ông đợc sinh ra và lớn lên ở làngCát Lợi quận Thờng Lạc ái Châu, nay là làng Cát Lỵ huyện Tĩnh Gia tỉnhThanh Hoá Ông "xuất gia" từ nhỏ ở chùa Phật Đà, thụ giáo Văn Phong Thiền

ở chùa Khai Quốc Năm 971 đợc Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng thống,tức là ngời đứng đầu Phật giáo và ban cho hiệu Khuông Việt Đại S

Ngô Xơng Xí là con trởng của Ngô Xơng Ngập, là ngời kế vị ngôi vua.Sau khi Nam Tấn Vơng Ngô Xơng Văn tử trận (965), lúc này các thế lựcphong kiến cát cứ khắp nơi nổi lên 12 sứ mạnh nhất gọi là r12 sứ quân” [1; 301] Năm

967 thì Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp tan đợc 12 sứ quân, không giữ đợc ngôi vị Ngô

Trang 14

Xơng Xí đã đến ẩn c ở vùng Thợng Du (vùng rừng núi) của đất ái Châu NgôXơng Xí sinh ra Ngô Xơng Sắc và Ngô ích Vệ.

Ngành trởng đời thứ chín của dòng họ Ngô là Ngô Xơng Sắc vẫn ẩn c ởvùng Thợng Du ái Châu Ngô Xơng Sắc sinh ra Ngô Tử án

Ngô Tử án là ngời tài giỏi, có công lớn đối với triều Tiền Lê Ông từnggiữ chức Phụ quốc, cùng với một ngời anh em họ là Ngô Tử Canh và Từ Mục

là những trụ cột của triều Tiền Lê Ngô Tử án sinh ra Ngô Tử Uy Ngô Tử

Uy là đời thứ mời sinh ra Ngô Từ Vĩnh Đời thứ mời hai là Ngô Đắc Dũng.Ngô Đắc Dũng sinh ra Ngô Đấu Lăng Ngô Đấu Lăng sinh ra Ngô Hữu Liêu

là đời thứ mời lăm Ngô Hữu Liêu sinh ra Ngô Ma L Hậu duệ thứ mời sáuthuộc ngành trởng của họ Ngô là Ngô Ma L sinh ra Ngô Rô

Ngành thứ, đến đời thứ chín, em của Ngô Xơng Sắc là Ngô ích Vệ đến

ẩn c ở Châu Hoan (thuộc Nghệ An) sinh ra Ngô án Ngữ Ngô án Ngữ có làmmột chức quan nhỏ thời Lý Ngô án Ngữ sinh ra Ngô Tuấn tức là Lý ThờngKiệt và Ngô Chơng tức là Lý Thờng Hiến

Lý Thờng Kiệt là một danh tớng, một vị anh hùng dân tộc, một nhàquân sự có tài thao lợc lỗi lạc cùng với tài chính trị ngoại giao xuất sắc Trongcơng vị Phụ quốc Thái uý, ông là ngời có công lớn trong cuộc kháng chiếnchống Tống (1075 - 1077) Qua đó khẳng định quyền độc lập tự chủ thiêngliêng của đất nớc, thể hiện quyết tâm sắt đá của dân tộc ta trong việc giữ vững

độc lập chủ quyền của quốc gia Bài thơ Nam quốc sơn hà đã đi vào lịch sửdân tộc nh một bản Tuyên ngôn độc lập thứ nhất:

rNam quốc sơn hà Nam đế c

Tiệt nhiên định phận tại thiên th

Nh hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại h ” [1; 301]

Các nhà sử học phong kiến đánh giá rất cao công lao của Lý ThờngKiệt đối với lịch sử dân tộc Trong tác phẩm Lịch triều hiến chơng loại trí,Phan Huy Chú đã ca ngợi: rĐào Cam Mộc giúp vua lên ngôi, Tông Đản đánhgiặc, dẫu có công lao một thời, nhng mu lợc không rõ rệt; công việc trong lúclàm quan không thấy gì cho nên không chép Danh tớng triều Lý chỉ có LêPhụng Hiểu, Lý Thờng Kiệt là hơn cả Công dẹp nạn, mở mang bờ cõi của haingời rõ rệt đáng ghi, không hổ là bậc tớng có tiếng và tài giỏi” [1; 301] [7; 249]

Năm ất Dậu (1005), Lý Thờng Kiệt mất, ông hởng thọ 86 tuổi, đợc truytặng Kiểm hiệu Thái úy Việt quốc công Lý Thờng Kiệt không có con" [6;535]

Trang 15

Em Lý Thờng Kiệt là Ngô Chơng sinh ra Ngô Khảo Tích Ngô KhảoTích sinh ra Ngô Tịnh, là hậu duệ họ Ngô thuộc ngành thứ đời mời ba Concủa Ngô Tịnh là Ngô Thực Ngô Thực sinh ra Ngô Giáo Đời thứ mời lăm NgôGiáo sinh đợc ba con là Ngô Minh Đức, Ngô Minh Hiếu và Ngô Minh Nghĩa.

Ngô Minh Đức là anh cả, sinh ra 3 trai, 2 gái gồm: Ngô Phúc, Ngô Hậu,Ngô Sinh, Ngô Thị Ngọc Giao, Ngô Thị Ngọc Dung Từ đây ngành thứ bị thấttruyền

Còn về ngành trởng, sau đời thứ mời Ngô Tử án, con cháu sa sút TừNgô Tử Uy đến Ngô Tử Vĩnh chủ yếu làm nghề nông không làm quan chừcgì Đến cuối triều Lý, trải qua ba đời đến đời của Ngô Đấu Lăng, cảnh nhàtúng bấn, phải chuyển cả về gia đình về Đồng Phang và ngày càng nghèo đói,khó khăn Từ đời Ngô Hữu Liêu đến Ngô Ma L, rồi đời tiếp đó là Ngô Rônhiều khi phải tha phơng cầu thực Vợ chồng Ngô Rô phải nơng nhờ cửa Phật,trông coi chùa Thiên Phúc thuộc làng Thung Thợng, nghĩa là làng Nhất của xã

Định Hoà - Yên Định - Thanh Hoá ngày nay Ngô Rô đợc coi là đời thứ nhấtcủa họ Ngô ở Đồng Phang Không rõ năm sinh, ông mất ngày 28 tháng 3 âmlịch năm Bính Tý 1336 Mộ táng tại thôn Thung Thợng, Đồng Phang, tục gọi

là rxứ Bờ Đó” [1; 301] Vợ của Ngô Rô là Đinh Thị Quỳnh Côi, ngời Thẩm Khê - Đô

Kỳ - Thiệu Yên - Thanh Hoá Đinh Thị Quỳnh Côi mất ngày 10 tháng 3, mộtáng tại phía đông chùa Thiên Phúc tục truyền là rxứ Xó Chùa” [1; 301] Hai ông bàkhi còn sống rất nghèo khó, phải xin trông coi chùa Thiên Phúc để nơng thân,lúc chết cũng chỉ đợc an táng sơ sài Tơng truyền cả hai ông bà đều đợcrThiên táng” [1; 301] Gia phả họ Ngô ở Đồng Phang còn ghi lại huyền tích: rông Bờ

Đó, bà Xó Chùa” [1; 301]

Ngô Rô sinh ra Ngô Tây Ngô Tây gia cảnh khó khăn Lúc sinh thờiphải đi làm thuê ở xã Lâm Hạ (Gia Lâm, Hà Nội), lấy Lê Thị Quỳnh ngờicùng xã Sau đó, ở lại quê vợ lập nghiệp Ngô Tây sinh ra Ngô Kinh, là hậuduệ thứ mời tám của dòng họ Ngô Ngô Kinh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống nhờbên ngoại, lớn lên đợc ngời bà con họ mẹ là Lê Đức đa đến đất KhảLam( Lam Sơn) làm thuê cho Lê Khoáng Đợc Lê Khoáng gả con gái là LêThị Mơi làm vợ Ngô Kinh sinh ra Ngô Từ nối đời thứ hai mơi cho dòng họNgô

Hai cha con Ngô Kinh và Ngô Từ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn do LêLợi lãnh đạo đã có nhiều công lao Cùng rnằm gai nếm mật” [1; 301]., khi cuộc khángchiến toàn thắng, hai cha con Ngô Kinh và Ngô Từ trở thành khai quốc côngthần và đợc phong chức tớc Họ Ngô từ đây hng khởi

Trang 16

Theo tập tục của ngời Việt, sau chín đời có thể tách làm họ mới Họ Ngô

đã phát hng, tách ra nhiều chi nhánh, nhiều dòng khác nhau trên mọi miền đấtnớc đến nay phân ra nh sau:

- Dòng họ Ngô - Đồng Phang - Định Hòa - Yên Định - Thanh Hóa

- Dòng họ Ngô - Tam Sơn - Đông Ngàn, nay là ở Từ Sơn - Bắc Ninh

- Dòng họ Ngô - Nghiêm Xá - Thờng Tín - Hà Tây

- Dòng họ Ngô - Phù Vệ- Đờng Hào, phủ Thợng Hồng, chấn Hải Dơng,nay thuộc Hng Yên

- Dòng họ Ngô - Lý Trai, nay là xã Diễn Kỷ - Diễn Châu- Nghệ An

- Dòng họ Ngô Sách - Đông Ngàn, nay thuộc Từ Sơn Bắc Ninh

- Dòng họ Ngô Thời -Tả Thanh Oai- Thanh Trì - Hà Nội

- Dòng họ Ngô Vi - Tả Thanh Oai - Thanh Trì - Hà Nội

- Dòng họ Ngô - Lạc Khê - Từ Liêm - Hà Nội

- Dòng họ Ngô Chi Nê - Lạc Khê ở Chơng Mỹ - Hà Tây

Ngoài ra còn nhiều chi nhánh khác Các dòng nhánh họ Ngô đã cốnghiến cho dân tộc nhiều nhân tài, tuấn kiệt có công trong lịch sử của dân tộc.rVạn đại chi lan” [1; 301]., đúng nh Hoàng Giáp Lễ Bộ Thợng th Hà Tông Huân đãnhận xét trong rPhúc quang từ đờng kí” [1; 301].: rTừ đấy về sau (từ TK XV), các bậccông, hầu, bá, quan chức, khoa bảng trải hàng trăm năm với hàng ngàn ngờicon u tú, tất cả đều trung trinh một dạ, giúp nớc hết lòng, ân huệ khắp chodân, niềm vui lớn để mãi cho con cháu, âm vang mãi trong tai mắt mọi ngời,

đó là sự nối tiếp” [1; 301] [24; 2] Họ Ngô Việt Nam đến ngày nay đã trở thành mộttrong những dòng họ lớn, có bề dày truyền thống văn hoá trong dòng họ

1.3 Những nhân vật gắn liền với khu di tích Phúc Quang từ đờng và Thừa Hoa điện

1.3.1 Bảo Chính công thần Thái phó Hng quốc công Ngô Kinh

Ngô Kinh là con của Ngô Tây, hậu duệ đời thứ hai mơi của dòng họNgô Ông sinh năm 1350 Lúc này triều Trần đang trên đà khủng hoảng, dẫn

đến việc họ Hồ tiếm ngôi, sau đó đất nớc lại bị giặc Minh xâm lợc, đô hộ nớc

ta Sinh ra và lớn lên trong cảnh lầm than, cảnh nhà nghèo túng từ đời cha mẹ,

đến đời của Ngô Kinh lại càng sơ xác, túng quẫn Ngô Kinh sinh ra ở Hà Nội.Cha mẹ Ngô Kinh đã nghèo lại mất sớm Từ nhỏ ông đã phải đi ở trong chùaThiên Phúc Ngô Kinh sống nhờ bên họ ngoại, sau đó về quê Đồng Phang sinhsống Khi trởng thành, cùng một ngời bà con họ mẹ tha hơng lên sách KhảLam (Lam Sơn) kiếm kế sinh nhai Ngô Kinh xin đợc làm gia nô cho LêKhoáng, là một hào trởng lớn ở ái châu lúc bây giờ” [1; 301] [18; 144]

Trang 17

Ngô Kinh bản tính siêng năng, cần cù, ngay thẳng lại rất cẩn thận trongviệc làm Ông đợc Lê Khoáng tin yêu giao cho chuyên trông coi việc cày bừa,ruộng nơng Ngô Kinh ngày càng đợc cha con Lê Khoáng tin dùng Đến tuổitrởng thành, Lê Khoáng đã gả con gái của mình tên là Lê Thị Mơi (tức là LêThị Quỳnh Hoan) cho ông.

Vợ chồng Ngô Kinh sinh đợc 4 ngời con trai và một con gái: Ngô Từ,Ngô Đức, Ngô Khiêm, Ngô Đam và Ngô Thị Ngọc Sách

Từ thân phận một gia nô, sau này thành con rể của Lê Khoáng NgôKinh và con là Ngô Từ đợc Lê Lợi rất tin dùng Trong cuộc khởi nghĩa LamSơn, Lê Lợi giao phó cho hai cha con trông nom việc trang trại, chăm lo sảnxuất để chuẩn cấp quân lơng và tiếp đón nhân tài từ khắp nơi đến mu việc đạinghĩa Xuất thân từ một gia nô, trớc cảnh nớc mất nhà tan nên Ngô Kinh thấuhiểu đợc nổi đau của một ngời dân mất nớc, nỗi nhục của một dân tộc bị đô

hộ Hiện thực trớc mắt đã làm nỗi căm phẫn quân cớp nớc trong lòng ông trỗidậy Vì thế, Ngô Kinh sớm có tinh thần chống giặc ngoại xâm để giành độclập cho đất nớc Khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, trong số những ngời hởng ứng

đầu tiên ở Hội thề Lũng Nhai có hai cha con Ngô Kinh và Ngô Từ

Ngô Kinh có nhiệm vụ vừa lo đôn đốc mọi ngời, vừa trực tiếp cày bừacấy hái Ông nhận thức rõ đợc sự cần thiết của hậu cần: rThực túc binh cờng” [1; 301]

và vai trò chiến lợc của hậu phơng trong cuộc khởi nghĩa Ngô Kinh luôn luônrgiữ vững và mở rộng căn cứ Lam Sơn, tổ chức sản xuất, chăn nuôi, tích trữ l -

ơng thực, vũ khí, tiếp đón những ngời đến tụ nghĩa” [1; 301] [4; 571]

Năm 1423, khi cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn đang trong giai đoạn ác liệt,

Lê Lợi về Lam Kinh động viên nhân dân, thu nạp thêm quân sĩ, đã phong choNgô Kinh làm Kiến Tờng hầu, các con ông ai cũng đựơc phong tớc để ghinhận công lao của ông Năm 1428, cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi hoàntoàn với sự kiện Hội thề Đông Quan Trong buổi chầu đầu tiên của triều Hậu

Lê, vua đã khẳng định công lao của ông: rCác khanh trong khi đi theo tên

đạn, có đợc đầy đủ lơng thực thì đó là công đóng góp của cha con Ngô Kinh.Khi Trẫm cha khởi binh thì cha con Ngô Kinh là ngời ở của cha Ta, Ngô Từlại là tôi tớ của Ta Lúc Trẫm mới nêu lên việc nghĩa, cha con Ngô Kinh là ng-

ời đầu tiên cùng Trẫm mu quyết Trẫm với ch khanh đi khắp nơi, trốn tránhnơi rừng núi đều trông mong cha con Ngô Từ ở lại giữ căn cứ, cung cấp quânlơng, điều binh sĩ Nay, cha con Ngô Kinh vừa có công thủ bản, vừa có mu

đánh giặc nên Trẫm đánh giá Ngô Kinh, Ngô Từ là đệ nhất công thần Luậncông với các tớng xong, vua còn nói vơi Ngô Kinh: r Việc của ông phi thần

Trang 18

thánh không ai làm nổi Ông đúng là Cốc Thần nên lo việc quân lơng mới đợc

nh vậy Thực là Trời đã cho Ta một công thần vô giá!” [1; 301] [8; 20]

Ngô Kinh đợc phong tặng chức Bảo chính công thần, Nhập nội hànhkhiển Thợng tớng quân, thăng Thái phó Hng quốc công Ông mất ngày 7thang 7 (âm lịch) năm Kỷ Mùi (1439) Khi chết đợc ban tên thụy là Dụ khêthợng sĩ Sau đó chắt ngoại là vua Lê Thánh Tông lại ban thụy: Trung Hiền th-ợng sĩ Ngô Kinh có 4 con trai và một con gái đều tham gia cuộc khởi nghĩaLam Sơn và lập đợc nhiều công trạng, đặc biệt là Bình Ngô khai quốc côngthần Ngô Từ Các con khác của Ngô Kinh đợc phong tớc gồm: Mỹ quận côngNgô Đức; Thuận quận công Ngô Khiêm; Đô đốc thợng tớng quân Ngô Đam

và con gái là Ngô Thị Ngọc Sách Ngô Thị Ngọc Sách là vợ của Lơng Quậncông Nguyễn Tín, cũng là một trong những khai quốc công thần của triều LêSơ

Có thể nói Ngô Kinh đã góp công lớn trong cuộc khởi nghĩa chốngngoại xâm, giải phóng dân tộc vào thế kỉ thứ XV Sau khi ông chết, con cháu

đem về mai táng ở quê Đồng Phang, gần mộ tổ Đền thờ ông đợc xây và đặttên là Thuần Mậu Đờng Sau này Thuần Mậu Đờng trở thành nhà thờ chungcủa họ Ngô Năm 1470 vua Lê Thánh Tông về bái yết tổ ngoại đã cho sửachữa và đổi từ đờng này thành Phúc Quang Từ Đờng

1.3.2 Thái Bảo Tr ơng Khánh truy phong Diên ý Dụ V ơng Ngô Từ

Ngô Từ sinh ngày mồng 2 tháng 5 năm Canh Tuất (1370) Ông là con tr ởng của Ngô Kinh Cùng với cha và các em, Ngô Từ tham gia tích cực vàocuộc khởi nghĩa Lam Sơn

-Ngô Từ sinh ra ở Khả Lam Trớc khởi nghĩa Lam Sơn, cha -Ngô Kinhlàm gia nô cho Lê Khoáng, Ông cũng trở thành gia nô của nhà họ Lê Sau nàyNgô Kinh là con rể của Lê Khoáng, Ngô Từ trở thành cháu ngoại rNgô Từlớn hơn Lê Lợi 15 tuổi, đợc Lê Khoáng tin yêu giao cho chăm nom, săn sóc

Lê Lợi lúc nhỏ Bên nhau từ bé, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, Lê Lợi rất hiểu vàtin tởng Ngô Từ Khi lớn lên, Ngô Từ càng tỏ ra có tài về việc quản lý nôngtrang, lao động chăm chỉ, đắc lực nên Lê Lợi càng quý trọng Đến tuổi trởngthành Ngô Từ đợc ông ngoại là Lê Khoáng cới vợ cho Vợ Ngô Từ là Đinh ThịNgọc Kế, con gái của khai quốc công thần Đinh Lễ” [1; 301] [6; 572]

Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nớc bị nô lệ, đặc biệt lại ở bêncạnh Lê Lợi là ngời có chí phục quốc, vì nghĩa lớn chống xâm lợc giải phóngdân tộc, Ngô Từ đã sớm hình thành trong mình tinh thần chống giặc cứu nớc

Trang 19

Năm Đinh Dậu 1417, Lê Lợi quyết định phất cờ khởi nghĩa Muốn biếtlòng mọi ngời, Lê Lợi bàn với Ngô Từ: rNgời nhà Minh xâm lấn bờ cõi đất n-

ớc, tàn phá nhân dân ta, trông thấy cùng cực Ta muốn khởi quân đánh giặccứu dân, ý của ngơi thế nào?

- Ngô Từ tha rằng: rChúa công nói thế là phúc bốn bể vậy Cha con tôi

ơn nhờ Chúa công mới sống, một ngày tôi không rời bên Nếu khởi binh thìcha tôi ở lại giữ căn cứ, tôi xin theo sát Chúa công đi đánh giặc để báo đền

đức lớn của Chúa công” [1; 301] [18;144]

Ba em trai của Ngô Từ là Ngô Đức, Ngô Đam, Ngô Thuần nhập đoànquân kháng chiến chống giặc Minh do Lê Lợi lãnh đạo ngoài tiền tuyến.Riêng Ngô Từ và cha là Ngô Kinh đã bảo vệ căn cứ Lam Sơn, đảm bảo việcquân lơng, hậu cần cho quân khởi nghĩa

Lê Lợi rất tin cậy tài năng hai cha con Ngô Từ nên giao phó cho việcchăm nom trang trại, chăm lo sản xuất để chuẩn bị quân lơng và tiếp đón nhântài các nơi tới để mu việc đại nghĩa Trong khi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa LamSơn, Lê Lợi luôn căn dặn Ngô Từ: "Binh, lơng hai việc trong lúc gây dựng đấtnớc là vô cùng bức thiết, nhà ngơi nên ở lại gìn giữ căn cứ, thu nhận nhân tàihào kiệt, để ta cùng các tớng chuyên bàn mu tính kế ra quân là việc hàng đầu.Ngời xa coi công trạng việc giữ gìn căn cứ ngang với công đánh giặc Ngơicần hiểu sâu lời ta nói” [1; 301] [18;144]

Thực hiện lời căn dặn của Lê Lợi, với tinh thần yêu nớc căm thù giặcsâu sắc, trong cái tuổi sung sức (tuổi tứ tuần), Ngô Từ đã dốc hết sức mình,tận tâm hăng hái rphò vua cứu nớc” [1; 301] Công việc trông nom trang trại của LêLợi, xây dựng và củng cố căn cứ Lam Sơn hoàn toàn do cha con Ngô Từ đảmnhiệm

Với tài quản lý và chỉ huy của mình, Ngô Từ hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ: giải quyết việc tiếp tế quân lơng cho nghĩa quân Lam Sơn một cách

đầy đủ và kịp thời Đồng thời cùng với cha, Ngô Từ đã đón tiếp và rcung cấp” [1; 301].cho Lê Lợi nhiều hào kiệt nh Đinh Liệt, Bùi Bị và đặc biệt là mu sĩ NguyễnTrãi

Có lần vào năm 1420, quân Minh tấn công Lam Sơn nhằm phá hoạihậu phơng của quân khởi nghĩa, Ngô Từ đã trực tiếp chỉ huy một đội quân,dùng chiến thuật chiến tranh du kích đánh lui đội quân nhà Minh, bảo vệ antoàn cho căn cứ địa Lam Sơn

Sự đóng góp của Ngô Từ trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn giải phóngdân tộc có thể nói là rất lớn Lê Thái Tổ đáng giá công lao của ông nh sau:rcác Khanh cùng Trẫm ra trận đợc cung cấp đủ lơng thực, đó là công của cha

Trang 20

con Ngô Kinh , Ngô Từ Cha con Ngô Từ đã bảo vệ căn cứ địa, cung đốn l ơngthực, bổ sung binh sĩ Xa kia Hán Cao Tổ đợc thiên hạ, đã quy công cho Tiêu

Hà giữ đất Quan Trung, cung đốn lơng binh đầy đủ là công bậc nhất Nay chacon Ngô Từ cũng đáng đợc phong đệ nhất công thần” [1; 301] [6; 572] Sau đó Ngô Từ

đợc phong là Bình Ngô khai quuốc đệ nhất công thần Bàng khê hầu, thăngThụ Thái bảo Chơng Khánh công thần, Tả Kim ngô vệ Thợng tớng quân, chinội đại hành khiển phụ quốc chính, Gia mỹ tự Đại trí Đợc ban quốc tính là Lê

Từ Khi mất vua ban thuỵ: Bàng khê thợng sĩ, tặng phong Diên ý Dụ vơng

Ngô Từ có 2 vợ, sinh đợc 10 ngời con trai và 8 ngời con gái Các contrai đều là võ tớng dới triều Hậu Lê, lập đợc nhiều công trạng

Con trai trởng là Ngô Việt, đã tử trận khi con trẻ, đợc phong tớc Chiêu

mỹ hầu

Các con thứ theo gia phả ghi :

- Ngô Lộc: Nhập nội kiểm điểm, Mỹ quận công

- Ngô Hồng: Đô đốc tham quân, Điện Bàn hầu

- Ngô Kí ; Thiệu uý Nghĩa quận công

Ngô Khế: Cố mệnh đại thần Thanh Quốc công

Ngô Lan: Thái bảo Hán quốc công Đợc thờ ở điện Diễn An do Lê ThánhTông xây dựng tại Đồng Phang

Ngô Nạp: Chỉ huy sứ, Hòa quận công, tặng Huệ quốc công

Còn Ngô Thị Ngọc Thung đợc phong là: Hoa Dung công chúa; Ngô ThịNgọc Giao đợc phong là Tiệp D công chúa, sau là Hoàng Thái Hậu

Thái bảo Chơng khánh công Ngô Từ là khai quốc công thần triều Hậu

Lê rÔng đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm, đồng thời

có nhiều đóng góp cho triều Hậu Lê Ngô Từ mất ngày mồng 8 tháng 3 (âmlịch) năm Nhâm Tuất (1370), thọ 83 tuổi Khi chết con cháu mai táng Ngô Từ

ở Đồng Phang và thờ ông trong Phúc Quang Từ Đờng” [1; 301] [4;572]

Có thể nói, đến hậu duệ đời thứ mời chín và hai mơi của dòng họ Ngô,những công lao đóng góp của cha con Ngô Kinh, Ngô Từ đã đợc ghi côngtrạng vào sử sách Cũng từ đây họ Ngô Việt Nam có thể nói đã đợc trung hng

Trang 21

1.3.3 Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao

Ngô Thị Ngọc Giao sinh năm Canh Tý (1420), là con thứ sáu của Ngô

Từ Mẹ của Ngọc Giao là Đinh Thị Ngọc Kế, ông ngoại Đinh Lễ là Khai quốccông thần của triều Hậu Lê Cố ngoại của Ngô Thị Ngọc Giao là Trần ThịNgọc Huy thuộc dòng dõi Chiêu Văn Vơng Trần Nhật Duật

Ngô Thị Ngọc Giao đợc sinh ra và lớn lên tại Đồng Phang, nay thuộc xã

Định Hoà huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá Từ nhỏ Ngọc Giao đã mồ côi mẹ,

đợc bà ngoại nuôi dỡng, đợc học hành cẩn thận tỏ, ra thông minh, chăm chỉ,ham thích thơ ca và sùng đạo Phật Ngay từ thuở bé đã lộ vẻ xinh đẹp, hiềnthục của một quý nhân Huyền tích kể lại rằng: "Có lần gặp mặt ngời lạ, ngời

ấy nói: rCô bé này sẽ đáng là mẹ thiên hạ” [1; 301] Nói xong ngời ấy biến mất" [30;1]

Chị gái Ngọc Giao là Ngô Thị Ngọc Thung (còn gọi là Xuân hay Viên)

là vợ của Lê Thái Tông Niên hiệu Thiệu Bình thứ ba (1435), một hôm chịNgọc Thung vào hầu Thái Tông ở hậu cung, Ngọc Giao theo chị vào nội đình,nhà vua trông thấy đẹp, gọi vào; Tháng 6, Canh Thân năm Đại Bào thứ nhất(1440) bà đợc phong chức Tiệp D (tức đứng hàng đầu của 6 bậc nữ quan, dớitam phi, cửu tần) Khi vào cung làm vợ Thái Tông, Ngọc Giao răn nói đúngmực, nết na hợp khuôn phép Đối bậc trên đúng lễ độ, tiếp kẻ dới có ân tình,

đợc Thái Tông rất yêu mến” [1; 301] [23; 352]

Bà sinh đợc hai con Lần đầu sinh Thao Quốc trởng công chúa, tức làcon thứ 5 của Văn Hoàng đế Lê Thái Tông nhng mất sớm

Giờ Tý ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) sinh con trai thứ đặt tên huý

là T Thành tức Lê Thánh Tông sau này

T Thành sinh mới đợc nửa tháng thì đêm mồng 4 tháng 8 năm NhâmTuất (1442) xảy ra vụ án "Lệ Chi viên" Trong khoảng hai năm, từ 1440 đếntháng 8 năm 1442, không chép rõ khi nào, bà Tiệp D họ Ngô có mắc rtội” [1; 301] và

là tội gì phải bị đa ra khỏi cung Khánh Phơng về giam ở rVờn hoa” [1; 301]

Chính sử chép lờ mờ nh vậy! Huyền tích đua nở quanh chuyên này.Ngay chính sử lúc bấy giờ nh rĐại Việt sử kí toàn th” [1; 301] cũng ghi: rNăm NhâmTuất (1442) Tiệp D Ngô Thị Ngọc Giao khi đi "cầu tự" mơ thấy mình đến chỗThợng đế Thợng đế sai một tiên đồng xuống làm con Tiên đồng chần chừkhông chịu đi, Thợng đế nổi giận lấy cái hốt ngọc đánh vào trán chảy máu ra.Sau tỉnh dậy sinh ra vua trên trán vẫn còn dấu vết nh thấy trong mơ Mãi đếnchết vết ấy vẫn không mất” [1; 301] [13; 387]

Lại còn huyền tích: "Một tiên đồng khác đợc sai xuống theo hầu tiên

đồng trên cũng không chịu, bị đạp vào vai Sau là Trạng Nguyên Lơng Thế

Trang 22

Vinh, lệch vai thật Một ngọc nữ đợc sai xuống làm vợ tiên đồng – vùng đất phát vua, sau

là con gái Nguyễn Trãi, bị câm, theo mẹ nuôi vào cung hầu yến, gõ phách,trông thấy vua mới cất lên lời ca và do vua rnhớ lại giấc chiêm bao xa của mẹnên cho tuyển vào cung làm vợ” [1; 301] [26;171] Chính sử hoàn toàn im lặng trớcrchuyện” [1; 301] Thánh Tông lấy con gái Nguyễn Trãi

Theo Phả họ Ngô ghi: "Nguyễn Thị Anh là ngời hay ghen ghét, muốngiữ ngôi Thái tử cho con mình sau này đã xúc xiểm với vua để phế truất HuệPhi là con của Lê Ngân, phế truất Dơng Thị Bí và con là Hoàng tử Nghi Dân.Khi biết chuyện về giấc mộng của Ngô Thị Ngọc Giao lại xúc xiểm với vua làNgọc Giao có dính líu tới Huệ Phi âm mu ám hại Hoàng Thái Tử Bang Cơ, cómang 11 tháng mà không đẻ là điềm gở Vua định giết Ngọc Giao Vợ lẽ củaNguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ lúc đó là Lễ nghi nữ học sĩ vốn là bạn vớiNgọc Giao đã can ngăn vua không nên làm chuyện thất đức đó Vua thakhông giết Ngọc Giao nhng phế chức Tiệp D và cho ra ở chùa Huy Văn (naythuộc Ngô Văn Chơng - Hàng Bột - Hà Nội) Nguyễn Thị Lộ cho ngời chămsóc, khi sinh con là T Thành, Nguyễn Trãi đa đi lánh nạn ở An Bang (QuảngYên)” [1; 301] [6; 574] Sau này chính rnhờ sinh đợc quý tử mà Ngô Thị Ngọc Giaovừa tránh đợc họa vừa cứu đợc nhà Lê” [1; 301] [27; 194]

Sử gia Lê Quý Đôn lại chép: rKhi Quang Thục hoàng thái hậu là Tiệp

D đã từng vì trái ý, bị vua Thái Tông bỏ tù ở Vờn hoa Ông Trịnh Khả cứu bàthoát nạn Cho nên vua Thánh Tông nhớ lại ơn trớc nên cân nhắc con cháu ônhơn đã hơn các bề tôi khác” [1; 301] [32; 213] Nguồn sử liệu này đáng tin cậy hơn

Thời gian này triều chính hỗn loạn giữa các phe phái Lê Nhân Tông lênngôi Tuyên Từ hoàng thái hậu buông rèm nhiếp chính Sau đó Lê Nghi Dâncớp ngôi, phong cho T Thành làm Gia Vơng,

Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), rNguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Niệm, LêThọ Vực cùng con em các đại thần dẹp đợc loạn rồi rớc Thánh Tông lên nốingôi, Thánh Tông phong mẹ làm Quang Thục Hoàng Thái Hậu” [1; 301] [30; 123] Từ

đó chấm dứt quãng đời sóng gió của Ngô Thị Ngọc Giao

Là Quang Thục Hoàng Thái Hậu, nhng Ngọc Giao không ở trong cung

mà vẫn ở lại chùa Huy Văn để yên tĩnh tuổi già rThánh Tông xây thêm điệncho Thái Hậu ở cạnh chùa, hàng tuần ra chùa thăm mẹ” [1; 301] [6; 575]

Từ khi làm mẹ của một ngời, rồi làm mẹ của muôn dân, bà luôn là mộttấm gơng sáng về đức độ Ngô Thị Ngọc Giao không phải là một võ tớng lậpnhiều chiến công hiển hách trên sa trờng, bà cũng không phải nh Nguyên Phi

ỷ Lan xa, một tay lo việc việc triều chính khi vua Lý dẫn quân mở cõi Nhngcông lao của Bà đợc thể hiện ở việc nuôi dạy đợc một ông vua sáng: Lê Thánh

Trang 23

Tông, đa đất nớc vào thời thịnh trị nhất của phong kiến Việt Nam Bên cạnh

đó cũng chính Bà cùng với con đã minh oan cho Nguyễn Trãi

Phả họ Ngô viết: rMột lần nhà vua ra thăm mẹ về, ra đến cổng chùathấy một bà già quỳ lạy giữa đờng Hoàng thái hậu đỡ dậy và hỏi han Bà tadâng một lá đơn xin minh oan Hai mẹ con trở vào chùa xem Vua không hiểunội tình ra sao Thái hậu nói: rNhững việc nói trong này đều đúng Trớc đây

mẹ cha kể cho con biết vì lúc đó có nói cũng cha ích gì!” [1; 301] Bà bèn kể đầu đuôicâu chuyện Về triều vua hỏi các quan: rAi là học trò của Nguyễn Trãi?” [1; 301] Imlặng hồi lâu Một ngời đứng lên rồi nhiều ngời, gần nửa bên Vua đọc lá đơn

và cùng mẹ minh oan cho Nguyễn Trãi” [1; 301] [6; 575]

Đánh giá về Ngô Thị Ngọc Giao, Đại Việt sử kí toàn th viết: rHoàngThái hậu Ngọc Giao là ngời nhân hậu có thừa, mà không đủ quả quyết, răndạy con cháu cha bao giờ đổi sắc mặt, có khi đánh bằng roi vọt, nhng chỉ làmột thoáng thơng xót” [1; 301] Ngô Thị Ngọc Giao làm Hoàng thái hậu 36 năm cùngthời gian trị vì của Lê Thánh Tông Đến giờ Hợi ngày 26 tháng 3 nhuận thìbăng tại chính tẩm Thừa Hà điện, thọ 76 tuổi Mọi việc mặc áo, khâm liệm, bỏgạo vào miệng ngời chết, vua đều tự tay làm lấy để tỏ lòng đau xót” [1; 301] [13; 514]

Ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1458) niên hiệu Cảnh Thống thứ bavua Lê Hiến Tông cho soạn văn bia Sơn Lăng ghi công, bái ơn bà nội có đoạnviết:

r

Khí làm mẹ thì âm d ơng linh thiêng

Trăng làm mẹ thì hình t ợng sáng suốt

Đất làm mẹ thì phẩm vật sinh sôi

Thái hậu làm mẹ thì việc cai trị đất n ớc sẽ hoàn tất

Việc không phải lẽ không làm, điều không chính đáng không nghe.Nghiêm nghị mà không độc ác, giản dị mà có văn hoá, tôn trọng lễ phép, ít rờiphòng khác Kẻ sang ngời hầu đều khom ngời nh Phật sống Đợc cấp vàng bạcthì cho mọi ngời ở xung quanh, giúp đỡ cho tất cả kẻ nghèo khó, không dànhcủa riêng Chỉ có lời hay, việc tốt in trong tai mắt mọi ngời Ơn này dày thấmtrong da thịt mọi ngời xử trí đúng mực làm cho cội gốc nớc nhà vững chắc,dòng dõi tông miếu nối dài Hoàng thái hậu đức sánh với đất trời, công rạng rỡTam Thánh (Thái Tông, Thánh Tông, Hiếu Tông), xứng đáng là hàng đầu các

vị Hoàng hậu của Đại Việt ta” [1; 301] [23; 5]

Lịch sử đã giành cho vùng đất Yên Định niềm tự hào mà không phảinơi nào cũng có ở đây hội tụ đủ hai khuôn diện phụ nữ tiêu biểu cho hai thờikì: rtrong chiến đấu và trong xây dựng Triệu Thị Trinh là nét đặc trng cho sự

Trang 24

bất khuất của một danh tớng trong đêm dài ngàn năm Bắc thuộc, Ngô ThịNgọc Giao thì tợng trng cho tấm lòng biết vun đắp ngời trác Việt cho dân tộcthời thanh bình Đó là những tấm lòng, những ngời yêu đất nớc thiết tha” [1; 301] [21;28]

Trang 25

Chơng 2 khu di tích Phúc quang từ đờng, thừa hoa điện và lễ hội Phủ Nhì

2.1 Phúc Quang từ đờng

2.1.1 Lịch sử xây dựng

ở nớc ta, thờ cúng tổ tiên là một tín ngỡng, một nét đẹp văn hoá của

ng-ời Việt Từ bao đng-ời cho đến nay, gia tộc nào cũng lập bàn thờ tổ tiên, đặt ở nơitrang trọng nhất trong từ đờng để thờ họ Tuy vậy, "phải đến thế kỉ XV, khiNho giáo đợc đề cao thì tín ngỡng thờ cúng tổ tiên của ngời Việt mới trở nên

có triết lý hơn" [9; 181] Bắt nguồn từ truyền thống "uống nớc nhớ nguồn"thời kì này nhà thờ họ mới xuất hiện Việc lập nhà thờ họ nhằm giáo dục concháu đời sau tự hào, biết ơn tiên tổ, ông bà, đồng thời tỏ lòng thành kính, hiếuthảo nhân nghĩa, ý thức nhớ về cội nguồn của đời sau Họ Ngô cũng ý thức rấtsớm việc này, đã lập nhà thờ họ để thờ tổ tông và những ngời có công lao với

đất nớc trong dòng họ mình Nhà thờ họ Ngô đầu tiên đợc Ngô Rô xây cất.Tuy nhiên lúc bấy giờ chỉ là một nhà thờ nhỏ, hơn nữa trong thời loạn lạc, giặcMinh xâm lợc với chính sách đồng hoá, chúng muốn phá đi những thuầnphong mĩ tục của dân tộc ta, làm cho nhà thờ bị h hại nhiều

Sau khi cuộc khởi nghiã Lam Sơn thắng lợi, đất nớc yên bình, Ngô Kinh

đã cho xây dựng Thuần Mậu Đờng để thờ tổ tiên từ khởi tổ Ngô Nhật Đại ởThung Thợng, Đồng Phang tức Làng Nhì xã Định Hoà hiện nay Việc tìm đấtxây cất đợc lựa chọn kĩ càng

Vào giai đoạn cuối của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Ngô Từ đã nhờ mộthàng tớng giỏi thuật phong thuỷ là Hoàng Phúc chọn đất để xây nhà thờ họ.Thợng th Hoàng Phúc đã luận rằng: rchúng ta gặp nhau hôm nay là ý củathiên thánh, tôi xem làng này có hai huyệt đất quý, thì đều là đất táng của nhàtớng công cả rồi Tớng công còn tìm gì nữa Tớng cần phúc địa để cho concháu ngày sau đông đúc, lo kế lâu dài, nhng cháu con khắc có phúc của conchá, tớng công cần tích luỹ âm công, đất phúc ngời phúc ngày sau sẽ có Tôivừa bàn về huyệt kỵ long vốn là đất quý Đến nh huyệt long tuyền: rbàn taytiên” [1; 301] chẳng phải là mộ của nhà tớng công rồi sao ?!

Hoàng Phúc luận tiếp: rĐây là kiểu đất rHồi long tổ cách” [1; 301]., ngồi hớngTốn, trông về hớng Càn, nguồn nớc rất dài, phát phúc rất nhanh và rất lâu Tôi

để lại mấy câu thơ nh sau:

Hoàng uyên chi mạch

Oa khai phủ diện Phơng lâu ủng hậu

Trang 26

Kì cổ la liệt Thợng hạ giao tế Nam công nữ hậu Thợng điếu long tuyền Cát huyệt kha thiên Quy sơn triều tiên Trớng cái bàn miên Phúc giáng tự thiên Thế tố trờng diên ” [1; 301].

Đất này Kim Quy ở hớng Đoài, tất có hoàng hậu sinh thánh chúa NúiNgũ Phợng ôm phía sau, hình thành vẻ cung điện lầu các, đời sau nhiều ngờiquý, vài chục đời sau sẽ có anh hùng cái thế

Tôi lấy mạch đất nói chuyện con ngời, Tớng công nghe xem có đúngkhông Đây là đất rĐinh long” [1; 301]., khí vút lên rất mạnh, nhiều vòng sáng quý baolấy, cho nên sinh ra tính rộng nh lửa, cơng trực hào phóng, cởi mở nhng khôngthiếu sự suy nghĩ chín chắn, ăn ở đầy đặn chất phác, gần gũi mọi ngời khônglàm việc mờ ám Đây là hình thế đất lợn quanh co, thiên biến vạn hoá, ẩn dấuphong cách, khí tợng tụ vào, tuy nóng nảy cứng rắn mà đảm đợc, tuy cởi mở

mà ngời không thể gieo tai hoạ cho mình đợc Đời nào cũng có ngời trungthần nghĩa sĩ, giúp nớc hết lòng, võ tới hàng cao nhất mà có văn học khoa giápmãi mãi, chỉ có đinh long diện mới đợc nh thế, có thể nói là Trời đền công

Hôm nay gặp tớng công không biết lấy gì lu tặng, xin chọn cho tớngcông một nơi để xây dựng từ đờng, cũng chính là Kỵ long cách, chữ Nhật tiếpgiáp núi sông ở phía trớc là hớng chính, lấy đây làm nơi hơng khói muôn đời” [1; 301].[6; 576]

Về sau Dụ Vơng Ngô Từ đã y lời dựng từ đờng họ Ngô ở đó, gọi làThuần Mậu Đờng Gia phả họ Ngô lu ở Đồng Phang cũng ghi: rVào nămHồng Đức thứ nhất (1470), Thái hậu Ngọc Giao bảo Thánh Tông rằng:

r- Con đợc thờ phụng các tiên đế, sở dĩ có đợc ngày nay, đắng cay đãtừng Mệnh Trời cho hồng phúc của Hoàng gia, cũng là công của gia đình,

ông cha Ta khó nhọc giúp Vơng gia, Ta muốn tìm phúc địa, táng các bậc tiềnnhân, việc ấy thế nào?” [1; 301]

Thánh Tông tha:

r- Con quý mẹ, mẹ quý con, truyền thống là nh thế, gia tiên bên mẹdựng nên nghiệp Vơng, công lao nh núi sông, con mong đời xuất hiện nhữngbậc hiền tài gánh vác việc quốc gia, ý con cũng vậy.” [1; 301]

Trang 27

Lúc bấy giờ có kẻ nói ra nói vào rằng: rLong mạch nhà họ Ngô rất quý,

đời đờ có ngời có công lao lớn, nên tìm cách xử trí trớc đi” [1; 301]

Nhà vua nói: đất ấy sinh ra những ngời trung thành,làm gì quá lo nhvậy Bèn sai một nhà địa lý ngời Tàu có tên là Quách đi xem lại mồ mả họNgô

Quách về tâu: rđất ấy xa Hoàng Phúc đã luận rõ ràng rồi, nói đúng nhsách, nhất nhất không sai Bên chùa một việc đất gọi là Kỵ long, mặt trớc córồng mã chầu về, mặt sau nh hình Ngọc nữ soi ngơng, đó là điềm sinh thánhnữ, có mẹ thế thì con nh thế Bệ hạ bản tính thông minh, tuy là kết đọng cái tốt

đẹp của đât Lam Sơn, nhng cũng là chung đúc tinh nhanh của dòng ChùyThủy Lại ở Bờ Đó, một huyệt thế đất Hồi Long, đời đời sinh ra cung phi, xemhai nơi ấy sinh ra trai cao qúy, gái trinh thục, hơn hẳn các kiểu đất khác, đời

đời xuất hiện kẻ trung thần vì nớc hết lòng, không có sự phản loạn Không nênnghe những lời dèm pha sằng bậy, ví nh cây kia có bồi vững gốc, mới mẩybông trĩu hạt, mấy năm sau cho thức ăn đồ dùng, cho gỗ lam rờng, làm cột,cái lợi này lớn lắm ” [1; 301] [6; 125]

Sau đó vua Lê Thánh Tông đã cho xây dựng lại nhà thờ tổ của họ ngoại,tức Thuần Mậu Đờng trên nền đất cũ, ở vị trí lui lại phìa đông, thuộc ThungThôn và đổi Thuần Mậu Đờng thành Phúc Quang Từ Đờng cùng năm (1470)

Khi Ngô Kinh chết, đợc thờ trong từ đờng Về sau Ngô Từ chết cũng

đ-ợc đa bài vị vào đây thờ chung với các tiền nhân của họ Ngô Đây là từ đờngchính của họ Ngô Việt Nam, thờ thuỷ tổ và các tiền nhân có công lớn Đếnhàng năm, con cháu trong họ đều về bái tổ Thời phong kiến, các triều đều cósắc phong cho từ đờng này Trong từ đờng Phúc Quang có đến vài chục bản hiệnnay vẫn còn lu giữ nh: Sắc phong của Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 3(1472); sắc phong năm1763, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 24

Thời kì Pháp thuộc, cũng nh trong ba mơi năm chiến tranh ác liệt, đặcbiệt là trong chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ năm 1970, bom

đạn đã tàn phá một phần của từ đờng Mặt khác, trong một thời gian dài, dokhông có điều kiện và quan điểm cha đúng, chính quyền và nhân dân địa ph-

ơng đã phá dỡ đi nhiều bộ phận của nhà thờ để phục vụ sản xuất Con cháu họNgô ở Đồng Phang chỉ còn giữ lại đợc một chiếc kiệu rớc, ba ngai thờ, cùngtám bài vị và một số đồ thờ khác Tháng 4 năm 1995, cùng với việc công nhận

di tích Thừa Hoa điện, Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã raquyết định số 2861 QĐ/BT của Bộ trởng Bộ văn hoá-Thông tin, công nhậnPhúc Quang từ đờng là di tích lịch sử cấp quốc gia, cho phép trùng tu, tôn tạolại hai di tích vào một khu Đến tháng 5 năm 2003, theo bản quy hoạch và

Trang 28

thiết kế khu di tích của Bộ xây dựng kết hợp với Cục bảo tồn bảo tàng ThanhHoá, Phúc Quang Từ Đờng đã đợc xây dựng lại theo hớng cũ Từ đờng này đ-

ợc xây dựng trên cơ sở phục hồi lại theo lối kiến trúc cũ mà các cụ cao niêntrong dòng họ kể lại, đồng thời kết hợp với kiểu kiến trúc hiện đại

2.1.2 Đặc điểm kiến trúc và nghệ thuật bài trí của từ đờng Phúc Quang

Hiện nay theo quy hoạch, thì từ đờng đợc dựng lên trong khu di tích có

ba công trình trên diện tích rộng 4000 m2 gồm: Thừa Hoa điện, tợng đài liệt sĩxã Định Hoà và từ đờng Phúc Quang Phía trớc khu di tích là sông Cầu Chày,

đằng sau là trờng tiểu học Đinh Hoà Phúc Quang từ đờng đợc xây gồm hainhà: một nhà khách và từ đờng

Nhà khách là một ngôi nhà 5 gian, đợc xây bằng gạch ngói Ngôi nhànày là nơi dùng để chuẩn bị đồ tế lễ và cũng là nơi để khách hoặc con cháu

ở xa về bái tổ vào ngày giỗ họ sẽ nghỉ tại đây

Đền thờ chính đợc xây dựng rất hoành tráng gồm hai phần:Hậu tẩm và tiền điện Nhìn từ bên ngoài vào, ngôi nhà thờ đ ợc xâyphân làm ba gian Mỗi gian có một cửa vào, tạo thành rtam quan” [1; 301] Nhà thờ có chiều dài 9,6m, chiều rộng 9m,chiều cao là5m Mái đ -

ợc láng xi măng, uốn cong vòm nh hình chiếc bát úp kiểu máichùa, mang ý nghĩa nh bầu trời Trên nóc đắp hình rL ỡng Longchầu nhật” [1; 301] Hình t ợng rồng đợc tạc theo phong cách rồng thờiNguyễn Nhìn lên họa tiết và các bộ phận của rồng chúng ta rất dễphân biệt điều đó Hình t ợng rồng ở đây không "uốn l ợn nhịpnhàng, hiền từ nh thời Lý - Trần; nó cũng không uốn khúc tùy tiệnvới hình dáng chắp vá nh rồng thời Mạc" [31; 207], mà có phầngiống với rồng thời Lê đ ợc khắc trên ngai thờ trong hậu tẩm Quansát kĩ sẽ dễ dàng nhận ra các con rồng với năm móng chân tỏa đềuquặp lại thể hiện quyền uy, kết hợp với mắt, đao mác, các vânxoắn, hàm răng lộ rõ dáng vẻ vêng váo dữ tợn, hung hãn thiên vềdọa nạt bề ngoài

Các cột vuông mang phong cách hiện đại T ờng mái, cột đều

đợc xây đế bằng xi măng, cốt thép Bên trong từ đ ờng đợc bài trícông phu

Hậu tẩm là một gian, nơi đây đặt bài vị của tám ng ời đợc thờ.Trên cao treo bức hoành phi đề bốn chữ Hán: rH ng Quốc, ThànhQuốc” [1; 301] Bài vị của thuỷ tổ Ngô Nhật Đại đ ợc đặt ở tầng thờ caonhất, xuống dới lần lợc là Ngô Dô, bên trái là Ngô Quyền, bên

Trang 29

phải là Ngô Từ, Ngô Lan rồi đến Ngô Kinh, Ngô Tuấn (Lý Th ờngKiệt) và Ngô Kế.

Do công lao của Ngô Từ lớn hơn cha Ngô Kinh nên đ ợc đặttrên cao hơn Tất cả các bài vị đều đ ợc đội mũ, khoác áo nhiễu

điều đỏ đặt trên ngai thờ Riêng Ngô Quyền là vua, nên khoác áomàu vàng

Các bài vị và ba ngai thờ của Ngô Nhật Đại, Ngô Rô và NgôTuấn đã có cách đây hơn 500 năm đến nay vẫn còn nguyên ven.Các ngai thờ đ ợc chạm khắc rất nghệ thuật Mỗi dèm chân củangai có ba hình hổ phù ở ba phía, đ ợc tạc với t thế "oẹ mặt trăng",biểu hiện sức mạnh vô biên Hai tay ngai thờ là hai đầu rồng cách

điệu Nghệ thuật trang trí này mang rõ nét phong cách của thời Lêsơ Nó còn đ ợc thể hiện qua cách trang trí các hoa văn cây cỏ.Quan sát kĩ thì thấy, so với những ngai thờ đ ợc làm thời kì saunày, ở đây loại thảo mộc chỉ đ ợc đa vào tạo hình với t cách phụ, ở

vị trí ken giữa các ô ở diềm ngai thờ rĐó là các cụm lá nhỏ kennhau hai bên, ở giữa sống uốn l ợn mang tính chất t ợng trng ở các

ô rộng có trang trí hoa văn dây leo đỡ lấy một hoa cúc cách điệu” [1; 301].[4; 192]

Tiền điện gồm ba gian Gian giữa đặt phần hơng án Trên hơng án đặtmột l hơng đỉnh đồng và các đồ dùng để cúng Dới l hơng là hai con hạc, cao1,2m đặt trên lng rùa đứng hai bên, tợng trng cho sự thanh cao, siêu việt củathánh nhân và sự trờng tồn Tiếp đó là chiếc ban thờ lớn, đợc trải vải đỏ để đặt

lễ vật cúng Hai bên hơng án là hai hàng lỗ bộ hay còn gọi là bát kích gồm:long đao, mác trờng, chùy, câu liêm, đinh ba tay thớc, côn, dáo và bát xà mâunhằm nói lên sức mạnh của con nhà võ, diệt trừ xấu xa, ma quỷ Hai bên củahơng án treo đôi câu đối chữ Hán:

r ức Niên Hơng Hỏa Lu Giang Chùy Thuỷ Đế Lu.

Nhất Tên Linh Từ Quang Lĩnh Lam Sơn Tinh Trĩ ” [1; 301]

Trang 30

Bên trái là bàn thờ Bà Mãnh, bên phải là bàn thờ Ông Mãnh, tức nhữngngời họ Ngô chết trẻ, cha có gia đình.

Nhìn từ bên trong, vòm mái của từ đờng đợc uốn cong tròn hình bát úp,

có trang trí các hình vân xoắn ngũ sắc thể hiện bầu trời Tờng bên trái củaTiền điện có hình con lân đang hí cầu; bên phải có hình một con phợng đang

đeo dải lụa cuốn hòm sách, là sự cầu mong, ớc vọng, chỉ học hành Có thể nói,nhà thiết kế đã dựng khung cảnh của toàn vũ trụ, làm nổi lên vẻ linh thiêng,tôn nghiêm của Từ đờng

Ngoài ra, trong còn có một chuông và một trống treo trên giá đặt ở haibên tả, hữu của tiền điện Trên đỉnh cửa chính có bức hoành phi: Phúc Quang

từ đờng Và hai bên cửa có đôi câu đối bằng chữ Hán:

Công Hầu Khanh T

r ớng Quốc Quan Âm.

Lễ Nhạc Thi Th Gia Quyến Tại.” [1; 301].

Từ trong cung ra sân qua bậc tam cấp, lối đi xuống của cửa chính, cóhai con s tử đợc tạc bằng đá trắng, đang trong t thế bớc xuống, mặt ngoảnhvào trong nh chú ý ngời vào từ đờng, biểu hiện cho tung hoành của đấng namnhi, đồng thời nó còn tợng trng cho không gian và thời gian, rđó là linh vậtcủa bầu trời cõng vũ trụ chuyển động, nó là linh vật kiểm soát tâm hồn kẻhành hơng” [1; 301] [4; 169]

Tiếp đó là một sân chầu hình vuông rộng 225 m2, nơi đây để con cháulàm đại lễ trong ngày giỗ tổ

Trang 31

Sơ đồ cách bài trí trong Phúc Quang từ đờng:

Ban Thờ

Đồ Bát kích Ban thờ

bà M nhãnh

Sân

Ngô nhật đại

Ngô Lan Ngô Quyền

Trang 32

2.2 Thừa Hoa điện

2.2.1 Cung đệ Nhất

Cung đệ Nhất là điện thờ của Hoàng thái hậu Ngô Thị NgọcGiao Vì ngỡng mộ bà Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao n ênnhiều nơi đã lập đền thờ:

- Lăng ở Lam Kinh

- Chùa Hung Văn ở chùa có điện Dục Thánh, có tợng bà và Lê ThánhTông Nhiều thời kì nhà nớc phong kiến đã ban sắc phong cho điện thờ nh cácnăm: 1679, 1823, 1864

- Chùa Yên Tử, nơi bà đợc Nguyễn Trãi đa hai mẹ con đến lánh nạn

- Đền Trung Tả ở Hà Nội ở đây lễ cúng là 26 – vùng đất phát 2 âm lịch Bà NgọcGiao mất ngày 26 – vùng đất phát 3 năm Bính Thìn, lăng thờ đợc xây dựng đến 26 – vùng đất phát 2năm Đinh Tỵ mới xong Vì vậy mà ở đây làm lễ vào ngày 26 – vùng đất phát 2

- Đền An Lão, ở Quý Sơn, Song An, nay thuộc Vũ Th tỉnh Thái Bình ở

đây có rMộng Thiên cung” [1; 301] Đền này trớc đó do Lê Thái Tông xây dựng đểthờ tổ ngoại của Bà là Đinh Lễ, Đinh Liệt

Các nơi thờ trên chỉ là thờ vọng Còn nơi thờ chính là Thừa Hoa Điện ở ĐồngPhang, là quê hơng cũng nh nơi Bà trút hơi thở cuối cùng

Điện Thừa Hoa do vua Lê Thánh Tông cho xây dựng từ lúc bà Hoàngthái hậu Ngọc Giao đang còn sống Sau khi bà chết đợc rớc vào trong điện thờ

Về sau Điện Thừa Hoa còn phối thờ cả Ngô Từ và Lê Thánh Tông

Ngày xa, khu Thừa Hoa điện nằm trên bờ Bắc sông Cầu Chày, rộngkhoảng 18000 m2 bao gồm khu hội trờng, trụ sở xã Định Hoà, trờng phổthông cơ sở và khu di tích hiện nay Trớc điện là một thửa ruộng sơn lăng rộnghai mẫu, giành cho con cháu canh tác lấy đó làm hơng hỏa cúng tế Từ bếnsông bớc lên một khu chợ đi qua một quãng đờng uốn lợn hình rồng ngangruộng sơn lăng bớc vào Tam quan lên điện Nh vậy có thể hình dung, trớc khu

điện thờ thâm nghiêm là cảnh nhộn nhịp: trên chợ dới thuyền

Điện thờ đợc xây toàn bộ bằng đá trừ phần mái đợc lợp ngói âm – vùng đất phát

d-ơng Đến nay vẫn còn lại một vài cột đá hình vuông và một móng đá rấtrộng Đây cũng là một kiểu kiến trúc đặc sắc của Việt Nam nhữngthế kỉ trớc

Trong điện đặt tợng bán thân trên ngai thờ (gọi là rlong xa” [1; 301].) Ngai thờ

và các đồ cúng tế đợc tạo tác tinh xảo và bài trí rất đẹp Thừa Hoa Điện gắnliền với lễ hội Phủ Nhì Ngày xa, lễ hội đợc coi là Quốc lễ Thời phong kiếnnhiều lần đợc phong sắc Từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn, hầu nh vua nàocũng có sắc phong cho điện thờ Họ Ngô Đồng Phang còn đang giữ đợc 32

Trang 33

đạo sắc phong của các vua Ví dụ nh sắc phong của vua Lê Hiển Tông, niênhiệu Cảnh Hng thứ 37 (1776), còn ghi cả những lần các vua Lê: Thánh Tông,Chiêu Tông, Trung Tông, Thần Tông, Dụ Tông ban sắc phong cho Thừa Hoa

Cung đệ Nhị là chính tẩm thờ Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao, cóphối thờ Ngô Từ và Lê Thánh Tông Điện thờ đợc trùng tu lại vào năm 1995

Đó là một ngôi thờ cao 4m, dài 9m, rộng 5m chia làm ba gian thông, mặt ớng nam Cung gồm hai phần: Hậu cung và Tiền án Tổng diện tích Cung đệNhị là 45m2 Các cột, kèo cũng nh các vì ngang đều có trang trí chạm khắc.Chẳng hạn nh trên các vì ngang của điện thờ: "phần xà nách tiếp giáp với né

h-kê đợc chạm nổi hoa văn hình dây lá và vân mây Giá chiêng chạm trổ dây láthay cho tàu vân lá đề là một ván chữ nhật đẽo vát bốn góc chạm nổi hìnhrồng Nhìn nghiêng từ bên phải hai chân trớc của rồng vơn ra, râu uốn congcụp xuống muốn chứng tỏ uy lực" [8; 35] Giá chiêng và hai hệ thống rờng cộtmột đầu gác lên đầu vuông thót đáy; một đầu cắm rộng vào cột chôn giáchiêng Hệ thống rờng cột đợc chạm nổi hình vân mây, dây lá

Gian giữa của hậu cung đặt tợng thờ Ngô Thị Ngọc Giao trên rxa long” [1; 301].bên trên là bức hoành phi bằng Hán tự đề hai chữ rMẫu Nghi” [1; 301] Gian Bên trái

đặt tợng thờ Ngô Từ, gian bên phải đặt tợng Lê Thánh Tông Cung đệ Nhất có

ba cửa, hai cửa phụ hai bên rộng 1 m cao 2,5m, một cửa chính ở giữa rộng 2mcao 2,5m Hai cửa phụ, mỗi cửa có một cánh đóng, riêng cửa chính có haicánh

Bức hoành phi, tợng bán thân của Hoàng thái hậu và ngai thờ đợc làm

từ thế kỉ thứ XV Nhìn trên đồ án hoa văn hình rồng và hoa cỏ chúng ta thấy

Trang 34

rõ điều đó Còn tợng Lê Thánh Tông, Ngô Từ và các đồ thờ cúng mới đợclàm Các tợng thờ đợc đặt ở hậu tẩm Còn Tiền án là nơi đặt hơng án và các đồ

tế lễ Trong điện đặt một quả chuông đồng lớn và một chiếc trống với đờngkính 80cm ở trên giá

Nhìn từ bên ngoài, mái lợp đợc thiết kế tạo nên nét cong theo lối kiếntrúc truyền thống Trên nóc điện đợc đắp một đôi rồng với t thế: rLỡng longchầu nhật” [1; 301] nh ở Phúc Quang từ đờng và Cung đệ Nhị Đây là kiểu điêu khắcmang phong cách nhà Nguyễn: hình tợng rồng gần nh đợc bỏ hẳn các đao mác

mà chuyển thành đao đuôi nheo Đáng chú ý vảy lng của rồng lớn, lộ rõ vẻvênh váo gai góc, năm móng vuốt toả đều thể hiện quyền lực Chiếc đao mắtphóng ra theo kiểu râu cá trê, cuộn lại nh lò xo

Ngai thờ đợc chạm khắc tinh xảo các hình rồng, phợng và hoa văn cây

cỏ, vân sóng theo phong cách thời Lê Đó là các cụm lá với sống uốn lợn nốitiếp nhau của các cung tròn, hai bên sống lá là các lá nhỏ ken nhau theo mộtquy phạm cứng cỏi từ đó làm nổi bật tợng thờ tạo thế trang nghiêm và uynghi Trên hơng án có ô lọng, biểu hiện quyền uy Tất cả đợc sơn son thiếpvàng

2.2.2 Cung đệ Nhị

Trớc đây Thừa Hoa điện chỉ có duy nhất một nhà thờ, về sau đợc dựngthêm một cung nữa gọi là Cung đệ Nhị Đây là phủ thờ Mẫu của tín ngỡng thờMẫu Sự hỗn dung tín ngỡng này không có gì bất ngờ Đạo Tam phủ, Tứ phủhình thành trên cơ sở tập tục lâu đời của nhân dân ta đến nay vẫn còn duy trì.rĐó là tục thờ nữ thần Vị nữ thần xa xa nhất, ở vị trí cao nhất là Mẹ Âu Cơ.Tín ngỡng thờ Mẫu hình thành muộn nhất thì cũng từ thế kỉ thứ XV, trên cơ sởthờ nữ thần, trớc hết là nhiên thần: Mẫu Thoải, Mẫu Cửu Thiên, Mẫu ThợngNgàn, đó gọi là Tam phủ Sau kết hợp với Mẫu Liễu Hạnh thành Tứ phủ” [1; 301] [10;156], tợng trng cho ba yếu tố phụng thờ: thiên - địa - nhân, cũng là bốn cõi:cõi Trời, cõi Ngàn, cõi Nớc và cõi Nhân gian

Tục thờ Mẫu vốn ăn sâu vào tâm thức dân gian thể hiện một cách sinh

động nhận thức về Đất nớc, con ngời Việt Nam Trong khi đó Hoàng thái hậuNgô Thị Ngoc Giao vốn đợc tôn là rMẫu nghi” [1; 301]., là một ngời mẹ thực với đức

độ của mình đợc tôn thờ, thì sự kết hợp giữa tín ngỡng thờ Mẫu với thờ tổ tiên,danh nhân văn hoá cũng dễ giải thích Trong tâm thức của ngời dân trongvùng, thì Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao cũng là một rThánh Mẫu” [1; 301] vàngự trong rphủ” [1; 301] riêng : Phủ Nhì

rTrớc kia Cung đệ Nhị nằm ở chùa Thiên Phúc Đến sau đợc đem về đặtbên cạnh Thừa Hoa Điện” [1; 301] [6; 357] Việc hỗn dung tín ngỡng này không làm

Trang 35

giảm mà ngợc lại còn làm tăng thêm phần linh thiêng của điện thờ ở đây,Mẫu tối cao trong Cung đệ Nhất là ngời thật, hợp với quan niệm: coi con ngời

là trung tâm của vũ trụ Cung đệ Nhị đợc xây làm năm gian Đằng trớc không

có cửa, đằng sau bố trí hai cửa hậu, một trái một phải, nối với Cung đệ Nhất.Trớc Cung đệ Nhị là một sân chầu hình vuông rộng 225m2

Trang 36

Cách bài trí của Cung đệ Nhất và Cung đệ Nhị theo sơ đồ:

Tiếp xuống là Ngũ vị tiên Ông (tôn Ông) còn gọi là các quan lớn, ứngvới nghĩa triết học là ngũ hành:

- Quan lớn đệ Nhất: Là phái viên của Thánh Mẫu Thợng Thiên

- Quan lớn đệ Nhị: Là phái viên của Thánh Mẫu Thợng Ngàn

- Quan lớn đệ Tam: Là phái viên của Thánh Mẫu Thoải

Sân

Con Nghê

Khâm sai đại thần

Con Nghê

sân

Cung đệ Nhị

Cung đệ Nhất

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cách bài trí trong Phúc Quang từ đờng: - Góp phần tìm hiểu khu di tích phúc quang từ đường và thừa hoa điện ở định hoà   yên định   thanh hoá
Sơ đồ c ách bài trí trong Phúc Quang từ đờng: (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w