Bởi vì, yêu cầu của mở bài trong bài nghị luận văn học là giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích và bước đầu nêu được nhận định thì các em chỉ nêu được một cách chung chung không có dẫn dắt[r]
Trang 11 Phần mở đầu:
1.1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ XXI, sự phát triển của xã hội và yêu cầu của nó đã có sự đổi khác
Đó là sự chuyển biến từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Đứng trước yêu cầu đó, trong giáo dục, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nuớc cũng đã có sự đổi mới Đó chính là mục tiêu dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập Và việc giúp học sinh hình thành, sử dụng thuần thục các kĩ năng trong học tập cũng chính là giúp các em học tập tích cực hơn, chủ động hơn
Đối với cấp THCS, bộ môn ngữ văn có vai trò hết sức quan trọng Bởi nó giúp cho học sinh hình thành và nâng cao năng lực học văn của bản thân ở ba phương diện: năng lực cảm thụ, năng lực tư duy, năng lực diễn đạt Và chính các mặt ấy giúp cho phát triển tư duy, hình thành nhân cách con người, đáp ứng nhu cầu xã hội
Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp học sinh biết cảm thụ được cái hay, cái đẹp một cách tự giác, có ý thức Từ đó, bồi dưỡng khả năng tư duy, kĩ năng thực hành để học tốt môn Ngữ văn cũng như các môn học khác trong cấp học
Do vậy, với vốn kinh nghiệm ít ỏi, tôi xin mạnh dạn đưa ra giải pháp: Rèn kĩ năng viết các phần trong bài văn nghị luận.
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
1.2.1 Kiến thức: Giúp học sinh biết:
- Xác định được yêu cầu của đề bài tập làm văn
- Tìm ý, sắp xếp các ý theo một thứ tự nhất đinh Cách lập dàn bài trước một đề Tập làm văn nói chung và kiểu văn nghị luận nói riêng
- Cơ bản cách viết các phần trong bài tập làm văn Phân biệt được đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ các phần trong bài viết
1.2.2 Kĩ năng:
- Hành văn lưu loát hơn, dùng từ, câu phù hợp với ngữ cảnh
- Nhận diện văn bản nghị luận, các luận điểm, luận cứ, dẫn chứng trong tìm hiểu văn bản
- Tích hợp giáo dục kĩ năng sống: kĩ năng hành văn, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng nhận thức, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng xác định giá trị…
1.2.3 Thái độ:
- Tạo niềm say mê cho các em học văn, yêu thích môn văn hơn, đặc biệt không cảm thấy khó khăn trước một đề văn nghị luận
- Bồi dưỡng những tình cảm nhân văn: lòng yêu đất nước, yêu quê hương, yêu con người, biết trân trọng cái đẹp, ghét thói xấu
- Tích hợp giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: sự hài hòa về con người thi sĩ và cốt cách chiến sĩ của Người Lòng yêu nước, thương dân của Bác là kim chỉ nam cho mọi người công nhất, nhất là các em – người chủ tương lai của đất nước
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Bài viết dùng cho tất cả các học sinh THCS từ lớp 6 đến lớp 9 khi viết bài Tập làm, đặc biệt kiểu bài nghị luận ở lớp 7, 8 và 9
- Dùng cho tất cả các thầy cô giáo dạy văn từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS
Trang 21.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Người viết tiến hành nghiên cứu, khảo sát một số bài viết mẫu như: các bài văn hay
nghị luận lớp 7, 162 bài văn chọn lọc lớp 9, tuyển chọn 153 bài văn haylớp 9, 150 bài văn hay lớp 9 Bồi dường học sinh giỏi ngữ văn lớp 9 Tài liệu về văn nghị luận lớp 7,9 1.5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài theo các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đọc và thống kê các ngữ liệu
- Phương pháp chọn lọc ngữ liệu: từ sách giáo khoa và các tài liệu hướng dẫn
- Phương pháp dẫn dắt minh họa bằng các ví dụ cụ thể
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: từ thực tế giảng dạy trên lớp
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
2 Phần nội dung:
2.1 Cơ sở lý luận
Văn nghị luận là “thể văn dùng lý lẽ phân tích, giải quyết vấn đề” Ở đây người viết trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, quan điểm, thái độ, cách giải quyết của mình về vấn
đề nào đó thuộc các lĩnh vực: chính trị, xã hội, đạo đức, học thuật, văn học nghệ thuật Một bài viết về văn nghị luận đạt yêu cầu hay không, không đòi hỏi ở trí tuệ của người viết mà phụ thuộc vào sự mạch lạc của suy nghĩ, sự chặt chẽ của lập luận và sự diễn đạt, dẫn dắt vấn đề của người viết trong từng phần của bài văn
2.2 Thực trạng:
Thực tế ở trường THCS hiện nay học sinh rất lúng túng với kiểu bài nghị luận Qua nghiên cứu thực tiễn của bản thân cũng như đồng nghiệp, rất nhiều ý kiến cho rằng, học sinh chưa biết đặt vấn đề đúng hoặc đặt vấn đề chưa linh hoạt, chưa sáng tạo Chưa biết phân biệt cách làm giữa ba phần trong bài viết Thậm chí nhiều em còn không phân biệt được ý nào của phần mở bài, ý nào của phân thân bài và kết bài như thế nào? Trước tình hình đó, bản thân tôi đã băn khoăn, suy nghĩ và tìm tòi ra một vài kinh nghiệm nhỏ để hướng dẫn học sinh viết các phần trong bài văn nghị luận
2.2.1 Thuận lợi - khó khăn
a Thuận lợi:
*Đối với Giáo viên:
- Trong quá trình giảng dạy tôi luôn được Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện quan tâm giúp đỡ
- Tổ Ngữ văn có đội ngũ giáo viên trên chuẩn, có năng lực trình độ chuyên môn vững vàng
- Nhà trường có đầy đủ SGK, SGV và sách thiết kế bài giảng thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài
*Đối với học sinh:
- Đa số các em ngoan, có ý thức học tập
- Đa số các em có đầy đủ sách vở học tập
- Một số em yêu thích và ham học môn văn
b Khó khăn:
*Đối với Giáo viên:
Trang 3- Một số giáo viên khi dạy thường ít chú ý đến việc uốn nắn các em viết tốt và phân
biệt ba phần trong bài Tập làm văn
- Giáo viên chưa thật sự chú ý rèn các em thành thạo trong quá trình lập dàn bài nên
có nhiều em lên lớp 9 vẫn chưa hoặc không biết lập một dàn bài trước một đề văn nghị luận
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn khó khăn, do là trường thuộc vùng đặc biệt khó khăn
*Đối với học sinh:
- Đa số các em còn nhầm lẫn giữa các phần với nhau, nhất là phần mở bài và thân bài
- Nhiều học sinh, kể cả học sinh lớp 9 vẫn còn lúng túng khi đứng trước yêu cầu của một đề văn Các em không biết sẽ phải bắt đầu từ đâu Và đặc biệt khó nhất là phần đầu, câu đầu (viết mở bài như thế nào?) Và làm thế nào để dẫn người đọc đến vấn đề, nêu được vấn đề mà đề bài yêu cầu Chính điều này ngay từ ban đầu đã đẩy các em đến sự
bế tắc
- Học sinh còn chủ quan nhiều, đa số đứng trước một đề bài các em thường ít khi lập dàn bài nháp mà cứ thế là viết Dẫn đến bài viết thường thiếu ý, xa đề, các ý sắp xếp theo trình tự chưa hợp lý hoặc thậm chí lạc đề
- Xu thế bây giờ học sinh thường không thích học môn văn, ngại đọc tài liệu
- Học sinh đồng bào Êđê chiếm trên 50% Điều đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng học tập và giảng dạy
2.2.2 Thành công - hạn chế
* Thành công: Khái quát được một số kiến thức về đặc điểm văn nghị luận Đặc biệt hướng dẫn kỹ cho các em phần lập dàn bài một cách dễ nhất Đề tài đã được vận dụng
cụ thể váo các phần trong bài văn nghị luận, đồng thời người viết cũng đưa ra một số giải pháp giúp học sinh hình thành một số kỹ năng trong quá trình viết các phần trong bài văn nghị luận
* Hạn chế: Các tác phẩm văn nghị luận chủ yếu tập trung ở 2 khối lớp 7 và 9 nên quá trình viết bài học sinh rất dễ lẫn lộn với kiểu văn bản khác Đa số các em chưa phân biệt được đặc điểm tiêu biểu của yếu tố nghị luận
2.2.3 Mặt mạnh - mặt yếu
* Mặt mạnh: Giúp thầy và trò có cơ sở tốt hơn khi tiếp cận những tác phẩm văn học nghị luận Những tác phẩm nghị luận được đưa vào cho các em học đều là những tác phẩm hội tụ tất cả phần lý thuyết mà các em được học trong phần Tập làm văn nhất là các luận điểm, luận cứ, luận chứng và vấn đề lập luận của tác giả Đó cũng là yếu tố giúp các em làm tốt hơn trong bài viết văn nghị luận văn học
* Mặt yếu: Kiểu văn nghị luận là kiểu văn khô khan, khó hiểu, không mấy cuốn hút các
em nhất là ở lứa tuổi cấp hai Các em ít đọc trước hoặc có đọc cũng đọc được một đến hai lần hoặc đọc đẻ đối phó nên không nắm được kiến thức một cách sâu sắc Điều đó gây khó khăn trong quá trình các em lĩnh hội kiến thức kiểu văn nghị luận hoặc khó khăn khi lấy dẫn chứng trong quá trình làm bài
2.2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Trong thực tế, rèn kĩ năng cho học sinh nói chung và kĩ năng làm bài văn nghị luận nói riêng là một vấn đề tạo ra nhiều suy nghĩ, trăn trở đối với không ít giáo viên Là một
Trang 4giáo viên trải qua hơn mười năm giảng dạy và đứng lớp tôi cũng không khỏi suy nghĩ, trăn trở Tôi vẫn thường đặt ra câu hỏi Làm thế nào để giúp học sinh hình thành kĩ năng làm bài làm văn nghị luận tốt, mà trong đó đáng chú ý là phần mở bài Vì người ta thường nói: “ Đầu có xuôi thì đuôi mới lọt” Nếu mở bài tốt, trôi chảy thì các phần tiếp theo sẽ dễ dàng cho các em hơn
Ở lớp 7 các em bước đầu làm quen với văn nghị luận nên còn nhiều bỡ ngỡ, Các em không định hướng được chủ thể sáng tạo trong văn nghị luận Từ các kiểu bài sáng tạo chuyển sang kiểu bài lập luận đối với học sinh lớp 7 là rất khó Lên lớp 8 các em được học tiếp nghị luận giải thích Đến lớp 9 các em học nghị luận về một hiện tượng xã hội,
về tư tưởng đạo lý và nghị luận về tác phẩm văn chương Đều là kiểu bài nghị luận nhưng đối tượng mà các em khai thác là khác nhau từ lớp 7 đến lớp 9 Mỗi đối tượng các em hướng đến đòi hỏi các em cung cấp kiến thức không hoàn toàn giống nhau điều
đó khiến các em lúng túng trong quá trình làm bài, nhất là đối với học sinh yếu kém 2.3 Giải pháp, biện pháp:
2.3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
- Nhằm cung cấp cho người giáo viên những tri thức cơ bản về văn nghị luận, những phương pháp, giải pháp sử dụng vào viết các phần trong bài văn nghị luận đồng thời giúp học sinh nắm vững một số đặc điểm tiêu biểu của các cách mở bài cũng như kỹ năng làm tốt các phần trong bài văn nghị luận
- Kỹ năng tìm ý trong phần lập dàn bài Kỹ năng này vô cùng quan trọng, nó liên quan đến toàn bộ quá trình viết bài Nếu tìm ý tốt, đầy đủ các ý, sắp xếp theo một thứ tự nhất định thì các em sẽ không bao giờ bị thiếu ý, xa đề, lạc đề trong bài viết
- Kỹ năng vận dụng đặc điểm của của văn nghị luận vào phân tích các tác phẩm văn nghị luận bậc THCS
- Tạo hứng thú trong dạy và học các tác phẩm văn học nghị luận, đặc biệt quá trình viết bài tập làm văn
2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Từ những thực trạng được nêu trên, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhỏ sau:
a Kỹ năng lập dàn bài
Đây là khâu rất quan trọng mà đa số các em bỏ qua hoặc không biết lập dàn bài, vì đây là bước rất khó đối với những em học lực trung bình trở xuống Thậm chí một số giáo viên cũng chưa thành thạo trong quá trình lập dàn bài Chính vì thế bài làm của các
em thường thiếu ý, lủng củng hoặc xa đề Muốn học sinh có bài làm tốt cần hướng dẫn các em lập dàn bài chính xác Với kinh nghiệm đứng lớp và đã thực hiện trên lớp đối với học sinh mà tôi trực tiếp giảng dạy, tôi đã thấy chất lượng bài văn của các em tiến bộ rõ rệt, nhiều em từ chỗ chán, sợ học tiết Tập làm văn đến thích học và hứng thú khi lập dàn bài cho bất kỳ một đề bài nào
Dựa vào năm bước khi đứng trước một đề Tập làm văn mà phần lý thuyết các em đã được học: Tìm hiểu đề, Tìm ý, Lập dàn bài, Viết bài, Đọc và soát lại bài Tôi lần lượt cho các em tìm hiểu kỹ từng bước, cụ thể như sau:
a.1 Tìm hiểu đề: Đây là khâu rất quan trọng, vì nếu xác định đề sai thì nội dung cả bài viết sẽ lạc đề, cho dù bài viết có hay đến mấy cũng không dành được điểm
Ví dụ: Đề bài: Nhân dân ta thường nói: “ Có chí thì nên” Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó
Trang 5Với đề này học sinh dễ dàng xác định được yêu cầu của đề cần làm sáng tỏ là gì Nhưng nếu đề chỉ hỏi: Nhân dân ta thường nói: “ Có chí thì nên” Em hãy chứng minh câu tực ngữ đó Đây là đề chìm yêu cầu học sinh phải xác định được vấn đề nghị luận cần làm sáng tỏ trong đề bài là gì Giáo viên phải hướng dẫn các em xác định vấn đề nghị luận dựa vào câu tục ngữ Với câu tục ngữ này có hình thức là dạng câu khẳng định, như vây vấn đề nghị luận cần làm sáng tỏ phải theo hướng tích cực, tức là chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ Ngược lại nếu câu tục ngữ có hình thức dạng câu phủ định có từ không, chưa, chẳng… Ví dụ: “không thầy đố mày làm nên”…thì chúng
ta sẽ chứng minh vấn đề nghị luận theo hướng khác có thể nói là tiêu cực Tức là chứng minh vấn đề không có thầy làm việc gì cũng khó, cũng sai lệch, cũng mang lại kết quả không khả quan thậm chí là xấu… Với cách này phần nào giúp các em xác định được vấn đề nghị luận một cách dễ dàng hơn
a.2 Tìm ý: Đây là khâu cũng không kém phần quan trọng Nếu các em tìm ý chưa chính xác hoặc không đầy đủ dẫn đến bài viết sẽ xa, lạc và thiếu ý Vậy làm cách nào để các em tìm ý một cách dễ dàng, đầy đủ và chính xác Tôi lần lượt hướng dẫn các em như sau:
Khi đọc xong đề bài và đã xác định được yêu cầu của đề rồi, lúc này trong đầu các em
sẽ xuất hiện một số ý, (có thể ý cơ bản hoặc các ý nhỏ) lập tức ghi nhanh các ý ấy ra, kể
cả khi đó chưa phải là ý mở đầu, vì đôi khi trong đầu đã có ý nhưng chưa phải ý để mở bài nên đôi khi các em chủ quan cố suy nghĩ cho ra ý đầu, đến khi ý đầu xuất hiện thì vô tình sẽ quên mất ý kia Chính vì thế tôi hướng dẫn các em cứ xuất hiện trong đầu ý nào ghi ngay ý đó ra nháp sau đó tiến hành sắp xếp các ý ấy theo một thứ tự trước sau Làm như vậy các em sẽ không bị quên ý hoặc mất thời gian để tìm lại ý đã quên
Ví dụ 1: Đề bài: Nhân dân ta thường nói: “ Có chí thì nên” Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó
* Các em sẽ tiến hành tìm ý như sau:
(a) Chí là điều rất cần thiết để con người vượt qua mọi trở ngại
(b) Những người có chí đều thành công
(c) Không có chí thì không làm được gì
(d) Vai trò quan trọng của lý tưởng
(e) Ý chí và nghị lực trong cuộc sống mà câu tục ngữ đã đúc kết là một chân lý
(g) Chí giúp người ta vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua được (h) Mọi người nên tu dưỡng ý chí bắt đầu bằng những việc làm nhỏ đến việc lớn
* Sắp xếp ý theo thứ tự trước sau:
(1d): Vai trò quan trọng của lý tưởng
(2e): Ý chí và nghị lực trong cuộc sống mà câu tục ngữ đã đúc kết là một chân lý
(3a): Chí là điều rất cần thiết để con người vượt qua mọi trở ngại
(4c): Không có chí thì không làm được gì
(5b): Những người có chí đều thành công
(6g): Chí giúp người ta vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua được (7h): Mọi người nên tu dưỡng ý chí bắt đầu bằng những việc làm nhỏ đến việc lớn
Ví dụ 2: Đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân
* Các ý tìm được:
(a) Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai
Trang 6(b) Theo dõi tin tức kháng chiến
(c) Đi tản cư nhớ làng
(d) Niềm vui khi tin đồn được cải chính
(e) Tâm trạng khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo Tây
(g) Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, hình thức đối thoại, độc thoại…
(h) Thành công của nhà ăn khi xây dựng nhân vật ông Hai
* Các ý được sắp xếp theo trật tự trước sau:
(1a): Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai
(2c): Đi tản cư nhớ làng
(3b): Theo dõi tin tức kháng chiến
(4e): Tâm trạng khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo Tây
(5d): Niềm vui khi tin đồn được cải chính
(6g): Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, hình thức đối thoại, độc thoại…
(7h): Thành công của nhà ăn khi xây dựng nhân vật ông Hai
a.3 Lập dàn bài: Sau khi hoàn tất phần tìm ý các em sẽ dễ dàng lập dàn bài hoặc thậm chí bỏ qua bước lập dàn bài cũng không sợ bài văn thiếu ý Vì chắc chắn một hoặc hai ý đầu sẽ là phần mở bài, một hoặc hai ý cuối sẽ là phần kết bài, còn lại các ý giữa thuộc phần thân bài Đây là một trong những cách giúp các em hứng thú và dễ dàng trong phần lập dàn bài
Ví dụ 1: Với các ý đã tìm ở trên các em sẽ dễ dàng lập dàn ý như sau:
Mở bài: ý 1,2
Thân bài: ý 3,4,5,6
Kết bài: ý 7
Ví dụ 2:
MB: ý1
TB: ý 2,3,4,5,6
KB: ý 7
a.4 Viết bài: Khi đã có một dàn bài đầy đủ các ý cơ bản các em sẽ viết bài văn hoàn chỉnh theo các ý đã sắp xếp Với cách làm tuân thủ théo các bước như vậy chắc chắn bài viết của các em ít nhất sẽ không bao giờ sa vào lạc đề hoặc thiếu ý
a.5 Soát lại bài: Khi các em biết cách tìm ý và lập dàn bài sẽ giúp các em có nhiều thời gian cho bước viết bài và như thế các em cũng sẽ có thời gian đọc soát lại bài viết
để kịp thời điều chỉnh những sai sót về chính tả Vì đa số các em thường bỏ qua bước này do không đủ thời gian nhất là những em khá giỏi
Với cách làm này sau một số bài kiểm tra thường xuyên cho các em thực hành lập dàn bài tôi nhận thấy các em cơ bản lập dàn bài có hiệu quả, cụ thể như sau:
Đề bài: Tục ngữ có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” Suy nghĩ của em về câu tục ngữ đó
Yêu cầu: Hãy lập dàn bài cho đề bài trên
Kết quả thu được:
Khi chưa áp dụng Năm học 2011 - 2012 Sau khi áp dụng Năm học 2012 – 2013,
2013 - 2014 Tổng
số
Dàn bài chưa
đạt
Dàn bài đạt
Tổng
Dàn bài chưa đạt
Dàn bài đạt
Trang 7b Kỹ năng viết bài
b.1 Rèn kỹ năng viết phần mở bài:
b.1.1 Khái quát giải pháp
Việc viết phần mở bài cho một bài Tập làm văn đối với học sinh không có gì là xa lạ nhưng đứng trước yêu cầu của một đề bài, đặc biệt là đề bài nghị luận văn học, học sinh nào cũng có thể viết ngay được thì thật là khó và nan giải Và không chỉ viết đúng không thôi mà còn viết hay nữa thì cần phải có một kĩ năng thành thục, vững chắc
Và khi đã có một mở bài tốt thì sẽ tạo nên một tâm thế tốt để làm tiếp các phần khác của bài Tập làm văn đặc biệt là phần thân bài Tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi ông cha
ta có câu:” Đầu có xuôi thì đuôi mới lọt”
Nếu chúng ta đặt phần mở bài vào vị trí của tổng thể bài Tập làm văn thì sẽ thấy:
Phần mở bài là một bộ phận không thể thiếu trong tổng thể bài văn Cùng với thân bài, kết bài nó sẽ tạo thành một thể thống nhất
Mặt khác, phần mở bài lại có tính hoàn chỉnh và độc lập tương đối cho phép nó tồn tại như một đoạn văn riêng, như hệ thống nhỏ nằm trong hệ thống lớn là bài văn
Có người còn cho rằng: “Mở bài thành công coi như giải quyết được một nửa bài làm” Tất nhiên, nói như vậy có phần phiến diện nhưng dù sao thì ý đó cũng nhằm khẳng định tầm quan trọng của mở bài trong toàn bài văn Hay khi nói đến cái khó trong việc viết một mở bài tốt, M Gorki đã từng nói: “ Khó hơn cả là phần đầu Cụ thể là câu đầu Cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của cả tác phẩm và người ta thường tìm nó rất lâu”
Trên thực tế, cho đến bây giờ, nhiều học sinh, kể cả học sinh lớp 9 vẫn còn lúng túng khi đứng trước yêu cầu của một đề văn Các em không biết sẽ phải bắt đầu từ đâu Như trên đã dẫn, khó nhất là phần đầu, câu đầu (viết mở bài như thế nào?) Và làm thế nào để dẫn người đọc đến vấn đề, nêu được vấn đề mà đề bài yêu cầu Chính điều này ngay từ ban đầu đã đẩy các em đến sự bế tắc Từ bế tắc đó, có thể dẫn đến các hệ quả sau:
Thứ nhất, một số em đã cho ra lò những sản phẩm bị “lỗi”, nếu không muốn nói là
dở, là tệ Qua quá trình chấm, trả bài, có những lúc đọc được một mở bài hay tôi lại cười thầm, tâm đắc, nhưng cũng có khi gặp phải những mở bài mà khi đọc xong, tôi lại rơi vào cảm giác lặng đi vì buồn Bởi vì, yêu cầu của mở bài trong bài nghị luận văn học là giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích và bước đầu nêu được nhận định thì các em chỉ nêu được một cách chung chung không có dẫn dắt, giới thiệu mà đưa ngay người đọc đến với vấn đề cần giải quyết một cách bất ngờ, cộc lốc Hoặc có dẫn dắt thì lại “Ông chẳng
bà chuộc”, các ý thiếu liên kết với nhau, lan man, khó hiểu, làm cho người đọc không hình dung được vấn đề cần giải quyết ở phần thân bài là vấn đề gì (là một tác phẩm, hay đoạn trích, một nhân vật, một câu tục ngữ, hay một vấn đề tư tưởng…) Hay có những
mở bài, không có dẫn dắt, mà đi ngay vào việc giải quyết vấn đề; hay có những mở bài lại sa vào việc phát biểu cảm nghĩ thay cho nghị luận
Thứ hai là, khi rơi vào tình trạng bế tắc các em không nhanh tự thoát ra được mà rơi vào vòng luẩn quẩn, đến khi thoát ra được thì đã tiêu tốn rất nhiều thời gian Từ đó, tạo
Trang 8nên một áp lực trong suốt quá trình làm bài tiếp theo, ảnh hưởng đến các phần còn lại, khiến cho bài viết hoặc là sơ sài, hoặc là bỏ dở khi hết giờ
Tiến bộ hơn, có nhiều em viết được mở bài, có dẫn dắt vấn đề, nêu vấn đề, giới hạn vấn đề cần nghị luận nhưng lại thiếu sự trau truốt ngôn từ, chỉ giới thiệu về tiểu sử tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, hay vị trí đoạn trích một cách khô khan, máy móc giống như ta đang đọc một bài toán có đáp số đúng Trong khi đó, yêu cầu của một bài Tập làm văn thì ngược lại, nó cần có sự trau truốt, gọt rũa ngôn từ Đồng thời, các em học sinh còn chưa biết vận dụng tổng hợp sự hiểu biết của mình về các tác phẩm, đoạn trích cùng đề tài, chủ đề; hay từ vị trí đoạn trích trong tổng thể tác phẩm; hay có thể là một sự
so sánh đối chiếu, quan hệ tương liên nào đó để dẫn dắt người đọc đến với vấn đề Để làm sao người đọc vừa thấy đúng mà càng thấy hay Bởi nghị luận một tác phẩm văn học ngoài việc nói về những cái hay, cái đẹp mà nhà văn thể hiện thì người đọc, người viết cũng là đồng sáng tạo, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về tác phẩm; về cuộc đời và con người Do vậy, ngay từ đầu, ở phần mở bài, việc thể hiện điều đó là rất cần thiết Có như vậy, nó mới tạo được sự hứng thú của người đọc và cảm tình đối với cả bài văn
Qua thực tế khảo sát chất lượng đầu năm tôi thấy có tới 80% học sinh không biết viết phần đặt vấn đề, lỗi mà các em mắc phải là:
- Ghi lại đề bài mà giáo viên đã cho
- Có em chép lại toàn bộ tiểu sử của tác giả
- Một số em dẫn dắt lung tung mà không đúng với yêu cầu đề bài
- Có em thì ghi luôn yêu cầu đề bài vào phần mở bài
Tóm lại, từ những yêu cầu và thực tế bài làm của học sinh cho ta thấy rằng việc hình thành cho học sinh một kĩ năng viết phần mở bài là rất cần thiết
b.1.2 Giải pháp cụ thể:
b1.2.1.Giúp học sinh hình thành kĩ năng trên cơ sở lý thuyết:
Muốn học sinh viết mở bài tốt, hay đơn giản hơn là có thể trước một đề bài nào, cũng
có thể nhanh chóng cho ra những mở bài không chỉ đúng mà còn hay thì trước hết phải giúp các em thấy được các yêu cầu và cấu tạo cơ bản của một mở bài nghị luận như thế nào?
Về cấu tạo, cần đầy đủ những phần sau:
Dẫn vào đề: nêu xuất xứ của đề, lí do mà có bài viết đó, hay từ một sự tâm đắc yêu mến đối với nhà văn hay tác phẩm… Phần này được coi như nhạc đệm trước khi lời của bài hát được cất lên và có những mở bài không có phần này, nếu người viết đi vào vấn
đề một cách trực tiếp
Nêu vấn đề: đây là bộ phận quan trong nhất của mở bài Nó có nhiệm vụ tạo nên tình huống có vấn đề mà học sinh cần phải giải quyết trong phần thân bài Cần có sự nêu vấn đề một cách dí dỏm tạo hứngthú đối với người đọc
Giới hạn vấn đề: xác định phương hướng, phương pháp, phạm vi, mức độ, giới hạn của vấn đề(một nhân vật điển hình, một tính cáh điển hình hay một nét đặc sắc nghệ thuật, một kết cấu tình huống hấp dẫn …)
Sau khi học sinh nắm được cấu tạo của một đề nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng thì chúng ta cần giúp học sinh nắm được các yêu cầu cơ bản như:
Về nội dung: Cần giúp các em xác định được đúng yêu cầu của mỗi một đề bài để
từ đó có những mở bài thích hợp, tương ứng với nội dung sẽ trình bày ở thân bài Cũng
Trang 9có khi, cùng một tác phẩm, một đoạn trích nhưng có thể là yêu cầu phân tích, có thể là yêu cầu chứng minh cho một nhận định
Ví dụ: Phân tích diễn biến tâm lý của nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao
Số phận của người nông dân trong xã hội cũ được thể hiện như thế nào qua tác phẩm “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao?
Hoặc vấn đề đặt ra ở phần mở bài phải mang tính khái quát, nhưng đồng thời phải hướng người đọc đến với một vấn đề cụ thể (vấn đề đó sẽ được giải quyết ở phần thân bài), tránh sự mơ hồ, lạc hướng
Về hình thức: Cần mở bài ngắn gọn, nêu bật được vấn đề cần giải quyết Cần có sự gọt rũa từ ngữ thu hút sự chú ý đối với người đọc tránh bay bướm, cầu kì, lan man, dài dòng, mà không nêu được vấn đề cần giải quyết
Các câu văn trong mở bài cần tránh những câu dài Thường là kiểu câu trần thuật, hoặc phủ định, khẳng định, nghi vấn để ngay từ ban đầu đưa người đọc đến với sự lập luận
Một điều cần chú ý đối với học sinh trong quá trình xây dựng mở bài là: đối với những đề bài là nhận định, đánh giá thì cần phải dẫn ra được nhận định, đánh giá đó, để trong ngoặc kép Hoặc là một đoạn thơ, một trích dẫn ngắn trong tác phẩm thì cần trích đoạn thơ, trích dẫn đó ngay cuối mở bài, đặt trong ngoặc kép
Để học sinh nắm vững và thực hiện tốt thao tác này, thì trong quá trình thực hiện các bước làm một bài tập bài tập làm văn, giáo viên cần hướng dẫn, yêu cầu học sinh tìm hiểu đề cho thật kĩ Bởi, có xác định đúng yêu cầu của đề thì viết mới đúng
b.1.2.2.Giúp học sinh hình thành kĩ năng thông qua một số cách thức mở bài cụ thể:
Mở bài có rất nhiều cách, tuy nhiên có thể quy vào hai cách cơ bản như mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp
Mở bài trực tiếp là giới thiệu ngay vấn đề cần trình bày, không kéo dài, không xa xôi, bóng bẩy Đó là cách mở bài mà người xưa thường gọi là: “mở cửa sổ thấy núi” Cách mở bài này giúp tiết kiệm thời gian, nhanh, gọn, cụ thể, dễ tiếp nhận … Tuy nhiên, nếu không khéo dễ gây cảm giác khô khan, nhàm chán, thiếu sự hấp dẫn
Ví dụ 1: Đề bài: Phân tích hình tượng chị Dậu trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” của Ngô Tất Tố
Mở bài: Đọc đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” của nhà văn Ngô Tất Tố, chúng ta không thể không xúc động trước vẻ đẹp của hình tượng chị Dậu, nhân vật chính của truyện
Ví dụ 2: Đề bài: Tục ngữ có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” Suy nghĩ của em
về câu tục ngữ đó
Mở bài:
Cách 1: Tục ngữ có câu: “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” Câu tục ngữ khuyên ta nên chọn bạn mà chơi
Cách 2: Từ xưa ông cha ta đã đúc rút ra câu tục ngữ: “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
để khuyên chúng ta không nên chơi với bạn xấu mà phải chọn bạn mà chơi
Tất cả các mở bài trên đều vào đề trực tiếp, tuy có nêu được vấn đề cần nghị luận nhưng chưa khơi gợi cho người đọc sự hứng thú mà tạo cảm giác nhàm chán, nhạt nhẽo chưa
có chất văn
Trang 10Mở bài gián tiếp là cách mở bài không đi thẳng vào vấn đề mà trình bày vấn đề trong tương quan rộng hơn, có thể vận dụng cách nói hình tượng, khêu gợi hứng thú theo dõi của người đọc từ một sự so sánh, liên tưởng tới những sự việc và hiện tượng độc đáo, mới mẻ thông qua một loạt sự dẫn dắt: chủ đề sáng tác, sự nghiệp sáng tác, hoàn cảnh sáng tác, … sau đó mới dẫn dắt vào vấn đề nghị luận Với cách mở bài này, thường dài, mất thời gian, yêu cầu người viết phải có sự hiểu biết sâu sắc, nếu không dễ gây sa đà, lan nan, thiếu tập trung Nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Mở bài gián tiếp thường có các kiểu sau:
b.1.2.2.1 Giới thiệu tác giả, sự nghiệp rồi đưa vào tác phẩm cần nghị luận:
Ví dụ : Đề bài: Cảm nhận về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
Mở bài: Thanh Hải là một nhà thơ giải phóng, được nhiều người yêu thích với các bài thơ “Mồ hoa anh nở”, “Những chiến sĩ trung kiên” Sau ngày đất nước thống nhất, nhà thơ viết ít đi Năm 1980, trên giường bệnh, ông đã viết mấy bài thơ trong đó có bài
“Mùa xuân nho nhỏ” Lời thơ giản dị, chân thành, gợi lên nhiều cảm xúc phong phú b.1.2.2.2 Từ hoàn cảnh sáng tác:
Ví dụ : Đề bài: Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Mở bài: Vào giai đoạn nửa cuối thế kỉ thứ XVIII nửa đầu thế kỉ thứ XIX, xã hội phong kiến nước ta suy tàn, mục nát Đây là một thời kì đầy áp bức bất công, làm cho mọi tầng lớp nhân dân vô cùng khốn khổ, đặc biệt là người phụ nữ Xót xa trước số phận đen tối của họ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã sáng tác bài thơ “Bánh trôi nước”, một bài thơ trữ tình dễ gây xúc động lòng người:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”
b.1.2.2.3 Từ đề tài, chủ đề của tác phẩm:
Ví dụ 1: Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
Mở bài: Mùa xuân là mùa khởi đầu cho một năm, tượng trưng cho thời khoảng đẹp
đẽ nhất, tràn trề sức sống của thiên nhiên: cây cỏ non tơ, nảy mầm, đâm lộc, ra hoa… Cũng vì đó mà xưa nay mùa xuân vẫn là đề tài quen thuộc, gợi nguồn cảm hứng cho biết bao văn nhân, thi sĩ Với nhà thơ Thanh Hải, trong khi nằm trên giường bệnh, sắp sửa trở về với cát bụi, hình ảnh mùa xuân còn làm ông xao xuyến Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” với lối thơ dịu ngọt, chân thành và sâu lắng, nói lên tâm trạng của nhà thơ trong hoàn cảnh ấy
Ví dụ 2: Cảm nhận của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Mở bài: Nếu mùa xuân là mừa hội tụ của những bàn tay nghệ sĩ tài hoa thì mùa thu bước vào thơ ca cũng tự nhiên và gần gũi Trước đây, Nguyễn Khuyến nổi tiếng với ba bài thơ: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh Sau này Xuân Diệu có bài Đây mùa thu tới nhỏ nhẹ mà khiêm nhường Hữu Thỉnh cũng góp vào cho mùa thu đất nước một góc quê hướng qua bài Sang thu
Hay với cách mở bài khác: Nếu như với chùm thơ thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh, Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam Thì Hữu Thỉnh, bằng cảm nhận tinh tế về những biến chuyển không gian từ hạ sang thu, ông góp phần vào nền thơ ca một nét nhẹ nhàng của cảnh vật Sang thu ở nông thôn Việt Nam