Phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn Quảng Ninh là đề tài nghiên cứu chuyên sâu về sản phẩm du lịch biển Đảo, một thế mạnh của tỉnh Quảng Ninh, đề tài là một kho tài liệu quý báu cho những bạn sinh viên hoặc cao học viên muốn nghiên cứu chuyên sâu về du lịch biển đảo
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21 là thế kỷ của kinh tế biển Các quốc gia có biển trên thế giới
đã và đang xúc tiến xây dựng chiến lược cũng như các kế hoạch hành độngkhai thác biển, khai thác vùng ven bờ và hải đảo một cách mạnh mẽ Một sốquốc gia trong khu vực như Thái Lan, Xingapo, Malaixia, Philipin nhiều nămqua đã tích cực đẩy mạnh khai thác biển và ưu tiên trong đầu tư, đã có những
kế hoạch cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển vàhải đảo Thực tế cho thấy các quốc gia này đã đạt được khá nhiều nhữngthành tựu trong lĩnh vực khai thác tài nguyên biển đảo phục vụ cho mục đíchphát triển kinh tế xã hội nói chung và du lịch nói riêng
Trên phạm vi toàn thế giới, du lịch biển và hải đảo có vị trí đặc biệtquan trọng trong hoạt động phát triển du lịch và các ngành kinh tế biển Theothống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới, hàng năm số lượng khách du lịchquốc tế tham gia vào các hoạt động du lịch biển chiếm khoảng 80% tổng sốkhách Các nước có du lịch biển phát triển như Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha,Italia là những nước đứng đầu về lượng khách quốc tế Mặt khác, do sựphân bố về mặt địa lý kinh tế, phần lớn trung tâm công nghiệp, đô thị lớn ởcác nước đều tập trung ở vùng ven biển Chính vì vậy, ngoài lượng kháchquốc tế, một lượng khách nội địa còn lớn hơn rất nhiều hàng năm được cuốnhút vào hoạt động du lịch biển Nhiều quốc gia như Maldies, Fiji, bang Hawai(Hoa Kỳ), Queenland (úc) từ lâu coi du lịch biển là ngành kinh tế chính
Việt Nam có lợi thế lớn về tài nguyên cho phát triển du lịch biển đảo vớiđường bờ biển dài 3260 km, 125 bãi tắm, gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ, cùng ưuthế của vùng biển nhiệt đới quanh năm nắng ấm, cát trắng, nước trong, đa dạngsinh học cao, cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ, nền văn hoá lịch sử lâu đời giàubản sắc Dọc chiều dài bờ biển, mỗi đơn vị lãnh thổ vừa có thế mạnh đặc thù
về tài nguyên vừa có khả năng liên kết tạo ra những sản phẩm du lịch biển hấpdẫn, khả năng cạnh tranh cao
Trang 2Quảng Ninh, vùng đất địa đầu tổ quốc đã từ lâu được rất nhiều dukhách trong và ngoài nước biết đến với các địa danh nổi tiếng như vịnh HạLong, vịnh Bái Tử Long, bãi tắm Trà Cổ, khu di tích lịch sử văn hóa Yên Tử,chùa Quỳnh Lâm, đền Của Ông Nhiều du khách mong muốn trong cuộc đờimột lần được đến với Quảng Ninh để thưởng thức thắng cảnh thiên nhiên vànhững di sản lịch sử văn hóa mà bao thế hệ con người nơi đây tạo dựng nên.
Du lịch biển đảo từ lâu đã là thế mạnh của du lịch Quảng Ninh Vớinhững lợi thế về tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên,trong những năm qua ngành du lịch Quảng Ninh đã có sự phát triển nhanhchóng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch không ngừng được hoàn thiện, các ditích lịch sử và các thắng cảnh tự nhiên cũng được trùng tu, tôn tạo để khaithác phục vụ du lịch Năm 2007 Quảng Ninh đã đón tiếp và phục vụ hơn 800ngàn lượt khách quốc tế và hơn 2 triệu lượt khách nội địa Tổng doanh thu đạt1,650,000 triệu đồng góp phần vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm
và xóa đói giảm nghèo
Tuy nhiên sự phát triển du lịch Quảng Ninh trong thời gian qua chưatương xứng với tiềm năng và những lợi thế, còn mang tính chất riêng lẻ chưatạo được sự gắn kết hữu cơ giữa các khu vực có tiềm năng phát triển du lịchvới nhau Du khách đến với Quảng Ninh hầu như chỉ đến với Hạ Long, trongkhi đó một số khu vực khác với tiềm năng du lịch hết sức phong phú vớirừng, biển, bãi tắm, hải đảo thì lại vẫn chưa được quan tâm đúng mực
Nằm cách Hạ Long chưa đầy 40km Vân Đồn cũng được biết đến nhưmột trong những điểm du lịch biển hấp dẫn của Quảng Ninh, trong quy hoạchtổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh 2000 – 2010 Vân Đồn được xác định
là một trong bốn không gian phát triển du lịch trọng điểm1 Với tài nguyên dulịch phong phú, lịch sử phát triển lâu đời Vân Đồn hội đủ điều kiện để pháttriển thành một trung tâm du lịch biển đảo với những sản phẩm du lịch hấp
1 Các không gian phát triển du lịch trọng điểm còn lại là:
- Khu du lịch Hạ Long
- Khu du lịch Móng Cái – Trà Cổ
- Khu du lịch Uông Bí - Đông Triều – Yên Hưng
Trang 3dẫn đặc thù Tuy nhiên trong nhiều năm qua số lượng du khách đến với VânĐồn chưa nhiều, doanh thu cũng không thực sự đáng kể Với mong muốn gópphần vào việc phát triển hơn nữa hoạt động du lịch ở Quảng Ninh nói chung
và Vân Đồn nói riêng tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch biển đảo
ở Vân Đồn, Quảng Ninh” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Du lịch học
của mình
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tài nguyên du lịch và thực trạng hoạtđộng du lịch biển đảo ở Vân Đồn
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi biển đảo(bao gồm khu vực ven biển và các đảo Cái Bầu, Ngọc Vừng, Quan Lạn, BaMùn) thuộc huyện đảo Vân Đồn
- Về thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong hai năm 2007 – 2008.Ngoài ra các số liệu được sử dụng trong luận được lấy từ các báo cáo củaUBND huyện Vân Đồn, Sở du lịch Quảng Ninh và các cơ quan liên quankhác từ năm 2004
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá một cách tương đối đầy đủ tiềm năng du lịch của VânĐồn
- Chỉ ra được thực trạng hoạt động du lịch biển đỏa ở Vân Đồn
- Đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm khai thác có hiệu quả tàinguyên du lịch cho phát triển du lịch khu vực này
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên nhiệm vụ quan trong của đề tài làtập chung nghiên cứu và làm rõ các vấn đề sau
- Lý luận về biển, đảo, du lịch biển đảo Đây là những vấn đề lý luậnlàm căn cứ cho việc nhận diện tài nguyên du lịch biển đảo ở Vân Đồn
Trang 4- Liệt kê đầy đủ các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn khu vựcVân Đồn.
- Thực trạng hoạt động du lịch biển đảo ở Vân Đồn
- Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là cách thức cụ thể hay công cụ được sử dụng
để nghiên cứu một vấn đề nào đó, nhằm mục đích đi đến kết quả một cáchchính xác Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình tác giả đã sử dụngcác phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu
Để có được cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tiếnhành thu thập dữ liệu từ các công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạpchí, được in thành sách, trên internet liên quan đến nhiều lĩnh vực mà trựctiếp là du lịch, hải dương học, khí tượng, thuỷ văn Do thông tin giữa cácnguồn tài liệu tác giả thu thập được có sự không nhất quán về thời điểmnghiên cứu và góc độ đánh giá vì vậy tác giả đã phân loại chúng theo độ tincậy, theo tính thời sự rồi tiến hành hệ thống, tổng hợp, phân tích dữ liệu, đưa
ra những kết luận có căn cứ
- Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp thực địa là một trong những phương pháp quan trọng gópphần làm cho kết quả nghiên cứu mang tính xác thực Việc điền dã được thựchiện nhằm nghiên cứu, điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xãhội của khu vực nhằm bổ xung, chỉnh sửa, cập nhật số liệu, thông tin đã thuthập Trực tiếp khảo sát tại một số bãi biển và các đảo thuộc khu vực Vân Đồngiúp tác giả có điều kiện theo dõi hoạt động du lịch của Vân Đồn và thẩmnhận giá trị của tài nguyên, bổ sung thêm thông tin, làm căn cứ cho việc đềxuất những giải pháp hợp lý và khả thi
Trang 5Khảo sát thực địa trên địa bàn nghiên cứu của đề tài được tiến hành làmhai đợt theo lộ trình bao quát phạm vi nghiên cứu của đề tài Đợt 1 tiến hành
từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 năm 2007, đợt hai được tiến hành vào tháng 9năm 2008
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tác giả đã tham khảo ý kiến của một số chuyên gia là các nhà khoa học,một số người có chức trách ở địa phương Những nhận định của các chuyên gia
đã giúp tác giả có định hướng xác thực hơn cho nghiên cứu của mình.
- Phương phát quan sát tham dự và phỏng vấn sâu
Đây cũng là nhóm phương pháp có ý nghĩa quan trọng đối với đề tàinghiên cứu này, phương pháp này giúp cho tác giả nhận thức vấn đề nghiêncứu sâu sắc hơn, đưa ra được những nhận xét đánh giá xác thực hơn về đề tàinghiên cứu
Trong các đợt nghiên cứu điền dã tác giả đã sử dụng các phương phápnày bằng cách quan sát trực tiếp cuộc sống của người dân địa phương, hoạtđộng của du khách và cách thức phục vụ của nhân viên nhà hàng, khách sạnđối với khách du lịch Tác giả cũng trực tiếp phỏng vấn sâu đối với du khách
cả trong nước và quốc tế, ngoài ra tác giả cũng có nhiều cuộc tiếp xúc tròchuyện với một số cá nhân là lãnh đạo địa phương, người dân địa phương,nhân viên trong các nhà hàng, khách sạn Qua đây giúp tác giả hiểu rõ hơn
về những tâm tư tình cảm, mong muốn của khách du lịch, cơ quan quản lý vàcộng đồng dân cư địa phương đối với việc phát triển hơn nữa hoạt động hoạtđộng du lịch ở đây
5 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá các tài liệu của các tác giả đi trước
- Luận văn là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống vàđầy đủ về hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Vân Đồn
Trang 6- Đánh giá được thực trạng khai thác tài nguyên du lịch biển đảo cho pháttriển du lịch, chỉ ra được những tồn tại, hạn chế trong hoạt động du lịch ở đây.
- Luận văn cũng đưa ra những giải pháp thiết thực cho phát triển du lịchbiển đảo ở Vân Đồn
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mụcbảng biểu, hình, danh mục tài liệu tham khảo, trích dẫn và phụ lục, phần nộidung nghiên cứu của luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1 Một số vấn đề về du lịch biển đảo
Chương 2 Thực trạng hoạt động du lịch biển đảo ở Vân Đồn,
Quảng Ninh Chương 3 Giải pháp phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn,
Quảng Ninh
Trang 7Về thực chất biển là một không gian rộng lớn, là một phần của đạidương, tuy nhiên trong luận văn sử dụng khái niệm biển với cách hiểu là vùng
bờ biển (coastal zone) Có nhiều cách xác định vùng bờ biển dựa trên cácquan điểm địa động lực, địa sinh thái, quản lý phát triển Theo quan điểmphát triển du lịch thì “Vùng bờ biển” là khoảng không gian hẹp trong phạm vitương tác biển – lục địa mà tại đó có các tài nguyên du lịch thu hút du khách
Đó thường là các khu vực vùng bờ có bãi cát, các vách biển và dải đất hẹpven biển dùng để phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch, rừng ngậpmặn, ám tiêu san hô, vùng vịnh, đầm, phá, cồn cát …
Khu vực biển ven bờ được khai thác bao gồm bãi tắm vùng bờ và phongcảnh vùng ven bờ Vùng ven bờ thường được hiểu như là nơi tương tác giữađất và biển, bao gồm các môi trường ven bờ cũng như vùng nước kế cận.TheoIUCN (1986), vùng ven bờ được định nghĩa: "là vùng ở đó đất và biển tươngtác với nhau, trong đó ranh giới về đất liền được xác định bởi giới hạn các ảnh
Trang 8hưởng của biển đến đất và ranh giới về biển được xác định bởi giới hạn cácảnh hưởng của đất và nước ngọt đến biển."
Thuật ngữ biển được sử dụng trong luận văn được hiểu là vùng bờ biển
bao gồm khu vực biển ven bờ và phần thềm lục địa nông ven quanh các đảo
mà ở đó có thể tổ chức được các hoạt động du lịch như tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng…
1.1.2 Đảo
Về khái niệm đảo cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Theo từ điểntiếng Việt “Đảo là khoảng đất đá lớn nổi lên giữa sông, biển” [26] Có quanđiểm cho rằng “Đảo là kết quả của quá trình hoạt động địa chất lâu dài của vỏtrái đất trong mối tương tác giữa biển và lục địa”[9,Tr.35] Theo tác giảNguyễn Văn Phòng trong cuốn bách khoa về biển “Đảo là phần đất hoàn toàn
bị bao bọc xung quanh bởi nước, thường xuyên nhô cao lên, không bị ngậpkhi mực nước triều lên cao nhất” Về nguồn gốc hình thành đảo có thể là mộtphần của lục địa do quá trình tách dần và lún xuống của lục địa gây ra hoặc dohoạt động của núi lửa dưới đáy biển tạo nên
Thuộc vùng biển Việt Nam có trên 4000 hòn đảo Về phân bố, khoảng
3000 đảo ở ven biển tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng, nơi tập trung thứ hai làcác tỉnh Kiên Giang và Cà Mau trên vịnh Thái Lan (trên 100 đảo), còn lại rảirác ở ven biển miền Trung Khoảng cách giữa đất liền và đảo rất khác nhau:đảo Cái Bầu chỉ cách đất liền một rạch triều, trong khi đảo Bạch Long Vỹcách Hải Phòng tới 135 km; đảo Hòn Hải cách Phan Thiết tới gần 155 km;đảo Thổ Chu cách cửa Ông Đốc (Kiên Giang) tới 146 km; quần đảo Hoàng Sanằm cách Đà Nẵng tới 350 km và quần đảo Trường Sa nằm cách vịnh CamRanh hơn 450 km Các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, CônĐảo, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vỹ làm nên hệ thống đảo tiền tiêu có vị tríquan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Về cấu tạo địa chất, ven bờ vịnh Bắc Bộ đặc biệt là khu vực Hạ Longcác đảo chủ yếu cấu tạo từ cacbonat Dưới chân đảo là những cung bờ lõm
Trang 9với các địa hình tích tụ cát trắng mịn, là những bãi tắm lý tưởng với nhữngkích thước khác nhau từ vài chục mét đến vài trăm mét, thậm chí vài ba nghìnmét (Cô Tô, Ngọc Vừng, Cái Bầu ) Theo số liệu điều tra chưa đầy đủ, HạLong - Cát Bà đã phát hiện 139 bãi cát với diện tích lớn nhỏ khác nhau, đa sốdưới 1 ha, trên 1 ha có 12 bãi [16].
Về diện tích, 97% là các đảo nhỏ hơn 0,5 km2 Các đảo lớn từ 1 km2 trởlên có 84 đảo, trong đó có 24 đảo có diện tích từ 10 km2 đến 567km2
Bảng 1.1.Diện tích một số đảo lớn ven bờ biển Việt Nam
Trong luận văn khái niệm đảo được hiểu là các đảo ven bờ có tiềm năng du lịch và điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch Ở Việt Nam các đảo
đáp ứng được tiêu chí này có rất nhiều bao gồm các đảo thuộc huyện đảo VânĐồn (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận),huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi),Phú Quốc (Kiên Giang) đây là các đảo ven bờ có nhiều bãi biển, phongcảnh đẹp còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ, môi trường trong lành và nhiều điềukiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch biển
Trang 10Vị trí các đảo được nghiên cứu trong luận văn chính là các đảo thuộchuyện Vân Đồn đáp ứng được các tiêu chí của đảo du lịch có tiềm năng dulịch và các điều kiện phát triển du lịch.
1.2 Hoạt động du lịch biển đảo ở Việt Nam
Việt Nam có vị trí địa lý chiến lược thuận lợi về biển Lãnh thổ đất liềncủa Việt Nam được bao bọc bởi bờ biển trải dài trên 3.200 km trên 3 hướng:Đông, Nam và Tây Nam Trung bình cứ 100 km2 đất liền Việt Nam có 1 km
bờ biển, tỷ lệ vào loại cao so với tỷ lệ trung bình của thế giới (600 Km2 đấtliền mới có 1 km bờ biển) Bờ biển của Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam
vì thế biển có vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo anninh quốc phòng của đất nước
Vùng ven biển Việt Nam hiện gồm 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trungương với diện tích tự nhiên là 140.413 Km2,, dân số 43,9 triệu bằng 42,5%diện tích tự nhiên và 52,3.% dân số cả nước (số liệu thống kê năm 2005).Lãnh thổ du lịch biển đảo là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi với nguồn tàinguyên tự nhiên đa dạng và phong phú cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt
là du lịch bởi trên lãnh thổ này hiện tập trung 6/7 di sản thế giới (cả vật thể vàphi vật thể) ở Việt Nam cùng với sự đa dạng và phong phú về các giá trị tàinguyên du lịch tự nhiên, nhân văn
Với tư cách là một trong 5 lĩnh vực kinh tế biển quan trọng được xácđịnh tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, bao gồm: khai thác, chế biếndầu, khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến hải sản; du lịch và kinh tế
Trang 11đảo; và các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất venbiển gắn với các khu đô thị, du lịch biển ngày càng khẳng định vị trí của mìnhđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và đối với bảnthân sự phát triển ngành du lịch nói riêng.
Vị trí của du lịch biển đảo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội được thểhiện một cách rõ nét qua việc: phát triển du lịch biển góp phần thúc đẩy sựphát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội.Vùng ven biển và các đảo ven bờ Việt Nam hiện có khoảng 10 triệu ngườitrong độ tuổi lao động Việc phát triển du lịch sẽ góp phần tạo việc làm chocộng đồng dân cư sống ở vùng biển, đặc biệt trên các đảo vốn còn nhiều khókhăn, góp phần tích cực tạo dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân,phát triển hậu phương vững chắc ở tuyến phòng thủ trên biển của đất nước vàđảm bảo an ninh quốc phòng vùng ven biển và hải đảo Thực tiễn phát triển
du lịch biển đảo những năm qua đã khẳng định vai trò trên của du lịch
Ở Việt Nam du lịch biển đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiếnlược phát triển du lịch của cả nước Các ví dụ về sự phát triển du lịch dựa trênnguồn tài nguyên tự nhiên biển đảo ở Nha Trang, Phú Quốc…đã cho thấy sứchấp dẫn của các khu vực này đối với khách du lịch Chiến lược phát triển dulịch Việt Nam đến năm 2010 và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ViệtNam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khuvực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch, trong số đó đã có tới 5 khu vựcthuộc vùng ven biển Mặc dù cho đến nay, nhiều tiềm năng du lịch biển đặcsắc, đặc biệt là hệ thống đảo ven bờ chưa được đầu tư khai thác tương xứng,nhưng ở khu vực ven biển và các đảo đã phát triển khoảng 70% các khu điểm
du lịch trong cả nước, hàng năm thu hút từ 70-80% lượng khách du lịch Điềunày đã khẳng định vai trò của du lịch biển đảo đối với sự phát triển chung của
du lịch Việt Nam
Tuy nhiên việc khai thác tài nguyên du lịch biển đảo cho phát triển dulịch vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng
Trang 12Du lịch đảo ven bờ hiện tại chỉ tập trung ở ba vùng chính: vùng đảo ven
bờ Đông Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng), vùng đảo Nam Trung Bộ mà trungtâm là Nha Trang - Khánh Hoà và vùng đảo Phú Quốc với các cơ sở nghỉ ngơinhìn chung sơ sài dành cho đối tượng khách du lịch đi trong ngày Khai tháctràn lan, tập trung nhiều cơ sở lưu trú ở các đảo có vị trí quá gần bờ như Cát
Bà, Tuần Châu, biến chúng thành những “bách hoá tổng hợp” nhốn nháo, làmmất vẻ đẹp của vùng biển đảo tĩnh lặng, hoang sơ; trong khi đó hệ thống đảo
xa bờ hơn thì giá trị còn ở dạng tiềm ẩn, hầu như chưa được khai thác đến.Việc tổ chức các tuyến du lịch tham đảo chưa lưu ý đến việc lựa chọn tuyếnnhìn, điểm nhìn và tốc độ nhìn phù hợp để du khách có thể cảm thụ vẻ đẹp ởmức độ thuận lợi nhất, các giá trị thẩm mỹ chưa được khai thác triệt để Việccan thiệp của con người vào quá trình đầu tư tôn tạo hang động phục vụ dulịch còn thiếu những giải pháp tinh tế: hệ thống đèn màu với công suất lớn bốtrí lộ liễu; các bậc thang, lan can, lối đi trong hang “bê tông hoá” với quánhiều xi măng, sắt thép đánh mất vẻ đẹp huyền bí, kỳ vĩ của hang động
Trong quá trình thiết kế các sản phẩm du lịch chưa căn cứ vào đặc điểmtài nguyên để định hướng sản phẩm đặc trưng cho khu vực Vì vậy không chỉ
có tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch trong cùng một khu vực mà còn có
sự trùng lặp về sản phẩm du lịch giữa các khu vực có điều kiện địa lý và giá trịtài nguyên du lịch khác nhau Điều này ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn của dulịch biển Việt Nam Khách nước ngoài chỉ cần đến một khu nghỉ mát thay choviệc khám phá nét khác biệt, mới lạ của hàng trăm khu nghỉ khác dọc chiều dài
bờ biển Không có sự phong phú, đa dạng về sản phẩm, các dịch vụ vừa khaithác nhỏ lẻ vừa thiếu chuyên nghiệp, các khu vực này ít đổi mới khiến tỷ lệkhách quốc tế quay lại lần thứ hai rất thấp chỉ khoảng 3 - 5% Tùng, áng (hồnước mặn) - hai loại địa hình độc đáo chỉ xuất hiện duy nhất ở khu vực đảo đáven bờ Đông Bắc là địa điểm tốt cho loại hình du lịch nghiên cứu vì có khảnăng lưu giữ những nguồn gen quý hiếm đặc thù nhưng hiện nay việc khai thácnghèo nàn, chưa biến nó trở thành một thế mạnh du lịch của vùng
Trang 13Tài nguyên du lịch biển đảo chủ yếu mới được khai thác các giá trị vậtchất Các bãi biển, vịnh đảo đẹp được quốc tế công nhận và bình chọn như:vịnh Hạ Long, bờ biển Đà Nẵng nhưng chưa được quy hoạch định hướng đểphát triển thành vùng du lịch biển mang đẳng cấp quốc tế Ngay cả khi đượcbình chọn là một trong sáu bãi biển quyến rũ nhất hành tinh thì ngành du lịchViệt Nam và Đà Nẵng cũng không có một chương trình quảng bá tầm cỡ nhân
cơ hội này tiếp thị ra thị trường du lịch quốc tế Công tác tuyên truyền, quảng
bá du lịch biển Việt Nam lâu nay chưa được quan tâm đúng mức Một vàinăm gần đây Tổng cục Du lịch đã xuất bản một số thông tin chuyên đề vềbiển nhưng chỉ cung cấp thông tin chung chung Du lịch Việt Nam chưa thamgia các hội nghị, hội chợ chuyên đề du lịch biển và du lịch tàu biển trên thếgiới Ấn phẩm quảng bá về du lịch Việt Nam vừa thiếu vừa chưa chuyênnghiệp, chất lượng còn thấp kể cả về hình thức lẫn nội dung Khách du lịchquốc tế đến vùng ven biển Việt Nam phân bố không đồng đều theo lãnh thổ
Có 4 khu vực thu hút khách nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu(hơn 40% tổng lượng khách quốc tế đến toàn vùng ven biển), Quảng Ninh -Hải Phòng (trên 25%), Huế - Đà Nẵng (12%) và Nha Trang - Khánh Hoà (xấp
xỉ 4%) Bốn khu vực trọng điểm ven biển này đã thu hút tới 80% tổng sốkhách quốc tế đến nghỉ ngơi tham quan trong toàn vùng ven biển Đây lànhững khu vực có những đô thị lớn với điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vậtchất kỹ thuật du lịch tương đối tốt, đồng thời là những nơi tập trung nhiều tàinguyên du lịch có giá trị Số lượng khách du lịch quốc tế đến các khu vựctrọng điểm du lịch ven biển tăng nhanh: khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng vàHuế - Đà Nẵng có tốc độ tăng khá cao trên 41%/năm; các khu vực khác thấphơn như Bà Rịa - Vũng Tàu 22,6%/năm, Nha Trang - Khánh Hoà 11,5%/năm.Các trọng điểm du lịch kể trên cũng là những khu vực thu hút cao khách dulịch nội địa Năm 2003, khu vực Vũng Tàu - Thành phố Hồ Chí Minh đón27,4% số lượt khách nội địa đi lại giữa các vùng trong toàn quốc, tiếp theo làQuảng Ninh - Hải Phòng 13,4%, Huế - Đà Nẵng 2,6%, Khánh Hoà 1,5% Tốc
Trang 14độ tăng trung bình khách du lịch nội địa ở các khu vực này cũng cao, điểnhình như: Quảng Ninh - Hải Phòng là 39%/năm, Nha Trang - Khánh Hoà vàVũng Tàu - Thành phố Hồ Chí Minh là 16%/năm và 17%/năm, Huế - ĐàNẵng 7,3% Đặc điểm phân bố không đều lượng khách du lịch theo lãnh thổ
là yếu tố gây ra những áp lực lớn đối với tài nguyên thiên nhiên và môitrường ở các khu vực tập trung khách du lịch
Khu vực biển ven biển và các đảo ven bờ tập trung trên 70% các khu,điểm du lịch trong cả nước Nhiều năm qua, số khách du lịch quốc tế đếnvùng này đạt trên 73% lượng khách quốc tế đến Việt Nam với tốc độ tăngtrung bình khoảng 31%/năm
Bảng 1.2.Số lượt khách du lịch quốc tế đến các tỉnh ven biển giai đoạn 1995- 2003
Năm 19 95 19 96 19 97 19 98 19 99 20 00 20 01 20 02 200 3
Tổng số lượt khách (nghìn lượt)
186 5
220 8
212 7
197 3
224 6
329 9
409 2
529 9
472 0
(Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Tổng cục Du lịch)
Năm 2005, toàn vùng ven biển đón 4,4 triệu lượt khách du lịch quốc tế
đi lại giữa các tỉnh trong vùng với 12,4 triệu ngày khách, dự kiến năm 2010 là7,4 triệu lượt với hơn 24 triệu ngày khách Nếu so với toàn quốc thì tổng ngàykhách quốc tế ở vùng ven biển năm 2005 chiếm tới 66% tổng ngày kháchquốc tế của toàn quốc, năm 2010 sẽ là 63%
Trang 15Về khách du lịch nội địa, các tỉnh ven biển hàng năm thu hút trên 50%tổng số khách nội địa, với tốc độ tăng trung bình thời kỳ 1997- 2003 là16%/năm.
Bảng 1.3.Số lượt khách du lịch nội địa đến các tỉnh ven biển giai đoạn 1995 – 2003
Năm
19 95
19 96
19 97
19 98
19 99
200 0
200 1
200 2
200 3
11, 06
12, 23
13, 35
14, 21
16,2 9
16,5 1
16,6 4
15,6 3
Tỷ lệ đến vùng Bắc Trung Bộ (%)
4,5 5
4,5 8
4,0 4
4,2 8
(Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Tổng cục Du lịch)
Năm 2005, khách du lịch nội địa đến các tỉnh ven biển là 13,8 triệu lượtkhách với hơn 19,8 triệu ngày khách, năm 2010 dự kiến là 17,8 triệu lượtkhách với 30,7 triệu ngày khách, bằng 71% (2005) và 76% (2010) so với toànquốc
Thu nhập xã hội từ du lịch các tỉnh ven biển luôn chiếm tỷ lệ lớn trongtổng thu nhập xã hội từ du lịch của cả nước GDP du lịch của các tỉnh venbiển năm 2000 chiếm 63% tổng GDP du lịch cả nước và tính đến năm 2000,khu vực ven biển đã thu hút được 233 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
du lịch với số vốn đầu tư 6,5 tỷ USD (chiếm 64,5% cả nước) Năm 2005, thunhập từ du lịch biển đạt 1,45 tỷ USD bằng 69,5% thu nhập toàn quốc, dự đoánnăm 2010 là 3,2 tỷ bằng 77,1% thu nhập toàn quốc[59]
Bảng 1.4.Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch biển giai đoạn 2003
Trang 16(Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Tổng cục Du lịch)
Trong một thời gian dài, tỷ trọng khách du lịch cũng như thu nhập từ dulịch biển so với du lịch cả nước ổn định ở mức cao Tuy nhiên, đối với khuvực ven biển với ưu thế nổi trội về tài nguyên du lịch so với các vùng lãnh thổkhác, lại là trọng điểm đầu tư thì sự ổn định tương đối đó mặt khác phản ánh
du lịch biển vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch vànhững nỗ lực trong những năm vừa qua của chúng ta chưa đưa lại hiệu quả rõnét, cần những giải pháp đột phá
Du lịch biển và các ngành dịch vụ biển khác đang mới ở giai đoạn xâydựng và phát triển cơ sở hạ tầng Thực tế cho thấy trong suốt một thời giandài thu nhập du lịch biển so với các ngành kinh tế biển khác như dầu khí, thuỷsản còn thấp hơn và chỉ đứng trên ngành giao thông - dịch vụ hàng hải
Số lượng khách du lịch biển tuy đông nhưng thời gian lưu trú ngắn,mức chi tiêu cho các dịch vụ thấp nên doanh thu không lớn Mỗi khách dulịch nước ngoài chi trả trung bình ở Việt Nam hiện nay là 800 USD/tour,trong khi đó chi 1200 USD khi ở Thái Lan và 2200 USD ở Australia Phântích cơ cấu doanh thu du lịch cho thấy khách du lịch đến vùng ven biển dànhphần lớn nguồn chi tiêu của mình cho lưu trú và ăn uống (chiếm trên 60%),
số còn lại dành cho mua sắm hàng hoá, vận chuyển và các dịch vụ khác Tạicác khu nghỉ dưỡng, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giải trí, mua sắm không
đa dạng, khách không có điều kiện tiêu tiền Doanh thu năm 2006 của dulịch Việt Nam chỉ đạt khoảng 3 tỷ USD, trong khi đó, con số này củaMalaysia là 17 tỷ USD, cuả Thái Lan là 13 tỷ USD[60] Tỷ lệ nghịch vớiviệc khách đến Việt Nam ngày càng đông là việc thiếu phòng khách sạn,
Trang 17tăng giá đột ngột của các khách sạn 4 - 5 sao Thực trạng này đã đẩy giá tourlên cao và Việt Nam trở thành điểm đến đắt đỏ, không thể cạnh tranh với cácnước trong khu vực
1.3 Hoạt động du lịch biển đảo ở Quảng Ninh
Quảng Ninh - một vùng đất giầu tiềm năng du lịch và khoáng sản, dukhách nào khi đến với Quảng Ninh cũng để lại trong mình ấn tượng khó quên
về một Hạ Long kì thú, một Yên Tử linh thiêng, một Quan Lạn tươi mát, mộtTrà Cổ thơ mộng…ở Quảng Ninh cũng đã từ lâu du lịch được coi là ngànhkinh tế mũi nhọn đem lại mỗi năm trên 20% GDP toàn tỉnh Với những lợi thế
về nhiều mặt (địa kinh tế - chính trị - xã hội, tài nguyên, sự quan tâm củaĐảng và Nhà nước, lịch sử phát triển ), đặc biệt với tài nguyên vô giá Vịnh
Hạ Long - đã được UNESCO hai lần công nhận Di sản thiên nhiên thế giới,
du lịch Quảng Ninh hội tụ các yếu tố “ Thiên, thời, địa lợi, nhân hoà” để pháttriển và thực tế hoạt động du lịch trên địa bàn đã phát triển nhanh và mạnhmẽ
Những năm qua ngành du lịch Quảng Ninh không ngừng cố gắng và nỗlực vươn lên trở thành một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của khuvực phía Bắc Sự phát triển đó có thể nhận thấy thông qua một số chỉ tiêu dulịch như lượng khách, doanh thu, đội ngũ lao động, cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ du lịch
Trang 18Năm 2003, Tổng số khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 2,500,636 lượt,trong đó khách quốc tế đạt 1,085,811 lượt.
Năm 2004, Tổng khách du lịch đến Quảnh Ninh đạt 2.675.000 lượtkhách, tăng 7% so với năm 2003; Trong đó khách quốc tế đạt 1.046.000 lượtkhách, bằng 96% so với năm 2003
Năm 2005, Tổng khách du lịch đến Quảnh Ninh đạt 2.458.500 lượtkhách, bằng 92% so với năm 2004; Trong đó khách quốc tế đạt 1.005.800lượt khách, bằng 96% so với năm 2004
Năm 2006, Tổng khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 3.110.000 lượtkhách, tăng 26% so với năm 2005; Trong đó khách quốc tế đạt 1.150.000 lượtkhách, tăng 15% so với năm 2005 Tốc độ tăng bình quân đạt 14%, trong đókhách quốc tế đạt 13% Tổng doanh thu năm 2003 đạt 847,275 tỷ đồng, năm
2006 đạt 1269 tỷ, tốc độ tăng bình quân là 27% [33]
Lượng khách du lịch đến với Quảng Ninh ngày càng tăng vượt quá cả
số dân toàn tỉnh, tính trung bình mỗi người dân Quảng Ninh mỗi năm đón tiếp
và phục vụ hơn 2 lượt khách du lịch
Trang 19Có rất nhiều yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của du lịch Quảng Ninh mà hệquả là hằng năm đón hàng triệu lượt khách tham quan Một trong những yếu tốquan trọng nhất ấy chính là tài nguyên du lịch biển đảo Với hơn 2000 hòn đảolớn nhỏ đã tạo ra ở Quảng Ninh những dạng địa hình hết sức đa dạng, từ nhữngđảo rất nhỏ như hòn Gà Chọi, hòn Đỉnh Hương cho đến những đảo lớn có diệntích tới vài chục km2 như Tuần Châu, Cái Bầu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Cô Tô Đặc biệt là dạng địa hình Kaster Hạ Long với những giá trị ngoại hạng về cảnhquan thẩm mỹ và địa chất địa mạo Chỉ tính riêng khu vực biển đảo ở QuảngNinh hằng năm thu hút hơn 90% lượng khách du lịch mà Hạ Long là điểm đến
có số lượng du khách tham quan lớn nhất
Một khu vực biển đảo khác ở Quảng Ninh cũng đang bắt đầu đượckhách du lịch quan tâm đó chính là Vân Đồn với những bãi biển hoang sơtuyệt đẹp như Quan Lạn, Ngọc Vừng, Minh Châu đang còn chờ những dấuchân du khách đến để khám phá
Trang 20Năm 2004, Tổng doanh thu đạt 1.060.000 triệu đồng, tăng 21% so vớinăm 2003; Trong đó doanh thu trực tiếp từ các đơn vị du lịch đạt 882.600triệu đồng, tăng 24% so với năm 2003.
Năm 2005, Tổng doanh thu đạt 1.034.000 triệu đồng, bằng 98% so vớinăm 2004; Trong đó doanh thu trực tiếp từ các đơn vị du lịch đạt 975.350triệu đồng, tăng 11% so với năm 2004
Năm 2006, Tổng doanh thu đạt 1.265.000 triệu đồng, tăng 23% so vớinăm 2005; Trong đó doanh thu trực tiếp từ các đơn vị du lịch đạt 1.182.070triệu đồng, tăng 22% so với năm 2005
- Về hệ thống cơ sở lưu trú, năm 2001 toàn tỉnh có 253 cơ sở lưu trúvới tổng số 3.600 phòng nghỉ, trong đó 19 khách sạn được xếp hạng từ 1- 4sao với 1.320 phòng Đến hết năm 2006 con số này đã phát triển tương ứng là
920 cơ sở lưu trú và 12.380 phòng, trong đó 75 khách sạn được xếp hạng từ1-4 sao với 4.300 phòng[33]
- Về lao động trong ngành du lịch, số lượng lao động trực tiếp, gián tiếptrong ngành du lịch cũng phát triển khá nhanh Năm 2001 toàn tỉnh có 9500lao động trực tiếp trong ngành du lịch và khoảng 19000 lao động gián tiếp.Đến năm 2006 số lao động trực tếp là 18000 và khoảng 35000 lao động giántiếp [33]
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả và thành tựu trên, du lịch QuảngNinh cũng bộc lộ một số hạn chế:
Sản phẩm du lịch còn nghèo và đơn điệu
Chất lượng dịch vụ còn thấp
Qui hoạch và quản lý đầu tư xây dựng theo qui hoạch chưa tốt
Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp Nhân lực trong ngành du lịch sốđông chưa được đào tạo chính quy, số lao động được đào tạo chuyên ngành
du lịch chỉ chiếm khoảng 50% Hầu hết các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn và
Trang 21ngoại ngữ như quản lý khách sạn, hướng dẫn, lễ tân … đều thiếu, chưa đápứng được yêu cầu phát triển.
1.4 Thuận lợi và khó khăn của việc khai thác du lịch biển đảo
1.4.1 Thuận lợi
Vùng biển và hải đảo thường là nơi có phong cảnh đẹp, hoang sơ, tronglành, có tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú, bao gồm cả tài nguyên tựnhiên và tài nguyên nhân văn, là tiền đề quan trọng để phát triển nhiều loạihình du lịch biển hấp dẫn bao gồm: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao - mạohiểm, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch thăm quan - nghiên cứu, dulịch tàu biển, du lịch hội nghị - hội thảo
Cư dân sống ở các khu vực này với những nét văn hóa đặc trưng mangđậm dấu ấn của biển là một trong những điều kiện hết sức quan trọng hấp dẫnkhách du lịch
Các khu vực biển ven bờ là các khu vực địa lý thuận lợi cho phát triểnkinh tế xã hội là điều kiện cơ bản cần thiết cho việc phát triển du lịch
1.4.2 Khó khăn
Mặc dù luôn tiềm tàng một nguồn tài nguyên du lịch phong phú là cơ
sở cho việc phát triển các hoạt động du lịch và thu hút khách du lịch Tuynhiên việc tổ chức các hoạt động du lịch và khai thác tài nguyên du lịch gặprất nhiều khó khăn đặc biệt là trên các đảo Những khó khăn thường gặp ở đây
là về xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, trình độ nhậnthức của người dân địa phương, trình độ nguồn nhân lực du lịch, về vậnchuyển đi lại và chi phí sinh hoạt
Đối với các đảo ngoài khơi do vị trí đảo nằm trên biển lại có địa hìnhhiểm trở nên việc đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất khó khăn hơn rất nhiều
so với việc đầu tư phát triển du lịch trên đất liền Đầu tư vào xây dựng tại đảo rấttốn kém thông thường gấp đôi ở đất liền do phí vận chuyển vật liệu từ đất liền rađảo cao, đối với các đảo xa đất liền việc vận chuyển còn khó khăn hơn nhiều lần
Trang 22Nhân lực cũng là một vấn đề gây khó khăn cho phát triển hoạt động dulịch Do điều kiện về trình độ của nguồn nhân lực tại chỗ yếu kém các doanhnghiệp kinh doanh du lịch đặc biệt là các khách sạn tiêu chuẩn quốc tế muốntồn tại phải kéo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn từ các thành phố lớn
ra, dù trả lương cao nhưng họ vẫn thường bỏ về trước thời hạn Còn đào tạonhân lực tại chỗ thì phải có một thời gian dài
Một vấn đề khó khăn nữa thường gặp phải đó là vấn đề về trình độdân trí Hầu hết các đảo thường nằm xa đất liền ngoài việc khó khăn về xâydựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch thì trình độ dân trí của
cư dân địa phương cũng là một trong những vấn đề cản trở cho hoạt động dulịch Ở Việt Nam trừ một số hòn đảo lớn có dân cư sinh sống tương đốiđông, vị trí địa lý không quá xa đất liền, có điều kiện thuận lợi về giao thông
cả đường thủy, đường bộ, đường hàng không như đảo Phú Quốc (KiênGiang), đảo Cát Bà (Hải Phòng) là có trường cấp 3 còn lại hầu hết các đảo
có dân cư sinh sống thì mới chỉ có trường cấp hai, học sinh muốn học lênnữa thì phải vào đất liền học trong các trường nội trú hoặc các trường phổthông của thành phố, thị xã, thị trấn Ngoài ra do nhận thức của người dân từbao thế hệ chỉ quen với việc mưu sinh từ khai thác các nguồn lợi của rừng vàbiển họ chưa hề quen với việc đón tiếp và phục vụ khách du lịch nên cũnggây khó khăn cho hoạt động này
Vấn đề về chi phí cho việc đi lại và sinh hoạt của du khách cũng lànguyên nhân gây khó khăn cho phát triển du lịch biển đảo Giá cả sinh hoạt ởcác khu vực này thường đắt hơn so với ở đất liền từ 20-30% do các vấn đềkhó khăn về khoảng cách địa lý Có thể lấy ra đây một ví dụ như là một minhchứng điển hình cho những khó khăn gặp phải trong việc phát triển các hoạtđộng du lịch ở những khu vực biển đảo đặc thù đó là du lịch tới đảo Cô Tô(Quảng Ninh)
Giao thông tới đảo Cô Tô rất hạn chế Mỗi ngày chỉ có một chuyến tàu
từ đảo vào đất liền và một chuyến từ đất liền ra đảo Phương tiện vận chuyển
Trang 23tại đảo ít Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hầu như chưa có gì ngoài một nhàkhách của Uỷ ban huyện có hơn chục phòng và một vài nhà khách nhỏ của cácngành chức năng như bưu điện, thuế Cô Tô chưa có nhà hàng mà chỉ có mộtvài quán ăn đơn giản Cô Tô chưa có mạng lưới điện quốc gia, nguồn cung cấpđiện chính là các máy phát và nguồn điện năng lượng mặt trời, điện không đủcung cấp cho dân và cho hoạt động kinh tế xã hội nên điện thường được cungcấp theo giờ nhất định Hơn nữa do Cô Tô là đảo tiền tiêu nên hiện nay việcđưa khách ra đảo phải xin giấy phép biên phòng cũng là một trở ngại cho việcthu hút khách du lịch Thông tin chung về đảo và tiềm năng du lịch rất thiếu.Chưa có ấn phẩm, tài liệu giới thiệu đầy đủ về tiềm năng du lịch của đảo Vớiđiều kiện như vậy, Cô Tô không đủ khả năng tiếp đón khách với số lượng lớn.
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BIỂN ĐẢO
Ở VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH
2.1 Khái quát về Vân Đồn
Trang 24Hình 2.1 Ảnh Vân Đồn chụp từ vệ tinh (Nguồn: Google Earth 2003) 2.1.1.Vị trí địa lý
Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 1.620,83 km2 (trong đó đất nổi là
59 676 ha) nằm trong khoảng 20040’ đến 21016’ Vĩ độ Bắc, 107015’ đến
108000’ Kinh Đông, được hợp thành bởi hai quần đảo Cái Bầu (còn gọi là KếBào) và quần đảo Vân Hải với hơn 600 hòn đảo lớn, nhỏ (đất, đá xen lẫnnhau) trên Vịnh Bái Tử Long Phía Bắc và Đông Bắc giáp với huyện Tiên Yên
và Đầm Hà, phía Đông Nam giáp với huyện Cô Tô, phía tây giáp với thị CẩmPhả và thành phố Hạ Long (trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại và dulịch) của tỉnh Quảng Ninh
Vân Đồn có 11 xã và 1 thị trấn, trong đó có hai quần đảo Quần đảoCái Bầu với thị trấn Cái Rồng là trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội củahuyện và 6 xã: Đông Xá, Hạ Long, Vạn Yên, Đoàn Kết, Bình Dân, ĐàiXuyên Quần đảo Vân Hải có 5 xã: Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng,Thắng Lợi, Bản Sen
Khí hậu Vân Đồn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới, có hai mùa rõ rệt:mùa hạ và mùa khô, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220C- 240C Với địa
Trang 25hình khá phức tạp bao gồm một quần thể hơn 600 hòn đảo đã tạo nên mộtnét rất riêng mang đặc trưng biển đảo Vân Đồn còn có nguồn tài nguyên dulịch đa dạng, phong phú bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên
du lịch nhân văn để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn với mọi
du khách
2.1.2 Dân số
Tính đến 31-12-2005, dân số huyện Vân Đồn có 40.764 người, 9.130
hộ, với 9 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, Sán Dìu, Cao Lan,Hoa và Thán Sín cùng chung sống hòa hợp Dân cư phân bố không đồng đềutrên 20 hòn đảo, tập trung đông nhất ở đảo Cái Bầu và đảo Quan Lạn
Quá trình hình thành dân cư ở đây trải qua những biến cố của lịch sử,
số người gọi là “dân gốc” phần lớn là đồng bào dân tộc ít người Sán Dìu,
người kinh chủ yếu là dân Đồ Sơn - Hải Phòng và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ,một số dân tộc ở nơi khác bị phong kiến phương Bắc, đế quốc thực dân, chủ
mỏ bóc lột phải bỏ quê hương, hầm mỏ đi di cư đến đây để kiếm kế sinh nhai.Một số là người Hoa (sống tập trung ở xã Hạ Long, Đông Xá, Đài Xuyên vàrải rác ở một số xã khác từ bên Trung Quốc từ thời Mãn Thanh và Trung HoaDân Quốc sang lánh nạn do chiến tranh Sau này, một số dân do kinh tế túngthiếu đi tìm kiếm kế sinh nhai rồi cư trú tại đây
2.1.3.Lịch sử
Tên gọi Vân Đồn lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Việt Nam từ thời
Lý (1010 - 1226) Năm 1149, thời Lý Anh Tông (1138 - 1175) nhà vua đã cho
khai mở trang Vân Đồn để đón thuyền buôn các nước Trong Đại Việt sử ký toàn thư; Ngô Sỹ Liên và các sử thần nhà Lê đã viết: "Năm Kỷ tỵ, hiệu Đại
Định năm thứ 10 (1149), Tống Thiệu Hưng năm thứ 19) mùa xuân, tháng hai,thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Hạc, Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú buônbán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoáquý, dâng tiến sản vật địa phương" [27, Tr.4]
Trang 26Như vậy vào thời Lý, sau khi được thiết lập, trang Vân Đồn thuộc đạo
Hải Đông Trong Lịch triều hiến chương loại chí, trên cơ sở khảo cứu nhiều
nguồn tư liệu qua các thời đại, nhà Sử học Phan Huy Chú xác định: Đạo AnBang "Đời Tần thuộc quận Nam Hải, Hán thuộc quận Giao Chỉ, Đường đổilàm châu Vũ An, sau đặt trấn Hải Môn Ba đời Đinh, Lê, Lý gọi là đạo HảiĐông, sau đổi thành lộ An Bang Đến Lê cũng theo thế; trong thời QuangThuận (1466) đặt làm thừa tuyên An Bang Sau Trung Hưng kiêng tên huýAnh Tông đổi làm Quảng Yên, có một phủ"[27, Tr.7] tức phủ Hải Đông, phủnày có 4 huyện 3 châu Châu Vạn Ninh có tới 30 xã
Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, địa danh Vân Đồn vẫn được nhắc tớitrong một số bộ sử địa chí của Việt Nam, Trung Quốc và các nguồn tư liệunước ngoài khác Theo đó ta có thể biết, sau khi thành lập vào thời Lý đến thờithuộc Minh (1407 - 1427), Vân Đồn đã đổi thành huyện Sang thời Lê (thế kỷ
XV) Vân Đồn lại đổi thành châu Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì "An
Bang xưa là bộ Ninh Hải, Tây và Nam tiếp với Hải Dương, Đông Bắc giáp vớiKhâm Châu Có 2 lộ phủ, 8 huyện, 6 châu, 302 xã, 44 trang Đấy là phên dậuthứ hai ở phương đông vậy" [27, Tr.8] Lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng về
sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi cũng cho biết: An Quảng trước có 2 phủ, 8
huyện, 6 châu Về địa danh Vân Đồn, trong lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tíchghi khá rõ: "Phủ Hải Đông có 3 huyện 4 châu và 102 xã, huyện Hoa Phong có
14 xã 1 thôn, huyện Yên Hưng có 25 xã, 1 thôn, 15 trang, châu Vân Đồn có 10trang, 1 phường, huyện Hoành Bồ có 25 xã, 2 trang, châu Tân An có 16 xã 1thôn, 53 trang; châu Vạn Ninh có 18 xã, 2 trang, 4 động; châu Vĩnh An có 13xã" [40, Tr.21]
Về sự biến đổi của các đơn vị hành chính, trong phần Dư địa chí của Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cũng ghi rõ: "Năm Quang
Thuận thứ 7 (1466) Lê Thánh Tông đặt ra 12 đạo Thừa tuyên là: Thanh Hoá,Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, AnBang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Phủ Trung Đô
Trang 27Đổi lộ thành phủ, đổi trấn thành châu Rồi sai các chức thừa tuyên xét núixem sông trong chỗ mình cai quản, làm thành địa đồ"[40, Tr.25] Như vậy,đến thời Lê sơ, trong chủ trương chung về chuyển đổi đơn vị hành chính,trấn Vân Đồn thời Trần đã được chuyển thành châu thuộc thừa tuyên AnBang Châu Vân Đồn đã được mở rộng về quy mô và địa giới bao gồm 10trang, 1 phương.
Trong Đại Việt địa dư toàn biên, nhà sử học, địa chỉ nổi tiếng Phương
đình Nguyễn Văn Siêu đã xác định: "Quảng Yên là đất Giao Chỉ đời xưa ĐờiLương (552-557) là quận Ninh Hải, Hoàng Châu Đời Tuỳ (581- 618) gọi làquận Ninh Việt Đời Đường (618 - 907) gọi là quận Ngọc Sơn, Lục Châu"
Trước đó, từ thế kỷ XVIII sách Vân Đài loại ngữ của nhà bác học Lê Quý Đôn đã dẫn lại Đường chí cũng viết về Lục Châu rằng "Ngọc Sơn quận ở Lục
Châu Đất Giao Chỉ vốn là Ngọc Châu, đến năm Thượng Nguyên thứ hai (tứcnăm 675 đời vua Đường Cao Tông) mới đổi làm Lục Châu vì trong địa giớichâu có sông Lục Thuỷ nên mới lấy tên mà đặt; có lẽ Lục Châu ở địa hạt trấnQuảng Yên (giáp Quảng Châu và Khâm Châu)" Trong khảo cứu của mình,Phương đình Nguyễn Văn Siêu cũng có sự bổ khuyết cụ thể về vùng đấtQuảng Yên: "Trước thời Đinh, đời Lê gọi là trấn Trào Dương, đời Lý đổi làchâu Vĩnh An Năm Đại Định thứ 10 lập trang Vân Đồn (ngày ấy thuyền buôncác nước Trà Và, Lộ Hạc, Xiêm La vào Hải Đông xin để buôn bán và cho lậptrang để ở, sau gọi là châu Vân Đồn) Đời Trần thuộc về lộ Hải Đông Thờithuộc Minh là đất châu Tĩnh An, phủ Tân An
Dựa theo sách Thiên nam dư hạ trong Đạt Việt địa dư toàn biên,
Phương đình Nguyễn Văn Siêu cũng viết rằng: Thừa tuyên An Bang có mộtphủ là Hải Đông, có 3 huyện là Hoành Bồ, Yên Hưng, Chi Phong, có 4 châu
là Tân An, Vạn Ninh, Vân Đồn, Vịnh An Cũng theo nhà sử học họ Nguyễnnày thì vào thời Lê, châu Vân Đồn thuộc thừa tuyên An Bang Vân Đồn gồm
có 37 động Trong Đại Việt địa dư toàn biên, tác giả cũng dẫn sách Thiên hạ quân quốc lợi bệnh thư phần An Nam cương vực bị lục và cho biết rằng vào
Trang 28năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407) nhà Minh, Vân Đồn là một trong 8 huyện củachâu Tĩnh An Đến năm 1409 nhà Minh đã đặt 12 tuần kiểm ty ở các nơi và
một trong số đó là Ty tuần kiểm Vân Đồn thuộc huyện Vân Đồn Về địa điểm
núi Vân Đồn sách này viết: "Núi Vân Đồn ở phía Đông Bắc phủ Giao Châu,huyện Vân Đồn ở trong biển lớn Hai núi đối nhau, một dòng nước chảy qua ởgiữa, thuyền buôn các nước phiên quốc phần nhiều họp ở đấy Rất có thể, mô
tả trên đây là nhằm để chỉ các đảo Vân Sơn - Cái Bàn nơi có Cổng Đồn, sôngMang2 (hay Con Mang) chảy ở giữa hai đảo mà đến nay vẫn là luồng nướclớn Điều chắc chắn là, sông Mang phải là hướng đi chính từ biển Đông tiếnvào vùng thương cảng Đến nay, diện mạo của dòng sông vẫn còn rất rõ vàđiều quan trọng là sự tồn tại của khu cảng cổ được những bằng chứng về khảo
cổ học và cư dân địa phương ghi nhận
Đến thời Nguyễn (1802 - 1945) Vân Đồn thuộc huyện Hoa Phong, phủHải Đông Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) triều đình Huế lại cắt châu Vân Đồnđổi làm tổng Vân Hải nhập vào huyện Hoa Phong Năm Thiệu Trị thứ nhất(1841) đổi gọi là huyện Nghiêu Phong và Vân Đồn vẫn thuộc huyện ấy HuyệnNghiêu Phong sau lại đổi thành Cát Hải tức Cát Bà Theo nhà sử học TrầnQuốc Vượng thì "tổng Vân Hải ở trên một hòn đảo trong vịnh Hạ Long, đảo ấygọi là đảo Vân Hải hay thường gọi là Cù lao Lợn Lòi, ở sát phía ngoài Cù laoCái Bàn Thời Duy Tân lấy đảo Vân Hải và các đảo xung quanh lập nên huyện
Vân Hải"[40, Tr.31] Trong phần viết về huyện Nghiêu Phong, sách Đồng Khánh dư địa chí ghi khá cụ thể: "Đảo Vân Đồn ở giữa biển, ngoài cửa biển
Vân Đồn" Cụ thể hơn: "Cửa biển Vân Đồn ở địa phận xã Quan Lạn phía ngoài
có đảo Mai, còn gọi là cửa biển Mai, bên phải có đảo Ngọc Vừng, bên trái cóđảo Cảnh Cước, phía trong có đảo Phượng Hoàng ở giữa biển, phía đông đảo làsông Trạo Lai, thuỷ triều ở cửa biển sâu 1 trượng 8 thước, mực nước ban đêmsâu 1 trượng rộng 40 trượng" Chuyên gia Đông Nam á học hàng đầu của NhậtBản GS Yamamoto Tasturo cũng cho rằng "Theo những ghi chép của An Nam
2 Tên một lạch nước biển chảy giữa hai hòn đảo khi nước triều lên, xuống mà dân địa phương vẫn quen goi là sông.
Trang 29gọi là Vân Đồn là tổng Vân Hải thì nhận định rằng trung tâm của huyện VânĐồn, châu Vân Đồn là ở đảo Vân Hải có lẽ đúng".
Ngày 10-10-1890 (Ất Mùi) Thành Thái năm thứ 7, Phủ toàn quyềnPháp ra Nghị định thành lập 2 làng người Việt ở đảo Kế Bào (Cái Bầu)
Năm 1923, chính quyền bảo hộ Pháp lập tổng Vân Hải sáp nhập vàohuyện Hoành Bồ
Cách mạng tháng 8-1945 thành công, huyện Vân Đồn (ngày nay) thuộcChâu Cẩm Phả, bao gồm: Thị xã Cẩm Phả và huyện Vân Đồn ngày nay
Ngày 19-7-1946, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 269-NV/NĐ tạm lập lạitỉnh Quảng Yên và khu đặc biệt Hòn Gai, Uỷ ban hành chính khu Đặc Biệt,chịu quyền điều khiển, kiểm soát trực tiếp của Uỷ ban hành chính Bắc Bộ.Khu Đặc biệt Hòn Gai gồm: Cẩm Phả bến, Cẩm Phả mỏ, Hà Tu, Hà Lầm,Hòn Gai, Bãi Cháy và Châu Cẩm Phả (gồm có đảo Cái Bầu và phố Ba Chẽ)
Ngày 9-7-1947, Bộ Nội vụ Quốc phòng ra Quyết định số 99-NV/QPchuyển các phủ huyện Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh (thuộc tỉnh HảiDương); Thuỷ Nguyên (thuộc Tỉnh Kiến An) và khu Đặc biệt Hòn Gai thuộcquyền điều khiển của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Yên sáp nhập Đặc khuHòn Gai với tỉnh Quảng Yên thành liên tỉnh Quảng Hồng, đảo Cái Bầu thuộcliên tỉnh Quảng Hồng
Ngày 26-12-1948, Uỷ ban kháng chiến Hành chính Liên khu I ra quyếtđịnh số 420-TGY, chia tỉnh Quảng Hồng thành tỉnh Quảng Yên và Hòn Gai3
gồm thị xã Hòn Gai, thị xã Cẩm Phả và huyện Cẩm Phả4
Ngày 6-3-1957, Uỷ ban hành chính Hồng Quảng ra quyết định số336-TCCB chia xã Vân Hải thành 4 xã (Quan Lạn, Bản Sen, Ngọc Vừng,Minh Châu)
Ngày 12-12-1957, Uỷ ban hành chính khu Hồng Quảng ra Quyết định
số 622-TCCB thành lập xã Vạn Hoa
3 Hay còn gọi là Hồng Gai, người Pháp gọi là Hongay
4 Theo Báo cáo của Đặc khu Hòn Gai, ngày 16-8-1953 huyện Cẩm Phả có các xã Vân Hải, Thạch Hà, Bình Dân, Hạ Long, Cộng Hoà, Đoàn Kết và Văn Châu.
Trang 30Ngày 16-7-1964, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 198-NV, sáp nhập xã Cô
Tô và xã Thanh Lân (trước kia trực Uỷ ban hành chính tỉnh Quảng Ninh quảnlý) vào huyện Cẩm Phả
Ngày 16-9-1966, Hội đồng chính phủ ra Quyết định số 185-CP, sápnhập xã Thắng Lợi thuộc thị xã Cẩm Phả và huyện Cẩm Phả
Ngày 16-1-1979, Hội đồng chính phủ ra Quyết định số 17-CP giải thể
xã Văn Châu sát nhập vào xã Cộng Hoà, chuyển đất đai dân cư xã Cộng Hoà(Văn Châu Cộng Hoà) về thị xã Cẩm Phả, sát nhập xã Cộng Hoà của huyệnCẩm Phả vào thị xã Cẩm Phả
Ngày 10-9-1981, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 63-HĐBT, giảithể xã Tân Hải, sáp nhập vào xã Ngọc Vừng, giải thể xã Thạch Hà sáp nhậpvào xã Đông Xá và xã Hạ Long, thành lập thị trấn Cái Rồng huyện Cẩm Phả
Ngày 16-4-1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 62-HĐBT hợpnhất xã Vạn Yên và xã Vạn Hoa thành xã Vạn Yên
Ngày 23-3-1994, Chính phủ ra Quyết định số 28/CP, tách hai xã Cô Tô
và Thanh Lân của huyện Cẩm Phả để thành lập huyện Cô Tô Đổi tên huyệnCẩm Phả thành huyện Vân Đồn [52, Tr.10]
2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên
Các hợp phần của tự nhiên là điều kiện cần thiết cho hoạt động du lịch.Trong những trường hợp cụ thể, một số tính chất của các hợp phần đó có sứchấp dẫn du khách Do vậy, chúng được trực tiếp khai thác vào mục đích kinhdoanh du lịch nên trở thành tài nguyên du lịch tự nhiên [38,Tr.103] Các hợpphần đó là: địa hình, khí hậu, thủy văn, thế giới động thực vật
2.2.1 Địa hình
Địa hình là hình thái bên ngoài của vỏ trái đất được tạo ra bởi các quátrình địa chất lâu dài Trong chừng mực nhất định, mọi hoạt động sống củacon người trên một lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình Đối với hoạt động dulịch, điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu
Trang 31bên ngoài của địa hình và các dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp dẫn đốivới hoạt động du lịch.
Địa hình của Vân Đồn hết sức đa dạng, có rừng, có biển, có đảo đá, đảođất Chính những kiểu địa ấy đã tạo ra cho cảnh quan thiên nhiên Vân Đồn
có những nét đặc trưng hấp dẫn đặc biệt
Hệ thống đảo ở khu vực Vân Đồn hầu hết nằm trong đới địa chất duyênhải Bắc Bộ, hướng cấu trúc kiến tạo Đông Bắc - Tây Nam, song song với bờbiển của đất liền
Trên các đảo là địa hình đồi núi thấp, hoặc những dãy núi đá từ 100 métđến 300 mét (so với mặt biển), đỉnh cao 307 m trên đảo Ba Mùn, 282 m trênđảo Trà Ngọ lướn, 320m trên đảo Trà Ngọ Nhỏ, 232m trên đảo Sậu Nam,202m trên đảo Ngọc Vừng Sườn đảo phía đông của đảo Ba Mùn và Sậu Namdốc đứng dạng vách dựng sát mép biển
Ven chân các đảo có nhiều vũng, bãi gian triều đất bùn, hoặc nhiều bãicát hẹp, bãi đá (do xô trượt từ núi xuống hoặc nổi tự nhiên), một số bãi đá gốcchân đảo rộng từ 30 mét đến 70 mét ngập triều theo chu kỳ Một số vùng rộng,vừa có bãi bùn, vừa có bãi cát, bãi đá, vừa có chỗ sâu, cảnh quan đẹp, thuận lợineo trú tầu thuyền, diện tích hàng trăm héc ta như vũng Cái Quít, Vũng ổ Lợn(đảo Ba Mùn), bãi cát dài hàng cây số ở bán đảo Minh Châu - Cửa Đối - HònTrụi trên đảo Quan Lạn
Trầm tích bờ và đáy biển vùng đảo trong phạm huyện đảo có kíchthước từ 1000 đến 2000 milimét và lớn hơn, phân bố ở phía đông quần đảo và
ở 2 cửa Đối, Vành Tảng có thành phần đá gốc sa thạch, cát kết, cuội kết,thạch anh sạn và cát kết quắc - dít, hiếm có tầng san hô
Bảng 2.1.Phân loại địa cảnh khu vực Vân Đồn
TT Địa cảnh quan nổi TT Địa cảnh quan chìm
1 Núi đất có rừng thường xanh và thảm
Trang 324 Vũng thung, áng không có thảm rừng 12 Đồng bằng tích tụ ngầm đáy biển
6 Cồn, thềm nổi bị mài mòn, xâm thực 14 Luồng lạch biển
7 Nền đá lục nguyên, tảng, khối, vách đứng 15 Vực, trũng, máng xâm thực
8 Tầng đất theo địa hình, địa mạo các đảo nổi
Đất trên các đảo hầu hết thuộc loại đất Feralít vàng nhạt trên đá mẹ cátkết, cuội kết, tầng đất mỏng dưới 40 cm, nghèo chất dinh dưỡng và khô hơn
Từ độ cao địa hình từ 100 mét trở lên ở các đảo núi đất, phần nhiều tầng đấtdầy và giầu dinh dưỡng, đặc biệt có rừng che phủ và độ ẩm cao
Với đặc điểm địa hình phong phú như vậy ở Vân Đồn là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch biển đảo như tham quan, nghỉ dưỡng biển, mạo hiểm, sinh thái
2.2.2 Khí hậu
Khí hậu là thành phần quan trọng của tự nhiên đối với hoạt động dulịch Nhìn chung những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưathích Khí hậu điều hòa thể hiện ở chế độ ánh sáng, nhiệt độ cao Nhiềunghiên cứu cho thấy khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh hoặc quánóng, quá ẩm Tuy nhiên với mỗi loại hình du lịch lại đòi hỏi những điềukiện khí hậu khác nhau Chẳng hạn với các loại hình du lịch thể thao mùađông thì đòi hỏi nhiệt độ phải rất thấp, với hầu hết các du khách đi du lịchnghỉ dưỡng thì lại yêu cầu đến những nơi có khí hậu ôn hòa nhiệt độ khôngkhí mát mẻ Ngược lại với những du khách nghỉ biển lại đòi hỏi môi trườngthời tiết nắng ấm, có số ngày mưa ít tại nơi du lịch, có số giờ nắng trung bìnhtrong ngày cao để có thể tắm biển được lâu hơn Theo các nghiên cứu về chỉtiêu khí hậu phục vụ du lịch cho thấy nhiệt độ thích hợp nhất đối với con
Trang 33người là 18-260C, độ ẩm 30-60%, tốc độ gió 0,1-0,2m Đặc biệt đối với ngườiViệt Nam chế độ khí hậu mùa hè thích hợp nhất là 27-290C, độ ẩm 80%.
Bảng 2.2.Nhiệt độ không khí trung bình, cao nhất và thấp nhất tháng và năm khu vực Vân Đồn.
(Nguồn: Trung tâm khí tượng hải văn Quảng Ninh)
Vân Đồn nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, từ tháng 3 đến tháng 8gió Đông Nam từ biển thổi vào mát mẻ Nhiệt độ trung bình hàng năm22,80C, cao nhất 37,30C và thấp nhất 4,60C, lượng mưa trung bình hàng năm2.245 milimét, mùa mưa vào tháng 5 đến tháng 10 (trong mùa mưa đạt tới2.225 milimét) Lượng mưa trong những tháng mùa khô chỉ đạt 200 milimét,đồng thời với gió lạnh đông bắc Độ ẩm trung bình năm 84%, vào mùa khô độ
ẩm 70% và thấp hơn [4.Tr.28] Những hiện tượng thời tiết nguy hiểm như
dông, gió mạnh sảy ra không nhiều như các vùng đồng bằng, trung du Đây là điều kiện khí hậu hết sức thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch sinh thái, văn hóa, du lịch mạo hiểm.
Trang 342.2.3 Thủy văn
Tài nguyên nước bao gồm nước trên bề mặt trái đất và nước ngầm, đốivới du lịch nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nước bề mặt không chỉ cótác dụng phục hồi trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến các thành phần kháccủa môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu khí hậu ven bờ
Vân Đồn là khu vực được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều đặc biệt là cácbãi biển đẹp, đây chính là nguồn tài nguyên quan trọng để tiến hành khai tháccác loại hình du lịch biển Trong mấy chục hòn đảo ở Vân Đồn có rất nhiềubãi biển có những đặc trưng về sóng, tốc độ dòng chảy, đặc điểm triều tính…rất thuận lợi cho các hoạt động du lịch đặc biệt là tắm biển
Nước biển được đánh giá theo các đặc trưng có ảnh hưởng đến sứckhỏe con người và hoạt động du lịch như nhiệt độ nước, độ cao của sóng,
độ muối…
Nhiệt độ nước biển có ảnh hưởng tới các hoạt động vui chơi giải trídưới nước Theo các nghiên cứu thực nghiệm, nhiệt độ nước thích hợp nhấtcho vui chơi giải trí dưới nước là trên 200C Có thể đánh giá nước biển thôngqua thang nhiệt thích nghi của một số loại hình du lịch
Bảng 2.3.Mức độ thích nghi của nhiệt độ nước biển đối với du lịch
Loại hình
du lịch
Nhiệt độ nước biển (0C)
<23 và>29 24 - 25 25 - 27 27 -29Tắm biển K0 thuận lợi Tương đối thuận lợi Rất thuận lợi Thuận lợiVui chơi K0 thuận lợi Tương đối thuận lợi Thuận lợi Rất thuận lợi
Nguồn: Viện nghiên cứu phát triển du lịch,2002 (Xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường cho phát triển du lịch)
Độ cao của sóng cũng được đánh giá là rất quan trọng đối với nhiềuloại hình du lịch Các hoạt động thể thao dưới nước như lướt ván có thể cần
độ cao lớn hơn nhưng tắm biển thì cần độ cao thấp hơn Đối với khu vực VânĐồn có thể áp dụng thang đánh giá sau
Bảng 2.4.Mức độ thuận lợi của sóng biển đối với các hoạt động du lịch
Trang 35Du thuyền Rất thuận lợi Thuận lợi Tương đối
thuận lợi
Khôngthuận lợi
Nguồn: Viện nghiên cứu phát triển du lịch,2002 (Xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường cho phát triển du lịch)
Độ mặn cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới khả năng và thời gian thamgia các hoạt động du lịch Có thể được đánh giá qua các mức độ sau:
Bảng 2.5.Mức độ thích nghi của độ măn đối với loại hình du lịch biển
Mức độ
phù hợp
Không thuận lợi
Tuơng đốithuận lợi
Thuận lợi Rất thuận lợi
thuận lợi
Không thuận lợiLặn biển Rất thuận lợi Thuận lợi Tương đối
thuận lợi
Không thuận lợi
Nguồn: Viện nghiên cứu phát triển du lịch,2002 (Xây dựng hệ thống chỉ tiêu môi trường cho phát triển du lịch)
Trang 36Qua phân tích trên cùng với việc xem xét các điều kiện cụ thể về thủyvăn ở khu vực Vân Đồn có thể nhận thấy Vân Đồn có những điều kiện hếtsức thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch biển như tắm biển, lặn biển,nghỉ dưỡng biển, các hoạt động thể thao dưới nước… Chẳng hạn các điềukiện như chế độ nhật triều là yếu tố chủ yếu điều tiết chế độ hải văn ở vùngđảo và biển trong phạm vi Vân Đồn, độ lớn dòng chảy vừa phải (0,1 –0,2m/s), độ mặn của nước biển cao trung bình trên 270/00, nhiệt độ nước biểntrung bình năm là 25,10C…
Bảng 2.7.Một số giá trị đặc trưng về hải văn khu vực Vân Đồn
Mực nước biển
(cm)
Trung bình 200 196 195 197 202 203 204 206 217 226 217 07 206Cao nhất 427 410 388 381 423 431 429 415 408 423 430 70 470 Thấp
26, 0
28,
9 0,8 27,4Cao nhất
35,0 34,4 34,7 34,4 33,8 31,7 30,1 30,6 30,5 33,0 33,9 4,3 35,0 Thấp
nhất 19,0
26, 8
1 24,7 27,2 30,0 33,1 34,0 34,3 34,5 34,2 31,8 28,7 6,6 34,5Thấp
nhất 11,0 11,7
12,
5 14,0
21, 4
25, 3
24, 5
25, 0
32,
9 19,8 15,4 0,9 10,9
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng hải văn Quảng Ninh)
Với địa hình đa dạng, phong phú bao gồm cả một phức hợp biển đảo,cùng với những điều kiện thuận lợi về thủy văn chắc chắn sẽ là động lực chophát triển du lịch biển ở khu vực này
Trang 372.2.4 Thế giới động thực vật
Thế giới động thực vật cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng tronghoạt động du lịch Ngày nay khi mức sống của con người được nâng cao, áplực của công viêc, sự ô nhiễm môi truờng sống ngày càng tăng lên, dườngnhư người ta càng thèm muốn được trở về với bản ngã, trở về với thiênnhiên Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, Vân Đồn không chỉ cóbiển, đảo mà còn có một thế giới động thực vật hết sức phong phú Có thểnói Vân Đồn là nơi chứa đựng sự đa dạng sinh học vào loại bậc nhất khuvực vịnh Hạ Long
Về hệ động vật, theo điều tra nghiên cứu hệ động vật khu vực Vân Đồn1998-2000 của Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện tài nguyên sinh thái, Đạihọc lâm nghiệp Hệ động vật thủy sinh trong phạm vi khu vực này đã điều traphát hiện5 có tới 51 loài động vật phù du, 132 loài động vật thủy sản có giá trịcao chiếm ưu thế ở vùng này như Sá sùng, Cà gai, Bào ngư, Hải sâm, Traingọc Ngoài ra các loại động vật quý hiếm khác cũng rất phong phú với nhiềuloài như Báo lửa, Cầy hương, Rái cá, Khỉ vàng, Tắc kè và nhiều cây dược liệuquý như: Ba kích, Ngũ da bì, Đằng đằng
Ngoài ra khi nghiên cứu hệ động vật không thể không kể đến quầnthể động vật phù du cộng sinh, động vật đáy và rạn san hô Quần thể độngvật phù du cộng sinh với nhiều loài động vật biển khác, vừa làm cho mức
độ đa dạng sinh vật phong phú, vừa là sinh cảnh và nguồn thức ăn chonhiều loài khác
Động vật đáy thực sự phong phú và có giá trị cao đối vùng biển ven
bờ và trên thềm các đảo trong phạm vi vườn quốc gia Bái Tử Long Hiện tại
ở khu vực này đã khảo sát phát hiện được 132 loài động vật đáy Số loàithuộc ngành thân mềm chiếm nhiều nhất (62 loài, 47%), tiếp đến là ngànhGiun đốt (31 loài, 24%), ngành Chân đốt có lớp giáp xác (27 loài, 20%), và
5 chưa đầy đủ/1999
Trang 38ngành Đa - gai (12 loài, 9%) Những loài trong ngành giun đốt có sâu đất,giun tơ, và chính là nguồn hải sản ưu thế của vùng quần đảo này, giá trị kinh
tế cao, nguồn lợi lớn từ nhiều đời nay của cộng đồng địa phương (thườnggọi là Sá Sùng) Nguồn phát sinh dồi dào, trữ lượng lớn, phẩm chất cao, chủ
yếu đối với các loài Sá sùng, Bào ngư, Hải sâm, Cà gai (còn gọi là Cà ghim), Trai cho ngọc, trên các bãi cát ngập triều, bãi bùn, thềm đá (rộnghàng trăm héc ta đảo hoặc thềm đảo) San hô và Rạn san hô ở vùng này tuychưa tới mức độ phong phú như một số vùng khác ở nước ta, do nhữngnguyên nhân địa chất biển, hải văn và môi trường liên quan, nhưng vẫn cónhững đặc điểm riêng Khảo sát sơ bộ cho thấy trong vùng có 66 loài san hô
Đá, 13 loài san hô Sừng và thân mềm… Có một số loài san hô quí như TámTia, Hồng Sắc, đang ở thời kỳ phát triển Trên thềm đảo ở tầm sâu trên 6 métphía Đông Bắc đảo Ba Mùn, đảo Sậu, tập trung nhiều hơn Thềm đảo phíaNam gần Cửa Đối-Quan Lạn là nơi tập trung San hô sau phía Bắc và ĐôngBắc Tại khu vực hướng chính đông của đảo Ba Mùn cũng là khu vực tậptrung San hô (có hơn 30 loài)
Quần thể san hô trong vùng chưa hình thành các bãi rạn rộng lớn, đang
ở từng cụm nhỏ Tuy nhiên, có tới 70 loài San Hô, phân bố khá tập trung ởmột số khu vực Các loài đáy biển bao gồm 13 loài họ cá Mú, 12 loài họ cáKhế, và sau đó là những loài khác như Mập, Đuối, He, Kìm, Thu, Sơn, Căng,Tráp, Trích, Hồng v,v.v Những loài cá trong vùng phân bố, nhóm cá nổi xa
bờ, nhóm cá tầng đáy, nhóm cá trong các rạn và cụm San hô Ngoài Cá, còn
có những loài Tôm (2 họ, 4 loài), Cua (3 họ, 3 loài), thân mềm, Da gai v.v Quần thể ốc cũng rất phong phú, đựac biệt một số loài ốc có giá trị cao, chỉ cónhiều ở vùng này như ốc Sao, ốc Hương, ốc Đá, ốc Đế
Về hệ thực vật, Vân Đồn có hàng nghìn ha rừng với các loại gỗ qúy,tiêu biểu như thiết đinh, lát hoa, kim giao, thông tre, táu mật, lim xanh ,Ngoài ra Vân Đồn còn có vườn quốc gia Bái Tử Long là nơi lưu giữ nhiều
hệ sinh thái biển điển hình với giá trị đa dạng sinh học cao Thực vật ưu thế
Trang 39ở đây gồm các loài thuộc họ Vang (Caesalpiniaceae), Chè (Theacea), Dầu,
Trâm, Myrtaceae, Sến Sapotaceae Thực vật rừng khá phong phú và đa dạng,đến nay đã ghi nhận được 398 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 4loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như kim giao, Ba kích, Giác đề và Thổphục linh Hệ động vật theo các ghi chép trước đây Bái Tử Long có một hệđộng vật có xương sống rất phong phú và đa dạng nhưng hiện nay đã bị suy
giảm nghiêm trọng Theo một số báo cáo thì lợn rừng (Sus scorofa) và Mang (Muntiacus muntjak) vẫn còn xuất hiện, nhưng những loài thú lớn như gấu
thì không còn được phát hiện
Với sự đa dạng và phong phú của các loài động thực vật đặc biệt với những khu rừng nguyên sinh nhiệt đới vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn trong vườn quốc gia, đây chính là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng để phát triển các loại hình du lịch thân thiện với môi trường như du lịch sinh thái, du lịch tìm hiểu tự nhiên…
2.3 Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn
Được biết đến là vùng đất có lịch sử lâu đời, ngay từ thời tiền sử conngười đã có mặt và sinh sống ở nơi đây Trải qua bao thăng trầm của lịch sửnhững dấu ấn của người xưa vẫn còn để lại qua các di chỉ khảo cổ học quantrọng Theo thời gian những cư dân ấy vẫn gắn bó với mảnh đất này để xâydựng và phát triển Lịch sử đã ghi nhận nơi đây đã từng có những thời kìkinh tế, thương mại phát triển rực rỡ mà sự ra đời và phát triển thương cảngVân Đồn là một ví dụ Chính vì vậy mà cho tới hôm nay Vân Đồn vẫn còngìn giữ được một hệ thống các di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể hếtsức phong phú, đây cũng là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng cho pháttriển du lịch
2.3.1 Tài nguyên du lịch vật thể
Các đảo trong khu vực Vân Đồn còn lưu giữ những giá trị văn hoáthuộc nền văn hoá Hạ Long Cuối năm 1937 nhà khảo cổ học Thụy Điển An-đéc-xen và hai chị em nhà khảo cổ học người Pháp M Co-li-na đã đi điền dã
Trang 40nhiều tháng đến các bãi biển, hang động trên các đảo Ngọc Vừng, CốngĐông, Cống Tây, Thoi Giếng, Soi Nhụ Họ đã phát hiện ra nhiều hiện vậtcông cụ bằng đá của người nguyên thuỷ như: rìu bôn, bàn mài, chày nghiền,mảnh tước, vòng tay Từ đó tới nay các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục khảo
cổ, khai quật và đã phát hiện thêm nhiều di chỉ khảo cổ trong khu vực vịnh HạLong và Bái Tử Long có giá trị Năm 1968 các nhà khảo cổ đã phát hiện rahang Soi Nhụ tìm thấy vại sành, vỏ hà ốc có niên đại các đây 4000 năm Cácnhà khảo cổ học Việt Nam và thế giới đã gọi các di chỉ này thuộc nền văn hoá
Hạ Long có niên đại cách ngày nay khoảng hơn 4000 năm
Các di tích thời tiền sử
- Hang Soi Nhụ: Nằm trên đảo Soi Nhụ thuộc xã Hạ Long, huyện Vân
Đồn nằm cách thị trấn Cái Rồng khoảng 4 km về phía Bắc Đây là một trongnhững di chỉ khảo cổ học quan trọng của văn hóa Hạ Long Năm 1938 lần đầutiên hang động này được phát hiện bởi hai nhà khảo cổ học người Pháp Vớinhững di chỉ khảo cổ tìm được bao gồm các tàn tích thức ăn, công cụ laođộng, đồ gốm… có thể khẳng định đây là một trong những ngôi nhà cổ củacác cư dân văn hóa Hạ Long
Theo kết quả phân tích cácbon C14 các nhà khảo cổ đã đưa ra niên đạicách ngày nay khoảng trên 14000 năm, điều này chứng tỏ hàng ngàn nămtrước mảnh đất này đã có cư dân sinh sống
Hang soi nhụ- căn nhà cổ nhất của các cư dân văn hóa Hạ Long đã và
sẽ là một trong những điểm tham quan nghiên cúu quan trọng của du lịch VânĐồn cũng như của du lịch Quảng Ninh
- Hang Hà Giắt: Hà Giắt là tên một thôn thuộc xã đoàn kết thuộc huyện
Vân Đồn Địa danh Hà Giắt có từ lâu đời do những người Việt gốc Hoa đặt tênvới ý nghĩa là nhất, là một Năm 1937 các nhà khảo cổ học người Pháp đã tớiđây điều tra khai quật họ đã phiên âm Hà Giắt thành Hayart để gọi những bộ sưutập hiện vật ở đây Sưu tập Hayart hiện nay còn được lưu giữ tại bảo tàng lịch sửViệt Nam