Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là biểuhiện của những mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nềnkinh tế, bao gồm: mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nư
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài/Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và pháttriển cần xây dựng cho mình đề án, chiến lược thường xuyên để thích nghi với sự biếnđộng của thị trường, để có thể nâng cao giá trị của công ty cũng như tối đa hóa lợinhuận Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động tài chínhxuất hiện và bao quát trong cả quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ khâu tạo vốnban đầu cho đến khâu phân phối lợi nhuận cuối cùng Đồng thời, cùng với sự pháttriển của nền kinh tế, những mối quan hệ tài chính cũng ngày càng phong phú và phứctạp Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích kĩ lưỡng tình hình tàichính hàng năm, dựa trên đó để đánh giá lại điểm mạnh, điểm yếu của công ty và xây
dựng hướng đi đúng đắn trong tương lai
Hiện nay, cuộc Cách mạng 4.0 đã là xu hướng tất yếu của thời đại, doanhnghiệp và nhà nước đều nhận ra rằng không thích nghi chính là tự loại bỏ mình khỏicuộc chơi Bởi vậy nhanh chóng đón đầu xu thế chính là nhiệm vụ, sứ mạng và conđường duy nhất để phát triển Đối với Công ty cổ phần FPT, đơn vị hàng đầu của ViệtNam trong lĩnh vực công nghệ và điện tử viễn thông, thì phần trách nhiệm càng nặng
nề, quan trọng Công ty cổ phần FPT là đơn vị tiên phong trong cuộc cách mạng số,chuyển đổi số diễn ra trong cả nước, nắm vai trò xây dựng và cung cấp hạ tầng cơ sởcho cuộc cách mạng 4.0 diễn ra tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, Công ty cổ phần FPT đã có những thành tựu ấntượng như lọt vào top 10 doanh nghiệp tư nhân hàng đầu Việt Nam và đạt được nhiềugiải thưởng cao quý cấp nhà nước và khu vực như giải thưởng ở hạng mục Chínhquyền số của Tổ chức Công nghiệp điện toàn Châu Á-Châu Đại Dương và giải thưởngthương hiệu xuất sắc thế giới do Tổ chức thương hiệu Châu Á-Thái Bình Dương trao
Trang 2tích tình hình tài chình của Công ty cổ phần FPT để thấy được nguyên nhân của sựbiến động và từ đó đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho công ty.Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần
FPT, em quyết định chọn đề tài "Phân tích tình hình tài chính giai đoạn 2016-2018 nhằm đưa một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần FPT" để làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của khóa luận là phân tích tình hình tài chính của công ty Cổ phần FPT,
từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động tài chính của công
ty Để đạt được mục tiêu đó, khóa luận sẽ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
-Hệ thống hóa những khái niệm, lí luận chung về phân tích tài chính doanh
3 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu: dựa trên báo cáo tài chính hợp nhất của công ty cổ phần FPTtrong 3 năm 2016-2018
Phương pháp nghiên cứu: để đạt được mục tiêu đề ra, bài khóa luận sử dụngcông cụ thống kê mô tả kết hợp với phương pháp tổng hợp và so sánh kết quả kinhdoanh của Công ty cổ phần FPT giữa các năm từ 2016-2018 với nhau, cũng như sosánh với công ty cùng ngành Bài viết tiếp cận ở góc độ so sánh, đánh giá sự biến độngcủa các chỉ tiêu tài chính để đưa ra kết luận
4 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận chung về Tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanhnghiệp
Chương 2 Tổng quan và thực trạng tình hình tài chính của công ty cổ phần
FPT Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của công ty cổ phần FPT
2
Trang 3Chương 1 Cơ sở lý luận chung về Tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm TCDN
"Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệphát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới mục tiêu củadoanh nghiệp".1
Các hoạt động liên quan tới tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ chính
là hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là biểuhiện của những mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nềnkinh tế, bao gồm: mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước, mối quan hệ giữa doanhnghiệp với các chủ thể kinh tế khác là đối tác, khách hàng, và mối quan hệ nội bộ bêntrong doanh nghiệp
Quan hệ của doanh nghiệp thể hiện qua việc nhà nước cấp vốn cho các doanhnghiệp nhà nước hoạt động, hay đưa ra những gói hỗ trợ cho những doanh nghiệp đặcbiệt, hoạt động trong những lĩnh vực đặc thù Ngược lại, doanh nghiệp thực hiện nghĩa
vụ đóng các loại thuế, phí, lệ phí cho nhà nước
Quan hệ của doanh nghiệp với các đối với các chủ thể kinh tế khác thể hiện ở cácmối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, với các tổ chức tíndụng, Mối quan hệ về mặt thanh toán giữa các doanh nghiệp như vay vốn hoặc
cho vay vốn, đầu tư, mua bán vật tư, hàng hóa, trả tiền phí dịch vụ, tiền bảo hiểm, trả
cổ tức, tiền lãi trái phiếu, ; mối quan hệ phát sinh trong quá trình vay vốn, hoàn trảvốn và thanh toán tiền lãi cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng, chính là biểu hiện củaquan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp thể hiện ở những mối quan hệ đối với các
Trang 4trả cổ tức cho cổ đông.
1.1.2 Chức năng, vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có 3 chức năng chính:
1.1.2.1 Chức năng x ác định, huy động, tổ chức và luân chuyển nguồn vốn để đảm bảohoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục
Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho thịtrường, bởi vậy sẽ phát sinh nhu cầu về vốn Tùy theo loại hình, quy mô, phương thức,lĩnh vực hoạt động mà doanh nghiệp có thể huy động tại các nguồn: Ngân sách nhà nướccấp, vốn liên doanh, vốn tự bổ sung, vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác,
Nội dung của chức năng này bao gồm:
Thứ nhất, định mức nhu cầu vốn (bao gồm cả vốn lưu động và vốn cố định) đểphục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Để thực hiện hoạt động này cần phải dựatrên đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp như quy trình sản xuất, đặc thù của sảnphẩm, Đồng thời, nhà hoạch định chiến lược còn phải nắm được quy luật biến động
và mối quan hệ giữa các chỉ số doanh thu, tài sản, nguồn vốn để đưa ra quyết định Đểđịnh mức nhu cầu vốn cần dựa vào Báo cáo tài chính kỳ trước cùng với dự kiến doanhthu của kỳ kế hoạch
Thứ hai, xem xét và cân đối hợp lý giữa nhu cầu về vốn và khả năng huy độngvốn Nếu nguồn vốn doanh nghiệp dồi dào, khả năng về vốn lớn hơn nhu cầu, doanhnghiệp có thể tính đến việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thêm thịtrường để phát triển Ngược lại, nếu nhu cầu sử dụng vốn lớn hơn khả năng doanhnghiệp có thể đáp ứng, cần phải có biện pháp huy động thêm nguồn vốn bên ngoài,nhưng phải đảm bảo chi phí sử dụng vốn ở mức hợp lý
Thứ ba, phân bổ hợp lý nguồn vốn sao cho với lượng vốn ít nhất nhưng đạt đượchiệu quả cao nhất Đây là một nguồn lực hữu hạn, bởi vậy quyết định phân bổ nguồn vốn
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tương lai của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp
đã tăng trưởng ổn định trong nhiều năm thì quyết định phân bổ nguồn vốn càng khó khănhơn Bởi họ phải đứng trước lựa chọn khó khăn như nên đầu tư vào những lĩnh vực tiềmnăng khác hay tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành kinh
4
Trang 5doanh chính hoặc nên trả hoặc tăng cổ tức hay không hoặc nên tiến hành mua lại hoặcđầu tư vào công ty khác hay không,
1.1.2.2 Chức năng phân phối thu nhập tài chính doanh nghiệp
Thu nhập có được từ bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, lợi tức cổ phiếu, lãi chovay, thu nhập từ các hoạt động khác thường được doanh nghiệp phân phối như sau:
Đầu tiên là để bù đắp những yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuấtkinh doanh như: khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, vật liệu, nguyên nhiên liệu,chi phí nhân công, tiền lương và các khoản trích theo lương, chi phí dịch vụ muangoài, chi phí khác bằng tiền, thuế thu nhập doanh nghiệp (nếu có lãi),
Phần lợi nhuận còn lại sẽ được phân bổ để: bù đắp các chi phí không được trừkhi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, chia lãi cho các thành viên góp vốn, chia cổ tứccho các cổ đông hoặc phân phối lợi nhuận vào các quỹ của doanh nghiệp
1.1.2.3 Chức năng giám đốc đối với quá trình sản xuất kinh doanh
Hoạt động giám đốc tài chính là việc kiểm soát quá trình hình thành và vậnđộng của các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Thông qua việc kiểm tra, đánh giá cácthông số về cơ cấu, tỷ trọng của nguồn vốn được huy động và sử dụng trong hoạtđộng kinh doanh; thông qua việc tính toán các yếu tố của chi phí giá thành và chi phílưu thông; thông qua việc thống kê các khoản thanh toán các khoản công nợ nộp vàongân sách nhà nước, các khoản trả người bán, trả lãi tín dụng, chi trả cho công nhânviên, chủ thể quản lý doanh nghiệp có thể nhận ra những sơ hở trong công tác điềuhành, quản lý doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra những quyết định để ngăn chặnnhững tổn thất có thể xảy ra Ngoài ra, việc kiểm tra thường xuyên, toàn diện việcchấp hành các quy định về kỷ luật tài chính, kỷ luật tín dụng hay kỷ luật toán cũnggiúp cho nhà quản lý duy trì và nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh
1.2 Phân tích TCDN
Trang 6quản lý doanh nghiệp, chính nhờ vậy mà vai trò của hoạt động phân tích tài chính
doanh nghiệp ngày càng trở nên cần thiết cho mỗi doanh nghiệp
Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được ứng dụng rộng rãi trongmọi đơn vị kinh tế, từ các doanh nghiệp cho đến các tổ chức công cộng, tổ chức xã hộihay các cơ quan quản lý Tất nhiên, do sự phát triển trong mỗi thời kì khác nhau mà sẽ
có nhiều quan điểm khác nhau về phân tích tài chính doanh nghiệp Nhưng tựu chung
có thể trình bày khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp như sau:
"Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc ứng dụng các công cụ và kĩ thuậtphân tích đối với các báo cáo tài chính tổng hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu đểđưa ra các dự báo và các kết luận hữu ích trong phân tích hoạt động tài chính củadoanh nghiệp Phân tích tài chính còn là việc sử dụng các báo cáo tài chính để phântích năng lực và vị thế tài chính của một doanh nghiệp, và từ đó đánh giá và dự báonăng lực tài chính của doanh nghiệp trong tương lai"2
1.2.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
Hoạt động phân tích tài chính có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp.Thông qua việc so sánh, đánh giá các số liệu, nhà quản trị nắm vững thực trạng vànhận thức được những tiềm năng của doanh nghiệp Từ đó, kết hợp với việc phân tíchbáo cáo tài chính, tính toán các chỉ tiêu đặc trưng, các nhà hoạch định chiến lược củacông ty sẽ đưa ra những dự báo, xác định được hiệu quả kinh doanh cũng như nhữngrủi ro có thể gặp phải trong tương lai Nhờ quy trình phân tích tài chính mà nhữngnhận định chủ quan, trực giác trong kinh doanh sẽ giảm bớt, tính chắc chắn trong hoạtđộng kinh doanh sẽ được nâng cao Ngoài ra, phân tích tài chính góp phần kiểm tramột cách toàn diện và có hệ thống về tình hình sản xuất của doanh nghiệp Như vậy,kết quả của hoạt động phân tích tài chính đã làm rõ những yếu tố để đưa ra dự báo tàichính, mà dự báo chính là nền tảng để đưa ra nhưng quyết định quản trị Có thể nói,
phân tích tài chính góp phần tích cực nâng tầm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,khiến cho doanh nghiệp phát huy được ưu điểm, hạn chế được nhược điểm
1.2.1.3 Mục tiêu của việc phân tích tài chính doanh nghiệp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá khả năng
2 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.93
6
Trang 7thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động và sinh lời của doanh nghiệp, từ
đó đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động cũng như mức doanh lợi doanh nghiệp
có thể đạt tới Cũng có thể nói, phân tích tài chính là cơ sở để các đối tượng liên quanđưa ra những dự báo tài chính Phân tích tài chính có thể để phục vụ những đối tượngkhác nhau tùy theo mục đích của họ như để tác nghiệp (đối với những nhà quản lý,nhà đầu tư, ) hoặc để nghiên cứu (đối với những đối tượng cả trong và ngoài doanhnghiệp) hoặc để kiểm tra, kiểm soát (đối với cơ quan nhà nước) Mỗi đối tượng khiphân tích tài chính sẽ có góc nhìn khác nhau và hướng tới những mục tiêu khác nhau,
cụ thể:
Đối với những người quản lý doanh nghiệp: Mục tiêu hướng tới là xây dựngmột quy trình đánh giá tài chính thường xuyên, theo chu kì để phân tích hoạt độngkinh doanh trong quá khứ, đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn, khả năng thanh toán
và khả năng sinh lời trong giai đoạn tiếp theo Đây cũng là cơ sở để đưa ra nhữngtham vấn cho lãnh đạo cấp cao hơn, đảm bảo những quyết định cuối cùng phù hợp vớithực tế doanh nghiệp có thể đáp ứng Phân tích tài chính là tiền đề để xây dựng đề ánhoạt động cho doanh nghiệp trong tương lai
Đối với các nhà đầu tư (các cổ đông, thành viên góp vốn hay các nhà đầu tư
khác): Vốn của các nhà đầu tư được giao cho doanh nghiệp sử dụng và họ được hưởnglợi từ cổ tức được chia hoặc sự thặng dư giá trị của phần vốn họ sở hữu Tất nhiên, họcũng có thể gặp những rủi ro bởi lợi ích họ được hưởng phụ thuộc vào lợi nhuận thuđược của doanh nghiệp Bởi vậy, mối quan tâm của họ là sức sinh lời bình quân của mỗiđồng vốn họ bỏ ra là bao nhiêu? Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị thường so vớimệnh giá chênh lệch như thế nào, biến động ra sao? Các dự án đầu tư dài hạn có đượcxây dựng trên một cơ sở vững chắc hay không, có tiềm năng sinh lời hay không?
Như vậy, có thể thấy mục đích của các nhà đầu tư khi phân tích tài chính doanh
Trang 8khoản vay ngắn hạn, tổ chức tín dụng sẽ quan tâm đến khả năng thanh toán của doanhnghiệp, kiểm tra xem nguồn tiền mặt và các tài sản khác có khả năng thanh khoản caocủa doanh nghiệp có đủ duy trì hoạt động kinh doanh và trả tiền lãi hay không Đối vớikhoản vay dài hạn, các nhà cung cấp tín dụng dài hạn sẽ thẩm định những dự án đầu
tư dài hạn của doanh nghiệp, đánh giá khả năng sinh lời từ dự án cũng như kiểm soát
dòng tiền mà doanh nghiệp đầu tư vào dự án Tất cả là để đảm bảo khả năng doanhnghiệp hoàn trả nợ nhờ lợi nhuận của dự án đầu tư dài hạn
Đối với người lao động hưởng lương trong doanh nghiệp: Người lao độngtrong doanh nghiệp có thu nhập từ tiền lương và một số còn có một phần vốn góp nhấttrong doanh nghiệp (nhiều doanh nghiệp thưởng cho nhân viên bằng cổ phiếu côngty) Hai nguồn thu nhập này đều phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Bởi vậy, mục đích hướng tới của những cá nhân cũng tập trung vào việc đánh giá lợinhuận của công ty, cùng với đó là cơ hội thăng tiến và những chính sách khen thưởngcủa doanh nghiệp
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan thuế, cơ quan tài chính các cấp,
cơ quan hải quan, cơ quan quản lý thị trường, cơ quan thống kê, ): Các cơ quan này
có nhiệm vụ thực hiện công tác giám sát các đơn vị trong nền kinh tế Mà diễn biếncủa nền kinh tế đều được phản ánh qua sự chuyển động của các nguồn lực tài chínhgiữa các doanh nghiệp và các chủ thể liên quan khác Thế nên, phân tích tài chính
doanh nghiệp giúp cho các cơ quan thực hiện tốt việc giám sát các doanh nghiệp thựchiện nghĩa vụ với nhà nước và tuân thủ pháp luật hiện hành
1.2.2 Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2 1 Thông tin sử dụng phân tích tài chính doanh nghiệp
-Thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp:
Thông tin bên ngoài mà doanh nghiệp quan tâm là những thông tin chung về nềnkinh tế (trạng thái nền kinh tế, chính sách thuế, ưu đãi, lãi suất, những quy định pháp luậtsắp được ban hành, ) và ngành kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia (cơ cấu, tỉ trọng,vai trò và vị trí của ngành trong nền kinh tế, công nghệ mới được áp dụng, tình trạng sảnphẩm, thị phần, ) Căn cứ vào những thông tin này, doanh nghiệp có thể nắm được kháiquát tình hình diễn biến của cả nền kinh tế nói chung và biến
8
Trang 9động của riêng từng ngành, lĩnh vực kinh doanh nói riêng Từ đó, nhà hoạch địnhchiến lược của doanh nghiệp có thể phát hiện những tiềm năng và hạn chế của nềnkinh tế.
Để tiếp cận nguồn thông tin bên ngoài, doanh nghiệp có thể tham khảo thôngtin từ các cơ quan nhà nước, tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại Đây là cácđơn vị có nhiều thông tin về tình hình phát triển chung của xã hội, tình hình sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp, Công ty, tổng công ty lớn có sức ảnh hưởng đến nềnkinh tế Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thu thập thông tin từ chính những đối thủ cạnhtranh trong cùng lĩnh vực Hàng năm, các doanh nghiệp sẽ phải công khai tình hình tàichính của mình qua các báo cáo thường niên và báo cáo tài chính Nguồn thông tinnày có vai trò quan trọng giúp các nhà quản lý nhận biết được thực lực của đối thủ và
từ đó đưa ra chiến lược để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
-Thông tin từ bên trong doanh nghiệp:
Thông tin bên trong doanh nghiệp bao gồm mọi nguồn thông tin liên qua đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó, như các thông tin về: phát triển sảnphẩm, nhân sự, tài chính, Trong đó, hệ thống báo cáo tài chính nắm một vai trò hết sứcquan trọng và báo cáo tài chính thường niên của doanh nghiệp chính là tư liệu mang tínhbắt buộc để tiến hành quá trình phân tích Báo cáo tài chính trình bày những thông tin hếtsức tổng quát nhưng lại chỉ ra được tình hình chung của công ty từ tài sản, các nguồnvốn, các khoản nợ và sự vận động của chúng Báo cáo tài chính cung cấp nhưng thông tintài chính chủ yếu của doanh nghiệp để từ đó có thể đánh giá kết quả sản xuất kinh doanhtrong kì hoạt động Báo cáo tài chính còn giúp nhà quản lý kiểm soát được tình hình huyđộng và sử dụng vốn vào hoạt động đầu tư kinh doanh có hiệu quả không Hệ thống báocáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưuchuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 10Để đưa ra được quyết định thích đáng, nhà phân tích cần tận dụng mọi nguồnthông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả thông tinnội bộ bên trong doanh nghiệp và những thông tin chung của nền kinh tế bên ngoàidoanh nghiệp, các thông tin có thể là dưới dạng số liệu, có thể dưới dạng giá trị Tấtnhiên, hoạt động thu thập phải đảm bảo các tài liệu có tính chính xác và khách quan.Nhiệm vụ đầu tiên của nhà phân tích chính là tập hợp các nguồn thông tin đó, đểchuẩn bị cho bước đánh giá tiếp theo.
-Xử lý thông tin:
Những nhà phân tích với mục đích và ứng dụng khác nhau sẽ sử dụng nhữngphương pháp khác nhau để tiến hành phân tích những tài liệu đã thu thập được ởbước đầu tiên Ngoài ra, diễn biến của hoạt động tài chính chịu ảnh hưởng từ nhiềunguyên nhân tổng hòa lại mà thành Bởi vậy, để đánh giá tác động của các nguyênnhân khác nhau ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu, các nhà phân tích tài chính phải
sử dụng nhiều cách thức phân tích khác nhau (so sánh, liên hệ, toán kinh tế, ) để đưa
ra những số liệu dưới các dạng khác nhau (số tương đối, số tuyệt đối, số bìnhquân, ) Nói chung, hoạt động xử lý thông tin tài chính là quá tình sắp xếp, vận dụng,tính toán các thông tin đã thu thập được theo những mục tiêu nhất định, nhằm xácđịnh những nguyên nhân cốt lõi dẫn tới kết quả đạt được, tạo tiền đề cho quá trình dựbáo và ra quyết định tiếp theo
-Dự báo và ra quyết định:
Dù cho nhà phân tích là các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư hay cácnhà cho vay, các đơn vị tín dụng, thì mục tiêu chủ yếu của quá trình phân tích tài chínhdoanh nghiệp cũng là để hỗ trợ cho việc ra quyết định Kết quả của việc phân tích tàichính là nền tảng cho những chiến lược sắp tới của doanh nghiệp (giữ nguyên hay cảitiến quy trình hoạt động), hay những dự án sắp tới của nhà đầu tư Bởi vậy, quyết địnhcủa các lãnh đạo doanh nghiệp, của các nhà đầu tư, của các tổ chức tín dụng, có hợp
lý, có thích đáng hay không chính là phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động phân tích tàichính doanh nghiệp Có thể nói phân tích tình hình tài chính là cơ sở khoa học để dự báotình hình tài chính doanh nghiệp trong giai đoạn sau và góp phần tăng tính khách quan vàchính xác cho những quyết định cuối cùng của những nhà hoạch định
10
Trang 11Khi tiến hành phương pháp so sánh, tùy theo mục đích mà các nhà phân tích sẽ
áp dụng các gốc so sánh khác nhau Khi muốn đánh giá xu hướng, tốc độ phát triểncủa một chỉ tiêu tài chính, cần so sánh kỳ này với kỳ trước (hoặc nhiều kỳ trước) Kỳgốc thường nằm ở 1-5 năm về trước Khi muốn nhận định về vị thế của doanh nghiệptrong ngành, cần lấy gốc là chỉ tiêu ở mức trung bình của toàn ngành hoặc các chỉ tiêucủa đối thủ cạnh tranh trong ngành để so sánh với chỉ tiêu của doanh nghiệp Khimuốn kiểm soát tình hình thực hiện dự án, cần lấy gốc so sánh là chỉ tiêu mà kế hoạchđặt ra đem đối chiếu với chỉ tiêu thực tế trong hiện tại Khi muốn thấy được ý nghĩacủa từng khoản mục tác động đến tình hình tài chính như thế nào, cần đánh giá theochiều dọc để thấy được tỉ trọng của mỗi khoản mục Các nhà phân tích sẽ kết hợp cácphương hướng so sánh nêu trên để đưa ra một kết luận tổng quát về các tỷ số phântích
Có hai dạng so sánh bao gồm so sánh bằng số tuyệt đối và so sánh bằng sốtương đối So sánh bằng số tuyệt đối mang tính định lượng rõ ràng, cho thấy sự tănggiảm về mặt qui mô của chỉ tiêu cần phân tích So sánh bằng số tương đối cho thấymối tương quan về tỉ lệ giữa các chỉ tiêu trong kỳ gốc và kỳ so sánh Có hai loại sốtương đối thường được sử dụng là số tương đối động thái và số tương đối điều chỉnh
Trang 12thấy được chiều hướng thay đổi theo thời kỳ của các chỉ tiêu cần phân tích Tuy nhiên
có điểm hạn chế là không kiểm soát được chất lượng của nguồn thông tin dùng để sosánh
1.2.3 2 Phương pháp cân đối
Một trong những đặc trưng của các báo cáo tài chính là có tính cân đối: Tổngtài sản = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn; Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn; Lợinhuận = Doanh thu - Chi phí; Dòng tiền thuần = Dòng tiền vào - dòng tiền ra Dựa vào
sự cân đối này, nhà phân tích có thể xem xét ảnh hưởng của những nhân tố riêng lẻđến sự biến động của chỉ tiêu phân tích (khi chúng có mối quan hệ tổng hoặc hiệu) Cụthể, muốn tính mức độ ảnh hưởng của một nhân tố, chỉ cần tính ra sự chênh lệch giữa
kỳ gốc với hiện tại của chính nhân tố đó
1.2.3 3 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp tỷ lệ được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính và thườngđược áp dụng kết hợp với phương pháp so sánh Các nhà phân tích thường đặt ra cácđịnh mức và so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp, từ đó rút ra kết luận về tình hình tàichính doanh nghiệp Phương pháp này được áp dụng nhiều bởi ưu điểm mang tínhthực tế cao đồng thời được hỗ trợ bởi nền tảng công nghệ kỹ thuật ngày càng pháttriển Có thể thấy rằng nhờ công nghệ thông tin mà doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận cácnguồn thông tin, nhờ kỹ thuật tin học mà doanh nghiệp có thể tích hợp nhiều dữ liệu
và tính toán với tốc độ cao Đó chính là cơ sở để doanh nghiệp có thể đưa ra những tỷ
số tham chiếu đáng tin cậy và phân tích một cách hiệu quả hàng loạt chỉ tiêu trongchuỗi thời gian liên tục Các tỷ lệ thường được các nhà quản lý quan tâm:
Tỷ lệ về khả năng thanh toán: Phản ánh khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn
Tỷ lệ về cơ cấu nguồn vốn: Phản ánh mức độ ổn định cũng như khả năng tựchủ tài chính của doanh nghiệp
Tỷ lệ về khả năng sản xuất kinh doanh: Phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sửdụng nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh
Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng
hợp 1.2.3.4 Phương pháp Dupont
Phương pháp phân tích tài chính Dupont được một kỹ sư điện - nhà quản lý tài
12
Trang 13chính của công ty hóa học Dupont sáng lập ra Phương pháp này từ khi ra đời đã giúp
cho các Công ty lớn thiết lập được hệ thống hoạch định và kiểm soát tài chính một cáchhiệu quả Từ đó đến nay, phương pháp Dupont đã được sử dụng rộng rãi trong hoạt độngphân tích tài chính doanh nghiệp
Mỗi chỉ tiêu phân tích dưới dạng tỷ số phản ánh mối quan hệ tài chính, sự biếnđộng của chỉ tiêu sẽ phụ thuộc vào sự tăng, giảm trên tử số hoặc dưới mẫu số của tỷ sốtài chính đó Ngoài ra, các tỷ số còn có thể biến động bởi sự thay đổi của các quan hệtài chính liên quan hoặc chính quan hệ tài chính nội tại mà nó phản ánh Chính vì vậy,nếu có thể thiết lập được quan hệ của tỷ số tài chính với những nhân tố ảnh hưởngmột cách có hệ thống, có logic sẽ giúp cho nhà phân tích nhìn nhận rõ ràng hơn thựctrạng tài chính doanh nghiệp và có biện pháp tác động vào từng nhân tố một cách hợp
lý Và bản chất của phương pháp Dupont chính là tách một tỷ số tổng hợp phản ánhmức sinh lợi của doanh nghiệp như ROA (tỷ số lợi nhuận trên tài sản) hay ROE (tỷ sốlợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan
hệ nhân quả với nhau
Mô hình Dupont cho thấy tính ứng dụng rất cao trong hoạt động phân tích tài
chính như: Khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROA, so sánh với các đối thủ cạnhtranh trong từng ngành, xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệp trong một thời
kỳ, cho thấy tác động nếu chuyên môn hóa một chức năng cụ thể, Các bước tiến
hành phân tích theo phương pháp Dupont:
Đưa ra kết
luận
Nếu kết luậnđưa ra khôngđúng thực tế,kiểm tra sốliệu và phântích lại
Trang 14rút ra nhận xét tỷ số ROA sẽ tăng nếu tăng doanh lợi doanh thu, vòng quay tổng tài sảnhoặc cả hai Nếu lợi nhuận sau thuế có mức tăng so với kỳ gốc nhiều hơn doanh thu thì
tỷ suất doanh lợi sẽ tăng Nếu tổng tài sản không biến động nhưng doanh thu tăng lênthì vòng quay tổng vốn cũng sẽ tăng Dựa vào những kết quả đạt được, doanh nghiệp
có thể tiến hành biện pháp phù hợp để khắc phục những yếu tố còn tồn tại để tăng lợinhuận cho công ty
Doanh nghiệp có thể phân tích tỷ số ROE:
Tổng tài sản 1 ROE = ROA x
Ưu điểm của phương pháp Dupont là tính toán đơn giản Ngoài ra, kết quả đạtđược cũng dễ dàng kết nối đến các chính sách tài chính khác của công ty Qua việc ứngdụng phương pháp Dupont, nhà phân tích đã được cung cấp những thông tin cơ bản đểxác định phương hướng tích cực trong việc sử dụng vốn của doanh nghiệp Cùng với đó,cấp quản lý sẽ thấy rõ thực tế hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra kế hoạch tiến hành
mở rộng hoạt động của công ty hay thôn tính đối thủ, hoặc tiến hành cải tổ nội bộ, thayđổi quy trình hoạt động về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Khuyết điểm của phương phápnày là phải phụ thuộc vào mức độ tin cậy của báo cáo tài chính
Như vậy, có thể thấy vai trò quan trọng của phương pháp Dupont trong quản trịtài chính doanh nghiệp, nó đã cho nhà phân tích cài nhìn đầy đủ và khách quan đối vớitừng nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đưa rađược các biện pháp toàn diện và sâu sắc trong việc điều hành và quản lý tài chínhdoanh nghiệp để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của công ty
14
Trang 15Sơ đồ phân tích phương trình Dupont
4.1 Phân tích bảng cân đối kế toán
"Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ
giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định"3 Mọi đối
Trang 1615
Trang 17Bảng cân đối kế toán được xây dựng trên mối quan hệ theo phương trình:
Tổng tài sản = Nợ + Vốn chủ sở hữuBảng cân đối kế toán có thể trình bày dưới hai hình thức:
+ Hình thức theo dạng tài khoản: Cột bên trái thể hiện tài sản doanh nghiệp, bên phải phản ánh nợ và vốn chủ sở hữu
+ Hình thức theo dạng báo cáo: Phản ánh tất cả tài sản, nợ và vốn chủ sở hữu trong cùng một cột
Các khoản mục nhỏ của bảng cân đối kế toán được phân loại theo tính thanhkhoản của tài sản, tính chất ngắn hạn hoặc dài hạn của nợ và vốn chủ sở hữu Cụ thểnhư sau:
-"Tài sản là các nguồn lực có giá trị kinh tế, có khả năng mang lại lợi ích trongtương lai"4 Tài sản của doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau với đặc điểm tính chấtkhác nhau, tiềm ẩn những rủi ro khác nhau và có tiềm năng tạo ra lợi nhuận khác nhau.Tài sản được chia thành tài sản ngắn hạn và dài hạn
+"Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản có thời gian sử dụng, luânchuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm tài chính"5 Tài sảnngắn hạn bao gồm những loại chính:
Tiền: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanhnghiệp trong kỳ báo cáo, gồm có tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đangchuyển, vàng, ngoại tệ,
Các khoản tương đương tiền: là chi tiêu phản ánh những khoản đầu tưngắn hạn (trong vòng 3 tháng) có khả năng thanh khoản cao, không có rủi rokhi chuyển đổi thành một khoản tiền nhất định kể từ ngày tiến hành khoảnđầu tư đó tại thời điểm báo cáo ví dụ như Trái phiếu sắp đáo hạn
Các khoản phải thu: là chỉ tiêu phản ánh khoản tiền dự kiến thu được nhờ hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
Trang 18giảm giá hàng tồn kho)
+"Tài sản dài hạn của doanh nghiệp là những tài sản có thời hạn sử dụng, luân
chuyển, thu hồi vốn trong nhiều kỳ kinh doanh hoặc dài hơn một năm tài chính"6 Bao
gồm những loại sau:
Tài sản cố định: Là loại tài sản có giá trị sử dụng trong nhiều năm, chỉđược thanh lý khi hết giá trị sử dụng hoặc công ty gặp khó khăn về tài chính.Tài sản cố định có giá trị được ghi nhận giảm dần theo thời gian thông quaviệc trích khấu hao
Bất động sản đầu tư: Là toàn bộ giá trị của bất động sản được doanh nghiệp đầu tư sau khi trừ hao mòn lũy kế
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: Phản ánh toàn bộ giá trị các khoảnđầu tư dài hạn tại thời điểm báo cáo như đầu tư vào công ty con, góp vốnliên doanh với công ty khác, các khoản cho vay dài hạn,
-"Nợ phải trả là các khoản giảm trừ lợi ích kinh tế trong tương lai, phát sinh từnghĩa vụ của một thực thể mà trong tương lai phải chuyển giao tài sản hay cung cấp dịch
vụ cho một thực thể khác, nghĩa vụ này phát sinh từ các giao dịch trong quá khứ"7 Nợphải trả cũng bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
+"Nợ ngắn hạn là các nghĩa vụ được thực hiện trong vòng một năm hay mộtchu kỳ hoạt động bình thường của doanh nghiệp"8 Bao gồm các khoản mục cơ bản:
6 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.59
7 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.59
8 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.60
9 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.60
17
Trang 19+Các quỹ của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán thể hiện tổng quát nguồn lực cũng như những nghĩa vụ tàichính của doanh nghiệp tại kỳ báo cáo Thông quá việc đánh giá các khoản mục trongphần tài sản của doanh nghiệp, các bên liên quan có thể nắm được phương hướngkinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp Tương tự, phân tích các khoản mục của phầnnguồn vốn, nợ và các khoản phải trả sẽ cho nhà phân tích thấy được khả năng tự chủtài chính, khả năng huy động vốn cũng như các nghĩa vụ tài chính doanh nghiệp phảithực hiện
1.2
4.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
"Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh một cáchtổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định"11.Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thể hiện kết quả được tích lũy trong một giai đoạnnhất định của doanh nghiệp, phản ánh doanh nghiệp có đạt được lợi nhuận hay không.Các chỉ tiêu cơ bản của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm: doanh thu, chi phí, lợi
Trang 20vốn chủ sở hữu không bao gồm vốn góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu"12 Doanh thu có
ý nghĩa rất lớn đối với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, bởi đó là cơ sở để doanhnghiệp thực hiện tái sản xuất và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
Có thể phân loại doanh thu theo nguồn hình thành: Doanh thu từ hoạt độngkinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ hoạt động khác
-"Chi phí của một doanh nghiệp chính là biểu hiện bằng tiền của tất cả các hao phí
về vật chất và lao động sống mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tổ chức và thực hiện các hoạtđộng trong kỳ của mình"13 Chi phí của doanh nghiệp được chia thành ba loại dựa trênnguồn gốc phát sinh: Chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí tài chính và chi phí
khác
+Chi phí sản xuất kinh doanh chính là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồnlực mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.Tùy theo mục tiêu mà chi phí sản xuất kinh doanh lại được phân loại thành các khoảnmục chi phí khác nhau
Phân loại theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Cách thức phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý được chi phí kinh doanhtheo địa điểm phát sinh và thuận lợi tiến hành tổng hợp chi phí để tính giá thành sảnphẩm
Phân loại theo bản chất kinh tế:
Chi phí lương
Chi phí nguyên vật liệu, vật tư
Chi phí khấu hao tài sản cố định
12 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.62
13 Giáo trình "Tài chính doanh nghiệp", NXB Đại học Kinh tế Quốc dân (2016), tr.63
19
Trang 21 Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí sản xuất kinh doanh bằng tiền khác
Cách thức phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý được chi phí dựa trên yếu
tố đầu vào trong kỳ, từ đó giúp dự đoán được chi phí cho kỳ kế hoạch
+Chi phí tài chính là biểu hiện bằng tiền của tất cả hao phí mà doanh nghiệpphải chịu bởi các hoạt động tài chính trong kỳ (hoạt động huy động vốn, hoạt độngđầu tư tài chính hoặc các hoạt động mang yếu tố tài chính khác)
Về cơ bản chi phí tài chính gồm các khoản: lãi vay phải trả, trái tức, tiền lãithuê tài chính, dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, lỗ đầu tư chứng khoán, chiếtkhấu thanh toán cho khách hàng, lãi tiền trả chậm,
+Chi phí khác là biểu hiện bằng tiền của những hao phí mà doanh nghiệp phảichịu nhưng không thường xuyên, có tính chất bất thường trong kỳ
Chi phí khác bao gồm một số khoản cơ bản: Giá trị còn tại của tài sản đã thanh
lý, chi phí khắc phục rủi ro, phạt hợp đồng,
-Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa doanh thu và chiphí trong một kỳ của doanh nghiệp Lợi nhuận sau thuế là lợi nhuận trước thuế sau khi đãtrừ đi khoản thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận có ý nghĩa vô cùng lớn, bởi nó là kết quả cuối cùng đánh giá sự hiệuquả của hoạt động sản xuất kinh doanh, là nguồn lực để doanh nghiệp tái sản xuất,thực hiện nghĩa vụ đóng thuế và đóng góp cho nền kinh tế
Tại nhiều doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế sau khi đã bù đắp các khoản lỗ, nộpphạt, sẽ được trích lập vào các quỹ như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tàichính, quỹ trợ cấp thất nghiệp, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng
Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh có ý nghĩa rất lớn đối với nhà quản lý bởi
nó phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó, nhà quản lý
Trang 22 Cơ cấu vốn và nguồn vốn
Phân tích cơ cấu nguồn trước tiên cần xác định tỷ trọng của từng loại nguồn
vốn so với tổng vốn ở thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ Tiếp đến tiến hành so sánh giữa
các loại nguồn vốn với nhau và với tổng vốn cả về số tiền và tỷ trọng, từ đó nhà phân
tích sẽ đưa ra được đánh giá khái quát về cơ cấu nguồn vốn, nhận định được sự phân
bổ vốn có hiệu quả hay không Nhờ vậy, nhà quản lý sẽ có những quyết định hợp lý để
quản trị nguồn vốn Mặt khác, khi phân tích nên chú trọng đánh giá tổng quát cơ cấu
vốn và một số thành phần vốn quan trọng của doanh nghiệp như:
Tỷ lệ nợ phải trảVốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu (1) phản ánh rủi ro trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, chỉ tiêu
này càng cao chứng tỏ tỷ trọng nợ phải trả của doanh nghiệp càng lớn, rủi ro về vốn
của doanh nghiệp càng cao Doanh nghiệp sử dụng càng nhiều vốn vay thì càng có
nguy cơ mất khả năng thanh toán và thậm chí có thể mất quyền kiểm soát công ty Tuy
nhiên việc sử dụng nợ có ưu điểm giúp công ty tiết kiệm được nhiều chi phí sử dụng
vốn Ngược lại, việc huy động nhiều vốn chủ sở hữu khiến cho an ninh tài chính của
doanh nghiệp được đảm bảo nhưng lại khiến doanh nghiệp mất đi lợi thế cạnh tranh
khi không tận dụng được nguồn vốn có chi phí thấp để tối đa hóa hiệu quả kinh doanh
Chỉ tiêu (2), (3), (4) giúp cho nhà phân tích đánh giá được sự tự chủ tài chính
của doanh nghiệp Các chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp càng lệ
thuộc về tài chính Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp phụ thuộc vào những khoản vay
ngắn hạn, nhu cầu thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp lớn
Khả năng thanh toán ngắn hạn, dài hạn
Khả năng thanh toán là khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp
trong vòng 12 tháng (ngắn hạn) hoặc trên 12 tháng (dài hạn) Chỉ số đo lường khả
năng thanh toán phổ biến nhất là: chỉ số thanh toán ngắn hạn và chỉ số thanh toán
21
Trang 23Tổng tài sản ngắn hạnChỉ số thanh toán ngắn hạn = Tổngnợngắnhạn (1)
Tài sản nhanh
Chỉ số thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn (2)
Chỉ số (1) thường ở mức 2-3 được xem là tốt Bởi lẽ nếu chỉ số này quá thấpchứng tỏ doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ tài chính Ngượclại, chỉ số này quá cao thể hiện tài sản lưu động của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
và như vậy hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp sẽ không được cao
Chỉ số (2) cao hay thấp còn phụ thuộc vào cách tính, đôi khi hàng tồn kho và tàisản ngắn hạn có tính thanh khoản quá thấp sẽ không được đưa vào tính toán
Khi phân tích khả năng thanh toán dài hạn, nhà phân tích cần nghiên cứu khảnăng thanh toán lãi vay và mức độ rủi ro của các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn Một
số chỉ số nhà phân tích cần quan tâm:
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
(EBIT) (3) Chi phí lãi vay
Nợ phải trả
Hệ số nợ = Tổng tài sản (4)
Hệ số nợ Nợ phải trảVốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu (5)
Tài sản dài hạn
Hệ số thanh toán tài sản dài hạn đối với nợ dài hạn = Nợ dàihạn (6)
Các chỉ tiêu (4), (5) chỉ ra mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp Nếu hệ số
(4), (5) cao, chứng tỏ khả năng thanh toán nợ vay dài hạn sẽ càng kém, càng thể hiện mức
độ rủi ro tài chính cao Các chủ nợ cũng cần chú ý đến các chỉ tiêu này bởi nó thể hiệnmức độ an toàn của họ, phòng khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Ngược lại, chỉtiêu (6) càng cao cang chứng tỏ các khoản nợ dài hạn càng được đảm bảo
Trang 24xác về các chỉ số về khả năng thanh toán Nhà phân tích cần phải có sự so sánh các chỉ
số thanh toán của doanh nghiệp với các chỉ số trung bình ngành cũng như xem xét sựbiến động của các chỉ số theo thời gian
Khả năng sinh lời
Doanh nghiệp chỉ có thể sinh lời khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệptạo ra lợi nhuận lớn hơn mức mà nhà đầu tư có thể tự tạo trên thị trường vốn Các chỉ
số thể hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà nhà phân tích cần chú ý:
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
ROE là chỉ tiêu thể hiện mức độ hiệu quả khi đầu tư của vốn chủ sở hữu, thểhiện 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đem lại bao nhiêu lợi nhuận ROE càng cao chứng tỏdoanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở hữu càng hiệu quả Ngoài ra, ROE cao còn thể hiệnkhả năng quản trị vốn một cách cân đối, hợp lý của ban lãnh đạo và đó là một điều làmhấp dẫn các nhà đầu tư
ROC là chỉ tiêu biểu hiện sức sinh lời của vốn đầu tư Đây là chỉ tiêu mà các nhàđầu tư quan tâm nhất Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ lợi nhuận nhà đầu tư thu được khigóp vốn vào doanh nghiệp càng cao
ROA là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của tài sản Chỉ số này càng cao,chứng tỏ hiệu quả kinh tế khi đưa tài sản vào quy trình sản xuất kinh doanh càng hiệuquả và ngược lại
ROS là chỉ tiêu chỉ ra sức sinh lợi của doanh thu Chỉ tiêu này thể hiện một đơn
vị doanh thu thuần đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng caocàng thể hiện doanh nghiệp phân bổ chi phí hợp lý
Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được xác định thông qua phân tích, xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu Nhà phân tích sẽ dựa trên việc so sánh các chỉ tiêu trên báo cáo kết
23
Trang 25quả kinh doanh ở kỳ này với kỳ trước trên cả phương diện số lượng tuyệt đối vàtương đối để đưa ra kết kuận.
Sau khi tiến hành xem xét số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, cần tính toán
các chỉ số thể hiện mức độ sử dụng các khoản chi phí, các chỉ tiêu phản ánh kết quảkinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể:
Thứ nhất, nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng chi phí:
Tỷ suất giá vốn bán hàng trên doanh thu thuần =
Tỷ số này cho biết trị giá vốn bán hàng chiếm bao nhiêu phần trăm tổng doanhthu Chỉ số này càng nhỏ chứng tỏ việc kiểm soát chi phí để sản xuất sản phẩm càngtốt và ngược lại
Tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần =
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu chi phí bán hàng cho
100 đồng doanh thu thuần Chỉ số này càng nhỏ càng chứng tỏ hoạt động bán hàng củadoanh nghiệp đạt hiệu quả cao và ngược lại
Chi phí quản lý Tỷ suất chi phí quản lý DN trên doanh thu thuần = Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu chi phí quản lý để thuđược 100 đồng doanh thu thuần Chỉ số này càng nhỏ càng thể hiện quy trình quản trịcủa doanh nghiệp hiệu quả và ngược lại
Thứ hai, nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh:
Tỷ suất lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu thuần =
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Doanh thu thuầnChỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, cho biết ứng với mỗi 100
x 100
x 100
Trang 26- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần: Chỉ tiêu này phản ánh kết quảcuối cùng của hoạt động kinh doanh và cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần thì cóbao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần = Doanh thu thuần x
100. Đây là chỉ tiêu phản ánh khách quan nhất kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, phản ánh ứng với 100 đồng doanh thu là bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Rủi ro tài chính
Ngoài những chỉ tiêu ở trên, để phân tích rủi ro tài chính của doanh nghiệp, nhàphân tích còn có thể sử dụng một số chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ và khả năngthanh toán của doanh nghiệp:
Tổng số nợ-Hệ số nợ trên tài sản = Tổng số tài sản
Chỉ tiêu này thể hiện tỷ trọng của số nợ trong tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ
số này càng tăng thì chứng tỏ doanh nghiệp càng có rủi ro lớn và ngược lại
Nợ ngắn hạn
Hệ số nợ trên tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này có ý nghĩa tương tự với chỉ tiêu trên Nhưng đối với nhà quản trịcần ra quyết định trong ngắn hạn, nó cần được lưu tâm hơn
Doanh thu thuần
Hệ số thu hồi nợ = Số dư bình quân các khoản phải thu x 100Chỉ tiêu này thể hiện rằng nếu tiền bán chậm càng giảm, số dư nợ phải thugiảm thì hệ số thu nợ sẽ càng tăng, đồng nghĩa với việc rủi ro tài chính càng giảm vàngược lại
Thời gian trong kỳ báo cáo
Thời hạn thu hồi nợ bình quân = Hệsố thuhồinợ x 100
Do thời gian trong kì báo cáo luôn là cố định, bởi vậy sự biến động của thời hạnthu hồi nợ chỉ phụ thuộc vào hệ số thu hồi nợ Hệ số thu hồi nợ là đại lượng tỉ lệnghịch với thời hạn thu hồi nợ, bởi thế để giảm thời hạn thu hồi nợ, cần tăng hệ số thuhồi nợ và ngược lại
Trang 28Trị giá vốn hàng xuất
Hệ số quay vòng hàng tồn kho = Số dư bình quan hàng tồn kho
Chỉ tiêu này chỉ ra rằng cần phải rút ngắn chu kì sản xuất, hoặc tăng tốc độ bánhàng thì giá trị hàng tồn kho sẽ giảm một cách hợp lý, nhờ vậy, rủi ro tài chính cũng sẽgiảm
Thời gian trong kỳ báo cáo Thời hạn quay vòng hàng tồn kho = Hệ số quay vòng hàng tồn kho
Chỉ số này thể hiện rằng hệ số vòng quay hàng tồn kho tỷ lệ thuận với thời giancho một vòng quay hàng tồn kho Như vậy, để giảm thiểu rủi ro tài chính cần tăng sốvòng quay hàng tồn kho
Hệ số thanh toán lãi vay = Tổng lợi nhuận trước thuế
x 100Chi phí lãi vay
Chỉ tiêu này thể nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, lợi nhuận ngày càng tăngthì hệ số thanh toán lãi vay càng tăng và rủi ro tài chính càng giảm
Chỉ tiêu về giá trị thị trường
Lợi nhuận sau thuế
Thu nhập 1 cổ phần thường (EPS) = Số lượng cổ phiếu đang lưu hànhChỉ số này được các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá khả năng kiếm lợi nhuậnkhi mua cổ phiếu của doanh nghiệp, EPS phản ánh phần lợi nhuận mà cổ đông có thểnhận được cho mỗi cổ phần mà mình đang nắm giữ Chỉ số này càng cao càng thể hiệndoanh nghiệp kinh doanh hiệu quả và càng có sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư
Giá thị trường của cổ phiếu
Hệ số giá trên thu nhập (P/E) = Thu nhập 1 cổ phần thường
Chỉ số này cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu để thu về 1 đồng lợinhuận từ cổ phiếu của công ty Chỉ số này cao hay thấp phụ thuộc vào sự kì vọng củacác nhà đầu tư vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai
Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ sách:
Giá thị trường của cổ phiếu
(M/B) =
Giá trị sổ sách của cổ phiếuVốn chủ sở hữu
Giá trị sổ sách = Số lượng cổ phiếu đang phát hành
Tỷ số M/B phản ánh mối quan hệ giữa giá thị trường và giá trị ghi nhận trong sổ
26
x 100
x 100
Trang 29sách, thể hiện lợi nhuận do 1 đồng tiền thực tạo ra ứng với M/B đồng tiền kì vọng.
1.2.4.4 Phân tí ch tình hình sử dụng đòn bảy tài chính tại doanh nghiệp
Sử dụng đòn bẩy tài chính là việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn vaythay cho vốn chủ sở hữu Đòn bẩy tài chính là một con dao hai lưỡi bởi doanh nghiệpcàng nợ nhiều mà không có biện pháp sử dụng hợp lý thì sẽ dẫn đến xác suất khánhkiệt, mất khả năng chi trả và phá sản Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn vay cũng có lợithế ở chỗ lãi suất vay vốn là một khoản chi phí được miễn thuế
Độ lớn đòn bẩy tài chính:
Tỷ lệ thay đổi tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
(DFL) =
Tỷ lệ thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Một số chỉ số nợ thể hiện đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp:
Tổng nợ
Chỉ số nợ = Tổng tài sản
Tổng nợChỉ số nợ (vốn cổ phần) = Tổng vốn cổ phần
Tổng tài sản
Số nhân vốn cổ phần = Tổng vốn cổ phần
Các chỉ số nợ thể hiện được năng lực tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn củadoanh nghiệp Đây là chỉ số mà cả doanh nghiệp lẫn các nhà đầu tư, nhà cho vay hếtsức quan tâm Tuy nhiên, giá trị ghi nhận trên báo cáo tài chính có thể rất khác giá trịtrên thị trường Ngoài ra, có những hình thức nợ không thể hiện trên báo cáo nhưnghĩa vụ trả tiền hưu trí hoặc thuê tài sản
Chỉ số bao phủ lãi vay = Thu nhập trước lãi vay và
thuế Lãi vayChỉ số bao phủ lãi vay thể hiện khả năng trả lãi vay của doanh nghiệp
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới cách tiếp cận phân tích tài chính trong doanh nghiệp
1.2
5.1 Nhân tố chủ quan
Trang 30tại Tất cả những yếu tố trên đều là cơ sở cho những đánh giá về tình hình tài chínhdoanh nghiệp.
Số liệu sử dụng để phân tích tài chính: Đây là tài liệu quan trọng nhất trong việcphân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Số liệu được tính toán,thu thập và tổng hợpmột cách khách quan và trung thực sẽ đưa đến những kết quả đúng với thục tế và đó làtiền đề để nhà quản lý đưa ra những nhận định chính xác Trong thực tế, nhiều doanhnghiệp cố tình đưa ra những số liệu tài chính sai lệch để đáp ứng những mục đíchriêng như đối phó với cơ quan quản lý nhà nước hay để đạt đủ điều kiện vay vốn
Trình độ của nhà phân tích tài chính: Kết quả của việc phân tích tài chính cóchính xác, hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của chuyên viên phân
tích Ngoài ra, mỗi nhà phân tích với mục đích khác nhau sẽ có cái nhìn khác nhau, bởivậy kết quả họ đưa ra nhất định có sự khác biệt
1.2
5.2 Nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài tác động đến hoạt động
phân tích tài chính doanh nghiệp
Đó có thể là những nhân tố chung, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế như sự thayđổi của thể chế kinh tế chính trị, các văn bản pháp luật mới có hiệu lực, sự biến động,suy thoái hay tiềm năng phát triển của nền kinh tế, Những nhân tố này ảnh hưởng
rất lớn đến chiến lược của doanh nghiệp trong tương lai
Đó cũng có thể là những nhân tố ảnh hưởng đến riêng ngành kinh tế như sựbiến động của tỷ trọng trong ngành, sự thay đổi nhu cầu của khách hàng, những tiến
bộ phát triển của khoa học kỹ thuật, Đây là những yếu tố nhà hoạch định chiếnlược không thể bỏ qua khi phân tích tài chính
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng để nhà phân tích đưa ra kết luận là những chỉtiêu trung bình của ngành Nhà phân tích cần so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệpvới các chỉ tiêu trung bình ngành và chỉ tiêu của các đối thủ cạnh tranh để thấy được vịthế của doanh nghiệp ngành kinh tế
28
Trang 31Chương 2 Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần FPT
2.1 Khái quát về công ty cổ phần FPT
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty
2.1.1.1.Giới thiệu chung về công ty
Tên doanh nghiệp: CÔNG TY CỔ PHẦN FPT
Mã số doanh nghiệp: 0101248141
Địa chỉ trụ sở chính: Số 17 phố Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận
Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Hội đồng quản trị TRƯƠNG
GIA BÌNH; Tổng Giám đốc NGUYỄN VĂN KHOA
Ngành nghề kinh doanh chính (ghi nhận trên đăng ký kinh doanh): Hoạt động viễn thông khác(Chi tiết: - Cung cấp các dịch vụ internet và gia tăng trên mạng; - Kinh
doanh dịch vụ kết nối Internet (IXP))
Trang 34L ọ t TOP 500 DN ph ầ n m ề m hàng
đầ u th ế gi ớ i.L ọ t TOP 100 Nhà Cung
c ấ p D ị ch v ụ Gia công Toàn c ầ u do IAOP x ế p h ạ ng.Ký k ế t tri ể n khai h ệ
th ống tính cướ c, qu ả n lý khách hàng và
bán hàng đa d ị ch v ụ (FPT.BCCS) cho
Công ty Vi ễ n thông Lào
Ti ế n hành th ương vụ M&A đầ u tiên trong lĩnh vự c CNTT c ủ a Vi ệ t Nam
Trang 362.1.2 Đặc điểm cơ cấu bộ máy hoạt động của công ty
2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của công ty
Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Ủy ban nhân sự và lương thưởng
Ủy ban chính sách phát triển
Hội đồng quản trị của công ty là đơn vị trực tiếp lãnh đạo tất cả hoạt động củacông ty, giám sát hoạt động của Ban giám đốc và các đơn vị khác Cụ thể quyền hạncủa Hội đồng quản trị bao gồm: Quyết định kế hoạch, chiến lược sản xuất kinhdoanh ,quyết định ngân sách, mức vốn trung và dài hạn, quyết định cơ cấu tổ chứccông ty, quyết định chào bán cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán chuyển đổikhác của cả Công ty mẹ lẫn các công ty thành viên
Ban giám đốc là đơn vị điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty
32
Trang 37trên cơ sở tuân thủ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị.
Ban kiểm soát có chức năng giám sát Hội đồng quản trị và ban giám đốc trongviệc quản lý và điều hành công ty
Ủy ban nhân sự và tiền lương trực thuộc hội đồng quản trị, có chức năng chỉđạo xây dựng khung chính sách và qui trình nhân sự cho cả công ty mẹ và các công tythành viên, hỗ trợ Hội đồng quản trị ra các quyết định bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức danhquản lý
Ủy ban chính sách và phát triển trực thuộc Hội đồng quản trị, chịu trách nhiệm
đề xuất định hướng phát triển lên Hội đồng quản trị, tham gia chỉ đạo và giám sát cácvấn đề liên quan đến chính sách phát triển
Hội đồng tư vấn là đơn vị trực thuộc Hội đồng quản trị, có trách nhiệm tư vấn,kiến nghị cho Hội đồng các vấn đề về chiến lược phát triển dài hạn, bền vững, các vấnddề trọng yếu của công ty về việc thiết lập và phát triển quan hệ chiến lược với các cơquan chính quyền trong và ngoài nước, các đối tác nước ngoài, tư vấn các vấn đề vềxây dựng và gìn giữ văn hóa công ty
Văn phòng Chủ tịch là đơn vị nắm vai trò thư ký, hỗ trợ cho Hội đồng quản trị
và Chủ tịch Hội đồng quản trị
2.1.3 Khái quát về ngành nghề kinh doanh của công ty
Các ngành nghề kinh doanh của Công ty cổ phần FPT bao gồm:
Trang 38 Giải trí truyền hình
Lĩnh vực giáo dục-đào tạo
Đào tạo công nghệ
Dịch vụ tài chính-ngân hàng
Đầu tư phát triển hạ tầng và bất động sản
Nghiên cứu và phát triển
Trong đó, Công ty cổ phần FPT đặt trọng tâm kinh doanh ở các lĩnh vực chínhlà: Công nghệ, Viễn thông, Phân phối và bán lẻ sản phẩm công nghệ và Giáo dục Công
nghệ luôn là công cụ chiến lược giúp các doanh nghiệp tạo lợi thế kinh
doanh trên thị trường Công ty cổ phần FPT với đội ngũ gồm 12.219 kỹ sư và chuyêngia công nghệ là đơn vị hàng đầu tại Việt Nam, cung cấp các ứng dụng công nghệ đểđổi mới sáng tạo hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp trong cả nước
Công ty cổ phần FPT hiện là 1 trong 3 đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông lớnnhất Việt Nam Hiện nay, tại thị trường trong nước, hạ tầng internet của Công ty FPT
đã phủ sóng ở 59/63 tỉnh thành Dung lượng băng thông quốc tế của FPT đạt tốc độ
280 Gbps, FPT cũng là thành viên của Tuyến cáp quang Liên lục địa Á Mỹ AAG (Asia– American Gateway), APG
Hiện nay, Công ty FPT đang là nhà phân phối và bán lẻ các sản phẩm công nghệ sốmột Việt Nam với 1500 đại lý phân phối tại khắp các tỉnh thành trong cả nước Đối táccủa FPT gồm hơn 30 thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như Asus, Acer,
Apple, Dell, Microft,
Công ty cổ phần FPT luôn mong muốn đóng góp nguồn nhân lực chất lượngcao trong lĩnh vực Công nghệ thông tin cho Việt Nam Phương pháp giảng dạy và đàotạo của Trường đại học FPT áp dụng nhiều pương pháp quốc tế như liên kết sinh viênvới doanh nghiệp, chú trọng kỹ năng ngoại ngữ, gắn đào tạo với thực tiễn
2.1.4 Phân tích SWOT của công ty
2.1.4.1 Điểm mạnh
Các lĩnh vực hoạt động của FPT như Viễn thông, công nghệ là những ngànhyêu cầu vốn đầu tư lớn Vì rào cản gia nhập ngành là khá khó khăn, bởi vậy đối thủcạnh tranh của Công ty cổ phần FPT là không nhiều
34
Trang 39Hiện nay, Công ty cổ phần FPT đang nắm giữ 9,1% cổ phần của ngân hàngTPBank, bởi vậy đòn bẩy tài chính của Công ty tăng lên đáng kể.
Công ty FPT đang thúc đẩy nghiên cứu thị trường tự động hóa như:xe tự lái,ứng dụng công nghệ trong tài chính (Fintech) Đây là lĩnh vực có tiềm năng lớn màchưa doanh nghiệp nào tại Việt Nam tham gia vào
Trang 402.2 Phân tích t ình hình tài chính tại Công ty cổ phần FPT
2.2.1 Phân tích tài sản và nguồn vốn
2.2.1.1 Phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản
Để phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản của Công ty cổ phần FPT, cần dựa vào các sốliệu được công bố trong các bản báo cáo tài chính trong giai đoạn 2016-2018 Số liệutrong báo cáo tài chính được tập hợp và xử lý thành các bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Cơ cấu tài sản Công ty cổ phần FPT giai đoạn 2016-2018 Tài sản
III Tài sản dở dang dài hạn
IV Các khoản đầu tư tài