Đáng ghi nhận là thơ tình của các nhà thơ nữ như Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Giáng Vân, … Họ đem đến những tiến
Trang 1ĐOÀN THỊ THÚY KIỀU
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ
ĐINH THỊ THU VÂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn: TS TRẦN VĂN PHƯƠNG
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong nền văn học dân tộc cũng như trong đời sống tinh thần của con người, thơ ca luôn chiếm vị trí quan trọng Thơ trữ tình cá nhân xuất hiện trở lại trong nền thơ Việt Nam từ sau 1975 và trong thơ thời kỳ Đổi mới ta cũng gặp trạng huống đã xảy ra với Thơ mới: sự nở rộ của thơ tình yêu Đó là một nhu cầu tự nhiên của thơ trong đời sống bình thường và nằm trong việc cấu trúc lại một nền thơ theo hướng đa dạng hóa Tuy không có được thanh thế như thời Thơ mới nhưng thơ tình yêu hôm nay cũng có đủ những cung bậc, sắc thái tinh vi của nó Đáng ghi nhận là thơ tình của các nhà thơ nữ như Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Giáng Vân, … Họ đem đến những tiếng thơ bộc lộ
hết mình của phụ nữ thời @ như lời nhận định của nhà thơ Ý Nhi: “Thơ tình của họ vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, vừa cả tin vừa tự tin, vừa mê đắm vừa sáng suốt, vừa hồn nhiên vừa cay đắng” [18], trong đó phải kể đến những câu thơ mang vẻ đẹp tâm hồn riêng của nữ thi sĩ Đinh Thị Thu Vân “Thơ của Đinh Thị Thu Vân là thơ tình yêu đau khổ, thơ của cô càng đọc càng thấm bởi
độ đậm đặc của sâu lắng Bởi thơ của cô là tiếng thở dài trăn trở, là tiếng khóc, tiếng thổn thức từ trong lòng - thơ mang một tâm trạng day dứt đến thẩn thờ, một nỗi buồn sâu thăm thẳm” [43] Và chính vì thế “Thơ của cô đã thu hút biết bao trái tim bạn đọc, làm đau xé lòng phụ nữ, dẫm nát tan trái tim cứng rắn của đàn ông” [43] Điều đó chứng tỏ giá trị của thơ Thu Vân
trong thời buổi kén bạn đọc như hiện nay
1.2 So với những độc giả yêu thích thơ Đinh Thị Thu Vân thì tôi là
người đến muộn Khi đọc bài thơ được lấy làm tên chung cho tập thơ đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ (2015) tôi mới bắt đầu “đi tìm” cô và mạch
cảm xúc từ các tập thơ của cô cứ dẫn dắt tôi bước sâu hơn vào khu vườn sáng
Trang 3tác với đầy đủ các cung bậc của tình yêu hằn vết ở từng chữ, từng câu trong thơ cô Mỗi bài thơ tình có một sắc thái riêng của nó, không lặp lại mình Và mỗi bài thơ như một loài hoa đang khoe sắc muôn màu, hương thơm của nó
cứ lan tỏa mãi trong không gian và thời gian, đưa người đọc đến với những nấc thang cảm xúc của tình yêu Tôi cứ đi giữa những bài thơ, mê mải, say đắm, bất chợt nhận ra mình đã yêu thơ và yêu cả người Rất nhiều bài thơ
đậm màu “đau tình” và đó sẽ là mảnh đất màu mỡ cho những ai yêu thích thơ
Thu Vân - dĩ nhiên trong đó có tôi Những bài thơ của cô cứ từ từ đi vào lòng người đọc như áng mây mùa thu tinh khiết, nhẹ nhàng Mặc dù thơ cô thu hút
sự chú ý từ rất nhiều lứa tuổi bạn đọc, nhưng cho đến nay vẫn có rất ít công trình nghiên cứu chuyên biệt về tất cả các tập thơ của cô Với số lượng tác phẩm cùng những ấn tượng sâu đậm mà thơ cô để lại, thiết nghĩ đã đến lúc phải có những khảo cứu riêng về các sáng tác của cô nhằm cung cấp cho người đọc một cái nhìn trọn vẹn hơn về chân dung người nghệ sĩ cũng như
đóng góp của cô cho nền văn học hiện đại Đó là lý do tôi chọn Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Lịch sử vấn đề
Theo tìm hiểu của tôi, đến thời điểm hiện nay đã có một số bài viết in trên các báo, tạp chí và mạng internet về thơ của Đinh Thị Thu Vân Theo đánh giá của các tác giả, Đinh Thị Thu Vân đã khẳng định được chỗ đứng trên thi đàn Thơ cô được độc giả đón nhận khá nồng nhiệt Xét trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật, thơ của cô khá đặc sắc Nó mang đậm những cảm xúc chân thành và mãnh liệt
Một trong những mấu chốt đầu tiên khi tiếp cận thơ cô đúng như nhà thơ
Trần Mạnh Hảo đã nói, đó là “phải đọc to lên mới thấm” [14] Đọc thơ cô để
cảm nhận một dòng nội tâm lúc nào cũng tràn đầy như thác đổ Dường như tác giả cài vào đó chiếc đập chắn ngay từ những dòng thơ đầu tiên, để rồi ai lỡ
Trang 4gỡ được chiếc đập chắn ấy thì sẽ bị cuốn trôi theo dòng nước không cách nào dừng lại được Đó không chỉ nói đến mạch thơ mà còn muốn nói đến mạch
suy tư Đọc “để thấy trong nồng nàn cay đắng vẫn còn làm mất ngủ cả tàn tro” [14] Đến với thơ cô, người đọc cảm nhận sự khát khao chờ vọng mãnh
liệt cứ chực trào ra trang viết, khát khao được bày tỏ sự riêng tư nhưng lại cố
tình giấu lại để ngày đêm thiêu đốt trái tim mình: “tôi như sống nửa đời đêm
giấu lửa/ một nửa dường đang khuất phía mông lung” (một nửa đường đang khuất) Trong văn học hiện đại, viết về tình yêu của người phụ nữ có lẽ chúng
ta thường nhớ đến nữ sĩ Xuân Quỳnh Có điều nếu nhìn nhận một cách sâu
sắc, ta thấy Xuân Quỳnh có nhiều cơ hội để bày tỏ tình cảm, biến cái “lửa” ấy
thành những cung bậc thiết tha, nhẹ nhàng như từng lớp sóng ru vỗ tâm hồn Còn với Đinh Thị Thu Vân, cô cũng có một tình yêu nhưng có bao giờ được
trọn vẹn? Có lẽ vì vậy mà cái “lửa” trong thơ cô càng thêm mãnh liệt, có thể
thiêu đốt trái tim bất cứ người đọc nào
Trần Mạnh Hảo khi viết về tập thơ một ngày ta ngoái lại từng cảnh báo
điều đó Ông viết: “Tôi khuyên quý vị nam giới nào thấy tâm hồn mình nhiều rơm chớ nên đọc thơ Đinh Thị Thu Vân, coi chừng lửa ở trong tro sẽ bùng lên thiêu rụi cây rơm anh bất cứ lúc nào!” [42] Tuy nhiên, theo người viết không
chỉ có nam giới mà cả phụ nữ, những ai từng chứa lửa trong tim mình cũng sẽ
dễ dàng “bốc cháy” nếu đắm mình trong những câu thơ ấy Cô nhốt nỗi lòng
của mình trong chiếc rọ chật hẹp được vây phủ bởi bóng tối mong giấu kín mọi điều, không cho nảy nở sinh sôi nhưng những dòng cảm xúc, nỗi đớn đau
ấy cứ ngày đêm chồi đạp đòi khai sinh những câu thơ làm đắng xót tâm hồn Một trái tim luôn khao khát yêu đương nhưng lại tự mình muốn giết chết nó Giết làm sao được khi chiếc mầm chưa một lần sinh sôi, chưa một lần già cỗi
Cũng trong bài giới thiệu tập thơ một ngày ta ngoái lại Trần Mạnh Hảo có
đưa ra một nhận định về thơ và người làm thơ như sau:
Trang 5Niềm thơ trong tập thơ này hầu như là một tình yêu ngoái lại, một đuôi mắt chiêm bao ngoái lại, ngoái lại mắt môi xưa, thân xác tâm hồn xưa để quằn quại dây dưa trong tiếc nuối, sững sờ Với Đinh Thị Thu Vân, nỗi cô đơn là bông hoa nở trong bóng tối, là ngọn đèn thắp bằng đôi mắt biếc cuối trời, là sự chờ đợi cái không đâu, là trái tim ở ẩn trong ngôi nhà đam mê thao thức đốm sao xanh, là nhớ thương xõa ra muôn nghìn sợi tóc đêm, là im lặng của
bờ môi trước bão [14]
Hà Khánh Quân đã có một vài cảm nghĩ về dòng thất tình ca bất tận
trong thơ Đinh Thị Thu Vân khi tiếp cận tập thơ đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ của cô:
Nhìn nét chữ chị đề tặng rắn rỏi, bay bướm, rõ là một tâm hồn phóng khoáng, thành đạt Cảm nhận này không qua lớp bói toán Tôi cũng ngắm ảnh chụp chân dung chị khá lâu Phát hiện có nét buồn Những nét này không đến từ đời sống vật chất mà bày ra một nội dung giàu ưu tư trong yêu thương Không phải căn cứ vào thơ chị để có cái kết luận hàm hồ này Lẽ ra tôi cần vẽ tỉ mỉ hơn Dù đúng phần nào hay sai toàn bộ, tôi cũng không ngại làm mất lòng chị Một người dùng trái tim để làm thơ đâu dễ gì trách cứ ai [30].
Huệ Triệu cũng có những giây phút cảm nhận về tập thơ đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ:
51 bài thơ là những tự bạch chân thành của một người đàn
bà tự nhận mình là kẻ “mang nỗi buồn tay trắng” nhưng tôi thì không tin chỉ có vậy Đối diện với lòng mình, để nhận ra mình, quan trọng nhất là được nói ra, được tỏ bày Lấy tình yêu “để giữ
ấm trái tim mình”, mong cứu rỗi chính mình song tình yêu cùng niềm khao khát dù chỉ là phận cỏ vẫn đang biếc xanh để nâng đỡ
Trang 6chị và nhiều người khác Miền yêu thương với “những lời yêu tơ lụa” vẫn cứ ánh lên óng ả bởi nâng niu trân trọng và niềm tin vĩnh cửu “như xát muối mà tình yêu vẫn sống” [39]
Đọc những dòng thơ tình yêu của Đinh Thị Thu Vân tác giả Phạm Thành
đau của Đinh Thị Thu Vân, đọc một lèo có vài cảm nhận, kính chuyển đến bạn đọc: “Vân ơi, sao em buồn, đau thế… nó là cả trăm vạn giọt ngọc lệ
buồn, đau; trăm vạn tiếng nấc nghẹn đớn đau” Tác giả khái quát: “Buồn, đau thực sự trở thành mệnh kiếp của đời Thu Vân rồi Buồn, đau đã là một đá tảng máu đè nặng trong tim Thu Vân rồi; đã là vạn bát cháo lòng tim gan luôn sục sôi âm ỉ trong từng tế bào thịt xương, trong từng nơ ron thần kinh
của Thu Vân rồi” [38] Trong bài Đinh Thị Thu Vân: Tình buồn one way
Phạm Hồng Phước cũng nhận ra: “ Tất cả đều là thơ tình buồn và không trọn vẹn” Rồi tác giả cụ thể hóa: “Nhiều câu thơ của Thu Vân giống như những nhát dao mổ Có đường dao banh ruột, banh tim của cô ra cho thiên hạ nhìn thấy Có đường dao điệu nghệ và tài hoa cắt bỏ những khối u, những vết hoại
tử trong tâm hồn của nàng để rồi người con gái đa tình trở lại “đã quen rồi lạnh lẽo nhân gian” [28] Cao Thoại Châu trong một cuộc phỏng vấn với tác
giả vào tháng 11 năm 2015 trên Tuần báo văn nghệ TP.HCM (số 383) đã nhận xét:
Sở hữu một dòng thơ tình (xin nhớ kỹ cho là thơ thất tình) có tính “nhất quán” theo dài một đời được nhiều người ái mộ, Đinh Thị Thu Vân còn là một phụ nữ bình dị, thành thật và cũng không
dễ gần như một khu vườn đằm thắm những hoa mà cửa thường then khóa Thơ chị mang tính liên tục (khi cuộc đời thì luôn đứt quãng),
là một dòng thơ có cá tính, lãng mạn nhưng chân thực và nhất là đầy nữ tính một cách sang trọng không vẽ vời
Trang 7Đinh Thị Thu Vân cũng đã bộc bạch:
Trong bài một ngày ta ngoái lại có mấy câu có thể nói là “để
đời”: “câu thơ nào em viết cho anh/ xin vĩnh viễn đi vào kỷ niệm/ dẫu mai này lòng không còn nguyên vẹn/ những câu thơ em viết mất linh hồn” Chúng có linh hồn đấy chứ, chị chỉ e “dẫu mai này” thôi
mà, nguồn cảm hứng là “anh” có thể không còn nhưng chẳng lẽ chị không nghĩ tới người đọc?
Tôi vẫn nghĩ đến tôi nhiều hơn, và trộm nghĩ mình nghĩ tới mình cho đến nơi đến chốn, hiểu mình cho cặn kẽ, ghét thương mình không thiên vị… đã là biết điều với tha nhân lắm rồi! Tầm vóc tôi, sức lực tôi chỉ có thể đàng hoàng một cách ích kỷ như thế thôi, anh Cao Thoại Châu à, anh biết tôi rồi mà, trái tim tôi ngày càng bé tí, tệ hại [6]
Đến nay đã có hai công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ về Đinh Thị
Thu Vân: Tác giả Võ Thị Thanh Huyền với đề tài Đặc điểm thơ Đinh Thị Thu Vân ở Trường Đại học Cần Thơ và tác giả Trần Thị Bích Tuyền với đề tài Thiên tính nữ trong thơ Đinh Thị Thu Vân ở Trường Đại học Văn Hiến
Tuy đã có một số bài viết và công trình nghiên cứu về thơ Đinh Thị Thu Vân nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ của cô Vì vậy, từ việc tiếp thu những ý kiến của các bài viết và các công trình đi trước chúng tôi coi đó là những gợi ý quý báu
để định hướng cho chúng tôi trong khi thực hiện Luận văn Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân trong
quan hệ nội tại thống nhất giữa nội dung biểu hiện và hình thức nghệ thuật
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát toàn bộ sáng tác thơ của Đinh Thị Thu Vân được in trong 4 tập thơ (3 tập thơ riêng và 1 tập thơ chung)
- Thay cho lời hát ru anh, 1984, NXB Long An, Long An
- Một ngày ta ngoái lại, 2005, NXB Long An, Long An
- Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ, 2015, NXB HNV, Hà Nội
- Email xanh, 2016, NXB HNV, Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích tổng hợp: trên cơ sở phân tích những biểu hiện riêng lẻ trong từng tác phẩm để tổng hợp, khái quát thành bức tranh hoàn thiện về thế giới nghệ thuật của nhà thơ
4.2 Phương pháp so sánh
- So sánh trong nội bộ tập thơ của Đinh Thị Thu Vân qua các tập thơ được khảo sát
- So sánh với các tác giả khác
4.3 Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong mối quan
hệ với các phương diện, khía cạnh, cấp độ biểu hiện
5 Đóng góp mới của luận văn
Thực hiện đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân tôi hi
vọng sẽ đem đến cho người đọc cái nhìn đầy đủ hơn về những tác phẩm “như viết nhật kí” của nhà thơ, góp phần khẳng định những đóng góp của cô trong
tiến trình văn học đương đại Luận văn ít nhiều góp phần gợi mở hướng tiếp cận nghiên cứu một hiện tượng văn học cụ thể, đồng thời mở rộng hiểu biết, nâng cao kiến thức trong quá trình học tập và cảm thụ văn học
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương:
- Chương 1: Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình và hành trình sáng tạo thơ của
Trang 9Đinh Thị Thu Vân (22 trang)
- Chương 2: Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân - Nhìn từ phương diện cái tôi trữ tình (31 trang)
- Chương 3: Thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân - Nhìn từ thể thơ, ngôn ngữ và giọng điệu (40 trang)
Trang 10Chương 1 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRỮ TÌNH VÀ
HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ CỦA ĐINH THỊ THU VÂN 1.1 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật
Khái niệm thế giới nghệ thuật xuất hiện từ yêu cầu muốn tiếp cận tác phẩm văn học trong dạng chỉnh thể Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác
nó biểu hiện những khát vọng chân - thiện - mĩ của chủ thể sáng tạo Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm về thế giới nghệ thuật thật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng và tác giả văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học:
Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng: sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ [13]
Lí luận văn học tập 2 (Trần Đình Sử Chủ biên) khẳng định:
Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt có
sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có
sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ có trong tác phẩm và trong
Trang 11tưởng tượng nghệ thuật… Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong
ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật [35]
Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu
tố phải có tính quy luật” [22]
Tham khảo những định nghĩa trên, chúng tôi có thể hiểu về khái niệm thế giới nghệ thuật như sau: Thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng được sáng tạo, xây dựng nên trong tác phẩm nghệ thuật theo những nguyên tắc tư tưởng
- thẩm mĩ nhất định của người nghệ sĩ Đó là một chỉnh thể nghệ thuật sống động, cảm tính, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ và các phương thức, phượng tiện nghệ thuật đặc thù Là đứa con tinh thần của nghệ sĩ, thế giới nghệ thuật luôn hàm chứa và thể hiện quan niệm riêng của người nghệ sĩ về thế giới, con người và bản thân sự sáng tạo Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, phản ánh những biến chuyển tinh vi và phức tạp trong tư tưởng của người nghệ sĩ
Là một khái niệm rộng bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trong dung lượng luận văn cao học là rất khó Vì thế, trong chương này chúng tôi chỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật Trên cơ
sở đó tập trung làm rõ một số vấn đề như: tính chủ quan, tính thể loại trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Từ đó, chúng tôi sẽ vận dụng vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Đinh Thị Thu Vân
1.1.2 Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ trữ tình (tiếng Pháp: poesie
Trang 12lyrique) là thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình” Trong
đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp
Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học [13]
Lê Quang Hưng trong Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước
1945 cho rằng:
Thế giới nghệ thuật trong thi ca là thế giới được nghệ sĩ sáng tạo ra bằng phương tiện ngôn từ Nó chưa từng tồn tại trong thế giới vật chất và mãi mãi không bao giờ có thể biến thành thực tại vật chất Nhưng nó lại mang sự sống và tâm hồn chân thực của một người, một thế hệ, một thời… Nói theo ngôn ngữ của lý luận quen thuộc thì nó vừa phản ánh “hiện thực”, vừa phản ánh “ý thức chủ quan” của người nghệ sĩ [16]
Thơ trữ tình là sự bộc lộ cái chủ quan, là sự biểu hiện và cảm thụ của chủ thể trữ tình trong một không gian, thời gian nhất định Vì thế, thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình thể hiện rõ qua hai hình tượng: hình tượng cái tôi
và hình tượng thế giới Cái tôi là hình tượng trung tâm của thơ trữ tình, mang
vẻ đẹp độc đáo không lặp lại Hình tượng thế giới tồn tại trong thơ trữ tình với vai trò là khách thể để chủ thể - cái tôi trữ tình thể hiện mình Tất nhiên, hình tượng thế giới (cũng như hình tượng cái tôi nói trên) thực chất đều là hình tượng nghệ thuật, chúng được xây dựng, thể hiện theo những nguyên tắc thẩm
mĩ riêng của nhà thơ
Trang 131.2 Hành trình sáng tạo thơ của Đinh Thị Thu Vân
1.2.1 Vài nét về tiểu sử
Đinh Thị Thu Vân vừa là bút danh vừa là tên thật, sinh ngày 23-8-1955, quê quán ở xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, xuất thân trong một gia đình trung nông Cô là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long Tốt nghiệp đại học ngành Sư phạm Ngữ văn nhưng không theo nghề dạy học Sau khi ra trường cô trở về phục vụ cho quê hương bên ngành thư viện Sau đó, cô chuyển về tòa soạn báo Long An công tác Lúc đầu làm phóng viên đi viết tin văn nghệ, viết bài kí, văn xuôi, như cô đã
từng nói đó là “đụng đâu viết đó” Sau này chuyển qua Biên tập thơ rồi làm
Thư kí tòa soạn, sau đó làm Tổng Biên tập Tạp chí Văn Nghệ Long An Hiện nay cô là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban Liên lạc Hội Nhà văn Việt Nam tại đồng bằng sông Cửu Long và vẫn đang sinh sống, công tác tại Long An Về đời sống riêng tư Thu Vân có chồng nhưng đã ly hôn và có hai đứa con, một trai và một gái
Đến nay cô đã xuất bản được bốn tập thơ như bốn dấu ấn khác nhau
trong cuộc đời nghệ thuật của mình Đó là thay cho lời hát ru anh (1980); một ngày ta ngoái lại (2005); đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ (2015)
và Email xanh (2016)
Đinh Thị Thu Vân đạt được những giải thưởng nhất định trong sự nghiệp
văn chương của mình Theo thông tin in trên trang bìa của tập thơ đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ [43], Thu Vân đạt các giải thưởng là Giải C
Tuần báo văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979; Tặng thưởng thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1982, 1986; Tặng thưởng 5 năm văn học Bộ Quốc phòng 1984 – 1989
Nhìn lại chặng đường hoạt động nghệ thuật ta thấy Đinh Thị Thu Vân sáng tác không nhiều nhưng tất cả những gì cô mang đến đều để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng độc giả Trong một lần trò chuyện với cô, tác giả đã tự
Trang 14đánh giá về mình rằng: “Viết không nhiều, viết ít, có một quãng không viết vì
cô sợ mảng thơ có bao nhiêu đó ý tứ, sợ lặp lại, sợ trùng nên không viết một thời gian” Đề tài của cô cũng quanh quanh, quẩn quẩn chứ không lớn lao Cô viết không nhiều và đọc cũng không nhiều Cô tự nhận là mình “hơi hẫng” về
kiến thức văn học Những người viết họ rành văn học lắm, Đông Tây kim cổ,
cô có đọc gì đâu Tánh cô thì “tơ lơ mơ, hơi lơ ngơ trong cuộc đời” Là một
thi sĩ nhuốm màu tình ái nhưng thật tiếc khi nói về con đường tình của mình,
cô nói: “Yêu đương thì thất bại, tình cảm riêng tư thì thất bại” Có lẽ cuộc đời
truân chuyên, tình yêu dang dở… tất cả đã thấm vào hồn thơ của Thu Vân như một định mệnh
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ
Đinh Thị Thu Vân rất mê làm thơ Thơ đến với cô tình cờ nhưng mỗi vần thơ cô viết đều chất chứa những xúc cảm mãnh liệt trong sâu thẳm con người
cô Thu Vân là một người thẳng thắn, dễ thương Chính vì vậy, trong nhiều
cuộc nói chuyện, người đọc khó bắt gặp những lời phát biểu “đao to búa lớn”, đặc biệt là những lời “chấn động” về nghề Trong những bài phỏng vấn, ta
thấy rải rác đâu đó những suy nghĩ của cô về nghiệp cầm bút Nó không phải
là “tuyên ngôn” mà chỉ là những chia sẻ chân tình, mộc mạc Qua đó, đọc giả
cũng phần nào thấu hiểu thế giới nghệ thuật trong thơ của cô
Để bảo vệ sự nhạy cảm của mình vì quá yếu đuối, dễ suy sụp nên cô
chọn cách “trốn” trước đám đông Cao Thoại Châu trong Đinh Thị Thu Vân những điều không hỏi thì chẳng bao giờ nói đã phỏng vấn cô:
Cao Thoại Châu: Tôi có thắc mắc là nhà thơ không thoải mái trước đám đông Đấy là một phụ nữ chân thật hay là một cách bảo vệ nỗi cô đơn và tôi chưa biết nó có là một tổn thương hay niềm tự hào của người làm thơ (vì nó mà mới có được những bài hay)? Chẳng hạn
“Em vẫn yêu những khoảnh khắc bình yên/ Yêu tất cả những niềm vui
Trang 15bé nhỏ/ Hơn thế nữa, em yêu ngày sóng gió/ Xác xơ lòng, tàn phế giấc mơ đêm” thì ta nên tránh cái ồn ào là đúng
Đinh Thị Thu Vân: Nói rõ hơn là tôi bảo vệ sự nhạy cảm của tôi – mình hiểu mình quá, thương mình quá, dễ suy sụp quá, nên tốt hơn hết là… trốn Tôi yếu đuối, không son không phấn, không ngải không bùa, không đường không mật… rõ ràng không giống ai làm sao mà không “trốn” vào chính mình cho được?
Cao Thoại Châu: “Xin cuộc đời cay đắng cứ nhiều hơn” là kiêu hãnh tự tin hay là như chị viết “Để em lọc hồn em dâng cây cỏ/ Dâng trời đất dâng người thân kẻ lạ/ Thanh khiết này huyết mạch dưỡng nuôi em (…)/ Thanh khiết này anh có nhận không anh?”, một cách sàng lọc để chọn ra… Thế thì “kinh khủng” thật! hoặc đáng nể thật Tôi cũng giỏi đấy chứ khi nhận xét như vậy?
Đinh Thị Thu Vân: Thơ tôi ngày xưa là kiêu hãnh tự tin, sau hơn hai mươi năm là trơ lì đơn độc, ngày xưa là sàng lọc hiến dâng, bây giờ là chôn vùi vô vọng, ngay chính tôi, tôi cũng thấy ngỡ ngàng… Mà này, anh không “giỏi đấy chứ” đâu, anh chỉ… khá chút thôi! [6]
Sở hữu một dòng thơ đầy nữ tính, chân thật mà thanh nhã, Đinh Thị Thu Vân làm thơ để trở thành chính mình thay vì để trở thành người khác! Không
biết ở tuổi nào mà Đinh Thị Thu Vân viết “Em bây giờ nghe yếu ớt tựa mầm cây” Thơ tình là thơ muôn thuở mà thơ thất tình lại là thơ hay nhất Khao
khát yêu thương và còn lại những bài thơ thất tình đầy chất nữ tính nhưng không trang điểm dù chỉ một chút, đấy là thơ Đinh Thị Thu Vân
Có lần cô đã tâm sự:
Anh Luân Hoán, trong tri kỷ ơi anh có về như gió, anh ơi đừng khóc và đa số các bài thơ của em, tất cả là những cảm xúc
Trang 16tan tác, tất cả đã sẵn trong con người từng đi qua bạc bẽo, không riêng cho một hình bóng nào, nó chứa rất nhiều nỗi buồn, nỗi ám ảnh từ quá khứ, hiện tại và cả niềm bi quan dành sẵn cho những ngày sắp tới, chỉ là đôi khi mình chới với tuyệt vọng cùng cực hay đắm đuối bão bùng thì những run rẩy đã sẵn không âm ỉ nữa, nó bùng lên, bắt mình trải thành câu chữ… Em cũng khát một cái tên
đề tặng trong thơ mình, nhưng chưa, chưa bao giờ – khi em chưa
có một cái tên có nghĩa là tất cả vẫn chỉ là những cảm xúc đẹp và
cô đơn của riêng em… Thơ em hầu như không viết hoa, không ngày tháng, bởi với em không gì là quan trọng hết, đau là mình đau cả đời, người làm đau thì họ cũng nhẹ tênh mà đi, đâu có gì mà quan trọng, sao… nỡ quan trọng, đau là lẽ sống rồi… [30]
Thường thì thơ tình người ta hay ghi tặng người này người kia nhưng trong thơ của cô đó là những dòng tâm tư, cô viết cho chính cô Cô chưa viết thơ để tặng riêng ai Mới đọc thoáng qua tưởng như là tác giả viết cho một người nào đó nhưng thật ra là viết cho khát vọng yêu thương của mình chứ không phải viết cho người nào, chưa cụ thể cho một gương mặt nào Sau
những dòng tâm sự ấy, Hà Khánh Quân phải thốt lên: “Cuối cùng xin gởi nơi đây lời cầu chúc cô thi sĩ mọi sự lành Sớm có một tên thân yêu để đề tặng Tập thơ kế tiếp của Vân, hy vọng là những tiếng reo vui của hạnh phúc” [30]
Sự đặc sắc thể hiện từ nội dung, kết cấu, đến hình thức thể hiện Không giống đa số những nhà thơ, cô không viết thơ để tặng, không ghi lại ngày tháng đặc biệt không viết hoa đầu dòng, kể cả tên tập thơ “Thơ em hầu như không viết hoa, không ngày tháng, bởi với em không gì là quan trọng hết, đau
là mình đau cả đời” Đó không phải là dụng ý gây chú ý hay cách tân gì lớn lao Điều đơn giản cô dành lại cho độc giả cũng như với chính mình có lẽ đúng như nhà thơ đã từng nói - trần trụi một tình yêu
Trang 17Thơ đối với Thu Vân như người bạn tri âm để giãi bày, chia sẻ Tuy nhiên đọc những vần thơ ấy không làm cho ta có cảm giác dễ dãi trong câu chữ và mạch cảm xúc Mỗi từ cô viết ra như được chưng cất từ bao vị đắng trong lòng, một tình cảm rất thực và cũng hòa trộn trong đó sự trân trọng đúng mực đối với sáng tạo nghệ thuật Không cầu kỳ từ nội dung đến hình thức thể hiện, các bài thơ của Đinh Thị Thu Vân không nằm chung trong bản đồng ca thơ đồng bằng xuyến xao mềm mượt mà là một vị khách khiêm tốn chọn cho mình một chỗ ngồi riêng, vẫn không sao từ chối được sự chú ý của độc giả Đến với thơ Đinh Thị Thu Vân là đến với những dòng thơ viết cho tâm hồn, ghi lại những cảm xúc, những rung động tận sâu trong trái tim của một người
phụ nữ biết yêu thương, nhẹ nhàng và sâu lắng Có nhà thơ từng nói: “thơ là tiếng vọng của tâm hồn”, phải chăng, với Đinh Thị Thu Vân, thơ cũng chính
lời muốn nói thay cho tiếng lòng đang thổn thức kia trước những đau thương mất mát giữa những cuộc tình đầy chông gai, gian khó?
Lê Thị Kim cũng có quan niệm sáng tác giống Thu Vân, Lê Thị Kim từng viết: “Thơ - là mảnh sò bé nhỏ ta chơi, cũng là vỏ ốc cho ta - con dã tràng về ẩn náu” Cô nói:
Làm thơ là tôi tìm về với chính mình, lắng nghe tiếng lòng mình Thơ đã nâng đỡ làm trong trẻo trái tim tôi mang đến cho tôi cảm giác bình yên, hạnh phúc Thơ là cõi trú, là chốn ẩn náu Tất nhiên, thơ được chắt lọc từ những giằng xé, va đập… của những ý tưởng, cảm xúc Và vì vậy làm thơ là đi ngược chiều gió, là leo lên đỉnh tuyết không biết điều bất ngờ nào đang ở phía trước…[7]
Lê Thị Kim và Thu Vân cảm nhận mình hiểu mình quá, yêu mình quá nên tốt nhất là ẩn náu vào thơ
Bởi thế, ta có thể thấy trong thơ của hai nhà thơ nữ hiện sống ở miền Nam có một số nét chung Trước hết họ không viết về những điều lớn lao, vĩ
Trang 18đại, họ viết về cái riêng lẻ, cá thể, con người riêng lẻ, đó là cái đẹp trong thi
ca Xét cho cùng trên thế gian này có gì đẹp hơn con người, người là “hoa đất”, họ viết về tâm hồn, tình cảm sâu sắc của con người Nguyên Sa, Du Tử
Lê, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng… trong thơ cũng từng có hướng viết như thế Có thể khẳng định đó là đặc trưng thi ca ở miền Nam trước năm 1975
Và đương nhiên thơ ở mỗi nữ sĩ đều có sắc thái riêng thể hiện như tính cách rất riêng ở mỗi người: Kim thì điệu đàng, vô tư; Vân thì hiền lành, cam
hay, giá trị thơ từng người rồi sẽ được người đọc thẩm định
Nguyên Hậu trong Đinh Thị Thu Vân - Người dấu lửa trong thơ cũng
đã nhận định:
Thơ viết cho riêng mình nhưng vẫn mang lại cảm xúc cho người đọc làm rạo rực biết bao trái tim Thật khó bày giải một cách rạch ròi nhưng theo người viết, đó có lẽ là ở cái năng lực đặc biệt
mà không phải ai cũng có Chỉ có thể nói một cách giản dị về cô rằng: Đinh Thị Thu Vân - “người giấu lửa trong thơ”… [15]
Ngoài ra, Đinh Thị Thu Vân viết thơ như viết nhật ký, cô “không bao giờ nghĩ mình là nhà thơ”, rất ngại khi ai đó nói mình là nhà thơ, giống như cô
“viết nhật ký bằng văn vần”, viết cho riêng mình, không cần ai biết, không
cần ai sẻ chia Trái tim ấy từ lâu không còn thanh thản, bởi đã một lần lạc mất tình yêu cho dù yêu thương vẫn còn đó, vẫn hằng đêm hiện về nhưng làm sao bấu víu, làm sao sống trọn cho mình dù chỉ một đêm?
anh vẫn đi về…xáo động ước mơ xưa vẫn đầy ấp, vẫn vô tình xa cách…
(lẩn khuất tên anh)
Thơ cô chính là những dòng tâm sự của một người từng trải, một người vẫn luôn mong chờ một hạnh phúc, một hy vọng bình yên ở phía cuối con
đường Con đường tình yêu Cô cảm thấy mình may mắn: “Rất nhiều người nói là cô nói được những điều người ta nghĩ nhưng họ không nói được bằng
Trang 19lời May mắn là cô nói được bằng lời những cảm giác khổ đau của phụ nữ”
Có lẽ chính vì điều đó thơ cô được nhiều bạn đọc yêu quý
1.2.3 Những chặng đường sáng tạo thơ
Thu Vân bắt đầu làm thơ từ những năm 70 và được người đọc chấp nhận
ngay, không phải qua một thời gian “thử việc” Bứt phá nhanh, tự khẳng
định ngay từ những bài thơ đầu tiên. Lúc mới cầm bút, mảng đề tài chính
của cô là chiến tranh về sau đi sâu vào mảng tự sự, trữ tình Từ khi cầm bút đến nay Thu Vân cho ra đời 4 tập thơ, mỗi tập đều mang những dấu ấn rõ nét cuộc đời cô
thay cho lời hát ru anh là tập thơ đầu tay của Đinh Thị Thu Vân do Hội
Văn học Nghệ thuật Long An xuất bản vào năm 1980 Đây là tập thơ đánh dấu sự mở đầu cho thành công trong sự nghiệp nghệ thuật của Đinh Thị Thu
Vân Tập thơ này có 22 bài thơ Ngay từ những bài thơ đầu tiên như con tem quân đội, nếu không có ngày ba mươi tháng tư, bài thơ lục bát của anh…
Thu Vân đã để lại ấn tượng về một “em” hậu phương trẻ trung, đằm thắm,
nghĩa tình Tình yêu lý tưởng cộng với chút gì hồn nhiên, sâu lắng, Thu Vân
đã thật sự làm mới lại một đề tài vốn đã thân quen Hơn nữa lại ra đời trong những năm sau giải phóng, tập thơ làm thức dậy trong lòng bao chàng trai trẻ
từng “bạc vai áo xông pha” những kỷ niệm, những cảm xúc ngọt ngào Chính
một người bộ đội năm xưa từng bày tỏ cảm xúc rằng yêu lắm những vần thơ
của Thu Vân ngày đó Đến với tập thơ thay lời hát ru anh, ta thấy một hồn
thơ tươi trẻ, hồn nhiên, yêu đời với những câu thơ mang tinh thần lạc quan của một cô gái trẻ viết về anh bộ đội Cụ Hồ
Tình yêu trong thơ cô lúc nào cũng đằm thắm, ngọt ngào, chất chứa đầy những nội tâm sâu kín Cũng là thơ tình nhưng thơ tình của cô có gì như trách móc, lời trách móc không phải để giải tỏa nội tâm mà như những mũi dao tự đâm chính mình Cái lỗi trong tình yêu đôi khi không quá rõ ràng, rạch ròi
Trang 20như bài toán, đó là những day dứt đắng cay chỉ người trong cuộc mới hiểu
Với bài thơ áo người yêu, ta cảm nhận được một hồn thơ tự nhiên, giọng thơ
nhẹ nhàng cùng cảm xúc ngọt ngào chất những nỗi lòng sâu kín Anh là một người bộ đội, tình yêu em dành cho anh da diết nhưng không thể nói nên lời
vì anh còn trách nhiệm, còn nghĩa vụ thiêng liêng Em muốn là từng sợi vải trên chiếc áo anh để có thể theo bên anh trên những chặng đường hành quân gian khổ
sợi vải nào thương anh giữa đêm ? sợi vải nào vương hơi thở mềm ? sợi vải nào nhớ vùng ngực ấm ? sợi vải nào tương tư áo em ? đất bụi chiến trường dấu ở đâu
áo anh chưa chịu nói câu nào lần lựa em tìm trong gấu áo bụi đỏ hay là nỗi khát khao ?
Hay trong bài thơ thay cho lời hát ru anh, một dòng cảm xúc da diết,
giãi bày nỗi nhớ mong nhân vật trữ tình muốn chia sẻ nỗi buồn với người mình yêu bằng mong ước:
làm sao đổi được tâm hồn
để em mang trọn vui buồn anh mang?!
làm sao bớt được cách ngăn cho lòng em bớt trở trăn đôi bề?!
Một nỗi lòng trăn trở muốn đi sâu vào lòng người yêu để hiểu rõ nỗi lòng
anh nhưng vừa muốn dừng lại, nửa lại muốn bước nhanh: “tâm hồn anh - chốn bão dông/ em chưa đi hết một vùng thẳm sâu/ nửa thì cứ muốn dừng lâu/ nửa kia lại muốn bước mau, vội vàng!” Đặc biệt là đoạn thơ cuối, dường
như nỗi lòng của nhân vật trữ tình được trải rộng và buồn một nỗi buồn vô tận
Trang 21với người anh áo lính:
đời anh - áo lính màu xanh
em ru sao để không thành thờ ơ lời nào ru được bây giờ
lại ru cả khoảng đợi chờ mai sau ?!
Đây là bài thơ chính trong tập thơ này bởi nó mang đầy đủ ý nghĩa của chủ đề tập thơ, lời thơ buồn buồn, sâu thẳm, có lúc cảm giác như nghẹn lại khi cảm xúc dâng trào
Hai mươi lăm năm sau Thu Vân mới cho ra đời đứa con thứ hai là một ngày ta ngoái lại do Hội Văn học Nghệ thuật Long An xuất bản vào năm
2005 Hơn hai mươi năm mới in hai tập thơ vì hình như nhà thơ không ưa trình diễn cả người lẫn thơ trước đám đông mà cô thường lẩn tránh bất cứ khi nào có thể. Nếu với thay cho lời hát ru anh người đọc thấy một Đinh Thị
Thu Vân hồn nhiên, tươi trẻ với những câu thơ mang tinh thần lạc quan của
một cô gái trẻ viết về anh bộ đội Cụ Hồ thì khi đến với một ngày ta ngoái lại ta
lại bắt gặp một Đinh Thị Thu Vân khác, một Thu Vân của những trăn trở, hoài niệm, tiếc nuối, những cuộc đối thoại tâm trạng với một người nhưng thực chất
là với chính bản thân mình Nếu như trong thay lời hát ru anh là tình yêu trong sáng, tươi trẻ của một tâm hồn tràn đầy sức sống thì trong tập thơ thứ hai một ngày ta ngoái lại là cái đắng xót của một tình yêu bị tan vỡ, một sự hoài niệm
tiếc nuối và có cả nỗi khát khao đợi chờ dẫu biết đó là vô vọng
Với tập thơ này, người đọc sẽ để cho cảm xúc của mình “phiêu” trong
những miền sáng tối, những góc khuất khác nhau của nội tâm, có khi là đỉnh của yêu thương nhưng có khi lại là tận cùng của niềm cô độc Chính những
“góc”, “khoảng” ký ức triền miên ấy đã làm không ít người đọc cảm thấy ám ảnh, day dứt trước cái ngõ hẹp hun hút của tâm hồn Xuyên suốt tập thơ là
“nỗi ân hận của người đến sau, của người đến muộn” dẫu rằng lý do không
Trang 22kịp ấy của cô là điều không thể khác Cái lỗi ở đây không rạch ròi, cái lỗi đan
cài trong đó nhiều ẩn tình, éo le, ngang trái Có khi là yêu thương nhưng lại
trở thành “lỗi”, cái lỗi nhẹ nhàng cũng là cái lỗi lớn lao nhất Ngẫu nhiên hay
tình cờ Đinh Thị Thu Vân đã nói dùm những nỗi niềm bè bạn quá giống tâm
sự của chúng ta lúc này, hay bởi chính nhà thơ cũng đã có những hồi ức và hoài nhớ cùng với những người bạn và một thời yêu dấu Một lần hội ngộ rất
đặc biệt với những người bạn của một thời thơ ấu: “rồi sẽ có một ngày ta ngoái lại/ bạn bè ơi, khi ấy có còn nhau/ cơn lốc đời đưa đẩy bạn về đâu/ ta ngoái lại tìm nhau, e mất dấu” Thế rồi cũng con người đó, hơi thở đó, cũng khoảnh khắc đó có lúc lại ao ước rằng:
ngày mai… ngày mai… ôi giá như ngày mai tôi có thể chia cho ai một chút lòng tan vỡ một chút ngậm ngùi một chút cô đơn…
(tàn đông)
Bao trùm trong dòng ký ức loạn nhịp ấy, đôi khi ta thấy một sự mâu thuẫn lớn trong nội tâm chủ thể trữ tình Bởi lẽ những cung bậc tình yêu có bao giờ rạch ròi đâu Có khi hờn trách lại có lúc thương yêu, đôi khi cái trách móc có vẻ đắng cay lại ẩn chứa một tình yêu nồng nàn hơn bao giờ hết
Thu Vân làm thơ không nhiều nhưng những lời cô viết ra như được chưng cất từ muôn vạn nỗi niềm riêng thành chiếc bóng đen đặc quánh như giọt café nặng trịch trong chiếc cốc tâm hồn Ở đó cái yếu đuối được ngụy trang bằng sự rắn rỏi bên ngoài, nỗi khát khao được phủ lấp bởi cái bất cần đầy nữ tính:
và em chợt thương những người phụ nữ suốt đời chung thủy suốt đời vùi hồn trong những kỷ niệm
ngỡ thiêng liêng
ôi những người phụ nữ không biết quay lưng
Trang 23sẽ không bao giờ không bao giờ nhận ra được hết những ngõ ngách bạc bẽo trong trái tim lạnh lùng phản bội!
(trần trụi tình yêu)
Nghịch lý ấy vỡ ra từ sự cay đắng, đớn đau đến tột cùng cảm xúc khiến những người nhận biết dẫu trong hay ngoài cuộc đều thương chứ không nỡ trách Cái nghịch lý đáng yêu lắm nhưng cũng xót xa lắm, ấy vậy mà đó dường như lại là lý do duy nhất để người thơ tồn tại giữa cuộc đời đầy phong
ba bão tố Trách móc cho thỏa để rồi cuối cùng cũng nhận hết mọi cay đắng về mình Đó là lý do vì sao Phan Văn Tường từng nói thơ Thu Vân gợi lên cái
ám ảnh về một con người luôn thấy mình có lỗi: “em nhận lỗi về em tất cả/
những câu thơ phơi trải hết u buồn” (bài thơ tạ lỗi) Những dòng tâm tư ấy
ngày đêm như lớp than nồng âm ỉ chỉ chờ trông một cơn gió lòng gợn qua cũng có thể bốc cháy mãnh liệt Dường như không phải tác giả đang nói mà chính tâm sự của cô lên tiếng, cô cố dập tắt nó không muốn tỏ bày, đóng kín cánh cửa tâm hồn nhưng đành bất lực Dường như người trong cuộc đang
phải đấu tranh giữa “quên” và “nhớ”:
dường như lòng chưa trọn một lần quên thì cứ nhớ như ngày mai không được nhớ
…
làm thế nào tôi nói được lời riêng…
(tàn đông)
một ngày ta ngoái lại là tập thơ tình nồng cháy, một tình yêu bị thương
như vết thương góc trời mà người ta gọi là sao Mai, sao Hôm, chỉ một ngôi sao mà phải chia mình ra thành hai đốm sáng để ngắm nhau cho trời đêm bớt
phần đơn độc Cái “tôi” chủ thể - nàng thơ trong tập thơ này có thể là chính
tác giả mà cũng có thể chỉ là một biểu tượng, một hoài niệm, một ban mai còn
Trang 24giấu trong chăn nệm chiêm bao, nơi chỉ có hoa mai và người đàn bà đối diện trong đêm
Tập thơ kế tiếp là đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ do NXB Hội Nhà văn xuất bản năm 2015 Kể từ tập thơ một ngày ta ngoái lại, Đinh Thị
Thu Vân chờ đến mười năm sau mới xuất bản thêm tập thơ mới Mười năm, một chặng đường thơ Mười năm - một phần đời với những biến cố thăng trầm của phận người, trong đó có tình yêu Tập thơ này có 108 trang ruột, bỏ qua bài tựa của Trung Trung Đỉnh và bài bạt của Nguyễn Đông A là 51 bài thơ của Đinh Thị Thu Vân Tất cả đều là thơ tình Có vẻ như tác giả Nguyễn Đông A hiểu nhiều cả về người lẫn thơ của Đinh Thị Thu Vân Trong bài bạt
có cái tựa đinh thị thu vân và nỗi buồn tay trắng…, tác giả này viết:
Bởi thơ của cô là tình yêu từ một phía, cô cho mà không nhận lại hoặc có nhận nhưng rất ít Bởi thơ của cô mang tính lãng mạn - Thu Vân như “lưng lửng giữa lưng trời”, giữa cái ảo và thực, hy vọng cái không thể có Thu Vân ở ngoài đời và chủ thể trong thơ luôn hòa quyện, tan biến thành một [43]
Đinh Thị Thu Vân mở lòng tập thơ trong nhịp điệu lục bát chân truyền:
gối đầu lên chân em đi khép ngoan anh nhé rèm mi lặng buồn
em lần khuy áo mà thương sâu trong lồng ngực anh dường như đau…
gánh nơi sợi tóc phai màu bao nhiêu bạc bẽo và bao phũ phàng?
nghiêng lòng gởi chiếc hôn sang bao nhiêu ấm đủ xua tan rã rời?
(ru oan)
Thiết tha, hiện thực trong tình yêu là điểm thứ nhất, nhà thơ bày tỏ lòng
Trang 25mình như trình diện một nhân cách Lời mời gọi trực tiếp đã rất khác với một Thúy Kiều của cụ Tiên Điền nhưng thật hơn, nồng nàn hơn Hình ảnh của tình yêu cụ thể hơn Và tuyệt vời ở cốt cách lãng mạn, đoan chính vẫn sáng nét Cử chỉ đi đôi với tình cảm bộc lộ một cách linh hoạt Không e dè nhưng chẳng sỗ sàng Tất cả thật hợp lý hợp tình cho một cặp đôi đang yêu nhau Lời nhắc nhở, lời mời gọi, thấp thoáng một chút gì van nài lẫn ra lệnh
Tên tập thơ như một lời van xin trổng trổng đồng thời gợi nhớ đến một hình ảnh ai cũng từng gặp trong cuộc sống: Cỏ Cỏ có nhiều loại khác nhau như cỏ tranh, cỏ gừng, cỏ mần trâu, cỏ lông heo, cỏ nhung Nhật Bản, cỏ lạc tiên, cỏ xuyến chi, cỏ lan chi, cỏ cú, cỏ gà, v.v… Nói chung cỏ thuộc họ thực vật với các đặc tính: mong manh, nhỏ bé, xanh mướt, dễ thương, dễ ngã, … nhưng có sức sống vô cùng bền bỉ Có đất cỏ tự mọc lên với gốc rễ của mình Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân đã không ngần ngại ví tình yêu của mình như thân phận những loại cỏ dại Với thể thơ không câu nệ số chữ, cô trăn trở tình mình qua hơn năm cụm thơ, mỗi cụm bốn dòng:
tôi chẳng muốn trôi đâu, phía sông xa mờ mịt quá
làm sao mà quay lại một ngày đau
đừng đẩy đưa thêm – nhỡ rồi bạc lòng nhau
nhỡ phai mất mong manh, nhỡ nhạt nhòa sương khói
…
hãy dừng lại đời tôi ngay khoảnh khắc đắm say người
đừng trôi nữa… sông xa mờ mịt quá
đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ
mang phận buồm… không gió để ra khơi!
nếu rủ lòng thương, xin thượng đế bớt xa xôi
hãy nghiêng xuống, hãy dừng lại đời tôi, thôi đừng tan vỡ nữa…
Bài viết thể hiện một mạch thơ buồn bã, xâu chuỗi những lời thống thiết
Trang 26kể lể, kêu gọi, van nài… gởi đến cuộc đời đồng thời là nói với chính mình Cuộc sống luôn di động Thời gian luôn đi qua Thể xác tâm tình tùy thuộc vào vũ trụ biến hóa Ý thức về sự hèn mọn của thân phận, sự mong manh của tình yêu nhưng tác giả bằng lòng với những khiêm nhường đó Nhà thơ quý
cả nỗi đau của mình, sợ hãi đánh mất những nhớ nhung Và hoài nghi cả sự
thay đổi của người tình khi bị cuốn trôi về một tương lai mờ mịt, “trời đang
xanh, mình đang rất thương mình” chẳng thể nào không thay đổi, nếu không
được dừng lại Tuy nài nỉ nhưng ý thức được điều đó là không thể cũng như khẳng định Thượng Đế là sự xa vời càng làm nổi bật cái bất lực, cô đơn của chính mình Chỉ cần đọc một số đề bài của Đinh Thị Thu Vân viết đã có thể lờ
mờ đoán chừng cái vùng bao la buồn của nhà thơ Thử đọc bài phù du ơi phù
du buồn đến nỗi:
tháng sáu khóc giùm tôi ngàn tuyệt vọng những lời mưa chan chứa nỗi chôn vùi tôi ngồi đếm phù du, tôi ngồi nhớ tôi ngồi thương người… như lần cuối thương tôi!
Thật quá đúng, khi yêu một người mình không còn là mình Hơn thế nữa,
Đinh Thị Thu Vân đưa ra cảm nhận rất tinh tế nhưng chỉ có trong thi ca: “bao
nhiêu hạt máu đang rời trái tim” Tình yêu là cha đẻ của những trạng thái tâm
hồn: vui buồn, nhớ tiếc, hờn giận, chán nản, cam chịu… Một người biết làm thơ thường vận dụng ngôn từ để bày tỏ những xúc cảm trên Đinh Thị Thu Vân cũng đi con đường ấy Nhưng cô hoàn hoàn đánh rơi bóng dáng những
nụ cười Hơi thơ của cô thường trực u uất, buồn phiền đến cùng cực Sự chia lìa người thân yêu có lẽ là thủ phạm đánh cắp niềm vui của người con gái giàu yêu thương?
Đọc đi đọc lại 51 bài thơ trong tập thơ đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ tôi vừa cảm nhận được một tình yêu trong sáng đến thánh thiện, vừa
Trang 27cảm phục Đinh Thị Thu Vân khi viết cả một tập thơ tình buồn nhưng tuyệt
nhiên không “gieo rắc” cho người đọc nỗi yếm thế Dẫu là kẻ thua thiệt mọi nhẽ, “dạt dào trao và bạc bẽo nhận về”, song người đàn bà trong thơ Đinh
Thị Thu Vân vẫn chấp nhận và coi như số phận đã an bài Đọc đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ tôi có cảm giác tác giả nghĩ thế nào viết ra thế ấy,
hoàn toàn không có sự dụng công trong câu chữ ngôn từ vì thế thơ của cô tươi nguyên cảm xúc chân thực và đi vào lòng người đọc
Tập thơ Email xanh (2016) tiếp tục là minh chứng cho vết thương lòng
của Thu Vân Tập thơ in chung 5 nữ tác giả là Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, Trần Mai Hường, Lê Thị Kim, Đinh Thị Thu Vân và Huỳnh Ngọc Yến với 45 bài
thơ, mỗi nhà thơ có 9 bài Tuyển tập thơ Email xanh được NXB Hội Nhà văn
phát hành đúng vào dịp ngày Quốc tế Phụ nữ, không biết hữu ý hay ngẫu nhiên lại là tuyển tập thơ tình của nữ Tên gọi của tuyển tập thơ thật độc đáo:
một “chữ Tây” bên cạnh một “chữ Việt”: Email – xanh: email là những lá thư
thời hiện đại; xanh - màu của tình yêu muôn thuở, chỉ nội cái sự sắp đặt của hai từ trên đã như khẳng định dù ở thời nào thì tình yêu của phụ nữ vẫn luôn
là màu xanh, màu của sự tươi non mơn mởn và tràn đầy hy vọng, không có
tuổi tác Email xanh như một sự gặp gỡ tình cờ để tạo thành một email - hộp
thư chung, lại ngẫu nhiên mở ngỏ cho những dòng thơ gửi gắm cánh mày râu những thông điệp giống nhau: nỗi khát khao khi yêu, những dằn vặt, nồng nàn, day dứt đều có đủ Hãy nghe Đinh Thị Thu Vân dùng thể thơ tự do diễn
tả tâm trạng mình khi yêu và xa trong may mắn: “may mắn nào cho em gặp
anh, vào đúng lúc trái tim non dại nhất, vào đúng lúc trái tim tròn khao khát,
và ngọt ngào vừa đủ chín giữa cô đơn…” Để rồi cô cũng nhận ra sự “may mắn” khi chia tay như thế này: “may mắn cho em, anh đã chẳng phũ phàng hơn, thêm chút nữa cách nào em sống được, thêm chút nữa chắc là bao nước mắt, không dễ gì em giấu giữa tim sâu, thêm chút nữa thôi em sẽ phải căm
Trang 28thù, ta chẳng thể nhìn nhau, dù giá lạnh…”
Cũng nói về những khoảng cách vô định trong tình yêu, Lê Thị Kim viết
trong Xa và gần:
Anh xa mà gần lắm Mối tình thuở môi thơm Chỉ như là chiếc lá
Đủ làm mềm không gian
…
Chỉ cỏ cây mới biết Mình trú ngụ nơi đâu chỉ đất trời mới biết Tình mình thiên thu sâu
Xa mà gần, gần lại thật xa, những mối tình không bao giờ phai đi cùng năm tháng, dẫu chỉ trong tâm tưởng của một người… Nhưng chính vì là trong tâm tưởng cho nên những nỗi lo vu vơ cũng đủ thiêu đốt trái tim người phụ
nữ khi yêu:
Biết người có như sương khói
Tình yêu thả giữa mông lung
Em về ươm đời mộng ước
Mở ra trắng bàn tay không
(Đừng như sương khói)
Còn nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh đã dành những dòng thơ tình viết về người phụ nữ của mái ấm gia đình:
Đôi khi khùng em ước Treo cổ trên cọng cỏ như một giọt sương Sướng nhá
Em long lanh
Trang 29Tan ra Cho chồng con kiếm tìm chơi
Lại hoảng
Vì trước khi hóa giọt sương
Em chưa rửa chén…
(Kiếp trước mù tăm)
Đọc bài thơ này mà muốn bật cười Cười rồi lại thấm thía với tâm trạng
mơ mộng, vẩn vơ, cũng hơi… khùng khùng nhưng phụ nữ của gia đình thì dù như thế nào vẫn không thể quên trách nhiệm giữ lửa cho tổ ấm của mình, trách nhiệm từ những việc cỏn con như rửa chén Ánh Huỳnh còn viết bài
Chính mình như để những người đàn ông làm chồng suy ngẫm: “Suốt ba
mươi năm/ Anh bảo/ Em phải quên mình/ Vì chồng con” Sau đó: “Tóc bạc rồi/ Anh lại bảo/ Em phải là chính mình đi/ Không là chính mình/ Chán lắm/ Anh ơi/ Em còn mình đâu/ Suốt ba mươi năm/ Em toàn làm người khác/ Giờ/ Tìm mình/ Ở đâu?” Người phụ nữ không còn là chính mình vì suốt một đời
vì người khác, do người khác chi phối Cho nên buồn vui, hạnh phúc của người phụ nữ hình như ít nhiều lệ thuộc vào người khác!
Với thi sĩ Trần Mai Hường, phụ nữ khi yêu thường nhiều linh cảm nhưng
đôi khi họ lại muốn không tin vào linh cảm của mình: “Ước linh cảm của em đừng đúng/ Tim thôi đau và hết giận hờn/ Ước linh cảm của em đừng đúng/
Để thấy đời như dại mới vừa khôn” Đó là khi thảng thốt nhận ra: “Em đâu
nghĩ một ngày tình quay mặt/ Rồi sẽ quên như chưa có trong đời” (Linh cảm) Và kể cả khi chịu sự phũ phàng nhưng người phụ nữ cũng rất vị tha:
Ngày tháng dần trôi… anh xa lạ rồi
Em cặm cụi nhặt giọt đời vỡ vụn Chút tình nghĩa anh sớt chia quá nhỏ Nhín lòng mình em chiu chắt dành con
(Độc hành về phía cô đơn)
Trang 30Thơ tình của Huỳnh Ngọc Yến đầy cảm xúc! Những Thiêu thân, Tín vật đêm, Vá đêm, Giá như anh biết, Người đàn bà điên, Lửa…, đọc từng bài
thơ thật thán phục không biết bằng cách nào Ngọc Yến lại viết thơ tình hay đến thế, đủ cung bậc, vào đủ vai để tình thơ lai láng Trong đó, tôi yêu cái khát vọng mãnh liệt và sự đè nén cũng thật mãnh liệt trong những vần thơ như
cháy trong bài Lửa: “Người đàn bà muốn trong giây phút si mê bỏ quên nền
nếp cũ - ngỏ lời, trước người đàn ông hai tiếng: yêu anh!” Rồi lại: “Người đàn bà chỉ muốn nghiêng về một phía - yên bình, thôi những cơn mơ xôn xao thời thiếu nữ, thôi những đam mê khát khao trong từng con chữ, thôi những vui buồn, quên nhớ, tỉnh điên… Người đàn bà tự cháy trong đêm, nhờ ngọn lửa đốt mình thành nước mắt”
Qua tập thơ Email xanh với 45 bài thơ được viết từ 5 nhà thơ nữ ở Bắc - Trung - Nam ta thấy ở đấy đủ đầy những cung bậc cảm xúc yêu đương Email xanh - những khúc tâm tình ngọt ngào, dịu êm và cũng thật cồn cào, mãnh
liệt đúng như bản chất của người phụ nữ khi yêu Thế mới thấy, dù là ai, ở đâu, thơ tình của nữ lúc nào cũng thật đắm say!
Qua bốn tập thơ của Đinh Thị Thu Vân, ta thấy có một điểm chung duy nhất đó chính là tình yêu lúc nào cũng đằm thắm, ngọt ngào, chất chứa đầy những nội tâm sâu kín Có thể nói, Đinh Thị Thu Vân là một trong những cây bút nữ đặc biệt của xứ đồng bằng Thơ Thu Vân lúc nào cũng đầy ắp một chữ tình
Trang 31
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu tố, cấp độ của sáng tạo nghệ thuật Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình là thế giới được nghệ sĩ sáng tạo ra bằng phương tiện ngôn từ, nó vừa
phản ánh hiện thực, vừa phản ánh “ý thức chủ quan” của người nghệ sĩ Đinh
Thị Thu Vân là một tác giả nữ đam mê, tâm huyết với công việc sáng tác thơ Cho đến nay, trải qua hơn 30 năm cầm bút cùng với quan niệm nghệ thuật riêng của mình, cô đã cho ra đời bốn tập thơ Thơ Thu Vân thể hiện những buồn vui, trải nghiệm của một người phụ nữ khao khát sống, khao khát yêu và thành thật đến tận cùng với mọi cung bậc cảm xúc của mình
Dù không gây ấn tượng mạnh nhưng với vốn sống của bản thân, các thi phẩm của tác giả này đã mang đến cho thi đàn những trang thơ giản dị, nhẹ nhàng
mà sâu lắng Tất cả những điều đó đã tạo nên nét riêng của nhà thơ, góp phần đưa tên tuổi của cô đến gần hơn với độc giả
Trang 32Chương 2 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ ĐINH THỊ THU VÂN – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH
2.1 Một số vấn đề lý thuyết về cái tôi và cái tôi trữ tình trong thơ
2.1.1 Một số vấn đề lý thuyết về cái tôi
Sáng tác thơ ca là nhu cầu tự biểu hiện, một nhu cầu hết sức nhân bản chỉ có ở con người Mỗi nhà thơ trong quá trình sáng tác đều cố gắng thể hiện nét riêng của mình Bởi thế nên khi đọc thơ người đọc thường thấy những trải nghiệm, những thể nghiệm, những khám phá, những khát vọng, những lý tưởng, tình yêu, sự sống, sự lạc quan tin tưởng…thậm chí là những rung động rất mơ hồ của chính tác giả thơ Tinh ý ta sẽ nhận thấy ở đó cái tôi riêng của
mỗi nhà thơ Câu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng
đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ cách mạng
đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới khi nhu cầu xã hội và cá nhân
đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình đời tư của người làm thơ Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu Chẳng hạn, thời chống Pháp, chống Mỹ đó là độc lập, tự do của dân tộc Tất cả
những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” sẽ không phù hợp, không được đón nhận và vì thế không thể phát triển Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986 với chủ trương
đổi mới của Đảng trong xã hội nhu cầu bức thiết nhất theo chúng tôi là khát
vọng dân chủ
Đối với văn học, đặc biệt đối với sáng tác thơ ca, dân chủ là điều kiện làm nảy nở những sáng tạo mang đậm màu sắc của chủ thể, là những sản phẩm rất riêng tư, độc đáo, không lặp lại Nhà thơ sẽ tìm ra tiếng nói riêng của mình trong sáng tạo Văn học không có gì khác ngoài tiếng nói riêng của mỗi người trong vô vàn những tiếng nói khác Bởi vì, bổn phận của nhà thơ là
Trang 33buộc phải thêm vào kho tàng văn hoá nhân loại một điều gì đó không có sẵn,
không lặp lại Tuocghenhev nói: “Cái quan trọng của tài năng văn học là tiếng nói riêng của mình Đó chính là đặc điểm để phân biệt chủ yếu một tài năng độc đáo” [24] Ngày trước, Hoài Thanh nói về cái tôi của thơ Mới là
“càng đi sâu càng thấy lạnh”, đến giai đoạn chống Pháp và chống Mĩ cái tôi hoà vào sức mạnh của cái “ta”, cái chung của dân tộc, thời đại và cái riêng
tư được xem là những “ngọn gió siêu hình” Còn hôm nay, cái tôi trở lại với
đúng nghĩa của nó, thường nhật và giản dị, của chính mình, do mình chịu trách nhiệm, không vay mượn, không che đậy, dám công khai thừa nhận cả những mặt tối, mặt che khuất, mặt chưa hoàn thiện bên cạnh những phẩm chất khác Cái tôi là một khái niệm triết học đánh dấu ý thức của con người về bản thể tồn tại của mình Trên cơ sở những thành tựu khoa học về con người nhất là thành tựu triết học và tâm lý học, Các Mác đã đưa ra định nghĩa:
“Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người có quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với chính bản thân mình Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình” [27]
Bản chất của thơ trữ tình là sự hiện diện của cái tôi Theo nhận định
của Lê Lưu Oanh: “Cái tôi thực chất là khái niệm về cấu trúc nhân cách mang tính phổ quát Hiện tượng cái tôi vừa mang tính xã hội - lịch sử, vừa phân biệt cái độc đáo và khẳng định tính tích cực của nhân cách cá nhân”
[27] Vì con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội nên có thể coi cái tôi vừa là chủ thể vừa là khách thể của hoạt động nhận thức, sáng tạo Như vậy, có thể thấy cái tôi nền tảng của sự sáng tạo có ảnh hưởng quyết định đến quá trình sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là sáng tạo thơ trữ tình
2.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ
Cái tôi trữ tình là khái niệm xuất hiện khi tư duy lý luận thơ đã đạt đến
một trình độ nhất định Trước hết cần thấy thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ
Trang 34chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Như vậy, thơ trữ tình chính là một phương tiện để con người bộc lộ toàn bộ thế giới chủ quan với những cung bậc tình cảm, những rung động, suy ngẫm và
cả những trải nghiệm cuộc sống
Cái tôi trữ tình có bản chất xã hội tâm lý, bản chất tự ý thức bởi vì nó tồn
tại trong vô vàn mối quan hệ với đời sống chịu sự chi phối bởi quy luật, các điều kiện xã hội truyền thống văn hóa, đạo đức, lịch sử, triết học, thẩm mĩ Theo Vũ Tuấn Anh:
Cái tôi trữ tình vừa là một cách thế nhìn và cảm nhận thế giới của chủ thể, lại vừa là một điểm nhìn nghệ thuật của chủ thể Đồng thời, cái tôi trữ tình cũng đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương tiện nghệ thuật (thể thơ, hình tượng, vần, nhịp…) để vật chất hóa thế giới tinh thần thành một hình thức văn bản trữ tình [1].
Như vậy, như một chỉnh thể toàn vẹn và đa dạng, thế giới tinh thần của
cái tôi luôn có sự đối lập nội tại: không - có, trong - ngoài, quá khứ - hiện tại, hiện tại - tương lai, mơ - thực … tạo nên những mâu thuẫn và đấu tranh Điều đó tác động khiến cái tôi vận động và phát triển Cái tôi có chức năng nội cảm hóa thế giới, biến thế giới khách quan thành chủ quan, trở thành chủ thể của
giá trị, của cái nhìn Nó tổ chức thế giới hình tượng thành một thể thống nhất
Trong các ý kiến bàn về cái tôi trữ tình trong thơ, chúng tôi rất tâm đắc
với nhận định của Lê Lưu Oanh: “Cái tôi trữ tình là một giá trị cụ thể của cái tôi nghệ thuật Trữ tình là sự trình bày trực tiếp cái tôi nghệ thuật ấy Cái tôi trữ tình là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người được thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện của thơ trữ tình” [27, tr.18]
Trang 35Cái tôi trữ tình nếu chia theo loại hình nội dung có các dạng thức: “Cái tôi -
sử thi; Cái tôi - thế sự; Cái tôi - đời tư…” [27, tr.57]
Vậy, bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ thể hiện ở những khía cạnh nào?
Thứ nhất, cái tôi trữ tình có bản chất chủ quan, cá nhân Nó tự biểu
hiện, phơi bày thế giới nội tâm của cá nhân đồng thời nó cũng là hệ qui chiếu thẩm mĩ mang tính chủ quan, chuyển đổi hiện thực khách thể bên ngoài thành hiện thực chủ thể mang đậm dấu ấn cá nhân như một hiện thực độc đáo không lặp lại
Thứ hai, cái tôi trữ tình có bản chất xã hội, nhân loại Nó tồn tại trong
nhiều mối quan hệ: truyền thống văn hoá, lịch sử, thời đại… nên bao giờ cũng mang tính xã hội Nó thu nhận vào mình những gì tốt đẹp được kết tinh trong đời sống tinh thần cộng đồng, dân tộc, nhân loại đồng thời đào thải những gì lạc hậu, lỗi thời
Thứ ba, cái tôi trữ tình có bản chất nghệ thuật, thẩm mỹ nên nó luôn
có xu hướng vươn tới tư tưởng thẩm mỹ và biểu hiện bằng một thế giới nghệ thuật mang tính đặc thù của phương thức trữ tình
Vì thế, luận văn quy hình tượng cái tôi trữ tình về hai phương diện
nội dung và hình thức để thuận lợi cho việc trình bày, phân tích
Về nội dung: Hình tượng cái tôi trữ tình không chỉ là thế giới của cá
nhân nhà thơ mà còn tự nâng mình lên hoà nhập vào tiếng nói văn hoá của thời đại; đồng thời nó luôn có xu hướng khao khát vươn tới những giá trị chân – thiện – mĩ
Về hình thức: Hình tượng cái tôi trữ tình bao giờ cũng tồn tại trong một
hình thức cụ thể, hình thức ấy là một cơ chế đặc biệt có nhiệm vụ khách quan hoá tính giới chủ quan của nhà thơ Cái tôi là thế giới tinh thần nên cần có những phương tiện vật chất cảm tính để tái hiện bằng hệ thống ngôn ngữ,
Trang 36giọng điệu, hình ảnh,…
Với bản chất tâm lý xã hội của mình, cái “tôi” là cơ sở của “cái tôi trữ tình” trong thơ Cái “tôi” ấy có thể trở thành cái tôi nghệ thuật khi nó có nhu
cầu tự biểu hiện, nhu cầu được giao tiếp để tìm sự đồng cảm và nó được bộc
lộ bằng ngôn ngữ nghệ thuật Thông qua một trạng thái cảm xúc đích thực của cái tôi trữ tình người đọc không chỉ gặp riêng cái tôi nhà thơ mà cả một thế giới hiện thực với những mảng sáng, tối, hạnh phúc và nỗi đau, niềm tin và sự
đổ vỡ… được mở ra một tầm cảm thức mang tính nhân loại Đôi lúc, ta bắt gặp nhà thơ là nhân vật, là cái tôi, là hình tượng trung tâm Ta thấy thơ và tác
giả thơ hòa vào làm một Khi ấy cái tôi đích thực là “cái tôi - nhà thơ” Lúc
khác, ta lại thấy nhân vật trong thơ vẫn là tôi nhưng lại không phải là nhà thơ
Khi ấy nhà thơ hóa thân thành “cái tôi - trữ tình”
2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Đinh Thị Thu Vân
2.2.1 Cái tôi công dân
Lúc mới cầm bút, mảng đề tài chính của Đinh Thị Thu Vân là quân đội
với tập thơ đầu tay thay cho lời hát ru anh (1984) Tập thơ này thể hiện con
người công dân - chiến sĩ mang cảm hứng lịch sử, thời đại, dân tộc Khương
Minh Ngọc trong Một vài cảm nghĩ thay lời giới thiệu cho tập thơ này đã viết:
Đất nước Việt Nam, miền quê Long An chiến tranh liên miên
và anh bộ đội chính là hình ảnh trung tâm của mọi tâm khảm Trên đất nước này, ai mà không thương, không yêu, không quý anh bộ đội Cụ Hồ Huống chi Thu Vân là con gái Mấy mươi năm qua, biết bao nhiêu nhà thơ già dặn đã nói đến anh bộ đội, ca ngợi anh bộ đội, mở rộng lòng mình với anh bộ đội Tưởng chừng như mọi ý thơ, mọi tứ thơ đã mòn cạn hết rồi Nhưng Thu Vân vẫn cứ nói về anh bộ đội mà giọng thơ không giống một ai cả, thì thầm mà lưu loát, ngọt ngào mà làm bừng tỉnh với những hình tượng rất gần, rất
Trang 37quen mà bất ngờ đến ngạc nhiên, mở rộng mà e ắp, tưởng là của anh, của chị, của chúng ta mà không phải của chúng ta Tưởng không phải của chúng ta mà ngẫm lại là của chúng ta” [41]
Đinh Thị Thu Vân nói đến cái tôi công dân qua anh bộ đội - con người
có ý thức cao độ về trách nhiệm xã hội, trách nhiệm trước lịch sử qua những
tác phẩm như những bàn tay vẫy; hậu giang; riêng với biên phòng; con tem quân đội; chiều cuối cùng ở trường huấn luyện v.v…
Chẳng hạn, bài thơ những bàn tay vẫy không chỉ nói đến giây phút chia
tay các anh thanh niên lên đường nhập ngũ:
có bàn tay bạn bè tôi vẫy theo mở một khoảng trời trẻ trung vẫy chậm là lúc vấn vương
vẫy nhanh là lúc nghe thương rộn ràng
Mà còn nói về cuộc chia ly mang màu sắc lí tưởng và người ra đi hiểu được sứ mệnh của mình:
đủ cho tôi mãi mặn nồng
ra đi bằng những bước chân bồi hồi ước mơ hiểu giọt mồ hôi
ước mơ hiểu được cuộc đời, hiểu ai…
Rời quê hương, gia đình, bạn bè,…họ lên đường với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ một lòng nhắm thẳng quân thù:
tuổi trẻ Hậu Giang chiều nay ra trận đoàn xe đi chưa có lá ngụy trang
không kịp nói một lời, không kịp nói
em chỉ biết lòng thương, thương bối rối
thành phố rợp bóng cờ bay xao xuyến
Trang 38gió hát ven sông lời hát dặn dò
và em đứng giữa dòng người đưa tiễn vẫy tay chào như lúc tiễn anh đi
(hậu giang)
Cái tôi trữ tình ngợi ca, tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên, địa lý của quê
hương, đất nước và về chiến thắng của nhân dân ta như trong các bài biển không phải là bài thơ tự do; nụ cười em - hạt phù sa; bến đò xưa em về lại; nếu không có ngày ba mươi tháng tư,… Niềm tự hào về thiên nhiên của quê hương, đất nước qua bài biển không phải là bài thơ tự do:
khác nhau không, lời ca ngợi những loài rong những bãi cát nằm ven bờ biển rộng
với lời ngợi ca bao la cá lạ những giếng dầu những quặng mỏ tài nguyên
Đặc biệt được nhà thơ nhắc đến đó là hình ảnh “mẹ”, người đã chịu
nhiều vất vả như trong bài nhật ký mùa mưa:
mà lòng em thuở đó quá đơn sơ
ngỡ nghe mẹ học ngoan là đã đủ và đêm đêm vẫn bình yên giấc ngủ mặc mẹ dầm mưa, ngâm giống, đắp bờ
Lúc này đây, nhà thơ nhận thức ra người mẹ thứ hai trong cuộc đời mình, người mẹ ấy lớn hơn và rất đỗi thiêng liêng, cao quý - đó là mẹ Tổ quốc:
em có yêu được trọn tâm hồn khi giờ mới hiểu mùa mưa một nửa?
mồ hôi chưa đổ, em có đợi hạt lúa nảy mầm thì nỗi đợi chờ cũng chỉ làm xốn xang một nửa tình em với mưa đâu bằng mẹ bây giờ
Cái tôi thể hiện niềm reo vui, niềm tự hào, ngợi ca về chiến thắng qua
bài thơ nếu không có ngày ba mươi tháng tư cô viết: “nếu không có ngày ba
Trang 39mươi tháng tư” thì em “không một lần dám sống hy sinh” rồi “em sẽ đến với tình yêu bằng nửa trái tim yếu đuối/ còn nửa kia, đành giữ lại…để nghi ngờ”
và “có thể rồi quên cả màu của lúa/ quên bài địa lý quê hương những miền nào đất đen, đất đỏ…” Tất thảy với những tự vấn thảng thốt và đầy trực cảm:
“ngày tháng trước em là con ốc nhỏ/ con ốc đa nghi cuộn mình trong vỏ” đã
hiện lên chân dung của một nữ thi sĩ mảnh mai có chút gì yếu đuối nhưng rất thật lòng Thơ chính là sự chắt lọc của tâm hồn, và sự kiện ngày ba mươi tháng tư đã thanh lọc lại tâm hồn, lối nghĩ, cách sống Kết thúc bài thơ là một lời chia sẻ tâm tình, bởi cô đã:
em đổi những bé mọn của tâm hồn lấy lắm ngọt êm lòng vẫn nghĩ tháng tư làm nhân chứng
ôi nhân chứng bao dung, nhân chứng vô cùng người lớn làm thế nào em có thể đền ơn!
Vâng, tháng tư như một con người, cá thể không chỉ là một nhân chứng lịch sử mà còn là nhân chứng cuộc đời Và ngày ba mươi tháng tư là cứu cánh, là điểm tựa, là hy vọng, và chúng ta làm thế nào có thể đền ơn được với những mất mát hy sinh của biết bao đồng đội để có một ngày ba mươi tháng
tư trọn vẹn trong đời
Cái tôi thấm nghiệm nhìn thẳng vào hiện thực của chiến tranh qua các
bài như núi của tôi, nếu mai anh về,… Nếu các bài thơ trong chiến tranh nói
đến cái chết không phải là sự mất đi, tan biến mà là sự thăng hoa, bay lên, tan vào đất nước thì với Thu Vân, cái chết được phản ánh chân thực nhưng từ đó
là động lực chiến đấu:
ôi người chết nằm sâu trong hốc đá
phút cuối cùng tóc còn quấn tìm nhau; cho phút này tôi nâng tóc trên tay nghe mười ngón bồn chồn muôn hạt máu
muôn hạt máu cứ giục tôi đi chiến đấu
máu của tôi mà cứ ngỡ bao người!
Trang 40…nghe như là tim núi gọi tim tôi
đập thao thức cùng nhịp tim tổ quốc
(núi của tôi)
Cái tôi của em hậu phương, tình yêu lứa đôi hòa lẫn tình yêu Tổ quốc thể
hiện qua các bài: bài thơ lục bát của anh, nhật ký mùa mưa, con còng vôi trốn ai, không đề, phút cầm tay, thay cho lời hát ru anh, v.v
Tình cảm riêng tư, đời thường của người lính khi có những phút “lặng”
để chiến sĩ nghĩ về mình trong bài nếu mai anh về: “anh hỏi nếu mai về từ
biên giới/ một bàn chân anh gửi lại chiến trường/ nếu bàn tay năm ngón mở yêu thương/ không còn nữa…em có còn tha thiết?” Đó là những giây phút
dồn nén chất trữ tình nhất, trong chiến tranh mất mát, đau thương, thoáng chút suy tư họ nghĩ về tình yêu của mình Anh hỏi nếu mai anh về không còn nguyên vẹn, liệu em có còn tha thiết chăng? Rõ ràng ở đây tình yêu lứa đôi hòa lẫn tình yêu tổ quốc, cùng chịu hy sinh vì nhiệm vụ:
đời anh - áo lính, rừng xanh
em ru sao để không thành thờ ơ lời nào ru được bây giờ
lại ru cả khoảng đợi chờ mai sau
(thay cho lời hát ru anh)
Hay tâm trạng của anh lính không biết ngỏ lời cùng em như thế nào khi
nhiệm vụ còn nặng trên vai qua bài nụ cười em - hạt phù sa:
nốt ruồi em, cuối chân mày tôi nhìn, ngỡ giọt mồ hôi mặn mà lòng chưa chở được phù sa
nói thương em với quê nhà làm sao?
Nhiệm vụ anh còn dang dở, nghĩa vụ thiêng liêng anh còn nặng trên vai
“chưa chở được phù sa”, anh biết nói thương em làm sao đây? Anh lính đã