1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tản văn nguyễn ngọc tư từ góc nhìn văn hóa

98 70 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 207,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các nhà phê bình, Nguyễn Trọng Bình là một trong những người có nhiều bài viết nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư, với những bài viết như: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

-NGUYỄN THỊ THU HÀ

TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã ngành: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kiến Thọ

Thái Nguyên, tháng 5/2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình ngiên cứu của riêng tôi và được sựhướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Kiến Thọ Các nội dung nghiên cứu, kếtquả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nàotrước đây Các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đượctác giả thu thập từ các nguồn có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 6 năm

2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

7 Đóng góp của luận văn 11

PHẦN NỘI DUNG 12

Chương 1 TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG NỀN VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 12

1.1 Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn của vùng sông nước miền Tây Nam Bộ 12

1.1.1.Vài nét về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư 12

1.1.2 Nguyễn Ngọc Tư với thể loại tản văn 14

1.2 Khái niệm tản văn 15

1.2.1 Đặc trưng thẩm mĩ của thể loại tản văn 17

1.2.2 Thể loại tản văn trong hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 18

1.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 19

1.3.1 Khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa 19

1.3.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 26

1.3.3 Màu sắc văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 29

Chương 2 BỨC TRANH VĂN HÓA ĐA SẮC MÀU TRONG TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 37

Trang 4

2.1 Bức tranh thiên nhiên Nam Bộ 37

2.1.1 Thiên nhiên mang vẻ đẹp đặc trưng vùng đồng bằng sông nước 37

2.1.2 Thiên nhiên gắn liền với đời sống người dân lao động 39

2.2 Văn hóa ứng xử và tình đời, tình người trong cuộc sống 41

2.2.1 Những con người nghĩa tình, đôn hậu 42

2.2.2 Những con người lạc quan, hào sảng, nghĩa hiệp 45

2.3 Đô thị hóa và những vấn đề đặt ra của đời sống hiện đại 48

2.3.1 Đô thị hóa và guồng quay cuộc sống hiện đại 49

2.3.2 Những mất mát, tổn thương về các giá trị văn hóa - tinh thần 51

Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 56

3.1 Đặc trưng ngôn ngữ Nam Bộ trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư 56

3.1.1 Phương ngữ Nam Bộ 57

3.1.2 Lối biểu đạt đặc thù của đồng bào miền sông nước, miệt vườn 59

3.2 Những sắc thái giọng điệu trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư 61

3.2.1 Giọng điệu trữ tình, đằm thắm 61

3.2.2 Giọng điệu dân dã, đôn hậu 63

3.2.3 Giọng điệu hóm hỉnh, trẻ trung 64

3.2.4 Giọng điệu hoài niệm, tha thiết 65

3.2.5 Giọng điệu trầm tư, triết lí 67

3.3 Một số biểu tượng văn hóa trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư 68

3.2.1 Sông - Biểu tượng của cảnh đời, kiếp người 69

3.2.2 Gió - Biểu tượng của những ám ảnh tâm lí 70

3.3.3 Một số biểu tượng văn hóa khác 72

PHẦN KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 84

Trang 5

và xã hội Không chỉ những gì ta biết liên quan đến con người đều thuộc vềvăn hóa mà ngay cả những cái ta chưa biết, liên quan đến con người cũng đềuthuộc về văn hóa Văn học bao giờ cũng chịu sự chi phối trực tiếp từ môitrường văn hóa của một thời đại nhất định, cũng như chịu sự tác động, chiphối bởi truyền thống văn hóa dân tộc Đồng thời, mỗi nhà văn lại thường gắn

bó đặc biệt và chịu sự ảnh hưởng của một vùng miền nhất định, tạo thànhkhông gian văn hóa riêng cho thế giới nghệ thuật của mình Vì vậy, nghiêncứu văn học từ góc nhìn văn hóa bên cạnh việc cho phép ta nhận diện bốicảnh văn hóa của dân tộc và thời đại, thì đặc biệt nó còn cho ta khám phánhững nét riêng biệt, đặc sắc, đặc trưng văn hóa của mỗi vùng miền

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn nữ xuất sắc và khá tiêu biểu trong nềnvăn xuôi Việt Nam đương đại Được đánh giá cao trong giới chuyên môn,được nhiều nhà xuất bản săn đón, lọt vào tầm ngắm của không ít nhà đạo diễnsân khấu điện ảnh, các tác phẩm của nữ văn sĩ này thực sự có được vị trí chắcchắn trong bức tranh văn học hiện nay Thành công với thể loại truyện ngắn

và tiểu thuyết với các tác phẩm nổi tiếng như “Cánh đồng bất tận”,

“Sông”.v.v , Nguyễn Ngọc Tư cũng rất thành công trong thể loại tản văn vớihàng loạt tác phẩm viết về con người, đời sống sinh hoạt của miền Tây Nam

Bộ Với một tâm hồn cởi mở, phóng khoáng và hết sức nhạy cảm của một

Trang 6

người viết gắn bó và am hiểu vùng quê miền sông nước, tản văn của NguyễnNgọc Tư trở thành một đặc sản cho những người thưởng thức và yêu mếnnhững giá trị đặc sắc của văn hóa miệt vườn Cửu Long Qua các trang viếtcủa chị, người đọc như được tận mắt chứng kiến và hòa mình vào không giancủa những dòng sông rộng lớn, những con kênh, những cánh đồng, nhữngmiệt vườn trù phú rộng mênh mông Ở đó, những sinh hoạt hàng ngày, nhữnghoạt động sản xuất của các cư dân nơi đây gắn với số phận của những ngườidân nghèo nhưng đôn hậu, chất phát cứ trở đi trở lại ám ảnh khôn nguôi.

Đến nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, bài viết về truyệnngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư với những cách tiếp cận từ nhiềuphía Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về tản văn Nguyễn Ngọc Tư lạirất ít, đặc biệt là hiện vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về tản vănNguyễn Ngọc Tư từ cách tiếp cận văn hóa Đó là lí do chúng tôi chọn lựa do

chúng tôi chọn lựa đề tài: Tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa

cho công trình nghiên cứu của mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ chỉ mới xuất hiện trên văn đàntrong thập niên đầu của thế kỉ này, tức là khoảng gần hơn chục năm trở lạiđây Tuy nhiên, chị đã có khối lượng tác phẩm xuất bản lớn trong một thờigian ngắn, được trao tặng nhiều giải thưởng văn học có uy tín và nhận đượcnhiều sự yêu mến, kì vọng từ độc giả Bắt đầu từ tập truyện ngắn “Cánh đồngbất tận” gây được tiếng vang lớn, thu hút sự chú ý của dư luận từ nhiều phía,với hàng loạt bài viết giới thiệu về tác phẩm và chân dung Nguyễn Ngọc Tưđược công bố từ phía các nhà văn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Làmột nhà văn được yêu mến không chỉ ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài,

vì thế những bài viết tìm hiểu về các sáng tác của chị thường xuyên đượcđăng tải trên các phương tiện truyền thông Số lượng bài viết về tác giả này

Trang 7

rất dồi dào với những cách đặt vấn đề khác nhau Trần Hữu Dũng có bài viết

Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản miền Nam nhấn mạnh phong cách riêng của nhà

văn trẻ từ vùng sông nước Cà Mau rất đặc trưng của Nam Bộ; Văn Công

Hùng có bài viết Bất tận với Nguyễn Ngọc Tư đã chỉ ra sự vận động trong

ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư từ Ngọn đèn không tắt đến Cánh đồng bất tận;

Huỳnh Công Tín có bài: Nguyễn Ngọc Tư- nhà văn trẻ Nam Bộ… Võ Gia Trị ở bài viết Tản mạn văn chương năm qua đã có ý kiến đánh giá tích cực

về Nguyễn Ngọc Tư (năm 2008 - năm chị đoạt giải thưởng văn học ASEAN)

Khi tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đoạt giải của Hội Liên hiệp

văn học nghệ thuật Việt Nam, cái tên Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu được các nhàvăn lớp trước như Nguyễn Quang Sáng, Chu Lai, Nguyên Ngọc, Dạ Ngân chú ý đến Trong lời tựa tập truyện này, Nguyễn Quang Sáng đã có nhận xétrất xác đáng khi cho rằng: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đờithường, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc,hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc - mũi Cà Mau, của những conngười tứ xứ, về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả mà cha ông ta

đã dày công khai phá Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư, những con ngườilam lũ, giản dị, bộc trực ấy chứa đựng bên trong cả một tâm hồn vừa nhân

hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế” (Lời tựa tập Ngọn đèn không tắt, Nxb Trẻ, 2000, tr.03) Trong khi đó, Chu Lai không ngần ngại khẳng định:

“Nguyễn Ngọc Tư là cây bút tiêu biểu của miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của văn học Việt Nam”.

Huỳnh Công Tín gọi Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của Nam Bộ và đánh

giá: “Nhân vật trong tác phẩm của chị là những con người Nam Bộ với những cái tên hết sức bình dị, chân chất kiểu Nam Bộ Họ mang những tâm tư, nguyện vọng hết sức đời thường Đó là những người sinh sống bằng những ngành cũng gắn liền với quê hương sông nước Nam Bộ Đặc biệt vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính

Trang 8

chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” Tác

giả còn chỉ ra truyện của Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu đề cập đến số phận buồnthương của những con người nhỏ bé, chân chất sống cuộc đời bình dị nhưng

nhiều bi kịch, đắng cay (Nguyễn Ngọc Tư: Nhà văn trẻ Nam Bộ, tạp chí Văn

nghệ Đồng bằng sông Cửu Long, 15/04/2006)

Tìm hiểu con đường Nguyễn Ngọc Tư đã đi và đang đi tới, Bùi Công

Thuấn có bài Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi, mang đến một cái nhìn

tổng quan về hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ những tác phẩm

trước Cánh đồng bất tận, đến những tập truyện sau đó như Gió lẻ, Khói trời lộng lẫy… Tác giả bài báo chỉ ra, cầm bút với Nguyễn Ngọc Tư là để nói ra

cái tình người sâu thẳm trong những biểu hiện thật phong phú mà như chị nói

“Có bao nhiêu tình tôi yêu hết”

Trong các nhà phê bình, Nguyễn Trọng Bình là một trong những người

có nhiều bài viết nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư, với những bài viết như:

Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật

về con người; Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Phong cách truyện ngắn Nguyễn ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự; Những dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa; Nguyễn Ngọc Tư và hành trình “trở về”… Qua những bài viết này, tác giả đã cho thấy: Truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư là “bức tranh sống động về cuộc sống của một bộ phận người dânlao động (nhất là ở thôn quê) vùng đồng bằng sông Cửu Long mà cái nghèo,cái khổ cứ bám riết lấy họ”

Phạm Thái Lê với công trình nghiên cứu Hình tượng con người cô

đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư rút ra kết luận: “Cô đơn luôn là nỗi

đau, là bi kịch lớn nhất của con người Nhưng đọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng tacảm nhận rất rõ nỗi cô đơn mà không thấy sự bi quan tuyệt vọng Nhân vật

Trang 9

của chị tự ý thức về sự cô đơn Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấymột lẽ sống Và từ trong nỗi đau ấy, họ vươn lên làm người Cô đơn trongquan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái Đẹp, cái Thiện” Ngoài

ra, còn có nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, website cũng bàn về nội dung

và hình thức trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư như: Hoàng Đăng Khoa với

Dấu ấn hậu hiện đại trong Cánh đồng bất tận (Vietnamnet.vn), Dạ Ngân

với Nguyễn Ngọc Tư - điềm đạm mà thấu đáo (Văn nghệ trẻ, số 15); Minh Thi với Nguyễn Ngọc Tư và những bộ mặt tâm trạng (Lao động, ngày 11/4/2004); Thảo Vy với Nỗi đau trong cánh đồng bất tận (Tạp chí văn hóa

nhớ qua cánh đồng bất tận của Nguyễn Quang Sáng; Một thế giới nghệ thuật riêng của Nguyễn Khắc Phê; Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận của Bùi Việt Thắng…

Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư còn là đối tượng nghiên cứu của nhiềukhóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Có thể kể tên

một số công trình nghiên cứu như: Những yếu tố ngoài cốt truyện trong văn

xuôi Nguyễn Ngọc Tư của Trần Thị Ái Như (Đại học khoa học Huế, 2007); Yếu tố phân tâm học trong truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Quỳnh Hương (luận văn thạc

sĩ, 2008); Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư của Bùi Thị Ngọc Ánh (luận văn thạc sĩ, 2008); Đặc

trưng nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Võ Thị Anh Đào (luận

văn thạc sĩ, 2009)…

Trang 10

Nhìn chung, mỗi công trình, bài viết đều có những đóng góp nhất địnhkhi đi sâu nghiên cứu những khía cạnh nghệ thuật, nội dung tư tưởng trong tácphẩm của Nguyễn Ngọc Tư.

2.2 Lịch sử nghiên cứu về tản văn của Nguyễn Ngọc Tư

Với thể loại tạp văn, tản văn, Nguyễn Ngọc Tư không viết nhiều nhưtruyện ngắn, nhưng khi cuốn tạp văn, hay tản văn đầu tiên ra đời cũng đã cókhá nhiều bài viết, bài cảm nhận trên báo, tạp chí và chủ yếu là qua mạngInternet Sau đó là một giọng văn trưởng thành hơn mang triết lý sâu sắc và

thâm trầm hơn qua những tạp văn, tản văn sau này như: Ngày mai của

những ngày mai, Biển của mỗi người, Gáy người thì lạnh Qua thu thập

thông tin khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn độc giả đều rất hưởng ứng,chào đón thể loại mới này Ví dụ, nếu như bản phát hành đầu tiên với sốlượng 2.000 cuốn vào cuối năm 2005, tới đầu tháng 1/2006, sách đã được táibản với số lượng 5.000 cuốn Nhận xét về tạp văn “đầu tay” của Nguyễn

Ngọc Tư, Thanh Vân trên trang web viet-studies có viết bài Tạp văn Nguyễn

Ngọc Tư như một lời giới thiệu với độc giả về những nội dung mới - khác hẳn

với những truyện ngắn đã được Nguyễn Ngọc Tư viết trước đó

Năm 2005, nhà văn Sơn Nam từng chia sẻ với VnExpress cảm nhận về

những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư: “Nguyễn Ngọc Tư viết tài, nhưng muốn sâu và bền hơn thì phải đi nhiều, học nhiều hơn nữa Văn chương không chỉ là chuyện tình yêu nam nữ đơn thuần, văn chương phải giúp người

ta gợi nhớ, khắc sâu về con người, cuộc sống…”.

Độc giả Nguyễn Ngọc Tường Vân, ngày 21/07/2011, có bài viết Mộc

mạc và rất trữ tình đăng trên website:

http://tiki.vn/yeu-nguoi-ngong-nui-tan-van-p26071.html Tác giả đã chia sẻ những cảm nhận của mình khi đọc tản

văn Yên người ngóng núi: “Trong cuộc sống bận rộn này, mỗi chúng ta nên

dành một chút thời gian mỗi ngày để đọc Yêu người ngóng núi và chiêm nghiệm, chỉ cần mỗi ngày một bài tản văn, hẳn là chúng ta sẽ suy nghĩ đẹp

Trang 11

hơn và sống tốt hơn Đây là tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Ngọc Tư mà tôi đọc, thật thì so với Cánh Đồng Bất Tận, tôi lại thích quyển này hơn bởi nó thể hiện được cái tình giản dị mà thấm đẫm giữa đời thường Ngay từ tản văn đầu tiên, Nguyễn Ngọc Tư bàn về Sài Gòn - nơi tôi sinh sống, bằng một lối văn nhẹ như dòng nước: "Bằng cách đó, thành phố yêu anh " còn anh thì mãi ở núi này trông núi nọ, nhưng thành phố vẫn còn đó, chờ đợi trong yêu thương, hằng ngày vẫn thở” Nguyễn Ngọc Tư lúc nào cũng cuốn người đọc

vào một thế giới miên man tình Không chỉ là tình yêu đơn thuần như nhữngcây bút trẻ đang tích cực khai thác, tình trong văn Nguyễn Ngọc Tư bảng lảnggiữa những ngã tư, những con phố, quán cà phê chiều, giữa sự đấu tranh củahoài niệm và tương lai, giữa kỷ niệm và thực tế

Trong bài viết Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Trần Hữu

Dũng đã có những nhận xét khá sâu sắc về điểm nhìn trong tản văn Nguyễn

Ngọc Tư Trong bài Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Thanh Vân lại hướng

sự quan tâm đến giọng điệu trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư Tản văn củaNguyễn Ngọc Tư là những sắc thái chân thực và sinh động của cảm xúc và

tâm trạng Qua tập tản văn Đong tấm lòng, Nguyễn Ngọc Tư đã gửi gắm

những vui buồn, âu lo không chỉ về thân phận người nông dân miền Tây, màcòn về bản sắc văn hóa, lịch sử, cội nguồn của một vùng đất

Biển của mỗi người là tập tản văn mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc

Tư (tính theo thời điểm sáng tác chứ không theo năm tái bản), gồm 21 tản vănphơi trải những suy tư của Nguyễn Ngọc Tư về cuộc đời, thế sự và về nghiệp

viết Tác giả chia sẻ một cách chân thành :“Tôi nghĩ nghề viết và người viết cũng đơn giản vậy, chữa lành, an ủi những vết thương của người đời để làm dịu vết thương của chinh mình Như sau tàn tro, là vẻ đẹp lộng lẫy của đá” Tản văn Gáy người thì lạnh khẳng định rõ thêm một phong cách Nguyễn

Ngọc Tư Vẫn với cách viết giàu chất phóng khoáng mà mộc mạc, gần gũi vàdung dị “tập tản văn cứ trôi bình lặng theo những con nước miền Tây Đọc mànhư thấy cái khung cảnh miền Tây êm đềm hiện ra trước mắt vậy”

Trang 12

Công trình nghiên cứu khá toàn diện và chuyên biệt về tản văn NguyễnNgọc Tư là luận văn thạc sĩ của Lương Thị Thảo, bảo vệ thành công tại Đại

học Đà Nẵng, có tên gọi Đặc sắc của tản văn Nguyễn Ngọc Tư Tác giả luận

văn đã chỉ ra những sắc thái tình cảm trĩu nặng suy tư và cảm xúc trong củaNguyễn Ngọc Tư đối với miền sông nước quê hương Nam Bộ của mình:

“cảnh sắc trong trang văn của Nguyễn Ngọc Tư không thuần túy chỉ là cảnh

mà luôn chất chứa cái tình bên trong Quê hương không chỉ hiện lên trong tác phẩm của chị với những không gian tuổi thơ gắn với đất vườn mà còn là những cảnh sắc mang nét đặc trưng của đất mũi Cà Mau Đó là những mùa gió chướng và sông nước”.

Tuy nhiên, tác giả luận văn nói trên dường như không mấy quan tâm,cắt nghĩa và lí giải những dấu ấn văn hóa in đậm trong từng trang văn củaNguyễn Ngọc Tư, một thứ văn hóa đặt trưng, ăn sâu, bén rễ từ bao đời củamiền sông nước Chính thái độ trân trọng, xót xa những giá trị văn hóa truyềnthống đang dần mai một tạo nên nét đặc sắc và quyến rũ trong từng trang văncủa Nguyễn Ngọc Tư Điều này, vô hình chung, đã tạo thành những khoảng

trống Nghiên cứu của chúng tôi với đề tài Tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc

nhìn văn hóa là một nỗ lực để có thể hy vọng lấp đầy những khoảng trống đó.

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn lànhững đặc trưng văn hóa trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn là công trình khảo sát về tản văn của Nguyễn Ngọc Tư từ gócnhìn văn hoá Chúng tôi không đặt nhiều tham vọng đưa ra những kiến giảimới khác với nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó mà chỉ vận dụngnhững thành tựu đã có để đưa ra những đánh giá có tính chất cụ thể bước đầu

Trang 13

theo một hướng mới Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đem lạimột cái nhìn khái quát, đầy đủ hơn về sáng tác tản văn của Nguyễn Ngọc Tư,chỉ ra được những đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư đối với sự phát triển củanền văn học Việt Nam đương đại, chỉ ra được đặc trưng tiêu biểu trong tảnvăn của Nguyễn Ngọc Tư từ cách tiếp cận văn hóa, đồng thời khẳng địnhnhững giá trị nghệ thuật, những tìm tòi, đổi mới, vận động và phát triển củavăn chương mang đậm bản sắc văn hóa của vùng quê Nam Bộ của NguyễnNgọc Tư.

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Đọc và khảo sát các tản văn của Nguyễn Ngọc Tư

- Nghiên cứu và chỉ ra những dấu ấn văn hóa của tản văn Nguyễn Ngọc

Tư ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật

- Nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ở các thể loại khác nhưtruyện ngắn, tiểu thuyết để thấy được phong cách, cá tính của Nguyễn Ngọc

Tư trong sáng tạo nghệ thuật

- Đối chiếu, so sánh với một số tản văn của các tác giả khác để thấyđược bản sắc riêng trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư

- Bước đầu đánh giá và xác định được vị trí của tản văn trong sáng tácvăn chương của Nguyễn Ngọc Tư; đóng góp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tưđối với thể loại tản văn nói riêng và trong nền văn xuôi Việt Nam đương đạinói chung

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp:

- Phương pháp thống kê phân loại: khảo sát các hiện tượng lặp lại ở

một số các yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm và dựa vào tần

Trang 14

số xuất hiện của các yếu tố đó để khái quát và hệ thống thành những đặc điểmriêng, nổi bật dưới góc nhìn văn hóa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.

- Phương pháp phân tích,tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để

tìm hiểu nội dung các tác phẩm, phân tích những đặc điểm được thể hiện trong cáctản văn của Nguyễn Ngọc Tư và từ đó rút ra những luận điểm chính của đề tài

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để chỉ ra những đặc điểm giống

nhau cũng như những nét riêng, tiêu biểu về văn hoá Nam Bộ được thể hiện trongsáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếusáng tác của chị với một số nhà văn lớp trước và đương thời, từ đó, khẳng địnhđóng góp của chị với nền văn học Việt Nam hiện đại

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp đồng bộ phương pháp

nghiên cứu lịch sử, địa lí, văn hóa để tìm hiểu, phân tích, lí giải những dấu ấn vănhóa Nam Bộ trong tác phẩm

- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Khai thác những vẻ đẹp và đặc

trưng của văn hóa Nam Bộ được thể hiện trong tác phẩm

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tản văn của Nguyễn Ngọc Tư, bao gồm:

- Sống chậm thời @ (in chung với Lê Thiếu Nhơn), Nxb Thanh Niên, 2006

- Ngày mai của những ngày mai, Nxb Phụ nữ, 2009

- Gáy người thì lạnh, Nxb Trẻ, 2012

- Đong tấm lòng, Nxb Trẻ, 2015

- Yêu người ngóng núi, Nxb Trẻ, 2016

- Biển của mỗi người, Nxb Kim Đồng, 2016

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai làm ba chương:

Chương 1: Tản văn Nguyễn Ngọc Tư trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại.

Trang 15

Chương 2: Bức tranh văn hóa đa sắc màu trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư.

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện văn hóa Nam Bộ trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư.

7 Đóng góp của luận văn

Nếu đề tài được thực hiện thành công, chúng tôi hy vọng có những đóng góp sau:

- Có được cái nhìn tổng thể, toàn diện về tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa

- Thấy được những yếu tố văn hóa kết tinh trong sáng tác (tản văn) củaNguyễn Ngọc Tư, đồng thời chỉ ra những đóng góp của nhà văn trong việc pháthiện, tôn vinh và góp phần kiến tạo những giá trị văn hóa đặc sắc của

vùng sông nước miền Tây Nam Bộ

- Là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về thểloại tản văn, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như nghiên cứu văn học từ gócnhìn văn hóa

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TẢN VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG NỀN VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn của vùng sông nước miền Tây Nam Bộ

1.1.1.Vài nét về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Tác giả Nguyễn Ngọc Tư tên thật là Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976,quê quán ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Cuộc sống của chịkhá vất vả, không được suôn sẻ và đầy đủ điều kiện như nhiều người Lên 4tuổi, gia đình chị chuyển về Cà Mau nhưng chị không được sống với ba mẹnhư các anh chị mà ở với ngoại Vốn là học sinh giỏi văn của trường PhanNgọc Hiển, nhưng từ nhỏ chị chưa bao giờ nghĩ mình sẽ là nhà văn Ngay khiđám bạn cùng lớp bắt đầu tập viết truyện, làm thơ thì chị vẫn “im hơi lặngtiếng” Chị đã tự nhận rằng: “Trước khi viết truyện ngắn đầu tiên, mình đơnthuần là một cô gái nông dân, bỏ dở học hành, ở nhà nấu cơm nuôi ông ngoại,chăm sóc vườn rau, chiều chiều cắt rau cho má đi bán chợ đêm”[38] Sinh ra

và lớn lên ở miền quê này, cũng từng chịu cảnh khó khăn, phải bỏ học nửachừng, hơn ai hết, nhà văn thấu hiểu, thông cảm và đau đớn cùng con người ởvùng đất còn xa lạ với cuộc sống công nghiệp hiện đại, không thấy bóng dángvăn minh đô thị, thiếu ánh sáng văn hóa, cuộc sống còn đầy hoang sơ và bảnnăng Cuộc sống của những người lao động xung quanh đã thấm đẫm vào văncủa chị, nó là không khí, là không gian quen thuộc khi chị sáng tác Từ sángđến tối, tiếng ơi ới của người mua bán trên chợ trước nhà, tiếng còi tàu giụcgióng giả từng hồi phía sau, rồi tiếng gò, mài, xi mạ nữ trang của chồng cùnghai người thợ làm công ở gian trước, đã trở thành một thứ âm thanh quenthuộc khi chị ngồi vào bàn viết Dường như chính những điều đó phần nào đãkhu biệt thế giới nhân vật của nhà văn Đó là thế giới của những người nôngdân lam lũ, đói nghèo, những người nghệ sỹ đường phố với số phận long

Trang 17

đong, vất vả Chị viết về họ như để trả nghĩa quê hương đã sinh ra mình, trảnghĩa cái tình của bà con chòm xóm xung quanh, trả ơn cha mẹ, người thân đãnuôi dưỡng, cho chị nguồn sống và cả nguồn sáng tác văn chương chưa khinào vơi cạn: “Chưa có bao giờ má dạy tôi viết văn, nhưng những gì tôi viết rađều mang hơi thở cuộc sống mà má trao tặng”[72, tr.158] Những con người

đó chưa bao giờ xa lạ với chị và những trang viết của chị về họ cũng không xa

lạ gì với chính họ: “Tôi tự tin vào sự hiểu biết về nông thôn quê hươngtôi”[88] Đối với chị, quê hương quả thưc đã là nguồn mạch tình yêu, là nơitiếp sức, điểm tựa cho đời văn của chị

Những năm tháng sống cùng với ông ngoại, sớm lao vào công cuộcmưu sinh (làm văn thư cho tạp chí Bán đảo Cà Mau) có lẽ là một trong những

duyên cớ khiến Nguyễn Ngọc Tư bước chânvào lĩnh vực viết văn “Đổi thay”

là truyện ngắn đầu tay của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, được đăng trên tạp chíVăn nghệ Cà Mau Nhưng chị chỉ thật sự được độc giả cả nước biết đến với

tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” (2000) Cũng từ đó nhiều tập truyện

của chị liên tục được độc giả trong và ngoài nước ủng hộ và đón nhận như:

Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Giao thừa Đến tập truyện “Cánh đồng bất tận” (2005) thì có thể nói NguyễnNgọc

Tư đã thật sự khẳng định được tên tuổi và tài năng của mình trên văn đàn củaViệt Nam

Hiện chị sống và làm việc tại T.P Cà Mau Nguyễn Ngọc Tư cũng làhội viên trẻ tuổi nhất của Hội Nhà Văn Việt Nam hiện nay Chị từng đạt giảiNhất cuộc thi "Văn học tuổi 20”, lần thứ 2, năm 2000, do Nhà xuất bản Trẻ,Hội nhà văn T.P Hồ Chí Minh, báo Tuổi trẻ phối hợp tổ chức với tập truyện

"

Ngọn đèn không tắt" và Giải thưởng Văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm

2001 cũng với tập truyện này Cuốn sách này đã được chọn in lại trong "Tủ

sách Vàng" của NXB Kim Đồng năm 2003 Nguyễn Ngọc Tư cũng đạt Giải

Ba cuộc thi sáng tác truyện ngắn 2003 - 2004 của báo Văn nghệ với

Trang 18

truyện ngắn " Đau gì như thể " Những năm gần đây, chị tiếp tục gây ngạc

nhiên và đem lại nhiều thiện cảm cho bạn đọc bằng giọng văn bề ngoài nhưdửng dưng nhưng ẩn sâu bên trong lại rất tình cảm và cuốn hút của mình Chịcũng là tác giả trẻ nhất có tên trong tuyển tập truyện ngắn Việt Nam đượcdịch và in ở Mỹ, năm 2005 Hiện tại nhiều truyện ngắn của chị được dịch ratiếng Nhật, tiếng Anh để giới thiệu với độc giả ở nước ngoài

Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư cũng rất xuất sắc trong mảng tạp văn

khi ngay sau tập truyện “Cánh đồng bất tận” đã cho ra đời một cuốn tạp văn

“nặng ký” đầu tiên có tên là “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” (2005), tập hợp

những bài viết của chị đã đăng trên tạp chí “Thời báo kinh tế Sài Gòn” Năm

2007, chị lại cho ra đời một tập tạp văn mới “Ngày mai của những ngày

mai”, được độc giả và giới phê bình đánh giá tốt.

Có thể nói, chị là một trong những nhà văn trẻ viết khỏe và viết đều khichỉ trong vòng ba năm đã cho ra đời bốn tập truyện ngắn (không kể tạp văn).Điều đó chứng tỏ chị là một nhà văn miệt mài lao động, miệt mài sống và tíchlũy vốn sống để nuôi dưỡng cảm hứng và năng lực sáng tác, chứ không chỉnhờ vào năng khiếu thiên bẩm Qua chặng đường cầm bút, tung hoành trên cảhai thể loại truyện ngắn và tạp văn, Nguyễn Ngọc Tư đã phần nào khẳng địnhđược vị trí của mình trong đội ngũ những người sáng tác trẻ của cả nước, đãxác lập được một phong cách sáng tác riêng biệt mang dấu ấn “Nguyễn NgọcTư” - một văn phong rặt chất Nam Bộ hiền hòa, hào sảng vang bóng một thờinhưng vẫn hồn hậu nồng nàn đến tận ngày nay

1.1.2 Nguyễn Ngọc Tư với thể loại tản văn

Nếu truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là những câu chuyện về nhữngcon người, số phận, cảnh đời luôn khiến ta khắc khoải, đau đáu vì thương và

vì bất lực thì tản văn của chị lại là những mảnh ghép nhỏ hơn của cảm xúc,đôi khi chỉ thoáng qua song nó để lại trong ta một sự xúc động rất sâu và daidẳng Chính Nguyễn Ngọc Tư đã thừa nhận “Mỗi tháng em viết vài tạp văn

Trang 19

Em thích viết tạp văn, vừa nhẹ nhàng, vừa tiện đăng báo để kiếm tiền”, nhưng

có thể đó chỉ là lời nói đùa Dường như Nguyễn Ngọc Tư hợp với tản văn hơnbởi nó nhẹ nhàng, tự do và bình dân Với Nguyễn Ngọc Tư viết hết thảy mọichuyện xảy ra quanh chị và trong đời chị, từ việc con cái, ruộng vườn đếnkinh tế, đến nhà nước và cả ở hải ngoại Có thể nói là chuyện “thiên tào” trêntrời dưới đất đều có trong tản văn của chị Song, nếu đã đọc một lần là chắcchắn không quên Bởi chị luôn biết cách đưa vào những chi tiết làm động lòngngười đọc, chị viết tản văn thì nhẹ nhàng nhưng người đọc lại không nhẹnhàng chút nào, ngược lại bao giờ cũng thấy sống mũi cay cay Trong bài giới

thiệu cho tập Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Thanh Vân đã có lời nhận xét rất ý vị

về cách chị viết tản văn: “Thủng thẳng, nhỏ nhẹ như người con gái quê đangvừa hái rau muống vừa kể chuyện, những câu chuyện lúc thì da diết lúc lạihóm hỉnh, tưng tửng, vui vui, tạp văn Nguyễn Ngọc Tư có sự kết hợp rõ nétgiữa văn và báo” Sự so sánh đó rất chính xác, ta có thể hình dung dáng vẻcủa Nguyễn Ngọc Tư trong tản văn như vậy, không cố làm dáng, không tạohình cầu kỳ nhưng vẫn cuốn hút, vẫn để lại dấu ấn rất sâu trong bất kỳ ai mộtlần ngắm qua

Đề tài trong tản văn Nguyễn Ngọc Tư khá đa dạng Đọc tản vănNguyễn Ngọc Tư, ấn tượng bao quát trong cảm nhận của người đọc là một thếgiới cuộc sống ngồn ngộn, đầy ắp hình ảnh sinh động; ngôn từ đậm chất Nam

Bộ, đặc biệt là giọng trữ tình thế sự sâu mà không đanh Đó là sức hút trongtản văn Nguyễn Ngọc Tư thể hiện xuyên suốt trong nhiều tác phẩm

1.2 Khái niệm tản văn

Cho đến nay thật sự vẫn chưa có một khái niệm chính xác và thốngnhất dành cho tản văn Việc phân biệt tản văn - tạp văn - tạp bút vẫn cònnhững vấn đề chưa được khu biệt rõ ràng Hầu hết, trong cách sử dụng từ ngữchuyên ngành trên báo chí đều đồng nhất ba thể loại trên Người ta thườngnêu tên cả ba cùng lúc để chỉ ra nhiều cách gọi khác nhau của cùng một thểloại, hoặc chỉ dùng một tên phổ biến nhất là tản văn để gọi tên tất cả

Trang 20

Theo Từ điển văn học (bộ mới) của nhà xuất bản Thế giới thì không có

khái niệm của tản văn, chỉ có khái niệm của tạp văn “Tạp văn là một thể loạithuộc tản văn trong văn học Trung Quốc, thiên về nghị luận nhưng cũng giàu ý

nghĩa văn học Từ tạp văn vốn xuất hiện trong sách Văn tâm điêu long của Lưu

Hiệp, song trong công trình đó từ này còn dùng để chỉ chung các thể loại vănchương Tạp văn với tư cách là một thể văn chỉ chính thức ra đời vào khoảngCách mạng Ngũ Tứ (1917 - 1924), là một bài luận văn ngắn, giàu tính luậnchiến, thường xoay quanh một số vấn đề về xã hội, lịch sử, văn hóa, chính trị…Đặc điểm chung của tạp văn là ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng; phản ánh một cáchnhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của xã hội với những ý kiếnđánh giá rõ ràng, sắc sảo” [trích Từ điển văn học (bộ mới),III, tr 1601]

Trong khi đó, Từ điển Thuật ngữ Văn học đưa ra khái niệm: “Tản văn

là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tảphong cảnh, khắc họa nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tínhchất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoànchỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân Điều cốt yếu

là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc

lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả”[tr.293]

Dù không phải là một nhưng tạp văn là một thể loại nhỏ hơn tản văn,được phân hóa ra từ tản văn bởi có cùng đặc điểm nghệ thuật, nhưng xét vềphạm vi đề tài thì tạp văn chuyên viết về những đề tài mang tính chính luận,tính luận bàn những vấn đề chung của xã hội, còn tản văn và tạp bút thì vẫnchưa ngã ngũ Đến nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định rõ chúng là mộtnhưng cũng chưa có sự phân biệt nào đủ rõ để nói rằng chúng độc lập nhau

Cả hai đều là những thể loại thuộc ký và không có ràng buộc nhiều trong quytắc sáng tác

Tóm lại, vì có quá nhiều tương đồng nên trong đời sống văn học hiệnnay người ta không còn quan trọng việc phân biệt các thể loại trên Chỉ cần

Trang 21

người sáng tác hiểu rõ họ đang viết tác phẩm với mục đích gì, tác phẩm cóthật sự mang giá trị văn chương hay không, chứ không cần quá câu nệ nó phảichính xác là tản văn, tạp văn hay tạp bút Giáo sư Trần Đình Sử trong bài

“Tản văn Việt Nam hiện đại - một thể loại bị lãng quên” giới thiệu cho tập

sách Tuyển tập tản văn Việt Nam, chỉ ra rằng: “dung lượng ngắn, cách viết đa

dạng, có thể tự sự, trữ tình, bình luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau,tản văn nói được bao nhiêu điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng vềcon người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ Tản văn có thể có nhiều phong cách: nghiêm túc, cười cợt, trữ tình, chínhluận, triết lí Tản văn là thể loại có vẻ dễ viết nhưng khó hay bởi nó cũng cần

có cấu tứ, có tổ chức một cách nghệ thuật” Quan niệm này có thể áp dụngvào tất cả những bài viết của Nguyễn Ngọc Tư đã được chọn khảo sát trongluận văn này, bởi suy cho cùng điều cốt yếu nhất vẫn là ý nghĩa từ tác phẩm,còn tên gọi cũng chỉ là một cách quy ước, nếu quy ước thống nhất thì hiểnnhiên mọi người sẽ chấp nhận

1.2.1 Đặc trưng thẩm mĩ của thể loại tản văn

Qua những khảo sát về khái niệm trên đây, chúng tôi lựa chọn chomình cách hiểu về thể văn này Có thể nói rằng, tản văn là loại văn tự do, dàingắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến củatác giả, có tính truyền thống lâu đời và sức sống mạnh mẽ Từ những hiểu biết

và trải nghiệm đời sống, nhiều nhà văn đã chọn cách giải bày bằng tản văn

Và thể loại vừa hiện thực, sắc sảo vừa trữ tình, cảm xúc này đã mang lại thànhcông cho họ Từ “tản văn” được dung theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theonghĩa rộng, tản văn chỉ tất cả những thể loại ngoài thơ ca, bao gồm tác phẩmvăn học và luận văn khoa học, văn bản hành chính công vụ Theo nghĩa hẹp,tản văn được dùng với ý nghĩa văn học thuần túy là một thể loại văn học bêncạnh thơ ca, tiểu thuyết, kịch, thường gọi là “tản văn văn học” hoặc “tản vănnghệ thuật” Loại tản văn này là thể loại văn học chú trọng việc ghi lại những

Trang 22

gì đã trải qua, đã nghe thấy, cảm thấy, thể nghiệm liên tưởng của cái tôi hoặcghi lại những câu chuyện, những trạng thái cảnh vật hoặc trữ tình hoài niệm,

là loại tác phẩm văn học giàu tính trữ tình, rộng rãi về đề tài, tinh túy về nộidung, khuôn khổ tương đối nhỏ, ngôn ngữ tự nhiên mới mẻ, thủ pháp biểuhiện linh hoạt, văn phong sáng sủa

Trong đời sống hiện nay, tản văn trở thành một thể loại khá phổ biến,

dễ tiếp cận và có sự thâm nhập vào đời sống con người một cách dễ dàng.Viết tản văn trở thành một xu hướng trong sáng tác văn chương từ ngườikhông chuyên cho đến các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp Diện mạo tản vănngày càng phong phú về đề tài, giọng vẻ và sự tồn tại của thể loại này cũngcàng có ý nghĩa trong cuộc sống với nhịp điệu gấp rãi như hiện nay Mảnh đấttản văn chính là nơi lưu giữ, “bảo tồn” những giá trị tinh thần quý báu để nuôidưỡng tâm hồn, xúc cảm của con người trước sự bào mòn của môi trường đôthị hóa, hội nhập, tăng cường khoa học kĩ thuật vào đời sống

1.2.2 Thể loại tản văn trong hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư không “thử” với tản văn mà “cày xới” trên mảnh đấtnày một cách nghiêm túc Kết quả lao động nghệ thuật của chị là rất nhiều tảnvăn ra đời, chúng được đăng trên nhiều báo, đăng trên mạng và tập hợp lại

trong các đầu sách như: Sống chậm thời @, Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Yêu

người ngóng núi, Ngày mai của những ngày mai, Biển của mỗi người, Gáy người thì lạnh (ngoài ra vẫn còn nhiều tản văn rời khác nữa) Nhìn chung

trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cho đến thời điểm này, bằng sốlượng và chất lượng, tản văn đã là một phần không thể thiếu góp phần làmnên cái nhìn toàn diện hơn về nhà văn

Sự chân chất, giản dị, màu sắc Nam Bộ đậm đặc, sự nhân ái, hồn hậu, văn như đời, đời đi vào văn tự nhiên như hơi thở Đó là nét nổi bật trong

tản văn của Nguyễn Ngọc Tư rất dễ nhận ra nếu liên hệ, đối chiếu giữa đời sống và văn chương của chị Công bằng mà nói, không phải tản văn nào của

Trang 23

Nguyễn Ngọc Tư cũng hay nhưng không thể phủ nhận được những đóng góp lớn của chị cho thể loại tản văn trong văn học nước nhà đầu thế kỉ XXI.

1.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

1.3.1 Khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa

- Khái niệm “Văn hóa”:

Văn hoá là một khái niệm đã có từ lâu đời và có nội hàm rất rộng Theo

A.L.Kroeber và C.L Kluckhohn trong cuốn Văn hóa: cái nhìn phân tích về

khái niệm và định nghĩa có khoảng hơn 200 định nghĩa về văn hóa Sở dĩ sốlượng định nghĩa văn hóa phong phú như vậy vì một phần văn hóa là mộtphạm trù hết sức rộng Phần khác, mỗi nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích

và phương pháp nghiên cứu của mình đều có quyền đưa ra một định nghĩathích hợp Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số định nghĩa về văn hóa tiêu

biểu Cụ thể như: Theo Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê (chủ biên) định

nghĩa Văn hoá là:

1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Kho tàng văn hoá dân tộc Văn hoá PhươngĐông Nền văn hoá cổ)

2 Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu của đời sống tinh thần (Phát triển văn hoá Công tác văn hoá…)

3 Tri thức, kiến thức khoa học (Học văn hoá Trình độ văn hoá…)

4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh (Sống cóvăn hoá Ăn nói thiếu văn hoá…)

5 Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sởmột tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Vănhoá rìu hai vai Văn hoá gốm màu Văn hoá Đông Sơn…)

Trong Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997,

Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ cácgiá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích

Trang 24

luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người vớimôi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Dẫn theo Bách khoa toàn thư mở

Wikipedia, nguồn:hptt://vi.wikipedia.org) Theo Đỗ Lai Thuý trong Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá, (NXB Văn hoá Thông tin, trang 15) thì

theo nghĩa rộng: “Văn hoá là tất cả những gì phi tự nhiên” Tác giả cũng chorằng, đây là định nghĩa khái quát nhất, rộng lớn nhất

Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọccho rằng: “Văn hoá là quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng vàthế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của mộttộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nétkhác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành nhữngnền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ”

UNESCO - Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc đã đưa rađịnh nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thểnhững nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tínhcách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồmnghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của conngười, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng”

Các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá đãkhẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa làđộng lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hoá mà chúng ta xâydựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hoá Việt Nam

là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo,trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; Văn hoá là một mặt trận; Xâydựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải

có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng”

Trang 25

Như vậy, dù có nhiều khái niệm khác nhau về văn hoá, nhưng tựu trunglại, văn hoá có những đặc điểm cơ bản sau: Văn hoá là một hoạt động sángtạo, mang tính lịch sử chỉ riêng con người mới có Hoạt động sáng tạo đó baotrùm mọi ứng xử của con người với nhau và của con người với tự nhiên - xãhội, thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống: đời sống vật chất, đời sống xãhội, đời sống tinh thần Những hoạt động sáng tạo đó đã đạt được thành tựucủa các giá trị văn hoá, được bảo tồn và khai thác phát huy từ thế hệ này sangthế hệ khác bằng con đường giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng) Văn hoá là thểhiện của mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại, tạo ra mộtkiểu lựa chọn riêng của tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác,một cá nhân khác, tạo thành những nhân cách văn hoá (cá nhân), những nềnvăn hoá khác nhau (cộng đồng) Dù hiểu theo cách nào thì văn hoá cũng đều

là thành quả, là sản phẩm độc đáo của quá trình lịch sử do cá nhân và cộngđồng người tạo nên Trong phạm vi vấn đề được đề cập trong luận văn này,chúng tôi nghiêng về cách hiểu văn hoá gắn liền với bản sắc văn hoá theođịnh nghĩa của Phan Ngọc và của UNESCO

Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch

sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm chocon người trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đếncon người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi

là văn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần,

là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vựcsản xuất tinh thần của con người Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực

cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ

có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ

là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần khôngphải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vậtthể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trị

Trang 26

tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chấtkhách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lốisống, phong tục tập quán…

Văn hoá là sản phẩm, là diện mạo của cá nhân và cộng đồng Vì thế nóitới văn hoá không thể không nhắc đến vấn đề bản sắc văn hoá, tức là cái “tinhtuý”, cái cốt lõi của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử Bản sắc vănhoá, theo Ngô Đức Thịnh, là “một tổng thể các đặc trưng của văn hoá, đượchình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử của dân tộc, các đặctrưng văn hoá ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, dovậy muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hoá, với tưcách là sự biểu hiện của bản sắc văn hoá ấy Nếu bản sắc văn hoá là cái trừutượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể,

bộc lộ và khả biến hơn” (Dẫn theo Ngô Đức Thịnh (2011), Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập) Cũng theo Dương Phú Hiệp (chủ biên), Cơ sở lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hoá và con người Việt Nam, (NXB Chính trị Quốc gia – Sự

thật Hà Nội, 2012, trang 40), thì “Bản sắc riêng của mỗi nền/dạng/kiểu vănhoá thường được biểu hiện là những nét đặc thù và độc đáo thể hiện trong cáchiện tượng văn hoá hoặc các sản phẩm của văn hoá, quy định bộ mặt của mỗinền văn hoá Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoacủa cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nămđấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tựcường dân tộc, tinh thần đoàn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ Quốc;lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sang tạotrong lao động; sự tinh tế trong ứng xử; tính giản dị trong lối sống… Ngoài ra,phần đáng kể của nó lại được thể hiện ngay trong hoạt động sống bìnhthường, hằng ngày của các cộng đồng người Tuy nhiên, trong quá trình hộinhập, giao lưu, tiếp biến giữa các nền văn hóa, bản sắc đó luôn có thêm những

Trang 27

giá trị mới được hình thành và tiếp tục được bồi tụ để định hình và lộ diện,phù hợp với sự tiến hóa của lịch sử Các giá trị mang bản sắc văn hóa củatừng tộc người, từng dân tộc không phải ngẫu nhiên được hình thành mà đó làsản phẩm tất yếu của hoàn cảnh địa lý, lịch sử và chính trị Như vậy, bản sắcvăn hoá được hiểu là những gì tinh hoa, bền vững của một nền văn hoá Nómang ý nghĩa chỉ cái cốt lõi, chỉ những đặc trưng riêng của một cộng đồngvăn hóa và là yếu tố cơ bản để phân biệt giữa một nền văn hoá này với mộtnền văn hoá khác Vì thế, dấu ấn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc, mỗi vùngmiền sẽ được hiển hiện trong mọi sinh hoạt văn hoá của cộng đồng, trong đó

có văn học

- Khái niệm “Bản sắc văn hóa”:

Theo Từ điển Tiếng Việt, bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành

phẩm cách đặc biệt của một vật [76]

Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của mộtnền văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa mộtdân tộc Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vậtchất và tinh thần, vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa này ra đời gắn vớichính điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giaiđoạn phát triển khác nhau của một dân tộc Những giá trị văn hóa ấy, cho dù

có trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử nó không những không mất

đi, mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phùhợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóadân tộc mình, làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác Khi nói đến mộttrong những nét đặc trưng văn hóa ấy, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó làdân tộc nào mà không cần phải gọi tên

Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc Nó

là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời nàyqua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình:

Trang 28

Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó

có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ đượctiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát triểnđược bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay chìakhóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc lập [6, tr 48]

Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng củacái riêng (văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại) Mỗi dân tộctrong quá trình giao lưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vàokho tàng văn hóa chung Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giátrị của mình, tạo ra sự khác biệt trong cái đồng nhất đó chính là bản sắc vănhóa của một dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một biểu hiệnnhất thời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền vững trong lịch sử và đờisống văn hóa dân tộc

Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thôngqua văn hóa Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc vănhóa dân tộc: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố vănhóa nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóanào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóakhác là bản sắc” [64, tr.13]

“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trongsáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thườngxuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng…trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [18, tr 37]

Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tớibản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõicủa bản sắc dân tộc Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ

và rõ nét hơn ở văn hóa Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định

sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy

Trang 29

Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tinh thần bên trong vàbiểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cốthúc đẩy nhau phát triển Văn hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để

có bản lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc củavăn hóa sẽ mờ phai Ngược lại, nếu văn hóa tự mình làm mất đi những màusắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơi chất keo gắn kết tạo thành sứcmạnh bản lĩnh của văn hóa

Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tốnhư: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thứchoạt động kinh tế Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát

từ những yếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dântộc phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở Nó không chỉ là hìnhthức mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ cácdân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Vkhóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:” Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bềnvững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nênqua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêunước nồng nàn, ýý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ýý thức cộngđồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc… Bản sắc văn hóa dân tộccòn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”[16,tr.56]

Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sứcsống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyềnthống văn hóa là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khai thác

và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sửvăn hóa các dân tộc Khi đã được hình thành, truyền thống mang tính bềnvững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân

và cộng đồng Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự bất

Trang 30

biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể.Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lậpnhững yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũngkhông phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm

cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó,biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc

1.3.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Trước đây, quan hệ văn hóa và văn học được coi là quan hệ tương hỗ.

Đó là thứ quan hệ ngang bằng của hai hình thái ý thức xã hội cùng thuộcthượng tầng kiến trúc, cùng phản ánh một cơ sở hạ tầng Bởi thế, nghiên cứuvăn hóa thì văn học được coi như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn họcthì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu Như vậy,văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau Quan hệ này mang tính

bề ngoài, đôi khi tình cờ, không bộc lộ bản chất của nhau

Văn học là một bộ phận của văn hoá Văn học, cùng với triết học, chínhtrị, tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán là những thành tố hợp thành cấutrúc tổng thể bao trùm lên tất cả là văn hoá Vì vậy, cũng như các thành tố kia,văn học luôn chịu sự chi phối trực tiếp (dù vô thức hay có chủ ý) “từ môitrường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dântộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và

một cộng đồng dân tộc” (Trần Lê Bảo, (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội).

Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trướcthế giới thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinhđộng nhất Để có được những thành quả đó, văn hoá của một dân tộc cũngnhư của toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọnlựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội Văn họcvừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã

Trang 31

hình thành Chính vì vậy, có thể nói văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từnghệ thuật Như nhà nghiên cứu Phương Lựu khẳng định: “Nếu nghệ thuật làmột loại văn hoá đặc biệt, thì lấy ngôn ngữ với tư cách là biểu hiện đầu tiên,

cơ bản, vĩ đại của văn hoá nhân loại làm chất liệu, văn học chính là gươngmặt tiêu biểu cho văn hoá tinh thần của mỗi dân tộc” (Phương Lựu (chủ

biên), Giáo trình Lí luận văn học, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, 2010).

Ở một mặt khác, văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học là tấmgương của văn hoá Và khi nhìn văn học từ góc độ văn hóa học một cách cặn

kẽ thì “nếu văn học có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phảnánh trực tiếp được, mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hóa,thông qua “bộ lọc” các giá trị văn hóa”

Giữa văn học và văn hoá có mối quan hệ biện chứng, không chỉ vănhọc chịu sự tác động trực tiếp của văn hoá, mà ngược lại văn hoá cũng chịu sựtác động trở lại của văn học ở một số phương diện nhất định Nhờ có văn học,những sắc màu văn hoá được tái hiện một cách sinh động và sắc nét, khôngchỉ ở bề mặt – lớp văn hoá dễ nhận biết (phong tập, tập quán, sinh hoạt, các lễhội ) mà nó còn thể hiện cả tầng sâu văn hoá thể hiện ở tâm lí cộng đồng,tính cách, ứng xử của con người với con người và con người trước thiênnhiên Chính vì chịu sự tác động trở lại của văn học này mà một số tác phẩmvăn học dù không chủ định viết về vấn đề văn hoá nhưng người đọc vẫn nhậnthấy đậm chất văn hoá trong từng trang viết (Sáng tác của Nguyễn QuangSáng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Tô Hoài )

Văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học là tấm gương của văn hoá.Trong tác phẩm văn học ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận vàtái hiện của nhà văn Ta bắt gặp bức tranh văn hoá dân gian trong các câu tụcngữ, ca dao, thành ngữ, trong thơ Hồ Xuân Hương Những nét đẹp văn hoátruyền thống của dân tộc (nghệ thuật pha trà, thú chơi chữ ) được tái hiệntrong truyện ngắn và tuỳ bút của Nguyễn Tuân Những luật tục, hủ tục (khao

Trang 32

vọng, tục ma chay ) trong phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố Những tín

ngưỡng, phong tục (đạo mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục lên đồng, hát chầuvăn, tục ma chay, cưới hỏi, tục thờ cây, thờ thành hoàng ) trong tiểu thuyết

Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh

Văn học phản ánh văn hoá theo cách riêng mang tính đặc thù của vănhọc, đó là tôn vinh những giá trị tốt đẹp và phê phán những phản giá trị (nếucó) trong văn hoá Bằng cách này, văn học đã góp phần “thanh lọc” giữ lạinhững giá trị văn hoá tốt đẹp Từ đó văn học có tác động tích cực trở lại đốivới đời sống văn hoá cộng đồng, giúp cộng đồng nhận thức, gìn giữ và pháthuy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình; đồng thời tẩy chay,bài trừ những biểu hiện phản văn hoá

Ngoài ra, văn học không chỉ là phương thức thể hiện, tồn tại của vănhoá mà còn là phương tiện cất giữ, bảo lưu văn hoá bằng chất liệu có tínhnăng động và bền vững, đó là ngôn từ Thông qua ngôn từ nghệ thuật, người

ta có thể thấu đáo hơn giá trị văn hoá của từng dân tộc, từng thời đại Bởi vì,

“văn chương của một dân tộc cũng như toàn thể nhân loại từng trải qua nhiềuchặng đường tìm kiếm, lựa chọn, đấu tranh và sáng tạo để hình thành nhữnggiá trị trong xã hội Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi

định hình những giá trị đã hình thành” (Dẫn theo, Tống Thị Hạnh Chi, Tiểu thuyết Nguyễn Xuân khánh dưới góc nhìn văn hoá, luận văn thạc sĩ, Đại học

Sư phạm Hà Nội, 2012, trang 16)

Văn hóa tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầukhí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếpnhận của bạn đọc Bản thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là mộtsản phẩm văn hóa Người đọc, với chân trời chờ đợi hướng về tác phẩm, cũngđược rèn luyện về thị hiếu thẩm mĩ trong một môi trường văn hóa nhất định.Chính không gian văn hóa này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xâydựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác; đồng

Trang 33

thời cũng chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức… trong qua trình tiếpnhận Một nền văn hóa cởi mở, bao dung mới tạo diều kiện tuận lợi cho vănhọc phát triển Vì vậy, có thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế” vừa lượngđịnh, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hóa của một xã hội trongmột thời điểm lịch sử nhất định.

Trong tinh thần đó, nhiều nhà nghiên cứu đã căn cứ vào những dữ liệuvăn học để tìm hiểu bức tranh văn hóa của một thời đại Nói cách khác, thựctiễn văn học có thể cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa nghiên cứuvăn hóa Nền văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học, thìngược lại, văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc,hoặc thông qua những bộ phận hợp thành khác của nó Những nhà văn tiênphong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hóa lớn Bằng nghệ thuậtngôn từ, họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện văn hóa, đồng thời khẳngđịnh những giá trị văn hóa dân tộc, nhân bản và khai phóng

Tóm lại, giữa văn học và văn hoá luôn có mối quan hệ biện chứng vớinhau Văn học là một bộ phận của văn hoá Mọi sự biểu hiện của văn học xétđến cùng, chính là sự thể hiện của văn hoá Do vậy việc tìm hiểu văn học dướigóc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cùng với nhữngcách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếp cậnvăn học bằng văn hoá học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệthuật với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó Những yếu tố vănhoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ…

có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thứccủa tác phẩm Nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độcgiả và con đường phát triển nói chung của văn học

1.3.3 Màu sắc văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Nam Bộ là vùng địa lí có nhiều nét riêng biệt Đây là vùng đất nằm ởcuối cùng của Tổ quốc về phía Nam, nằm trọn trong lưu vực hai dòng sông

Trang 34

lớn Đồng Nai và Cửu Long (thuộc hạ lưu sông Mê Kông) Nam Bộ được chiathành hai bộ phận là miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ (Cà Mau làmột tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ) Đó là một vùng đất cửa sông, ven biển.Chính vì thế, nét khu biệt của Nam Bộ chính là sự phong phú của hệ thốngsông, ngòi, kênh rạch Miêu tả vùng này, vào đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức

đã dẫn: “Đất Gia Định nhiều sông, kênh, cù lao và bãi cát Trong 10 người đã

có 9 người quen việc chèo thuyền, biết nghề bơi nước” Chỗ nào cũng có ghethuyền hoặc dùng thuyền làm nhà ở hoặc để đi chơi, đi thăm người thân thích,chở gạo, củi buôn bán rất tiện lợi” Với một vị trí thuận lợi, được thiên nhiên

ưu đãi, Nam Bộ có nhiều nguồn tài nguyên: đất đai rộng lớn, phì nhiêu; nguồnnước dồi dào; khí hậu nóng ấm quanh năm, ít có thiên tai, thời tiết thấtthường Ở đây, một năm chỉ có hai mùa, sáu tháng mùa mưa và sáu tháng mùakhô, tạo nên nét đặc trưng về thiên nhiên, mùa vụ và cách thức sinh hoạt củangười dân Nam Bộ, khác biệt với các vùng địa lí khác Nói tới Nam Bộ lànói tới những cánh đồng tít tắp tận chân trời, tới khung cảnh thiên nhiên nhiênrộng lớn, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt GS Lê Bá Thảo đã tính Nam Bộ cókhoảng 5700 km kênh rạch Tất cả những yếu tố này đã góp phần quan trọngđịnh hình cuộc sống và văn hoá nơi đây.So với các vùng địa lí khác thì Nam

Bộ là vùng đất trẻ, được khai phá muộn hơn (cách đây khoảng hơn 300 năm).Trước đó Nam Bộ là một vùng đất gần như hoang hoá, có rất nhiều cá sấu vàthú dữ Vì thế có thể nói nơi đây vẫn còn lưu giữ được nhiều nét tự nhiên, ítchịu sự tác động của con người Điều này đã được ghi dấu trong ca dao NamBộ:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưnXuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma

(Dẫn theo Cơ sở văn hoá Việt Nam, Trần Quốc Vượng (chủ biên),

NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 284)

Trang 35

Với những đặc điểm tự nhiên trên, Nam Bộ trở thành miền đất hứa củanhiều người đi mở đất, mở nước Nhưng vốn là vùng đất mới khai phá cònmênh mông và hoang sơ, bí hiểm nên bên cạnh những thuận lợi kể trên, thiênnhiên Nam Bộ cũng có những khắc nghiệt, dữ dội, nhất là với người đi “mởđất” Họ đã phải vật lộn vất vả chống chọi với thiên nhiên để tìm kế mưu sinh.Những thuận lợi và khó khăn của tự nhiên Nam Bộ không chỉ ảnh hưởng trựctiếp đến quá trình lao động mà còn ảnh hưởng đến đời sống văn hoá, tinh thầncủa người dân, hình thành nên tính cách con người và in dấu sâu đậm trongnhiều tác phẩm văn học viết về vùng đất này, trong đó có sáng tác củaNguyễn Ngọc Tư.

Nam Bộ là vùng đất được khai phá muộn nên phần lớn dân cư ở đây lànhững lưu dân Họ đến từ nhiều vùng miền trong cả nước Một bộ phận đến từmiền Trung Một bộ phận khác đến từ miền Bắc (nhất là ở đồng bằng châu thổsông Hồng) Một bộ phận là bà con dân tộc Khơmer có nguồn gốc từCămpuchia Một bộ phận là những người thuộc dân tộc Hoa (nguồn gốc Hoa)

và một số dân tộc thiểu số khác Mỗi bộ phận lưu dân khi di cư đến vùng đấtmới, bên cạnh những dụng cụ sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, họ đều mangtheo những nét văn hoá riêng của dân tộc mình Trong quá trình sinh sống,giữa các dân tộc không hề bài trừ nhau mà ngược lại luôn có sự tiếp biến vềvăn hoá lẫn nhau Điều đó đã tạo cho vùng Nam Bộ có sự đa dạng và độc đáo

về văn hoá Do đặc điểm tự nhiên của vùng Nam Bộ có rất nhiều sông ngòi,kênh rạch chằng chịt nên ở đây “làng mạc được phân bố theo dạng kéo dài,lấy “kinh mương” hay “lộ” giao thông làm trục Dân cư ở hai bên kinh rạchhay con lộ, mặt nhà đều quay ra lộ hay kinh mương” (Nguyễn Phương Thảo,

Văn hoá dân gian Nam Bộ những phác thảo, NXB Văn hoá thông tin, trang

12) Cũng do “Làng Nam Bộ là loại hình làng khai phá tụ cư, thường trải dàitheo những đoạn tuyến sông, tuổi đời ít hơn làng Bắc Bộ và cấu trúc cũng

lỏng lẻo hơn” (Nguyễn Thừa Hỷ, Văn hoá Việt Nam truyền thống một

Trang 36

góc nhìn, Nxb VHTT và truyền thông, 2011, tr485) nên quan hệ làng xã trong

cộng đồng cư dân Nam Bộ thiếu chất kết dính chặt chẽ Đây là điểm khác biệtlớn so với các cư dân ở Bắc Bộ Mối quan hệ giữa người với người trong cộngđồng làng xã Bắc Bộ ngoài quan hệ huyết thống (đi đâu trong làng cũng gặp

họ hàng), quan hệ sản xuất, họ còn chịu sự chi phối chặt chẽ của các luật lệcủa làng Các lệ làng mạnh đến nỗi có những nơi, những lúc “Phép vua còn

thua lệ làng” (Điều này được thể hiện rõ nét, sinh động trong phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố) Ngược lại, ở Nam Bộ ít chịu sự chi phối của các luật

tục của làng Điều này lí giải cho tính chất dân chủ và bình đẳng trong cáchđối xử của từng người với mọi người trong từng cộng đồng dân cư

ở Nam Bộ - một đặc tính mà các vùng miền khác khó có được Đặc biệt, khiquan hệ thân tộc không còn chặt chẽ nữa, sợi dây liên kết gắn bó con người vớicon người là nghĩa tình Trong quá trình sinh sống, họ luôn biết gắn kết với nhau

để tạo nên sức mạnh chống lại và vượt qua những khó khăn gặp phải trong quátrình sản xuất và chinh phục thiên nhiên Câu thành ngữ “Bán anh

em xa mua láng giềng gần” được thể hiện rõ nét trong vùng đất mới này

Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Ngọc Tư luôn từ chối nơi phồn hoa

đô thị để sống cùng với những con người chân chất, tình nghĩa, với mảnh đấtnghèo khó Nam Bộ Mảnh đất ấy có vệt phù sa châu thổ, những sông ngòichằng chịt, cánh đồng bất tận mênh mông và biết bao con người đang vật lộnvới từng thước đất để mưu sinh Sống và lớn lên với mảnh đất quê hương,Nguyễn Ngọc Tư đã quen với mùi hăng hăng của cỏ khi sa mưa, mùi nồngnồng oi oi của đất, mùi thơm dậy của mắm chấm rau đồng Quê hương thực

sự đã ăn vào máu thịt, thấm vào từng hơi thở của chị, hiện lên phảng phất,dung dị trong sáng tác của chị.Về mặt tự nhiên, Nam Bộ là vùng đất có nhữngsông ngòi chằng chịt, những ao hồ và ruộng đồng mênh mông… Do cấu tạo

tự nhiên có tính đặc thù như thế nên đã hình thành nên đặc trưng văn hóa: cưtrú, giao thông, âm nhạc, ẩm thực của vùng miền Nam Bộ cũng như tính

Trang 37

cách, lối sống, quan niệm, tập quán của con người nơi đây Những yếu tốnày cũng đã tác động trực tiếp đến cách xây dựng, miêu tả hiện thực và conngười trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Vì vậy, người đọc dễ dàng bắt gặptrong cách thể hiện của chị mọi sinh hoạt và đời sống của con người đềumang dấu ấn của không gian văn hóa vùng đất phù sa sông nước như: ruộngđồng, kinh rạch, dòng sông, con đò, ghe xuồng, chợ nổi… Cư trú ven sông là

mô hình phổ biến nhất của cư dân Nam Bộ với ba hình thức cơ bản: nhà ởtrước sông sau ruộng, cư trú ở vùng giáp nước, nhà ở trước đường sau sông.Các loại hình cư trú này xuất phát từ địa hình tự nhiên Nam Bộ nhiều sôngngòi, kênh rạch chằng chịt, tạo điều kiện cho việc di chuyển bằng đường thủy.Nơi ở gần sông như thế khá thoáng mát, phục vụ tiện ích cho cuộc sống sinhhoạt đời thường: tắm giặt, đánh bắt thủy hải sản, buôn bán, trao đổi hànghóa Do địa hình có nhiều sông, rạch nên ở Nam Bộ, chỗ nào cũng có ghe,thuyền, vỏ lãi, tắc ráng là phương tiện đi lại phổ biến nhất Loại hình giaothông này phát triển đa dạng, phong phú, xuất hiện nhiều trong tác phẩm củaNguyễn Ngọc Tư Ghe thuyền còn dùng để làm nhà ở, thuyền để đi chợ,thuyền chở gạo, ghe xuồng buôn bán trên chợ nổi Dường như tất cả mọisinh hoạt của con người Nam Bộ đều gắn bó với sông, với nước, với nhữngchiếc thuyền, ghe, xuồng lênh đênh, mê mải Có thể nói chợ nổi và nhữngchiếc ghe chở hàng hóa trôi nổi xuôi ngược trên khắp các sông rạch là nét đặctrưng trong văn hóa đời sống sông nước Nam Bộ Bên cạnh cuộc sống sôngnước, văn hóa Nam Bộ còn thể hiện trên những vùng đồng bằng mênh mông,những cánh đồng lúa trải dài vô tận Ở đó, ruộng đồng gắn liền với cuộc sốngvất vả, khó nhọc của những người nông dân suốt đời rong ruổi với nghề nuôivịt chạy đồng, sống cuộc đời du mục, lang bạt, không biết đâu là điểm dừngchân, là ổn định Mảnh đất Cà Mau nói riêng, Nam Bộ nói chung còn nổitiếng với những miệt vườn rộng lớn, bao la, sum suê cây trái Ở đây có rấtnhiều trái cây đặc sản: mít Tố Nữ, và tinh thần cao nhất ở Đồng bằng sông

Trang 38

Cửu Long Về đời sống tinh thần, văn hóa Nam Bộ được thể hiện rõ trong nét

âm nhạc riêng của nền văn mình miệt vườn Ở đây, những điệu hò, câu hát: hòchèo ghe, hò mái dài, hò sông Hậu; đơn ca tài tử, cải lương thấm đẫm trongđời sống và tâm hồn của con người Hơn nữa, văn hóa ẩm thực Nam Bộ vớinhững món ăn tự nhiên, độc đáo cũng đặc biệt thu hút mọi người: cá nướngrơm chấm muối ớt kèm rau húng lùi, bắp chuối non, cá trê vàng nước chấmvới mắn gừng, cá sặc kho ớt, canh chua cá rô đồng bông so đũa, cháo le le Với tất cả những giá trị văn hóa này, đọc sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư,người đọc như có cảm giác được đứng trên chính mảnh đất Nam Bộ vậy.Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất hội nhập của nhiều luồng văn hoáĐông -Tây khác nhau Đọc sáng tác về đồng bằng sông Cửu Long, người ta

dễ dàng nhận ra những nét độc đáo của tính cách con người và bản sắc vănhóa đa dạng của một vùng đất Nguyễn Ngọc Tư cũng không là ngoại lệ Sángtác của chị chính là bức tranh đời sống và tâm hồn của con người Nam Bộ, làđịa hạt mà chị chứng tỏ được khả năng bao quát và phát hiện những góckhuất, những điều tưởng chừng như đơn giản nhưng hệ trọng đối với đời sốngcon người

Bao trùm các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là hiện thực cuộc sống conngười trên mảnh đất Nam bộ với cánh đồng lúa mênh mông, những con sônguốn lượn hay những bờ kinh, con mương và vô số những đầm, đìa, rạch,xẻo ; những chợ nổi với ghe xuồng, sóng nước tấp nập…; những câu hò,điệu hát lên xuống theo từng con nước lớn, ròng; hay những bài vọng cổ buồnđược cất lên từ những đoàn ca múa cải lương đang len lỏi mưu sinh tận trongnhững chợ quê nghèo… Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư bao giờ cũng đượctriển khai trên cái nền của “bức tranh” sinh hoạt văn hóa ở làng quê Nam bộđộc đáo ấy, nói như nhà văn Nguyên Ngọc đó chính là “không gian… củaNguyễn Ngọc Tư”

Trang 39

Đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư, như tác giả Huỳnh Công Tín đã nhậnxét thì: “người đọc sẽ cảm nhận được chất Nam Bộ thể hiện khái quát ở nhiềuphương diện của tác phẩm… Trong tác phẩm của chị có một không gian Nam

Bộ với những loại cây, tên gọi nghe quen, dân dã: “mắm, đước, sú, vẹt, bần,tra, tràm, choại, quao, ô rô, dừa nước ”, với những vàm, kinh, rạch, xẻo, tắtchằng chịt, mà tên gọi cũng gợi trí tò mò, tìm hiểu ở người đọc: “vàm CỏXước, Vàm Mắm, kinh Cỏ Chác, kinh Mười Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi,Rạch Ráng, Rạch Ruộng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, Lung Lớn, Gò Cây Quao ”, haynhững tên ấp, tên làng, tên chợ nhiều chất Nam Bộ: “xóm Xẻo, xóm Rạch,xóm Kinh Cụt, xóm Miễu, chợ Ba Bảy Chín, Cái Nước, Trảng Cò, Đất Cháy,Mút Cà Tha …” (Nguồn :http:// http://www.vnexpress.net) Như chúng ta đãbiết, điều dễ nhận biết nhất về sự khác biệt văn hoá ở vùng miền này với vùngmiền khác chính là ở phong tục tập quán Phong tục, theo Nguyễn Như Ý

trong Đại Từ điển Tiếng Việt, là “những hành vi, tập quán phổ biến, ổn định,

lối sống, thói quen đã thành nề nếp của một cộng đồng được mọi người công

nhận, tuân theo” (Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2008, trang 1262) Hay theo như nhà

nghiên cứu Trần Ngọc Thêm thì phong tục được hiểu là “những thói quen ănsâu vào đời sống xã hội lâu đời được đại đa số mọi người thừa nhận và làmtheo” Trong sáng tác của Nguy ễn Ngọc Tư (ở thể loại truyện ngắn và tiểuthuyết), dù chị không có ý đi sâu tìm hiểu về phong tục vùng đất Nam Bộ như

m ột số nhà văn lớp trước (tiêu biểu là các sáng tác của nhà văn, nhà văn hoáNam Bộ Sơn Nam) nhưng là một người sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, chất liệuvăn hóa đã ngấm sâu và thấm đẫm trong từng hơi thở, trong sinh hoạt hàngngày, trong cách nghĩ, cách cảm về con người, về cuộc sống nên trong các tácphẩm của chị người đọc vẫn nhận thấy khá đậm nét những phong tục tập quánđặc trưng Nam Bộ Điều đó đã làm nên một Nguyễn Ngọc Tư “đặc sản NamBộ” như lời khen tặng của giáo sư Trần Hữu Dũng cho

Trang 40

hành trình sáng tạo văn học của chị.Vùng đất Nam Bộ có rất nhiều sông ngòi,kênh rạch, các đầm, đìa, Với đặc điểm tự nhiên tứ bề sông, bốn bề nước nêncuộc sống của người dân nơi đây đặc biệt gắn liền với sông nước, tạo nên mộtkhông gian văn hoá sông nước riêng biệt.

Tiểu kết

Mỗi nhà văn thường có một “không gian” văn hóa của riêng mình, như

là cội nguồn của mọi sáng tạo Là một người con Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư

đã bám rễ sâu sắc vào vùng văn hóa này để bung trổ những sáng tạo mangđậm nét đặc trưng của mình Có lẽ, màu sắc văn hóa Nam Bộ cũng chính làmột trong những lí do quan trọng để giúp cho sáng tác của Nguyễn Ngọc Tưnói chung và cũng như tản văn của chị nói riêng có sức hấp dẫn đặc biệt Vớinhững đóng góp của mình cho văn học nước nhà giai đoạn đầu thế kỉ XX, tảnvăn Nguyễn Ngọc Tư đã xác lập cho mình một vị trí vững vàng trên văn đàn

Ngày đăng: 27/11/2020, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w