1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm của tạp văn nguyễn ngọc tiến từ góc nhìn văn hóa​

114 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 145,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy nên, nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóagiúp chúng ta không những hiểu bản chất của văn học, lý giải văn học mà ta cònnhận diện được bối cảnh văn hóa dân tộc và thời đại, có cái n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong luận văn là kết quả quátrình nghiên cứu của bản thân tôi Những thành quả khoa học của những tác giảtrước mà tôi sử dụng trong luận văn để làm sáng tỏ thêm vấn đề đều được trích dẫn

rõ ràng, cụ thể Không có bất cứ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiêncứu

Hà Nội, ngày tháng

Học viên

Đặng Thị Hoài Lê

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng tất cả các thầy giáo, côgiáo trong khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã chỉ bảo,cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luậnvăn.

Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Hà VănĐức – người Thầy trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn động viêntôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của thầy đã mang lạicho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kĩ năng hết sức quý báu để

có thể hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất

Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến những người thân, gia đình, bạn

bè đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiệnthành công luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Học viên

Đặng Thị Hoài Lê

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Cấu trúc của luận văn

CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – VĂN HỌC TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TIẾN 1.1 Khái lược về mối quan hệ văn hóa - văn học .

1.1.1 Văn hóa

1.1.2 Văn học

1.1.3 Mỗi quan hệ giữa văn hóa và văn học

1.1.4 Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu văn học 1.2 Thể loại tạp văn trong nền văn học Việt Nam đương đại

1.2.1 Khái niệm tạp văn

1.2.2 Sự khác biệt của tạp văn với các thể loại khác

1.2.3 Sự nở rộ của thể loại tạp văn trong văn học Việt Nam hiện nay 1.3 Nguyễn Ngọc Tiến – nhà văn của Hà Nội ngàn năm văn hiến

1.3.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến

1.3.2 Nguyễn Ngọc Tiến với thể loại tạp văn

1.3.3 Đề tài Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tiến

1.4 Tiểu kết chương 1

CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA HÀ NỘI TRONG TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TIẾN 2.1 Không gian từ góc nhìn văn hóa

2.1.1 Không gian Hà Nội nghìn năm văn hiến

2.1.2 Không gian cuộc sống và những phong tục sinh hoạt văn hóa Hà Nội 2.2 Thời gian từ góc nhìn văn hóa

Trang 6

2.2.1 Thời gian sự kiện trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến 55

2.2.2 Thời gian sinh hoạt trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến 58

2.3 Người Hà Nội nhìn từ phương diện văn hóa 62

2.3.1 Những nét đẹp của người Hà Nội 62

2.3.2 Những góc khuất của người Hà Nội 70

2.4 Tiểu kết chương 2 73

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TIẾN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA 3.1 Biểu tượng văn hóa 75

3.1.1 Khái niệm về biểu tượng văn hóa 75

3.1.2.Một số biểu tượng văn hóa Hà Nội trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến 77

3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật. 83

3.2.1 Ngôn ngữ mang tính chất khảo cứu. 84

3.2.2 Ngôn ngữ báo chí. 88

3.2.3 Ngôn ngữ giản dị, đời thường. 90

3.3 Giọng điệu 93

3.3.1 Giọng điệu ca ngợi, tự hào 95

3.3.2 Giọng điệu suy tư, chiêm nghiệm 96

3.3.3 Giọng điệu thong thả, chậm rãi. 97

3.3.4 Giọng điệu hồi tưởng tiếc nuối. 99

3.3.5 Giọng điệu tranh biện, đối thoại 100

3.4 Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mỗi một quốc gia, một dân tộc, một vùng miền trên thế giới đều có nhữngđặc trưng văn hóa riêng biệt không giống với những quốc gia, dân tộc, vùng miềnkhác Văn học không những là một bộ phận quan trọng của văn hóa, chịu sự chiphối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà văn học còn có khả năng nhận thức, phảnánh, là phương tiện truyền tải, lưu giữ, bảo tồn, kiến tạo các giá trị văn hóa và nângvăn hóa lên tầm cao mới

Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học vừa là vấn đề có tính lí luận, vừa có ýnghĩa thực tiễn trong nghiên cứu văn hóa, văn học Việc nghiên cứu văn học từ gócnhìn văn hóa là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã được vậndụng ở Việt Nam khá phổ biến Vậy nên, nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóagiúp chúng ta không những hiểu bản chất của văn học, lý giải văn học mà ta cònnhận diện được bối cảnh văn hóa dân tộc và thời đại, có cái nhìn sâu sắc về đờisống văn hóa của cả một dân tộc…

Đầu thế kỉ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin vànhịp sống hiện đại thì thể loại tạp văn trở nên có ưu thế bởi tính chất ngắn gọn,linhhoạt, đa dạng, phản ánh một cách nhanh nhạy, kịp thời một vấn đề nào đó nên đãđược nhiều nhà văn quan tâm, thử sức và mang dấu ấn cá nhân của tác giả

Trong những năm gần đây, khi nhắc về các cây bút viết tạp văn nổi tiếng

không thể không kể đến Nguyễn Ngọc Tiến Bốn cuốn tạp văn: 5678 bước chân quanh hồ Gươm, Đi dọc Hà Nội, Đi ngang Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội liên tiếp được

xuất bản đã thể hiện suy tư sâu sắc, trải nghiệm phong phú, lối viết tự nhiên, linhhoạt, sức sáng tạo dồi dào mạnh mẽ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến về Hà Nội, đã

được công chúng đặc biệt chú ý và đón nhận Đi dọc Hà Nội, Đi ngang Hà Nội là hai cuốn sách đã mang lại Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội cho

Nguyễn Ngọc Tiến năm 2012 đã phần nào khẳng định tài năng và tình yêu với HàNội của Nguyễn Ngọc Tiến

Trang 8

Cho đến thời điểm hiện tại, đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu về tạpvăn Nguyễn Ngọc Tiến nhưng nghiên cứu tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến từ góc nhìn vănhóa vẫn chưa nhiều, chưa thực sự trở thành công trình, hệ thống và cũng rất ít côngtrình tiếp cận được sâu bản chất vấn đề Trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tiến có nhiềuvấn đề văn hóa cần được khai thác và tìm hiểu Đặc biệt việc nghiên cứu đặc điểm tạpvăn của Nguyễn Ngọc Tiến từ góc nhìn văn hóa là việc làm thiết thực, khả quan, hứahẹn mang lại nhiều điều thú vị, giúp người đọc thấy được rõ hơn văn hóa Hà Nội ngànnăm văn hiến Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi quyết định lựa chọn

đề tài: “Đặc điểm của tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến từ góc nhìn văn hóa” để nghiên cứu,với mong muốn góp thêm một cách nhìn nhận mới, nhận ra những giá trị văn hóa tiềm

ẩn dưới những trang viết của Nguyễn Ngọc Tiến

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Ở Việt Nam, hướng tiếp cận văn học từ văn hóa đã xuất hiện từ lâu nhưng đếnnhững năm đầu của thế kỉ XX, hướng tiếp cận này mới được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, tìm hiểu và đạt được một số thành tựu nhất định như các công trình nghiêncứu của: Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh… Phan Ngọc trong công trình

Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) đã vận dụng những yếu tố

văn hóa - xã hội để tìm ra những đặc trưng của phong cách Nguyễn Du Sau đó đếnnăm 1994, ông đã đưa ra những quan điểm về văn hóa, cách tiếp cận văn hóa trong vănhọc và đã gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu sau này Năm

1995, công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại của Trần Đình Hựu đã

chỉ ra đặc điểm văn học Việt Nam dưới ảnh hưởng của Nho giáo giai đoạn cuối thời Lê

đầu thời Nguyễn Đến năm 1995, công trình Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam của Trần Ngọc Vương bằng cái nhìn loại hình học cũng đã làm rõ hơn điều này Tác giả Đỗ Lai Thúy trong Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, Văn học trung đại Việt Nam

dưới góc nhìn văn hóa của Trần Nho Thìn đã đạt được thành công khi nghiên cứu văn

học trung đại dưới góc nhìn văn hóa

Hiện nay, ở Việt Nam đã có rất nhiều tác giả áp dụng phương pháp nghiêncứu văn học từ góc nhìn văn hóa cho các công trình nghiên cứu của mình và rất

Trang 9

nhiều công trình đạt được nhiều thành tựu nhất định như: Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (Trần Nho Thìn, Nhà xuất bản (Nxb) Giáo dục, 2003); Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học (Nguyễn Bá Thành, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2004); Nguyễn Bính – hành trình sáng tạo thi ca (Đoàn Đức Phương, Nxb Giáo dục, 2005); Thơ Mới từ góc độ văn hóa – văn học (Luận án Tiến sĩ, Hoàng Thị Huế, Học Viện Khoa học Xã hội, 2007); Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa

(Lê Nguyên Cẩn, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2011);… Như vậy, có thể khẳngđịnh rằng hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đã, đang và vẫn là mộthướng đi đúng đắn, khoa học

2.2 Cho đến nay, Nguyễn Ngọc Tiến đã cho ra đời bốn cuốn tạp văn viết về những

gì gần gũi, thân thuộc của Hà Nội từ xưa đến nay và đã được rất được lòng côngchúng yêu văn học, yêu Hà Nội Hiện nay đã có nhiều bài viết, bài báo viết về tạpvăn của Nguyễn Ngọc Tiến tuy nhiên đó mới chỉ là những trang viết chỉ dừng lại ởnhận xét khái quát, sơ bộ, bộc bạch ấn tượng, cảm xúc về một cuốn sách hay mộtbài tạp văn cụ thể nào đó chứ chưa hề có một luận án hay luận văn nào nghiên cứusâu về đặc điểm tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến từ góc nhìn văn hóa và chỉ ra được dấu

ấn riêng của tác giả Nguyễn Ngọc Tiến

Về các bài viết trên báo, tạp chí cũng đã có nhiều tác giả đã dành những đánhgiá sâu sắc về tác giả Nguyễn Ngọc Tiến cũng như tạp văn viết về Hà Nội của ông

Trong bài viết Đi dọc Hà Nội khám phá chiều sâu của văn hóa thủ đô, (http://vnexpress.net, 8/2012), tác giả Thanh Huyền đã nhận xét: “Trong cuốn sách mới này, Nguyễn Ngọc Tiến tiếp tục triển khai góc nhìn mới về một số vấn đề - sự kiện, giúp người đọc biết về “người Tràng An thanh lịch” qua thú chơi hoa, qua lịch sử cầu Thê Húc, qua thuốc phiện và rượu lậu của một thời… Tất cả đều được xây dựng trên nền tảng con người, mà nổi trội là những người Hà Nội rất bình thường Họ là người trồng hoa ở làng Ngọc Hà, là chị công nhân đã có mấy chục năm làm công việc coi sóc đồng hồ trên nóc nhà Bưu điện Bờ Hồ, và xa nữa về thời gian là những anh chị, cô bác bán hàng rong, người hát xẩm… cùng với các câu vè,

Trang 10

lời rao hàng sinh động và lý thú Đó là những con người đã góp phần làm nên một diện mạo khác của Hà Nội, khác xa với những “dân chơi” của đất kinh kỳ…”

Tác giả Xuân Phong với bài viết Nguyễn Ngọc Tiến: Lãng từ đi dọc, ngang

Hà Nội trên (https://baotintuc.vn) tháng 9/2012 đã phát hiện ra: “Những trang viếtcủa anh rất thú vị, có nhiều thứ để đọc, để tìm hiểu và người ta nhận ra rằng anh viếtrất nghiêm túc, viết có trách nhiệm, một thứ trách nhiệm không ai ràng buộc nhưnglại chặt chẽ hơn tất thảy mọi thứ luật định nào, một thứ ràng buộc cá nhân với mỗicon chữ được đưa ra” Nguyễn Ngọc Tiến đã đưa người đọc tìm hiểu, khám phá đất

và người Thăng Long-Hà Nội, giúp họ càng thêm yêu mảnh đất kinh kỳ ngàn nămvăn hiến này

Nhà xuất bản trẻ trong một bài viết Những tác phẩm về Hà Nội của Nguyễn Ngọc Tiến (7/2017) của tác giả Tú Duyên đã có những nhận xét khái quát về các tác phẩm của ông: “Bộ sách khảo cứu về Hà Nội của Nguyễn Ngọc Tiến, là một cuộc phiêu lưu vô cùng đặc biệt mà tác giả đã tạo ra cho những ai yêu mến Hà Nội Mỗi một tác phẩm, lại có nét riêng biệt cùng với đó là những câu chuyện về con người,

xã hội, văn hóa, lịch sử,… được tác giả tái hiện lại vô cùng đặc sắc” Tất cả những

câu chuyện dung dị về Hà Nội giúp chúng ta hình dung ra một Hà nội cổ kínhnhưng luôn có những nét riêng biệt, độc đáo

Trong bài viết “Nguyễn Ngọc Tiến – một sử nhân của Hà Nội” trên Báo Người Hà Nội (7/2018) tác giả Thu Hằng với nhiều năm cùng làm việc với Nguyễn Ngọc Tiến và đọc các tác phẩm của ông đã nêu lên nhận xét: “Đọc các ký sự - khảo cứu công phu của Nguyễn Ngọc Tiến thấy ông rất yêu Hà Nội, yêu một cách cụ thể, chi tiết Những câu chuyện về phở, bia hơi vỉa hè, phố cổ, tiếng chuông tàu điện leng keng, những ngày đầu khi Hà Nội bắt đầu có đèn giao thông, cầu Long Biên được khởi dựng ra sao, nhà vệ sinh công cộng đầu tiên ở đâu hay những câu chuyện thú vị về những con người bình dị: cô bán hàng rong, người hát xẩm, chị công nhân đã có mấy chục năm làm công việc coi sóc đồng hồ trên nóc nhà Bưu điện Bờ Hồ, rồi thú chơi hoa, chơi cá cảnh, đi hát cô đầu… của người Hà Nội xưa, tất cả được tái hiện một cách tự nhiên, dung dị để người đọc có thể hình dung ra

Trang 11

một Hà Nội cổ kính, đôi khi lại xô bồ nhưng vẫn luôn là một Hà Nội riêng biệt và độc đáo” Qua đó thấy được một Nguyễn Ngọc Tiến nhẹ nhàng, tỉ mỉ, chính xác,

cẩn trọng đến từng chi tiết nhưng cũng hết sức dí dỏm, hài hước

Nhà phê bình Nguyễn Hòa đã dành nhiều lời khen cho cuốn Đi dọc Hà Nội:

"Sau khi đọc hết cuốn sách thú vị này, bạn đọc nào đó có thể còn thấy „thòm thèm‟, thậm chí chưa vừa ý, nhưng dẫu sao, vẫn cần phải cảm ơn tác giả Vì khi

mà ngay tại Hà Nội này, cuộc mưu sinh đang kéo nhiều người trong chúng ta vào vòng xoáy của các lợi ích cho hiện tại và tương lai, không có thời gian, thậm chí lơ đễnh khi nhìn về quá khứ, thì ngòi bút tài hoa của Nguyễn Ngọc Tiến vẫn cần mẫn

và kỳ công, để viết nên những trang sách không dễ viết Đó cũng là những trang sách có thể giúp chúng ta hiểu thêm về quá khứ, về dòng chảy văn hóa và dấu ấn của nhiều thế hệ ở Hà Thành, đồng thời nhắc nhở chúng ta rằng, hiện tại và tương lai không đến từ hư vô, mà đến từ quá khứ” (Đi dọc Hà Nội để thấy một Hà Nội rất khác, http://vdantri.com.vn, Bình Yên)

Nhà phê bình Nguyễn Trương Quý nhận xét về cuốn Đi xuyên Hà Nội có nói:

“Giọng văn thong thả, chậm rãi, có chút lãnh đạm làm tăng thêm cảm giác “truyền kỳ” của những câu chuyện lạ, nhất là những điều gợi nên suy ngẫm về khoảng cách giữa văn minh và u tối ở một đô thị vừa già cỗi lại vừa lắm nỗi ngây thơ Nhiều chỗ tác giả chỉ đưa ra những con số và sự kiện mà người đọc cũng nghẹn ngào Vì nỗi thương mình đã sống trong hoàn cảnh đó, hay thương một xã hội đô thị nhiều dâu bể? Trong cuốn sách này, tính chuyển động, sự trôi dạt nổi lên như một yếu tố chính Rất nhiều lần Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh tới tính động của dòng chảy đời sống Hà Nội Nó vừa bảng lảng lại vừa trần trụi Nó đẫm đầy chất tiểu thuyết” [21,

tr.6-tr.7]

Như vậy, đã có nhiều bài viết, bài báo viết về tạp văn của Nguyễn Ngọc Tiếntuy nhiên đó mới chỉ là những trang viết chỉ dừng lại ở nhận xét khái quát, sơ bộ,bộc bạch ấn tượng, cảm xúc về một cuốn sách hay một bài tạp văn cụ thể nào đó.Tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến vẫn cần thêm những công trình nghiên cứu chuyên sâu

Trang 12

để chỉ ra được dấu ấn riêng của tác giả Đây cũng là lý do để chúng tôi lựa chọn tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến làm đề tài luận văn.

3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tiến và các giá trị văn hóa biểu hiện trong các tácphẩm của ông

- Khẳng định nét độc đáo về tư tưởng, nội dung, nghệ thuật sáng tác

của Nguyễn Ngọc Tiến soi chiếu từ góc độ văn hóa

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài luận văn, người thực hiện đã khảo sát, nghiên cứu bốn cuốn tạp văn của Nguyễn Ngọc Tiến gồm:

- Đi xuyên Hà Nội, Nxb Trẻ, T.P.Hồ Chí Minh, 2015

- 5678 bước chân quanh hồ Gươm, Nxb Trẻ, T.P Hồ Chí Minh, 2016

- Đi dọc Hà Nội, Nxb Trẻ, T.P Hồ Chí Minh, 2017

- Đi ngang Hà Nội, Nxb Trẻ, T.P Hồ Chí Minh, 2017

Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tiến nổi bật với nhiều mảng đề tài liên quan đếnvăn hóa, lịch sử, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn chỉ tậptrung làm nổi bật những giá trị thuộc về văn hóa trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến.Những giá trị khác trong tạp văn sẽ được đề cập trong những lần nghiên cứu sau

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

- Phương pháp tiếp cận văn hóa – văn học: Phân tích không gian văn hóa,thời gian văn hóa, quan niệm văn hóa, cảm quan văn hóa về con người đểgiải mã văn hóa các hiện tượng văn học.

- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu các đặc trưngcủa đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và

ra quyết định

- Phương pháp so sánh: So sánh một hiện tượng văn học với các hiện tượngcùng loại hay các hiện tượng đối lập để làm nổi bật bản chất của hiện tượngđem ra so sánh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích thành từng bộ phận các tài liệu

để tìm hiểu sâu sắc về các đối tượng rồi tổng hợp các thông tin đã được phântích thành một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và bám sát hơn vào đối tượngnghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc 03

chương như sau:

Chương 1: Mối quan hệ giữa văn hóa – văn học Tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến.Chương 2: Những giá trị văn hóa Hà Nội trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến.Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến từ góc nhìn văn hóa

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – VĂN HỌC

TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TIẾN 1.1 Khái lược về mối quan hệ văn hóa - văn học

1.1.1 Văn hóa

Văn hóa là sức sống nội tại của mỗi dân tộc Vì vậy, nghiên cứu về văn hóa,các phương diện của văn hóa, đưa ra khái niệm về văn hóa… đã được các nhànghiên cứu của nhiều ngành khoa học quan tâm tìm hiểu từ rất lâu

Văn hóa là nền tảng cho mọi ngành khoa học nên từ thế kỉ XIX văn hóa đãtrở thành đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học như dân tộc học, văn hóahọc, văn học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học,… Nhưng cho đến nay các nhànghiên cứu vẫn chưa đưa ra một định nghĩa nhất quán về văn hóa

Văn hóa khái niệm có nội hàm rất rộng với rất nhiều cách hiểu, cách lí giải

và tiếp cận khác nhau liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của conngười Văn hóa có thể hiểu như một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng nhiềunhà nghiên cứu lại hiểu văn hóa như là lối sống, thái độ ứng xử hay văn hóa có lúcđược hiểu như một trình độ học vấn

Khi nói về vấn đề văn hóa, mỗi nhà nghiên cứu lại có một quan điểm khácnhau Trong cuộc sống hàng này, văn hóa được hiểu là phong cách sống của conngười, nghĩa là các hoạt động ăn, ở, đi đứng, cách ứng xử (với đồng loại, môitrường, với bản thân) và cả phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đức tin,… của conngười, dân tộc và quốc gia

UNESCO cho rằng : “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần

và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống và giá trị, tập tục và tín ngưỡng” [19, tr.10]

Trang 15

Edouard Herriot cũng đưa ra các hiểu về văn hóa như sau: “Văn hoa là cái còn lại khi ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (Dẫn

theo Nguyễn Thị Hải Hà) [8, tr.1]

Văn hóa được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt là “Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [31, tr.1079].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một cách hiểu về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh

ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [12, tr.55] Theo cách hiểu

này, văn hóa bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo và phát minh ra

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [25, tr.3] Với cách hiểu này, văn hóa là hệ thống những giá trị do con người sáng tạo nên từ

tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất, trí tuệ, tài năng đến ý thức bảo vệ, sức đềkháng và sức chiến đấu của mỗi người, mỗi dân tộc và đối lập hoàn toàn với thiênnhiên

Trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”

[18, tr.24] Như vậy, theo định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa baogồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ranhằm mục đích vì con người Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra phải

Trang 16

mang tính nhân tính Tóm lại có thể hiểu rằng, có những giá trị do con người sángtạo ra nhưng nó không phải là văn hóa bởi vì nó không mang tính nhân tính, nó chỉphục vụ một số những mục đích các cá nhân hay tổ chức nào đó, nó hủy hoại cuộcsống của con người do đó nó không được cộng đồng chấp nhận như: vũ khí hạtnhân, các vũ khí giết người, chạy đua vũ trang, chủ nghĩa khủng bố…

Như vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa hay khái niệm về văn hóa Dựatrên những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, dựa trên những cách tiếp cận khác nhauphục vụ cho mục đích nghiên cứu khác nhau mà các nhà khoa học, nhà nghiên cứu

có thể lựa chọn một định nghĩa hay khái niệm có nội hàm gần nhất với vấn đềnghiên cứu của mình Tuy vậy, các định nghĩa về văn hóa đều thống nhất ở mộtđiểm, coi văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra và chỉ có ở con người Vănhóa thuộc về con người là đặc trưng căn bản để phân biệt con người với động vật,cũng là tiêu chí để phân biệt sản phẩm tự nhiên với sản phẩm nhân tạo

Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo ra và pháttriển trong quan hệ qua lại giữa con người với xã hội và chính văn hóa tiếp tục thamgia vào việc tạo thế giới vật chất, tinh thần của con người để duy trì sự bền vững vàtrật tự xã hội

Nghị quyết Hội nghị lần thứ VI, Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh nhưng giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa là một trong những mục tiêu của chúng ta” [20, tr.2] Như vậy, chính sách về văn hóa của Đảng đã khẳng định: văn hóa là

nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ của dân tộc, văn hóa vừa là mục tiêuvừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Vậy nên, Đảng và Nhà nước ta

đã và đang chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc

Trang 17

1.1.2 Văn học

Văn học theo nghĩa rộng được hiểu đồng nghĩa với văn hóa: “Gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói – viết và các tác phẩm ngôn ngữ Nó bao gồm các tác phẩm

mà ngày nay có thể xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo” [27, tr.2] Văn học

theo nghĩa hẹp là tác phẩm văn chương, bao gồm các tác phẩm ngôn từ có tính chấtđược sáng tác bằng hư cấu, tưởng tượng và không bao gồm các tác phẩm chính trị,triết học, tôn giáo Văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ mộtquan điểm, lập trường của người sáng tác đối với đời sống nhưng văn học lại khôngphản ánh hiện thực trong ý nghĩa khách quan, phổ quát của sự vật mà nó quan tâm

đến một con người kết tinh trong sự vật mà nó nói đến Ví dụ, khi nói đến thuyền và bến, văn học không chỉ phản ánh thuyền là một phương tiện đi lại của con người hay bến là một hiện tượng tự nhiên bình thường mà nói đến chúng là nói đến những

người yêu nhau mà phải xa cách, thể hiện một cách sâu sắc nỗi nhớ thương đợi chờ,

tấm lòng son sắt thuỷ chung của người ở nhà đối với người đi xa chưa về “Thuyền

ơi có nhớ bến chăng/Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” (Ca dao); Văn học nói đến trăng không phải với tư cách là sự vĩnh hằng ngoài vũ trụ mà nhìn trăng như một con người, coi trăng là người chứng giám cho lời nguyện ước, cho tình yêu đẹp của Thúy Kiều – Kim Trọng “Vầng trăng vằng vặc giữa trời/Đinh ninh hai miệng, một lời song song”(Truyện Kiều, Nguyễn Du)…

Văn học không chỉ là hoạt động sáng tạo nhà văn mà đồng thời cả người tiếp nhận,thưởng thức văn học cũng mang những chức năng có ý nghĩa xã hội rộng lớn bởi

“chức năng là sự biểu hiện ra thế giới bên ngoài các đặc tính của một khách thể nào đó trong một hệ thống các quan hệ nhất định” [33, tr.3] Tác phẩm văn học là

sự biểu hiện sâu sắc nhất về năng lực, trình độ, phẩm chất tinh thần của nhà văn,phản ánh hiện thực đời sống khách quan, xã hội, con người và dựng nên hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan nên chức năng của văn học là phản ánh hiện thực.Văn học với hình thức nghệ thuật ngôn đã biểu hiện cái quan hệ mang tính ngườicủa loài người vô cùng phong phú, nhiều cung bậc, nhiều hình thái bởi sự vận độngkhông ngừng và bất tận Văn học giúp người đọc hiểu nội dung, hình thức, cái hay,

Trang 18

cái đẹp mà nhà văn muốn nói đến đồng thời văn học cũng giúp người đọc thư giãntâm hồn, tạo trạng thái cân bằng tâm lí, tinh thần Vì vậy, có thể khẳng định văn học

có chức năng thưởng thức, thư giãn, giải trí Văn học trau dồi mặt tình cảm, hiểubiết cho con người, và tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng, tâm lí, tình cảmcủa họ Văn học có vô vàn chức năng: “văn dĩ tải đạo”, văn học làm vũ khí chiếnđấu, giáo dục, nhận thức, chức năng thẩm mĩ, giải trí… Chức năng văn học chỉ làcái biểu hiện ra bên ngoài của chỉnh thể, giá trị toàn vẹn lại thuộc thế giới nghệthuật trong những sự tiếp nhận nghệ thuật khác nhau của mỗi người Chức năng củavăn học có nhiều hay ít tùy thuộc vào cách nhìn, cách lí giải của từng người

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

1.1.3.1 Văn học là sản phẩm và hiện thân của văn hóa

Văn hóa ngày càng phát triển và ảnh hưởng trực tiếp vào tất cả các ngànhkhoa học khác nhau trong đó có văn học Như vậy, có thể khẳng định văn hóa vàvăn học không thể tách rời Văn học đã góp phần to lớn trong việc nhận thức về vaitrò của văn hóa trong việc sáng tạo và tiếp nhận văn học trong đời sống xã hội Vănhọc là bộ phận của văn hóa, nghiên cứu văn học luôn luôn phải đặt trong mối quan

hệ với văn hóa với tư cách là toàn bộ sáng tạo vật chất và tinh thần của con người.Như vậy, văn học luôn luôn bộc lộ rõ nét nhất bản chất văn hóa của một dân tộc,một đất nước và những tác phẩm văn học luôn mang trong mình những biểu hiệnđặc trưng văn hóa của một vùng quê, một dân tộc, một đất nước, mặc dù chủ thểsáng tác có hay không ý thức cần phải truyền tải văn hóa vào sáng tác của mình Vìvăn học là sự biểu đạt văn hóa một cách hiển nhiên

Trần Lê Bảo trong Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học cho rằng: “Văn học

chẳng những là bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và giao lưu văn hóa Văn học chịu

sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa đọc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lí văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ” [1, tr.5].

Trang 19

Trong văn học luôn luôn có văn hóa Nhà văn tiếp nhận văn hóa và tái hiệnlại thông qua những tác phẩm của mình Trong từng tác phẩm văn học Việt Nam thìnhững nét văn hóa đặc trưng của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc trên đất nước đượcthể hiện rất rõ Ta bắt gặp bức tranh văn hóa dân gian đa dạng sắc màu trong thể thơ

lục bát thuần túy của dân tộc trong Truyện Kiều với việc Nguyễn Du đã chắt lọc văn

hóa dân gian tinh tú của dân như ca dao, thành ngữ, tục ngữ Trong suốt nhiều thế

kỉ, ngôn từ trong Truyện Kiều được sử dụng rộng rãi trong các sinh hoạt văn hóa của

mọi tầng lớp nhân dân như ngâm Kiều, vịnh Kiều, bình Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều…Những nét đẹp của văn hóa truyền thống trong các sáng tác của Nguyễn Tuân: nghệthuật thưởng trà, ngắm hoa, viết thư pháp,… hay văn hóa Hà Nội trong các sáng tác

của Thạch Lam trong Hà Nội băm sáu phố phường, Nắng trong vườn, Ngày mai…; trong văn chương Vũ Bằng với Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam, Thương nhớ mười hai,… Tác phẩm văn học không chỉ biểu hiện văn hóa mà còn giúp người

đọc tìm hiểu những giá trị ẩn tàng của văn hóa, tìm hiểu tâm lí con người, tư tưởngthời đại, tư tưởng nhà văn, giúp lí giải những bi kịch trong cuộc sống như các tác

phẩm: Kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Tưởng với kịch Vũ Như Tô, truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, Cha con ngĩa nặng của Hồ

Biểu Chánh…

Văn hóa tác động đến văn học ở mọi mặt Thế giới nghệ thuật trong tác phẩmcũng như nhà văn là một sản phẩm văn hóa Người đọc khi hướng đến tác phẩm vănhọc chính là hướng đến văn hóa Không gian văn hóa chi phối đề tài, chủ đề, nhânvật, các thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác và tiếp nhận Một nền vănhóa cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển Vì vậy,văn học chính là thước đo trình độ văn hóa của một dân tộc, đất nước trong một thời

kì lịch sử nhất định

Trần Nho Thìn cho rằng văn hóa là một hệ thống mở “nhân học văn hóa”,

“nhân chủng học văn hóa” Văn hóa Việt Nam còn là sản phẩm của sự ảnh hưởng,

giao lưu, tiếp biến văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ… Bất kì một giá trị văn học nàocũng đều bắt nguồn từ một môi trường văn hóa, từ một đời sống văn hóa nhất định

Trang 20

Nhà văn với vốn văn hóa, vốn sống luôn nắm vững tinh thần thời đại đã hìnhthành tư tưởng thẩm mỹ để sáng tác văn chương Văn học thành công hay khôngchịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm văn chương từgóc nhìn văn hóa học trong sẽ giúp chúng ta khám phá được chân lí nghệ thuật mộtcách đúng đắn và đúng hướng hơn.

1.1.3.2 Văn học là sự kiến tạo và kết tinh các giá trị văn hóa

Theo Trần Đình Sử: “Văn học là bộ phận quan trọng của văn hóa, sự giàu

có của nó về nội dung và hình thức trực tiếp làm giàu cho văn hóa” [16, tr.1] Ông

cũng khẳng định việc sáng tạo ra khúc ngâm, truyện Nôm, hát nói, thơ Mới, kịch

nói, truyện ngắn, tiểu thuyết… được xem “là những hiện tượng sáng tạo văn hóa lớn lao của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ XX” [16, tr.3].

Văn hóa chính là những ứng xử văn hóa, quy chuẩn đạo đức làm cho conngười hoàn toàn khác với loài vật Các giá trị văn hóa ấy thông qua văn học đượcđúc kết thành giá trị đạo lí, nâng nó lên tầm tư tưởng và giáo dục cho các thế hệ mai

sau Ví dụ như đạo làm con được đúc kết trong bài ca dao: “Công cha như núi ngất trời/ Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông/Núi cao biển rộng mênh mông/Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi”, những câu ca dao, tục ngữ nói về tình cảm gia đình, thầy cô, đạo lí làm người: “Ơn cha nặng lắm ai ơi/Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”; “Trời cao, biển rộng, đất dày/ Ơn cha nghĩa mẹ, ơn thầy chớ quên”;

“Anh em như thể tay chân/ Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”, “Uống nước nhớ nguồn”; “Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa”… Qua tác phẩm Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi, người đọc có thể cảm nhận được nét đẹp

văn hóa Nam Bộ với nhiều khía cạnh hơn và sâu rộng hơn qua hai nhân vật chínhViệt và Chiến với tình cảm, truyền thống gia đình, lòng yêu nước, yêu cách mạng.Những vẻ đẹp của con người nơi đây được đã được nâng lên một tầm cao mới khi đivào những trang viết của Nguyễn Thi, đó là tầm cao của tinh hoa nghệ thuật, khiếncho người đọc cảm thấy mến yêu con người và mảnh đất Nam Bộ Như vây, khingười đọc tiếp nhận các tác phẩm văn học thì không chỉ cảm nhận giá trị nội dung

và nghệ thuật của tác phẩm đó mà còn là cảm nhận văn hóa của mỗi vùng

Trang 21

miền, dân tộc, đất nước Vì thế có thể khẳng định thông qua văn học mà văn hóamỗi vùng miền, dân tộc, quốc gia được kiến tạo, kết tinh, truyền tải và phát triển.

Trong văn học mà cụ thể hơn là các tác phẩm văn học, người ta thấy được sự

đan xen văn hóa, tiếp biến văn hóa: “Về mặt thời gian, khi cái cũ chưa bàn giao cho cái mới, văn học có thể là nơi hội tụ của những tìm tòi cho sự chuẩn bị chuyển tiếp thời đại Còn về mặt không gian, khi một địa bàn trở thành ngã ba đường của sự giao lưu văn hóa thì văn học có thể là nơi hòa giải của những xung đột tinh thần, nhằm tìm một tiếng nói cho sự chung sống giữa các nhóm người” [15, tr.4] Ví dụ

như cuộc xung đột giữa hai luồng tư tưởng: nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật

vị nhân sinh trong văn học nước ta những năm 30 của thế kỉ XX Văn học nước tahấp thụ và chịu sự ảnh hưởng rất lớn của văn hóa phương Đông, đặc biệt là văn hóaTrung Hoa Văn học cũng ảnh hưởng và hấp thụ văn hóa dân tộc như: văn hóa tộc

người (Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Nguyên Ngọc với Đất nước đứng lên,… ta thấy được những nét văn hóa đặc sắc của

các dân tộc ở Tây Nguyên đồng thời thể hiện lòng yêu nước, hết lòng với cáchmạng, với Đảng của người dân nơi đây), văn hóa vùng miền (các sáng tác của các

tác giả miền Nam như Hồ Biểu Chánh với Cha con nghĩa nặng, Những đứa con trong gia đình, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi,… mang đậm nét văn hóa Nam

Bộ từ quan điểm sống, cách ứng sử, giọng điệu,… của con người) Trong Văn học

và văn hóa truyền thống, Huỳnh Như Phương đã khẳng định: “Những vùng văn hóa giao nhau sẽ tạo ra những nét chung trong văn học của từng cùng, đồng thời nó vẫn giữ lại những nét riêng làm căn cước giúp ta nhận diện bộ mặt của từng vùng văn hóa, từ đó phân biệt “lãnh thổ” trên bản đồ văn học” [15, tr.4].

1.1.4 Phương pháp tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học

1.1.4.1 Các cách tiếp cận trong nghiên cứu văn học

Văn học đã trải qua quá trình lịch sử nghiên cứu lâu đời với nhiều thành tựu

ở nhiều phương pháp và các quan điểm khác nhau Phương pháp nghiên cứu theophân tâm học Feurd chỉ tập trung khám phá, lí giải những ẩn ức tâm lí, ẩn ức tìnhdục ẩn tàng trong tác phẩm nhưng lại không để tâm đến thành tựu về nghệ thuật

Trang 22

Chủ nghĩa cấu trúc luôn quan tâm phân tích hình thức mà bỏ qua nội dung Chủnghĩa ấn tượng lại chỉ quan tâm khám phá ấn tượng trong phút đầu cảm nhận màkhông đi sâu khám phá bản chất hiện thực… Như vậy, mỗi phương pháp nghiên cứuđều có những ưu thế, nhược điểm và bất cập của nó Vậy nên, người nghiên cứumuốn đi sâu vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm thì phải tìm ra được phương pháp

có thể bao quát nhiều phương pháp khác nhau Trong xu thế hội nhập hiện nay, cùngvới sự phát triển và tiến bộ của nghiên cứu văn học và thời đại, với những cải tổ vàcải cách, đổi mới ở Việt Nam và trên toàn cầu, cần có cái nhìn và cách đánh giámới, hữu hiệu, chuẩn xác, khoa học hơn về tác phẩm văn chương

M.Bakhtin là một trong những người khởi xướng cho xu hướng nghiên cứuvăn học thông qua văn hóa học Đây là quan điểm đề cao vai trò của văn hóa.Những nghiên cứu văn học của M.Bakhtin là những bước khởi đầu cho một phươngpháp mà rất có ưu thế hiện nay: phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn vănhóa Phương pháp này là không chỉ đi tìm ảnh hưởng của văn hóa đương thời đốivới văn học mà còn truy tìm đến cả các truyền thống văn hóa xa xưa của dân tộc,đất nước

Phương pháp tiếp cận văn học lấy con người làm trung tâm đã xây dựng conngười với tư cách là một thực thể văn hóa luôn luôn tồn tại trong ba mối quan hệcăn bản: quan hệ với môi trường tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chínhbản thân mình Trong tiến trình phát triển, con người không ngừng tìm kiếm, xác lậpcác nguyên tắc ứng xử cho ba mối quan hệ này Các mối quan hệ ứng xử ấy luôn chiphối nhà văn trong quá trình sáng tạo một tác phẩm văn học trong việc chọn lựa cácphương diện thi pháp Vậy nên, nghiên cứu văn học theo quan điểm văn hóa học làvận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp củatác phẩm Tiếp cận văn hóa học thực chất là phương pháp tiếp cận liên ngành, nơiyêu cầu vận dụng tổng hợp các tri thức về lịch sử, tôn giáo, nhân học, khảo cổ,… đểgiải mã các hiện tượng thi pháp học tác phẩm văn học

1.1.4.2 Đặc điểm và ưu thế của phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa

Trang 23

Văn hóa là một khái niệm rất rộng với nhiều cách hiểu khác nhau và cónhững độ chênh khác nhau nhưng khi đem soi chiếu vào văn học thì văn hóa lạicàng có “độ mờ” nhất định Tuy nhiên, ở Việt Nam trong những năm gần đây việctiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa đã có những thành tựu nhất định qua một số

công trình: Từ góc nhìn văn hóa, Hồ Xuân Hương – hoài niệm phồn thực của Đỗ Lai Thúy; Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa của Trần Nho Thìn; Giải mã văn học từ mã văn hóa của Trần Lê Bảo; Bản sắc văn hóa Việt Nam qua giao lưu văn học của Nguyễn Bá Thành,… Mỗi tác giả, căn cứ vào đối tượng

nghiên cứu cụ thể đã tiến hành xây dựng một bộ khái niệm công cụ phù hợp và hiệuquả để khám phá đối tượng được nghiên cứu Các công trình nghiên cứu này đã đạtđược những kết quả đáng ghi nhận

Văn học là bộ phận quan trọng của văn hóa và hiện thân của nền văn hóa

Trong Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa, Đỗ Thị Ngọc Chi đã cụ thể hóa những yêu cầu đó như sau: “1) Phải đặt văn học trông bối cảnh rộng lớn của văn hóa xã hội hoặc trong ảnh hưởng qua lại của văn học đối với các hiện tượng văn hóa khác; 2) Xem văn học là bộ phận của văn hóa thì văn bản văn học cũng là sản phẩm văn hóa vì thế cần giải mã nó trong ngữ cảnh văn hóa; 3) Văn học là một trong những loại hình nghệ thuật có khả năng bao quát, chạm tới mạch ngầm sâu thẳm của đời sống văn hóa cũng như chiều sâu tư tưởng của người nghệ sĩ” [3,

tr.17]

Văn học và văn hóa có mối quan hệ không thể tách rời nên việc nghiên cứuvăn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cách tiếpcận văn học dưới góc nhìn văn hóa giúp chúng ta lí giải trọn vẹn tác phẩm nghệthuật cùng với hệ thống văn hóa được bao hàm bên trong nó Những yếu tố văn hóaliên quan đến thiên nhiên, lịch sử, địa lí, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ,

… có thể vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tácphẩm và góp phần lí giải tâm lí sáng tác, thị hiếu đọc giả và con đường phát triểncủa văn học

Trang 24

Cách tiếp cận văn hóa học chính là đặt văn học trong không gian văn hóa vớinhững đặc trưng của nó đã thâm nhập vào thế giới sáng tạo nghệ thuật của nhà văn.Những giá trị văn hóa truyền thống đã thẩm thấu vào thế giới hình tượng và ngôn từcủa tác phẩm văn học mà đôi khi nhà văn không ý thức một cách tự giác Mặt khác,những giá trị văn hóa mới hình thành cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình sáng tạocủa nhà văn.

1.1.4.3 Biểu hiện của văn hóa trong văn học

Trong tác phẩm văn học, từng hình tượng, chi tiết luôn luôn có sự thẩm thấucủa văn hóa mà nhiều khi người sáng tạo cũng không ý thức được sự truyền tải vănhóa trong các tác phẩm của mình, nên luôn phải cần đến sự tìm tòi, phát hiện củanhững người đọc, người nghiên cứu văn chương Trong các tác phẩm văn học thì hệthống Chủ đề, đề tài, sự kiện, nhân vật, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu, luôn bịvăn hóa chi phối Tuy nhiên, ở mỗi tác phẩm khác nhau thì giá trị văn hóa được thểhiện rõ hơn ở mặt này hay mặt khác

Trường hợp cụ thể tạp văn Nguyễn Ngọc Tiến mà luận văn nghiên cứu, vănhóa biểu hiện qua nhiều khía cạnh trong tác phẩm Đặc biệt, những giá trị văn hóatrong tác phẩm có ảnh hưởng sâu sắc bởi phông văn hóa của nhà văn Nguyễn NgọcTiến Nguyễn Ngọc Tiến là người con của Hà Nội, vì vậy những yếu tố mang nétvăn hóa Hà Nội được thể hiện rõ ràng trong các tác phẩm của ông Những điểm nổibật của văn hóa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tiến thể hiện ở không gian, thờigian, con người với những giá trị về nét văn hóa trong sinh hoạt, văn hóa ứng xử, ởnhững biểu tượng văn hóa được hình thành mang ý nghĩa nghệ thuật, cách xây dựngcác chủ đề, đề tài về Hà Nội ở ngôn ngữ, giọng điệu trong tác phẩm

1.2 Thể loại tạp văn trong nền văn học Việt Nam đương đại.

1.2.1 Khái niệm tạp văn

Xét về phương diện sáng tác và tiếp nhận thì cả người sáng tác và người đọcđều không xa lạ với thể loại tạp văn nữa Tạp văn xuất hiện dày đặc trên các tờ báovới nhiều tác giả Hiện nay, đã có không ít những tác phẩm đã xác định hẳn tên thểloại là “tạp văn”

Trang 25

Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu về thể loại này một cách nghiêm túc, cụ thểnhưng định nghĩa về tạp văn thực sự đa dạng phong phú và có nhiều ý kiến khácnhau.

Đỗ Hải Ninh xếp tạp văn là một dạng nhỏ của tản văn: “chúng tôi quan niệm tản văn là loại văn ngắn gọn, hàm súc, với khả năng khám phá đời sống bất ngờ thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm tác giả, bao gồm cả tạp văn, tuỳ bút, văn tiểu phẩm.”

Nguyễn Như Ý giải thích: Tạp văn gồm nhiều thể đề tài linh hoạt như đoản thiên, tiểu phẩm, tùy bút” [40, tr.1495].

Trong cuốn sách Năm bài giảng về thể loại: Kí – Bi kịch – Trường ca – Anh hùng ca – Tiểu thuyết, Hoàng Ngọc Hiến lại coi tạp văn là một tiểu loại của thể loại kí: “Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, kí là một loại thuật ngữ dùng

để gọi tên một thể loại văn học bao gồm nhiều tiểu loại, bút kí , hồi kí, du kí, chính luận, phóng sự, tùy bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm, ” [10, tr.5].

Dương Ngọc Dũng trong Tạp văn đã nhận định: “Tạp văn chỉ là những đoản văn đọc cho vui, ngắn gọn, dễ hiểu, hơi gây sốt một chút nếu cần, không phải là những chuyên luận đăng trên tạp chí chuyên ngành Chủ đề thì không có gì nhất định, lan man từ những mẩu chuyện vụn vặt có thật trong đời sống xã hội Mỹ, đến một sản phẩm tưởng tượng hoàn toàn, hay những bình luận thoáng qua về Shakespeare, cổ sử Trung Quốc Độc giả có thể mở sách ra, thích đâu đọc đấy, không cần phải bận tâm về “độ chính xác” hay hàm lượng thông tin của bài viết”

[4, tr.2]

Trang 26

Trong khí đó lại có một số tác giả đưa ra quan điểm tạp văn nằm trong thể

loại tản văn Trong cuốn Khái niệm và thuật ngữ lí luận văn học Trung Quốc (Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nxb Văn học), Phạm Thị Hảo cho rằng: “Tạp văn là một loại tản văn, bao gồm nhiều hình thức: tạp cảm, tạp đàm, tạp luận, ”

Như vậy, đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra nhưng thực tế là các nhànghiên cứu hay cả người sáng tác đều chưa thể định nghĩa bao quát nhất cho thể loạinày Từ các ý kiến đưa ra có thể khái quát được các đặc điểm chung của tạp văn nhưsau: Tạp văn là một tiểu loại ngắn gọn, hàm súc, linh loạt phù hợp với nhu cầuthưởng thức của đa số độc giả hiện nay Trong tạp văn nhân vật chính có thể là tácgiả, tác giả thể hiện, trình bày suy nghĩ, quan điểm, tâm tư, tình cảm, tiếng nói củabản thân mình trước mọi vấn đề của cuộc sống Nội dung của tạp văn rộng lớn,không bị gò bó bởi hình thức, người đọc có thể có cơ hội ngắm nhìn cuộc sống hàngngày hay đời sống nội tâm, tâm tình của từng tác giả

1.2.2 Sự khác biệt của tạp văn với thể loại khác

Ở Việt Nam, các khái niệm giữa tản văn, tạp văn, tạp bút, tùy bút, bút kí luôn có sự mập mờ, chưa thể phân định rõ ràng Chính vì vậy việc phân biệt tạp vănvới các thể loại gần gũi là điều cần thiết

1.2.2.1 Phân biệt với tản văn

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng), Hoàng Phê đã xác định tản văn có hai nghĩa: “(1) Văn xuôi; (2) Loại văn gồm các thể kí, tùy bút

Trần Quang Vinh cho rằng: “Giới nghiên cứu lại có người cho tản văn là một loại ký, lại có người cho rằng ký chỉ bao gồm một phạm vi hẹp hơn tản văn Có hai ý kiến như trên bởi khái niệm tản văn được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tản văn là văn xuôi, đối lập với vận văn (văn vần) Theo nghĩa hẹp, tản văn là tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, giàu khả năng khơi gợi với kết cấu có sự kết hợp linh hoạt tất cả các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nội dung thường thể hiện đời sống theo kiểu chấm phá và đặc trưng quan trọng nhất là nó thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của người cầm bút.” [34,

tr.7-8]

Trang 27

Từ điển thuật ngữ văn học đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi thì còn có đặc trưng riêng biệt: “Nghĩa đen là văn xuôi, nhưng hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định, không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi Nếu văn xuôi theo nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch, thơ bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngăn, kí, tiểu phẩm, chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các thể loại truyện hư cấu” [9, tr.293] Điểm

khác biệt của tản văn so với các thể loại khác cũng được nhắc đến trong cuốn sách:

“Tản văn là thể văn xuôi gọn nhẹ, hàm súc, có thể tự sự, trữ tình, nghị luận, miêu tả phong cách, khắc họa nhân vật Lối thể hiện của tản văn mang tính chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu

tứ độc đáo, có giọng điệu cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sác cá tính của tác giả” [9, tr.294].

Ở Việt Nam, khoảng thập niên 20 của thế kỷ XX, tản văn phát triển mạnh mẽ

vào với các sáng tác của Tản Đà như: Khối tình – 1918, Tản Đà tùng văn – 1922, Tản Đà nhàn tưởng – 1929, Lời người Man di hiện đại - Nhời đàn bà của Nguyễn Văn Vĩnh là tập hợp những bài báo của ông trên các tờ Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí và Nước Nam mới từ 1907 đến 1935, Nguyễn Bá Trác, Đạm Phượng,

Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố Trong đó, Tản Đà đã bứt phá ra mọi khuôn khổcủa hệ thống thể loại gò bó cũ, là người tiên phong đặt nền móng cho tản văn ViệtNam

Giới trẻ sáng tác văn chương hiện nay quan niệm về tản văn khoáng đạt hơn,phù hợp với xu hướng dân chủ hóa trong đời sống văn chương cũng như sự pháttriển của các thể loại Như vậy, tản văn không chỉ dành riêng cho các cây bút lãoluyện mà còn là nơi để những người viết trẻ viết về các vấn đề đang diễn ra trongthực tế xã hội để trình bày các quan điểm của mình một cách ngắn ngọn, thoải máihay đưa ra các triết lí nhân sinh trong các mối liên hệ của đời sống xã hội

Trang 28

Tóm lại, tản văn là một thể loại văn xuôi khá năng động, có thể nắm bắt kịpthời và phản hồi thông tin trực tiếp về những vần đề trong đời sống xã hội Nhìnchung tản văn thường ngắn gọn, hàm súc và cũng có ít nhiều sự hư cấu nhất định,tác động trực tiếp tới tình cảm và nhận thức của người đọc thông qua các yếu tố tự

sự, trữ tình, chính luận nhưng sức hấp dẫn của nó chủ yếu xuất phát từ dấu ấn riêngcủa từng tác giả

Từ nhiều ý kiến đưa ra, có thể thấy được khái niệm tạp văn đôi khi đượcdùng như tản văn Tuy nhiên, tạp văn nghiêng nhiều về vấn đề xã hội và thể hiệncác quan điểm riêng của tác giả trước mọi vấn đề đời sống

1.2.2.2 Phân biệt với tùy bút

Theo Wikipedia Tiếng Việt: “ Tùy bút là một thể của ký, tùy bút nghiêng hẳn

về trữ tình với điểm tựa là cái tôi của tác giả Hình thức thể loại này cho phép nhà văn phóng bút viết tùy theo cảm hứng, tùy cảnh, tùy việc mà suy tưởng, nhận xét, đánh giá, trình bày v.v Những chi tiết, con người cụ thể trong tác phẩm chỉ là cái

cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá.” [35, tr.2]

Nguyễn Tuân cũng đã nhận định rằng: “Nguyên tắc quan trọng nhất của tùy bút là không nguyên tắc gì cả” Nhiều tác giả cũng có chung quan điểm rằng: Tùy

bút là những trang văn xuôi mà ở đó người viết tùy cảm hứng, tùy cảnh, tùy ngòibút mà đưa đẩy Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu như trên sẽ dẫn đến việc lẫn lộn giữa lốiviết phóng khoáng, tự do với lối viết tản mạn, bịa đặt, tùy tiện, đồng thời cũngkhông chỉ ra được bản chất quan trọng của tùy bút

Trần Văn Minh trong Thể loại tùy bút trong văn học Việt Nam 1930 đến 1975

đã nhận định rằng:“Những sự việc, những con người trong tùy bút tuy có thể không kết thành một hệ thống theo một cốt truyện, hay theo một tư duy luận lý chặt chẽ, nhưng tất cả vẫn phải tuân thủ trật tự của dòng cảm xúc, cái lôgic bên trong của cảm hứng tác giả Và tất nhiên là sự việc được kể lọc qua cách nhìn của chủ thể thẩm mỹ vẫn phải chân thực” [11, tr.188]

Trong Hán Việt từ điển giản yếu Đào Duy Anh giải thích rằng “tùy bút” là

“tùy thời mà biên chép” và bút ngoài dùng để viết có thêm nghĩa là biên chép.

Trang 29

Nghĩa lă người viết không chỉ bộc lộ cảm xúc chủ quan của mình mă còn phải chịu

sự chi phối của hoăn cảnh khâch quan

Đỗ Hải Ninh trong băi viết Ký trín hănh trình đổi mới, Hoăng Phí trong cuốn Đại Từ điển Hân Việt xếp tạp văn lă một thể loại nhỏ của tản văn.

Hiện nay, hầu như ở bâo, tạp chí năo cũng có mục tạp văn hay tạp bút Tùytheo phong câch của mỗi tờ bâo, tạp chí mă tạp văn có những biến đổi linh hoạtkhâc nhau Tuy nhiín có thể thấy được, tạp văn cơ bản gần giống với bâo chí hơn lăvăn chương

Khi nhắc đến những cđy bút viết tạp văn hiện nay ở Việt Nam, không thểkhông nhắc đến Nguyễn Ngọc Tiến Sức hút trong câc trang viết của ông chính lẵng đê khắc ghi dấu ấn của riíng mình khi viết về trâi tim thủ đô – mảnh đất ngănnăm văn hiến cùng thâi độ sống của chính ông được thể hiện qua giọng văn mộcmạc mă đầy cảm xúc

1.2.3 Sự nở rộ của thể loại tạp văn hiện nay

1.2.3.1 Những điều kiện thuận lợi cho sự phât triển

Thứ nhất, do chủ chương đổi mới của Đảng vă dđn chủ hóa trong mọi mặt đời sống xê hội.

Mỗi thể loại văn học ra đời đều xuất phât từ những yíu cầu nhất định của xêhội Việt Nam khi bước văo thời kì đổi mới đến nay đê có rất nhiều biến động tíchcực với bầu không khí dđn chủ, nhất lă ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, tư tưởng Môitrường ấy đê tạo điều kiện cho những người cầm bút tự do được băy tỏ quan điểmcủa mình về những vấn đề xung quanh để tự khẳng định bản thđn vă tăi năng củamình Tạp văn với tư câch lă một tiểu loại kết hợp những đặc điểm của bâo chí văvăn chương cho phĩp người viết dễ dăng, linh hoạt truyền tải thông tin vă trình băy,băy tỏ quan điểm những ý kiến của mình đến độc giả

Cùng với nhịp sống hối hả hiện nay, người viết đến với tản văn như để lắnglòng, chia sẻ những khoảnh khắc giâ trị trong cuộc sống hối hả, nhộn nhịp với mọingười vă người đọc cũng từ ấy mă thấy hiểu cùng người viết

Thứ hai lă xuất phât từ ý thức, trâch nhiệm của nhă văn đối với xê hội.

Trang 30

Dựa vào những đặc tính cũng như ưu thế của tạp văn, các nhà văn đã chọntạp văn như một vũ khí để đấu tranh trên chiến trường ngôn luận trong hoàn cảnhđất nước ta những thập niên đầu thế kỉ XX Các tác giả tiêu biểu như Huỳnh ThúcKháng, Ngô Đức Kế, Ngô Tất Tố,… Sự lựa chọn thể loại tạp văn để làm vũ khí đểđấu tranh ngôn luận với thực dân Pháp lúc bấy giờ vừa rút ngắn được thời gian chonhà văn, vừa giúp công chúng dễ tiếp nhận thông tin.

Tạp văn là một thể loại có thể phục vụ được chính nhu cầu bày tỏ quan điểm,chính kiến của người viết trước mọi mặt của đời sống trong thời đại dân chủ nên sự

ra đời của tạp văn là điều tất yếu

Văn học trong từng giai đoạn phát triển luôn luôn hướng đến triết lí sâu xa vàvới những giá trị vĩnh hằng và tạp văn cũng không nằm ngoài đó Tạp văn có cơ hội

đi sâu vào những vấn đề trong cuộc sống một cách cụ thể, trực tiếp, ngắn gọn, linhhoạt, hàm súc và nhanh hơn các thể loại khác Yêu cầu cao nhất đối với các tác giả

là phải có tầm nhìn văn hóa, tầm hiểu biết sâu rộng và trải nghiệm phong phú để cóthể hướng độc giả tới chân, thiện, mỹ và góp phần giúp họ hiểu muôn mặt của đờisống để hoàn thiện nhân cách bản thân

Thứ ba, do sự phát triển mạnh mẽ của báo chí và công nghệ thông tin

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của báo chí, công nghệ thông tin, nhịp sốnghiện đại, thể loại tạp văn trở thành loại văn bản có ưu thế Có nhiều tờ báo dànhriêng mục để đăng tạp văn, tản văn, cho nên tạp văn gắn chặt với đời sống xã hộihiện nay Tạp văn là thể loại gần gũi với cuộc sống hàng ngày, gắn liền với hoạtđộng báo chí nên tác động trực tiếp tới đời sống tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ củangười đọc Đã có nhiều tạp văn được in thành sách Như vậy, tạp văn đã dần khẳngđịnh vị trí của mình trọng nền văn học hiện đại Việt Nam so với các thể loại khác

Thứ tư là do nhịp sống hối hả hiện đại, con người cần nắm bắt những thông tin nhanh nhạy, ngắn gọn, chính xác.

Ngày nay, cuộc sống hiện đại hơn, tiện nghi hơn, sôi động hơn, nhịp sống đôthị diễn ra quá nhanh, con người dần dần bị cuốn vào guồng quay của cuộc sống,công việc, nên việc muốn nắm bắt thông tin nhanh nhạy, chính xác, ngắn gọn là

Trang 31

điều cần thiết Ngày nay, các tờ báo dành nhiều mục để in các tạp văn hay ngườiđọc có thể dùng điện thoại thông minh, máy tính bảng, internet để truy cập các trangbáo mạng để nắm bắt thông tin một cách nhanh nhất Vì vậy, tạp văn là ưu tiên hàngđầu vì có thể đi sâu vào đời sống xã hội cùng với đặc điểm ngắn gọn, nhanh nhạy,chuẩn xác đã đáp ứng nhu cầu của người đọc hiện nay.

Đã có rất nhiều tác giả đã khẳng định dấu ấn riêng của mình với thể loại tạpvăn như: Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh,Nguyễn Trương Qúy…

Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tiến viết về Hà Nội vừa có sự kế thừa của các bậctiền bối vừa là sự trải nghiệm, chiêm nghiệm từ những khám phá đặc sắc của riêngông về mảnh đất ngàn năm văn hiến trong mối liên hệ với đời sống xã hội đươngđại Thông qua đó ông luôn hướng đến những giá trị cuộc sống tốt đẹp của đất vàngười Thăng Long xưa

1.2.3.2 Tạp văn trong nền văn học Việt Nam đương đại

Cùng với sự vận động và phát triển của các thể loại văn học, tạp văn gópphần đáng kể cho nền văn học nước nhà Nếu từ 1900 đến 1986 chỉ là quá trình hìnhthành và phát triển của tạp văn thì sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI củaĐảng (12/1986) đến nay thực sự tạp văn có những bước phát triển vượt trội Ngàynay, báo chí, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ cùng nhịp sống hiện đại thìtạp văn, tản văn là loại văn bản chiếm ưu thế Đặc biệt có rất nhiều tờ báo dành

riêng mục để đăng tạp văn, tản văn thường kì như: Tuổi trẻ, Thanh niên, Văn nghệ, Người lao động, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn tiếp thị,… Không chỉ

xuất hiện liên tục và dày đặc trên những mặt báo, các trang mạng xã hội mà nhữngnăm gần đây tạp văn, tản văn được xuất bản khá nhiều, nội dung chất lượng và đượcđộc giả đón nhận nồng nhiệt

Viết tạp văn là viết những chuyện nhỏ bé, dung dị, đời thường nhưng lại đềcập đến những vấn đề của thời đại, nói chuyện đời thường mà chạm đến những vấn

đề thời thế vô cùng sâu sắc Tại Việt Nam, trong những năm của sự hình

Trang 32

thành và phát triển mạnh mẽ của thể loại này đã xuất hiện rất nhiều tác giả với nhiềucuốn tạp văn gây được tiếng vang và để lại dấu ấn của riêng mình.

Nguyễn Nhật Ánh trong lời tựa viết cho cuốn tạp văn Nghiêng tai dưới gió của Lê Giang đã nhận xét: “Tôi đọc, lại nghĩ mình đang đọc tự truyện” Đọc giả sẽ

cùng chung nhận xét với Nguyễn Nhật Ánh khi bắt gặp nhiều mẩu chuyện nhưnhững lời tâm tình, tự sự của chính tác giả kể về sinh hoạt đời thường, những thángngày vất vả lội núi, băng đồng, những tình bạn chân thành và ấm áp trong nhữngngày kháng chiến Qua đó cũng giúp bạn đọc thấy được cảnh sống thanh bạch vàgiản dị của đôi vợ chồng nghệ sĩ trọn đời gắn bó với dân ca

Tạp văn của Nguyễn Khải đề cập của yếu đến vấn đề đạo đức và lối sống.Nội dung chủ yếu là tự truyện, những câu chuyện liên quan đến các khía cạnh củađời sống hiện thực xoay quanh những vấn đề nghề văn và cuộc đời

Tạp văn mang đậm không khí của đất và người Tây Nguyên của NguyênNgọc đã gây được tiếng vang lớn trong làng văn học Qua các sáng tác của mình,ông đã làm hiện lên một Tây Nguyên với nhiều khía cạnh khác nhau Ngoài ra, tạpvăn Nguyên Ngọc đề cập khá nhiều đến bức tranh toàn cảnh nền giáo dục và vănhọc Việt Nam bằng việc chỉ ra những sao lầm yếu kém của giáo dục và văn họcnước ta, đồng thời ông cũng chỉ ra những giải pháp và phương hướng khác phục

Những nét riêng của con người Nam Bộ đã được Nguyễn Ngọc Tư mang vào

những trang tạp văn của bà đã được Thanh Vân nhận xét: “Thủng thảng, nhỏ nhẹ như

người con gái quê đang vừa hái rau muống vừa kể chuyện, những câu chuyện lúc thì

da diết lúc lại hóm hỉnh, tưng tửng, vui vui, tạp văn Nguyễn Ngọc Tư có sự kết hợp rõ nét giữa văn và báo Nếu như ở truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư chưa chạm nhiều đến

“kinh tế, chính trị” thì trong tạp văn chị bộc lộ cái nhìn của mình về chuyện lúa chết non, tôm chết làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, chuyện giữ đất hay bán đất, chuyện quan lại nhũng nhiễu, hạch sách người dân” [29, tr.5] Tạp văn Nguyễn Ngọc

Tư là những lời giãi bày tâm sự hết sức chân thành, giản dị nhưng chất chứa nhiều day

dứt trong Tạp văn (2005), Sống chậm thời @ (2006), Ngày mai của những ngày mai (2007), Biển của mỗi người (2008), Yêu người ngóng núi (2009)

Trang 33

Phan Thị Vàng Anh đến với tạp văn khi chị đã được độc giả quen thuộc với

thể loại truyện ngắn Cuốn Tạp văn Phan Thị Vàng Anh (5/2011), Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh là tập tài liệu tập hợp các bài viết đã đăng trên các báo Thể thao - Văn hóa; Đại biểu Nhân dân; Tuổi trẻ; Tia sáng; Thời báo Kinh tế Sài Gòn từ năm

1988 đến 2010 của chị Các bài viết đề cập trong Tạp văn Phan Thị Vàng Anh là các

vấn đề về đất nước, con người Việt Nam với cái nhìn của một công dân có tráchnhiệm, từ chuyện tiểu tiết đến các vấn đề thời sự nóng hổi, từ chuyện vi mô đếnchuyện vĩ mô Dù viết về vấn đề gì thì sau mỗi bài viết đều đọng lại trong lòngngười đọc những câu hỏi dạng câu lớn

Cùng với việc được độc giả đón nhận nồng nhiệt trong thể loại tiểu thuyết thìNguyễn Việt Hà khi đến với tạp văn đã mang một dấu ấn riêng trong lòng bạn đọccùng những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt Nam đương đại

Tạ Duy Anh trong những trang tạp văn của mình lại đưa người đọc về miền

kí ức tuổi thơ ngọt ngào nhưng đầy sự trầm tư cùng những lo lắng và băn khoăntrước hiện thực cuộc sống hiện tại

Tạp văn Nguyễn Trương Qúy để lại ấn tượng trong lòng độc giả với giọnggiễu nhại Tạp văn Lê Giang lại có cách viết mới lại về những điều dung dị quanhmình Nhà văn Nguyễn Quang Lập lại là giọng văn dí dỏm, hài hước Hay nhà văn

Lý Lan được độc giả Việt Nam mê đắm với các bản dịch Harry Porter bằng tiếngViệt và khi nói lên tiếng lòng của mình qua tạp văn cũng đã để lại dấu ấn riêng vàđược độc giả ghi nhận…

Hiện nay, có rất nhiều người viết tạp văn nhưng không phải ai cũng cố thểghi được dấu ấn riêng mình như ở các thể loại thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn Đội ngũsáng tác chủ yếu đều là những nhà văn, nhà thơ, các bậc lão làng có tên tuổi như:Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Việt Hà, LýLan, Lê Giang,…

Nguyễn Ngọc Tiến đã khẳng định được tên tuổi của mình qua bốn cuốn tạpvăn tiêu biểu Nét nổi bật trong tạp văn ông là giọng điệu chính luận nhưng lại giản

dị, đời thường khi bàn về những các vấn đề lịch sử, văn hóa và con người Hà Nội

Trang 34

Đọc tạp văn của Nguyễn Ngọc Tiến, độc giả như cảm nhận được cuộc sống giản dị,gần gũi, đời thường ở Hà Nội qua giọng văn tự nhiên, mộc mạc nhưng đầy xúc cảm,chiêm nghiệm.

1.3 Nguyễn Ngọc Tiến – nhà văn của Hà Nội ngàn năm văn hiến.

1.3.1 Vài nét về nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến.

Nguyễn Ngọc Tiến sinh ra và lớn lên ở khu phố Vọng, quận Hai Bà Trưng,

Hà Nội Vì thế, khi viết về Hà Nội giống như ông đang kể về những kí ức tuổi thơ,hành trình lớn lên cùng những chiêm nghiệm sâu sắc của mình trên mảnh đất ngànnăm văn hiến này

Ông từng là lính chiến đấu tại chiến trường biên giới Tây Nam (Lộc Ninh,sông Bé) Sau 6 năm đi bộ đội, ông thi đỗ Đại học Sân khấu Điện ảnh và tốt nghiệpngành Lý luận - Biên kịch khi tuổi đã ngoài 30 Năm 1990, Nguyễn Ngọc Tiến đilàm báo và luôn gắn bó với nghề Hiện nay, ông làm phóng viên cho ban Phóng sự -

Điều tra của Báo Hà Nội mới

Gần 30 năm công tác ở Báo Hà Nội mới, ông có nhiều bài viết về văn hóa,

đoạt nhiều giải thưởng báo chí cho những phóng sự điều tra… nhưng có lẽ khi viết

về Hà Nội thì ngòi bút của ông có những dấu ân sâu đậm nhất

Nguyễn Ngọc Tiến đang được biết đến là một trong những tác giả viết về Hà

Nội nhiều nhất hiện nay Bên cạnh những cuốn khảo cứu 5678 bước chân quanh Hồ Gươm, Đi dọc Hà Nội, Đi ngang Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội, những cuốn sách khác của ông như: Mong manh, Me Tư Hồng, Lính Hà… cũng đầy ắp những chuyện cũ,

chuyện mới về Hà Nội

Nguyễn Ngọc Tiến đến với nghề báo vì thích sự tự do còn viết sách thì dobức bối về những điều xung quanh, trải nghiệm của bản thân và có nhiều chuyệnchưa ai chạm tới

1.3.2 Nguyễn Ngọc Tiến với thể loại tạp văn

Nguyễn Ngọc Tiến gắn bó sâu đậm với Hà Nội và có rất nhiều các cuốn sáchviết về Hà Nội từ những khám phá, tìm tòi và kinh nghiệm của bản thân Cho đếnnay Nguyễn Ngọc Tiến đã cho ra đời 4 cuốn tạp văn viết về Hà Nội Dường như sự

Trang 35

tò mò của bạn đọc và những lần tái bản liên tiếp của 5678 bước chân quanh Hồ Gươm đã đưa Nguyễn Ngọc Tiến dấn thân cho đề tài Hà Nội Liên tiếp ông cho ra mắt cuốn Đi ngang Hà Nội (2012) và Đi dọc Hà Nội (2012), tiếp sau đó là Đi xuyên

Hà Nội (2015), tạo nên một bộ sách khảo cứu về Hà Nội vô cùng thú vị.

Năm 2008, Nguyễn Ngọc Tiến trình làng cuốn khảo cứu về Hà Nội đầu tiên

-5678 bước chân quanh Hồ Gươm Đây như là một cuộc dạo chơi của chính tác giả

tại hồ Gươm Qua từng bước chân là những câu chuyện xoay quanh địa điểm nàycùng những đặc sắc văn hóa thú vị và riêng biệt của Hà Nội Ông đã tái hiện lạicuộc dạo chơi vô cùng thoải mái, tự nhiên bắt đầu từ tượng đài Lý Thái Tổ menxung quanh hồ Gươm đến nhiều địa điểm qua các dấu mốc lịch sử cùng con ngườinơi đây Người đọc như được quay ngược thời gian về quá khứ để cùng NguyễnNgọc Tiến đi quanh hồ Gươm, thấy được những đổi thay tại nơi đây cùng thăngtrầm của lịch sử qua các công trình kiến trúc ven hồ, những di tích, những câuchuyện, những nét văn hóa của riêng người Hà Nội xoay quanh hồ Gươm… Tất cảđều được ông tái hiện vô cùng sinh động cùng với lời văn giản dị, mộc mạc đã mở

ra một không gian văn hóa, lịch sử riêng biệt chỉ có ở Hà Nội

Đi ngang Hà Nội với 31 câu chuyện đủ ngóc ngách đời sống lịch sử Hà Nội

mang lại cho bạn đọc yêu Hà Nội cảm xúc bâng khuâng về Hà Nội qua những câuchuyện, cuộc đời của người Hà Nội theo chiều dài lịch sử Trong cuốn tạp văn này,

đã có rất nhiều vấn đề mà trước nay chưa có người đề cập đến hay dù có đề cập thìcũng chưa đi sâu như: Đĩ điếm ở Hà Hội, Tư sản ở Hà Nội, cô đầu ở Khâm Thiên,xẩm bờ hồ, xe đạp… Những trang viết của Nguyễn Ngọc Tiến vì thế rất thú vị, cónhiều thứ để đọc, để tìm hiểu và làm sống dậy những điều tưởng chừng đã đi vào dĩvãng ở mảnh đất này đồng thời mang lại cho bạn đọc những cảm xúc thú vị và thêmhiểu biết về nơi đây qua những câu chuyện mà ông kể

Đi dọc Hà Nội, Nguyễn Ngọc Tiến tiếp tục triển khai góc nhìn mới về một số

vấn đề - sự kiện, giúp người đọc biết về "người Tràng An thanh lịch" qua thú chơi hoa,qua lịch sử cầu Thê Húc, qua thuốc phiện và rượu lậu của một thời Và các vấn đề -

sự kiện ấy luôn được tác giả xây dựng trên nền tảng con người, mà nổi trội

Trang 36

là những người Hà Nội rất bình thường cùng với các câu vè, lời rao hàng sinh động

và lý thú Đó là những con người đã góp phần làm nên một diện mạo khác của Hà

Nội, khác xa với những "dân chơi" của đất kinh kỳ Những trang văn trong Đi dọc Hà Nội có thể giúp chúng ta hiểu thêm về quá khứ, về dòng chảy văn hóa và

dấu ấn của nhiều thế hệ ở Hà Thành, đồng thời nhắc nhở chúng ta rằng, hiện tại vàtương lai không đến từ hư vô, mà đến từ quá khứ

Trong Đi xuyên Hà Nội, Hà Nội hiện lên qua nhiều góc cạnh: những bước

hình thành nên thành phố kiểu phương Tây do người Pháp lập bên cạnh những phốHàng của Kẻ Chợ, những thú chơi hay phong tục của thời trước, những thăng trầmlịch sử Có khi là câu chuyện nhiều ngổn ngang trong thân phận những ngôi biệt thự

cũ giờ cái còn cái mất Có khi là những phận đời nổi trôi theo thời cuộc: những nhànho thất thế, một ông Tây say mê văn hóa bản địa và thành nhà Hà Nội học, nhữngngười con trai con gái của một thời yêu nhau trong sáng… Những chuyện nho nhỏthú vị về thời điểm giao thông Hà Nội bắt đầu có đèn tín hiệu giao thông, cầu LongBiên khởi dựng ra sao, ăn mày Hà Nội hay chợ búa thế nào… Hay những dấu mốclịch sử của những cuộc chiến tranh diễn ra trên mảnh đất Hà Nội, mỗi lần đi qua là

để lại những tác động nghiệt ngã lên dấu tích vật chất lẫn văn hóa sống của conngười Nguyễn Ngọc Tiến đã tập trung viết vào bản chất của đô thị ở khía cạnh khoahọc nhân văn gần gũi, có sự khảo cứu sâu rộng các nguồn tư liệu, nên độ hấp dẫnnằm ở chính sự sống động ấy Tất cả dựng nên một cách tự nhiên chân dung một HàNội vừa tài hoa vừa xô bồ, cổ kính mà luôn đầy chất đương đại

Năm 2012, hai cuốn Đi ngang Hà Nội và Đi dọc Hà Nội của Nguyễn Ngọc Tiến đã nhận được giải thưởng Vì tình yêu Hà Nội là một ghi nhận xứng đáng cho

những đóng góp thầm lặng của một người con của Hà Nội luôn nặng lòng với mảnhđất quê hương như ông

1.3.3 Đề tài Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tiến.

Nguyễn Ngọc Tiến là người con của Hà Nội và là tác giả viết về Hà Nộinhiều nhất hiện nay, ông được độc giả yêu mến gọi là nhà “Hà Nội học” thời hiện

đại Những cuốn sách của ông như: 5678 bước chân quanh Hồ Gươm, Đi ngang

Trang 37

Hà Nội, Đi dọc Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội, Mong Manh, Me Tư Hồng,… đã được

bạn đọc có cái nhìn mới hơn về mảnh đất ngàn năm văn hiến

Trong các cuốn tản văn của mình, Nguyễn Ngọc Tiến đã đưa người đọc vàomột cuộc phiêu lưu vô cùng đặc biệt mà tác giả đã tạo ra cho những ai yêu mến HàNội Mỗi một tác phẩm, lại có nét riêng biệt cùng với đó là những câu chuyện vềcon người, xã hội, văn hóa, lịch sử,… được tác giả tái hiện lại vô cùng đặc sắc

Nguyễn Ngọc Tiến đã từng nói rằng: “Hà Nội là vùng đất có nhiều kỉ niệm,

kí ức nhất đối với tôi Không những là nơi sinh ra tôi mà Hà Nội còn nuôi tôi bằng cái nôi văn hóa Tình yêu của tôi với Hà Nội là sự thẩm thấu dần dần, cứ thế, yêu là yêu thôi…” Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tiến, những hình ảnh, những câu

chuyện xảy ra tại nơi đây hiện lên rất rõ nét, cụ thể và sinh động Một Hà Nội vớiphở, phố cổ, tiếng chuông tàu điện leng keng, hay nhưng câu chuyện thú vị về: thúchơi cá cảnh, những bài văn vần về Hà Thành, nhà vệ sinh công cộng đầu tiên, đihát cô đầu,… đều được ông ghi chép và kể lại vô cùng lôi cuốn Với góc nhìn mới

lạ, độc đáo, tác giả kể lại những câu chuyện vô cùng thú vị như: lịch sử của cầu ThêHúc, “người Tràng An” với thú chơi hoa vô cùng thanh lịch; hay những câu chuyện

về những con người bình dị: cô bán hàng rong, người hát xẩm, chị công nhân đã cómấy chục năm làm công việc coi sóc đồng hồ trên nóc nhà Bưu điện Bờ Hồ,… Đóchính là những câu chuyện và những con người đã cho ta thấy một nét riêng biệt ởmảnh đất kinh kỳ Hay Câu chuyện về những ngày đầu khi Hà Nội bắt đầu có đèngiao thông, cầu Long Biên được khởi dựng ra sao, những thành phố kiểu phươngTây do người Pháp lập nên như thế nào,… những câu chuyện về những năm thángkhó khăn trong thời kì chiến tranh Bên cạnh đó, là những câu chuyện về tình yêutrong sáng của những chàng trai cô gái, cũng dành được sự yêu thích người đọc

Không những thế, Nguyễn Ngọc Tiến còn bỏ rất nhiều công sức và tâm huyết

để thu lượm các thông tin qua nhiều cuốn sách lịch sử, sách viết về Hà Nội của rấtnhiều các tác giả người nước ngoài hay những cuốn sách viết về Thăng Long – HàNội của các bậc tiền bối như: Nguyễn Trãi, Phạm Đình Hổ, Đặng Huy Trứ haynhững câu chuyện, bài viết nhỏ của các nhà nghiên cứu sau này như: Vũ Ngọc

Trang 38

Phan, Nguyễn Văn Uẩn, Trần Quốc Vượng, , Nguyễn Thừa Hỷ, … chính là nhữngtài liệu quý giá giúp ông có một cái nhìn hệ thống, rõ nét, khái quát về mảnh đấtông yêu.

Với nghề làm báo của mình, ông có nhiều cơ hội đi nhiều, gặp gỡ, trò chuyệnvới các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ, các bậc cao niên gắn bó với Hà Nội nênông đã thu thập được nhiều thông tin, tích lũy được nhiều kiến thức về mọi mặt của

Hà Nội để đưa vào các tác phẩm của mình Nguyễn Ngọc Tiến từng chia sẻ rằng:

“Có nhiều người không làm báo nhưng họ vẫn khảo cứu và viết về Hà Nội rất sinh động ăm ắp tư liệu Vấn đề có thích hay không thích thôi Song đúng là làm báo giúp tôi có cơ hộ tiếp xúc dễ dàng với nhiều người và ghi chép được nhiều điều, Hà Nội dưới các góc độ khác nhau từ đó để viết ra những điều như nó vốn có trong cuộc sống”.

Đề tài Hà Nội là đề tài hấp dẫn nhiều cây bút ở nhiều thể loại như tiểu thuyết,truyện ngắn, thơ, kí, tản văn, tạp văn …với nhiều tác giả và tác phẩm gây được

tiếng vang lớn như: Chuyện cũ Hà Nội, Người ven đô (Tô Hoài) Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam), Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Một chuyến đi,

Hà Nội đánh Mỹ giỏi (Nguyễn Tuân), Thương nhớ mười hai (Vũ Bằng), Thú ăn chơi người Hà Nội (Băng Sơn), Con giai phố cổ, Đàn bà uống rượu (Nguyễn Việt

Hà )… Thạch Lam đã giúp người đọc hình dung ra một khuôn mặt của một Hà Nộiphồn hoa đô hội nhưng cũng thật cổ kính tôn nghiêm, thanh cao với giọng văn tâm

tình trong Hà Nội băm sáu phố phường Hà Nội trong sáng tác của Vũ Bằng chính

là nỗi nỗi thương nhớ quê hương, cảnh sắc, con người, tình yêu thương dành chongười vợ hiền tần tảo, thủy chung bằng giọng văn trữ tình sâu lắng kết hợp với vốnsống, vốn hiểu biết phong phú về đời sống văn hóa, phong tục của người Hà Nội

qua Thương nhớ mười hai Với cách nhìn đa diện, đa chiều, Đỗ Phấn viết về hiện

thực đô thị Hà Nội là một thành phố trẻ trung, năng động nhưng cũng đang chôngchênh trên con đường hiện đại hóa với muôn màu muôn vẻ phức tạp của cuộc sốngđời thường nhưng cũng hết sức nhân văn cao đẹp Nguyễn Việt Hà viết văn màgiọng văn trước sau đều không giống ai đã kể những câu chuyện đầy thú vị về Hà

Trang 39

Nội Ông đã dựng nên chân dung thành phố ngàn năm văn hiến mang hơi thở náonhiệt đương đại nhưng cũng giữ được các nét xưa qua Con giai phố cổ, Mặt của đànông, Đàn bà uống rượu… nhưng với Nguyễn Ngọc Tiến thì bất kể đề tài nào liênquan đến Thủ đô đều khiến ônghào hứng Ông tự nhận, so với bề dày cả nghìn nămcủa Hà Nội, thì dù đã “đi dọc”, “đi ngang”, “đi xuyên” và cả “đi quanh” Hà Nội,ông cũng chưa thể nói hết về thành phố này Con người và văn hóa Thăng Longluôn chứa đựng nhiều điều bí hiểm mà việc tìm hiểu và lý giải đã trở thành một nhucầu của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu, các nhà văn, nhà thơ Viết bao nhiêu về HàNội cũng chưa đủ Luôn coi mình chỉ là người đi sau so với rất nhiều cây đa cây đềnghiên cứu về Hà Nội nên Nguyễn Ngọc Tiến cố gắng chọn cho mình một lối điriêng với những khám phá thú vị, mới mẻ về Hà Nội Vì thế, khi viết về đề tài HàNội, Nguyễn Ngọc Tiến đã chọn những chủ đề được ít các tác giả đi trước chọn đó

là những câu chuyện thường ngày của Hà Nội và cuộc sống thường ngày của ngườidân Các tác phẩm của ông viết về Hà Nội thiên về mảng đời sống thị dân, nhữngthay đổi hiện nay của người Hà Nội chứ không phải là các tác phẩm khảo cứu lịch

sử Nguyễn Ngọc Tiến không nhìn Hà Nội theo con mắt đạo đức mà theo hiện thực

xã hội, Hà Nội với ông là những thứ gần gũi và thân thương

1.4 Tiểu kết chương 1

Trong nền văn học Việt Nam đương đại, tạp văn là thể loại phát triển mạnh

mẽ Thuật ngữ này trước đây được hiểu là thể loại văn xuôi nói chung nhưng trongthực tế sáng tế hiện nay có thể nhận thấy rằng nhưng đặc trưng riêng biệt của thểloại này Tạp văn là thể loại ngắn gọn, hàm xúc, linh hoạt, vận dụng kết hợp cáchình thức tự sự, trữ tình hoặc nghị luận để tác giả có thể tái hiện và bày tỏ quanđiểm, trình bày suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, tiếng nói của bản thân mình trước mọivấn đề của cuộc sống Tạp văn hiện nay phát triển mạnh mẽ phục vụ nhu cầu của cảngười đọc và người viết Với thể loại tạp văn, có rất nhiều tác giả đã khẳng địnhđược tên tuổi, định hình được phong cách và có những đứa con tinh thần được độcgiả yêu mến

Trang 40

Nguyễn Ngọc Tiến là gương mặt nhà văn tiêu biểu chuyên viết về đề tài HàNội với ba thể loại chính: Kịch, tiểu thuyết và tạp văn Trong đó, các tác phẩm gâyđược tiếng vang và được lòng đa số các độc giả với cách thể hiện một cách nhìn,cách khai thác mới mẻ, sâu sắc về Hà Nội của riêng Nguyễn Ngọc Tiến phải kể đến

bốn cuốn tạp văn vô cùng đặc sắc của ông: 5678 bước chân quanh hồ Gươm, Đi dọc Hà Nội, Đi ngang Hà Nội, Đi xuyên Hà Nội.

Ngày đăng: 10/02/2021, 13:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w