Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tôithấy dù có thành công mấy đi chăng nữa thì học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độlĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ tri thức một cách máy móc mà chưa phát h
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚCTRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ GIANG
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát huy năng lực của học sinh trong giảng
dạy bài thơ “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Tác giả sáng kiến: Hà Thị Liên
Mã sáng kiến: 25.51…
Vĩnh Phúc, tháng 1 năm 2019
Trang 2MỤC LỤC
1 Lời giới thiệu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Giải pháp thay thế: 3
1.3 Giả thuyết 3
2 Tên sáng kiến: 4
3 Tác giả sáng kiến: 4
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến 4
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 4
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4
7 Mô tả bản chất của sáng kiến 4
PHẦN I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 4
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát huy năng lực của học sinh 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Khái niệm năng lực 4
1.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực 6
1.1.3 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến 9
1.2 Cơ sở thực tế 14
1.2.1 Về phía giáo viên 14
1.2.2 Về phía học sinh: 15
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của việc đổi mới phương pháp dạy học 15
2 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh. 16
2.1 Phương pháp tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh 16 2.2 Kĩ thuật dạy học tích cực nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh 19
Trang 32.2.1 Kĩ thuật đặt câu hỏi 19
2.2.2 Kĩ thuật khăn trải bàn 19
2.2.3 Kĩ thuật công đoạn 20
2.2.4 Kĩ thuật động não 21
2.2.5 Kĩ thuật “Trình bày một phút” 21
2.2.6 Kĩ thuật “Lược đồ Tư duy” 22
2.2.7 Kĩ thuật “Viết tích cực” 22
2.2.8 Kĩ thuật “đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực) 22
PHẦN II 23
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY BÀI THƠ “NHÀN” – NGUYỄN BỈNH KHIÊM 23
1 Những đặc điểm chung trong giảng dạy bài thơ “Nhàn” và định hướng thiết kế bài học 23
1.1 Mục đích và yêu cầu cần đạt trong giảng dạy bài thơ “Nhàn” 23
Về năng lực chuyên môn 23
1.2 Phương pháp dạy học truyền thống áp dụng với bài “Nhàn” 24
1.3 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực, kĩ thật dạy học tích cực trong giảng dạy bài thơ “Nhàn” 25
1.3.1 Vận dụng lí thuyết kiến tạo của J Bruner 25
1.3.2 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực 25
2 Thiết kế bài học “Nhàn” theo định hướng phát triển năng lực của học sinh 26 2.1 Hoạt động trải nghiệm Error! Bookmark not defined
2.2 Hoạt động hình thành tri thức mới Error! Bookmark not defined
2.2.1 Phần hình thành kiến thức chung về tác giảError! Bookmark not defined.
2.2.2 Phần hình thành kiến thức về văn bản “Nhàn”Error! Bookmark not defined.
2.3 Hoạt động thực hành, vận dụng Error! Bookmark not defined
Trang 42.4 Hoạt động bổ sung Error! Bookmark not defined.
3 Giáo án thực nghiệm Error! Bookmark not defined
PHẦN 3: PHIẾU THỰC NGHIỆM KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 33
8 Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): không 34
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 34
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia
áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có) theo các nội dung sau: 35 10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 35 10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: 35
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) 36 PHỤ LỤC 1 37 PHỤ LỤC 2 Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 51 Lời giới thiệu
1.1 Lí do chọn đề tài
Dạy học theo định hướng phát huy năng lực của người học đang là một yêucầu cấp bách và quyết liệt của toàn ngành giáo dục nước ta để hòa nhịp với xu thếphát triển chung của thế giới Bởi môi trường sống hiện đại là một môi trườngsống năng động, hội nhập toàn cầu đòi hỏi ở con người những năng lực phổ cậpvới thời đại Vì vậy, trong những năm qua, Bộ giáo dục và đào tạo đã chỉ đạomạnh mẽ việc khắc phục những hạn chế của chương trình Giáo dục phổ thônghiện hành, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tăng cường hoạt độngtích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Bắt nhịp theo xu thế, nhiệm vụ chung của toàn ngành, bản thân giáo viênchúng tôi đã tự xác định cho mình ý thức đổi mới phương pháp dạy học phù hợpvới đặc thù bộ môn và tình hình hiện nay Mục tiêu là để xây dựng chất lượnggiáo dục trong nhà trường, nâng cao năng lực chuyên môn và năng lực giảng dạycủa giáo viên Đồng thời, mục tiêu quan trọng nhất là góp phần hình thành nhữngnăng lực làm chủ và phát triển bản thân, năng lực xã hội và những phẩm chất tốtđẹp của người học sinh
Như vậy, dạy học theo định hướng phát huy năng lực của học sinh vừa là xuthế, nhiệm vụ, động cơ vừa là thách thức lớn với người thầy Đặc biệt với bộ mônNgữ văn trong nhà trường phổ thông Giáo viên văn thường quen với phươngthức dạy học truyền thống là giảng bình, áp đặt những suy nghĩ và cảm nhận lênngười học Có lẽ không ít những tiết đọc văn người thầy cảm nhận “hộ” học sinhnhững cái hay cái đẹp, những chân lý thuộc về cái thiện mà học sinh chưa ngộ ra.Thực tế đó đang cần sự thay đổi quyết liệt để chuyển từ việc dạy học cảm thụ mộtchiều sang hoạt động dạy học lấy học sinh làm trung tâm Học sinh là một chủ thểnhận thức tích cực và sinh động Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạotrong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương phápdạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều.Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho họcsinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng
Trang 6hợp chưa thực sự được quan tâm Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyềnthông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quảtrong các trường trung học phổ thông Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tôithấy dù có thành công mấy đi chăng nữa thì học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độlĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ tri thức một cách máy móc mà chưa phát huy hếtđược năng lực chủ động, sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới.
Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thôngqua môn học, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiếnthức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quảmột số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định Cácnăng lực đặc thù của môn học gồm: năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lựcthưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ Ngoài ra, học sinh cũng cần được pháthuy các năng lực khác như: năng lực giải quyết vấn đề, giao tiếp, sáng tạo, hợptác, tự quản bản thân, …
Để có thể dạy học môn ngữ văn theo hướng phát triển năng lực, đòi hỏi giáoviên phải có năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, nănglực cá thể Giáo viên không chỉ là người nắm chắc văn bản, kiến thức cần truyềnthụ mà cần có khả năng định hướng, dẫn dắt học sinh giải quyết các vấn đề trongthực tiễn; đặc biệt trong xây dựng câu hỏi định hướng cho học sinh chuẩn bị bài,tránh phụ thuộc quá nhiều vào câu hỏi trong sách giáo khoa; tổ chức các hoạtđộng dạy học theo hướng phát huy vai trò chủ động, tích cực tham gia vào việchọc của học sinh
Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn trởlàm cách nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều quantrọng hơn là học sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được những trithức mới như thế nào và có thể ứng dụng được gì vào trong thực tiễn cuộc sống.Chính vì điều đó tôi muốn cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để có thể đưa ra đượcmột phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn dạy học Ngữ văn ngày nay
Trang 7Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá, tiêu chí đánh giá dựa vào năng lựcđầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vậndụng trong các tình huống thực tiễn.
Xuất phát từ chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục, trong đó đổi mớiphương pháp giáo dục là một trong những khâu quan trọng để nâng cao chấtlượng giáo dục hiện nay Đồng thời trên cơ sở gắn bó với nghề và bắt nguồn từnhững băn khoăn trăn trở trong quá trình dạy học môn ngữ văn ở trường THPT làlàm thế nào để có được một giờ học tốt, làm sao để học sinh có thể phát huy đượctính tích cực, chủ động, sáng tạo, vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học vàotrong học tập và ứng dụng vào thực tế cuộc sống, đồng thời phát huy được nănglực vốn có của học sinh Điều đó đã thôi thúc tôi suy nghĩ để đưa ra phương phápphù hợp trong quá trình giảng dạy một số tác phẩm trong chương trình ngữ văn
11 và có thể đáp ứng được phần nào định hướng giáo dục là chú trọng phát huynăng lực của học sinh
Ởđề tài này tôi cố gắng đi sâu vào phương pháp giảng dạy một tác phẩm
cụ thể trong chương trình ngữ văn 10 đó là bài thơ “Nhàn” của Nguyễn BỉnhKhiêm theo hướng phát huy năng lực của học sinh Để có thể trao đổi một số kinhnghiệm và đưa ra hướng giảng dạy phù hợp với phương pháp mới
Trong quá trình soạn giảng tôi luôn cố gắng tìm ra hướng đi mới để có thểđịnh hướng cho học sinh phát huy được năng lực sáng tạo trong việc chiếm lĩnhtri thức mới và giúp học sinh có hứng thú hơn trong quá trình học tập
1.3 Giả thuyết
Nếu ứng dụng phương pháp dạy học theo theo định hướng phát triển nănglực có thể giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức và hình thành những nănglực quan trọng của chủ thể người học
Trang 8Hơn nữa, những phương pháp và kĩ thuật tổ chức dạy học tích cực sẽ đượcvận dụng linh hoạt trong nhiều bài dạy khác nữa của chương trình Ngữ văn phổthông Từ đó đưa ra những cách tiếp cận, giảng dạy thơ có hiệu quả làm tiền đề
áp dụng rộng rãi hơn cho những năm sau
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.
Ngày 23 tháng 1 năm 2019.
7 Mô tả bản chất của sáng kiến.
PHẦN I - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát huy năng lực của học sinh
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm năng lực
Trang 9Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng 1998) có giải
thích Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm
2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao
động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhânnhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản
mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã
xác định một số năng lực những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải
+ Năng lực quản lí bản thân
– Năng lực xã hội, bao gồm:
+ Năng lực giao tiếp
Trang 10Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất
cả những yếu tố chủ quan để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác vàcuộc sống
1.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực nay còn gọi là dạyhọc định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ
XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạyhọc, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọngnăng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị chocon người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quátrình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học địnhhướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi
là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy họcchuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả họctập của HS Chương trình này có một số đặc trưng sau:
- Về mục tiêu: Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục
- Về phương pháp:
+ GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, …+ Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành
- Về hình thức dạy học: Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạtđộng xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnhứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học
- Về tiêu chí đánh giá: Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tínhđến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các
Trang 11tình huống thực tiễn Đánh giá cần dựa vào quá trình tiến bộ của chính người học,
so sánh giữa lần khảo sát trước với lần khảo sát sau Đó là bản chất của đánh giánăng lực
Cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung củanăng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Nănglực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể
Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện
các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn mộtcách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếpnhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhậnthức và tâm lý vận động
Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với
những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết cácnhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương phápchung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức lànhững khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nóđược tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề
Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khácnhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhậnqua việc học giao tiếp
Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá
được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triểnnăng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm,chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó đượctiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động
tự chịu trách nhiệm
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyênmôn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người tacũng mô tả các loại năng lực khác nhau Ví dụ năng lực của GV bao gồm
Trang 12những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo
UNESCO:
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triểnnăng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm trithức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xãhội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan
hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp cácnăng lực này
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạntrong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm pháttriển các lĩnh vực năng lực:
- Các tri thức - Lập kế hoạch học - Làm việc trong - Tự đánh giá điểmchuyên môn (các tập, kế hoạch làm nhóm mạnh, điểm yếukhái niệm, phạm việc - Tạo điều kiện - XD kế hoạch phát
Trang 13trù, quy luật, mối - Các phương pháp cho sự hiểu biết triển cá nhân
quan hệ…) nhận thức chung: về phương diện - Đánh giá, hình
- Các kỹ năng Thu thập, xử lý, xã hội thành các chuẩnchuyên môn đánh giá, trình bày - Học cách ứng mực giá trị, đạo đức
- Úng dụng, đánh thông tin xử, tinh thần và văn hoá, lòng tựgiá chuyên môn - Các phương pháp trách nhiệm, khả trọng
chuyên môn năng giải quyết
xung đột
Năng lực chuyên Năng lực phương Năng lực xã hội Năng lực cá nhân
1.1.3 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến
Năng lực giải quyết vấn đề: Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa
khác nhau về năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ) Tuy nhiên, các ý kiến và quanniệm đều thống nhất cho rằng GQVĐ là một NL chung, thể hiện khả năng củamỗi người trong việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đềtrong học tập và cuộc sống mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm cácgiải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiệnkhả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa chọn và quyết định giải pháp tối ưu
Với môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triển khaicác nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hìnhthành năng lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản)của môn học, khi nảy sinh những tình huống có vấn đề Với một số nội dung dạyhọc trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếpnhận một thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượngđời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giácác hiện tượng văn học,… quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giảiquyết vấn đề theo quy trình đã xác định Quá trình giải quyết
Trang 14vấn đề trong môn Ngữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy học
cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học
Năng lực sáng tạo: Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của
học sinh trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinhtrong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiếtthực, hiệu quả để thực hiện ý tưởng Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, họcsinh bộc lộ óc tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu mà môn họcNgữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiện trong việc xác định các tìnhhuống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bảnvăn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìnkhác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của HS trước một
vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam
mê và khát khao được tìm hiểu của HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo côngthức Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao là HS, với tưcách là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có đượcnhững cách cảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hình ảnh, ngôn từ của tácphẩm; có cách trình bày, diễn đạt giàu sắc thái cá nhân trước một vấn đề,…)
Năng lực hợp tác: Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau
trong nhóm nhỏ để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm cóquan hệ phụ thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn củanhau Khi làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sựgiúp đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướngdân chủ Đây là hình thức học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả vềquan hệ xã hội lẫn thành tích học tập
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân
và tập thể trong học tập và cuộc sống Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làmviệc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tươngtrợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung Đây là một năng lực
Trang 15rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường,một không gian rộng mở của quá trình hội nhập.
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ,phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụhọc tập diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thểhiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thờilắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhânmình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách củangười học sinh trong bối cảnh mới
Năng lực tự quản bản thân: Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con
người trong việc kiểm soát cảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huốngcủa cuộc sống, ở việc biết lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năngnhận ra và tự điều chỉnh hành vi của cá nhân trong các bối cảnh khác nhau Khảnăng tự quản bản thân giúp mỗi người luôn chủ động và có trách nhiệm đối vớinhững suy nghĩ, việc làm của mình, sống có kỉ luật, biết tôn trọng người khác vàtôn trọng chính bản thân mình
Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn cũng cần hướng đến việc rènluyện và phát triển ở HS năng lực tự quản bản thân Trong các bài học, HS cầnbiết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kếhoạch để đạt được mục tiêu đặt ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đếnviệc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huynhững yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ đó xác định được cáchành vi đúng đắn, cần thiết trong những tình huống của cuộc sống
Năng lực giao tiếp tiếng Việt: Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa
người nói và người nghe, nhằm đạt được một mục đích nào đó Việc trao đổithông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụngquan trọng nhất trong giao tiếp là ngôn ngữ Năng lực giao tiếp do đó được hiểu
là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổithông tin về các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh
cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan
Trang 16hệ giữa những con người với nhau trong xã hội Năng lực giao tiếp bao gồm cácthành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thứccủa đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tìnhhuống phù hợp để đạt được mục đích.
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lựcgiao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mangtính đặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HSđược hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệuquả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huốnghội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từngbước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bảncũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp cùng tác giả và môi trườngsống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa,văn học Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy họcNgữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vậndụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộcsống
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4
kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ
năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống
Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ: Năng lực cảm thụ thẩm
mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩcủa sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rungđộng trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi củamình theo cái đẹp, cái thiện Như vậy, năng lực cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúccảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân Chỉ
số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúccủa chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tưduy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc với tácphẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác
Trang 17phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình Nănglực cảm xúc, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trìnhngười học tiếp nhận tác phẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể hiện ởnhững phương diện sau:
– Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hìnhảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộcsống qua ngôn ngữ nghệ thuật
– Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học:cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn,… từ đó cảm nhận đượcnhững giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tácphẩm
– Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm vănhọc; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảmnhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có nhữnghành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quanthẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương
Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cáiđẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hìnhtượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộcsống tốt đẹp hơn
Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp HS hình thành và pháttriển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rènluyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Trong quá trình hướng dẫn
HS tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn còn giúp HS từng bước hình thành và
nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ năng nói và viết).
Bên cạnh những năng lực chuyên môn người dạy cần tích hợp thêm những năng
Trang 18lực xã hội như học nghệ thuật ứng xử, giao tiếp mềm dẻo trong xã hội từ bộ mônvăn Hơn nữa, người học cần hình thành thêm năng lực cá nhân như tự đánh giábản thân, đánh giá người khác bằng tấm lòng nhân ái.
Có thể tóm lược những năng lực chuyên biệt theo sơ đồ sau:
Qua bài giảng ngữ văn phải giúp học sinh hình thành những phẩm chất:(1) Yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước
(2) Nhân ái khoan dung
(3) Trung thực, tự trọng, chí công vô tư
(4) Tự lập tự tin, tự chủ, có tinh thần vượt khó
(5) Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước với nhân laoij và môi trường tự nhiên
(6) Thực hiện nghĩa vụ đạo đức, tôn trọng chấp hành kỉ luật, pháp luật
1.2 Cơ sở thực tế
1.2.1 Về phía giáo viên
Nhiều giáo viên tâm huyết với bộ môn Ngữ văn cho rằng việc vận dụngchưa có hiệu quả lý luận dạy học vào thực tiễn bài giảng nên nhiều giờ dạy giáoviên vẫn chưa thực sự giúp học sinh thể hiện cái riêng trong tiếp nhận văn bản
Sự phát huy tính tích cực chủ động của học sinh thực ra vẫn mang tính chất nửa
Trang 19vời Nhiều giờ dạy vẫn như là sự gò bó, áp đặt Không phát huy được năng lực tưduy sáng tạo của các em Đôi khi giáo viên dạy học còn đọc chép, dạy kiểu nhồinhét, dạy học văn như nhà nghiên cứu văn học Dạy học không gắn với thực tiễnnên hiệu quả thực sự của học sinh chưa cao, nhiều học sinh chưa biết viết văn,chữ viết nguệch ngoạc, cảm nhận còn ngô nghê, non nớt.
1.2.2 Về phía học sinh:
Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục khôngkhỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học Ngữ văn ở cáctrường phổ thông Thái độ đối với môn Ngữ văn của các em có sự phân biệt rất rõ
do tính thực dụng trong xã hội Số đông học sinh hiện nay có thiên hướng học cácmôn tự nhiên vì vậy môn Ngữ văn cũng như nhiều môn khoa học xã hội khácchưa được chú trọng Rất ít học sinh nhận thức được rằng học văn là để thưởngthức văn chương, để bồi đắp mĩ cảm, để hoàn thiện nhân cách Học sinh học vănchỉ để đối phó với các kì thi quan trọng Chính vì vậy nên học sinh thường sợ họcvăn, ngồi học thụ động, không cảm xúc, không sáng tạo, mất dần chính mình, phụthuộc nhiều vào các bài văn mẫu
Đặc biệt khi học tác phẩm thơ trữ tình, học sinh đọc qua loa văn bản,không nắm được tín hiệu ngôn ngữ, không hiểu ý thơ tác giả muốn diễn đạt là gì
Hệ thống các câu hỏi soạn bài phụ thuộc vào sách học tốt Học sinh khó khăn khitiếp cận, hiểu sâu các tác phẩm này, khi làm kiểu bài nghị luận về tác phẩm thơkhông tránh khỏi sự hời hợt, sơ sài
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của việc đổi mới phương pháp dạy học.
Thực trạng nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song có thế chỉ ra một
số nguyên nhân cơ bản sau:
Nhiều giáo viên còn lúng túng khi xác định mực tiêu bài học Nhiều tácphẩm thơ khó phân tích tiếp cận Khi dạy tác phẩm trữ tình chưa chú trọng pháttriển năng lực cho học sinh Chưa đổi mới phương pháp dạy học, chưa thấm
nhuần chân lý “Dạy học vì sự tiến bộ của học sinh“.
Nguồn lực phục vụ cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học ngữ vănnhư cơ sở vật chất , thiết bị dạy học, hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông
Trang 20vừa thiếu vừa chưa động bộ, làm hạn chế việc áp dụng phương pháp dạy học hiệnđại.
Về phía học sinh do đa số các em lười học, ngại suy nghĩ, phụ thuộc vào
mạng google hoặc chưa biết cách khai thác các thông tin trên mạng để có phương
pháp học tập hiệu quả Một sô học sinh nghiện thế giới ảo nên không có tâm tríhọc tập Đó chính là những nguyên nhân khiến cho các em không thể chủ độngtrong học tập, làm cho giờ học Ngữ văn không đạt được hiệu quả như giáo viênmong muốn Chính điều đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn ngữvăn
2 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
2.1 Phương pháp tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh
Để phát huy năng lực của học sinh cần đổi mới phương pháp dạy học như sau:
Một là: Đổi mới từ cách dạy truyền thống thiên về đọc chép sang cách dạy đọc-hiểu
Trước đây, chúng ta thường coi phân tích hay giảng văn, bình luận là một phương pháp đặc thù của dạy học văn, theo hướng áp đặt, một chiều
Cách dạy đọc hiểu giúp học sinh biết cách đọc, cách tiếp cận, khám phá nội dung
và nghệ thuật của văn bản theo các mức độ khác nhau từ đọc đúng, đọc thông đếnđọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo, khơi dậy ở học sinh khả năng liêntưởng, tưởng tượng, giúp học sinh thực sự được đắm mình trong thế giới vănchương Từ đó, khơi dậy ở các em tình cảm mang tính thẩm mỹ, biết hướng tớigiá trị chân - thiện - mĩ
Học sinh có thể được phát huy năng lực đọc-hiểu các văn bản theo đặctrưng thể loại, các loại văn bản chứa phương tiện biểu đạt như sơ đồ, bảng biểu…
Việc dạy đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh năng lực đọc-hiểu màcòn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản đặc biệt là năng lực viết sáng tạo Tức làhọc sinh có khả năng trình bày, thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của bản thân trước
Trang 21đối tượng, vấn đề đặt ra Điều này sẽ hạn chế được hiện tượng học sinh học hếtlớp 12 vẫn chưa có khả năng tự tạo lập được văn bản theo yêu cầu như văn bảnhành chính (đơn xin nghỉ học, đơn xin kết nạp đoàn…).
Hai là: Dạy học tích hợp Đó là tổ chức nội dung dạy học của giáo viên sao
cho học sinh có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vựckhác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành kiếnthức, kĩ năng, từ đó phát triển được các năng lực cần thiết
Dạy học tích hợp diễn ra ở ba phân môn Làm văn, tiếng Việt, Văn học Cóthể tích hợp ba phân môn hoặc tích hợp môn Ngữ văn với các môn học khác nhưLịch sử, Địa lý, GDCD, Ngoài giờ lên lớp, tích hợp giữa kiến thức trong sách vởvới kiến thức thực tiễn cuộc sống
Nếu chương trình ngữ văn THCS lấy trục tích hợp là các kiểu văn bản nhưmiêu tả, tự sự, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng để học sinh hiểu đặc trưng vănbản theo kiểu loại, từ đó có khả năng tạo lập văn bản thì chương trình ngữ vănTHPT lấy trục tích hợp là nội dung đọc - hiểu văn bản và tạo lập văn bản, giúphọc sinh phát triển, nâng cao năng lực thưởng thức văn học và năng lực sử dụngtiếng Việt trong các tình huống giao tiếp
Ba là: Thảo luận nhóm Một trong những phương pháp dạy học tạo được
sự tham gia tích cực của học sinh trong học tập Trong thảo luận nhóm, học sinhđược tham gia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùngquan tâm Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi
cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đónnhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân, giúp học sinh rèn luyện
kĩ năng giải quyết vấn đề khó khăn
Bốn là: Phương pháp đóng vai Đó là phương pháp tổ chức cho học sinh
thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giảđịnh” Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc vềmột vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tậptrung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai của mình Trongmôn ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một số nội dung học