1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ

126 178 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Đọc Kinh Tế Quốc Tế
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Giới thiệu khái quát về môn học (6)
    • 1.1.1. Khái niệm và vị trí của môn học (6)
    • 1.1.2. Đối tượng và nhiệm vụ của môn học (6)
    • 1.1.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu của môn học (6)
  • 1.2. Nền kinh tế thế giới (7)
    • 1.2.1. Khái niệm và các thành phần của nền kinh tế thế giới (7)
    • 1.2.2. Cơ cấu của nền kinh tế thế giới (9)
    • 1.2.3. Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới (11)
    • 1.2.4. Những thay đổi lớn của nền kinh tế thế giới hiện đại (11)
  • 1.3. Những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế đối ngoại (14)
    • 1.3.1. Phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (14)
    • 1.3.2 Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị (14)
    • 1.3.3 Quan điểm “mở cửa”, xây dựng hệ thống kinh tế mở (14)
    • 1.3.4 Phát huy ý chí tự lực, tự cường, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tận lực khai thác những lợi thế của đất nước trong sự trao đổi và sự phân công lao động quốc tế (14)
    • 1.3.5 Mở rộng diện bạn hàng, đối tượng hợp tác, đa phương hoá các mối quan hệ (15)
    • 1.3.6. Đa dạng hoá hoạt động kinh tế đối ngoại phù hợp với điều kiện của nền kinh tế và điều kiện quốc tế (15)
    • 1.3.7. Nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của kinh tế đối ngoại đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội (15)
  • CHƯƠNG II: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (17)
    • 2.1. Một số vấn đề chung (17)
      • 2.1.1. Khái niệm và nội dung của thương mại quốc tế (17)
      • 2.1.2. Lợi ích của thương mại quốc tế (18)
      • 2.1.3. Đặc điểm của thương mại quốc tế hiện nay (19)
    • 2.2. Các lý thuyết về thương mại quốc tế (19)
      • 2.2.1. Quan điểm của trường phái trọng thương về thương mại quốc tế (19)
      • 2.2.2. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối (21)
      • 2.2.3. Lý thuyết lợi thế so sánh (Lợi thế tương đối) (24)
      • 2.2.4. Lý thuyết chi phí cơ hội của Haberler (26)
      • 2.2.5. Hệ số biểu thị lợi thế so sánh RCA (28)
      • 2.2.6. Lý thuyết của Heckscher – Ohlin (29)
      • 2.2.7. Một số lý thuyết mới về thương mại quốc tế (32)
    • 2.3. Chính sách thương mại quốc tế (34)
      • 2.3.1. Khái niệm và vai trò của chính sách thương mại quốc tế (34)
      • 2.3.2. Những xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế (35)
    • 2.4. Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế (37)
      • 2.4.1. Thuế quan (37)
      • 2.4.2. Các công cụ phi thuế quan (38)
    • 2.5. Những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh thương mại quốc tế (42)
      • 2.5.1. Nguyên tắc nước ưu đãi nhất (42)
      • 2.5.2 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (43)
      • 2.5.3. Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (43)
      • 2.5.4. Nguyên tắc ngang bằng dân tộc (44)
    • 3.1. Các vấn đề chung (45)
      • 3.1.1. Khái niệm và nguyên nhân của đầu tư quốc tế (45)
      • 3.1.2. Một số lý thuyết về đầu tư quốc tế (47)
      • 3.1.3. Tác động của đầu tư quốc tế (51)
    • 3.2. Đầu tư gián tiếp trong đầu tư quốc tế (52)
      • 3.2.1 Khái niệm và đặc điểm (52)
      • 3.2.2. Các hình thức của đầu tư gián tiếp (52)
      • 3.2.3. ODA - Hỗ trợ phát triển chính thức (53)
    • 3.3. Đầu tư trực tiếp trong đầu tư quốc tế (55)
      • 3.3.1. Khái niệm và đặc điểm (55)
      • 3.3.2. Các xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (56)
      • 3.3.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam (57)
      • 3.3.4. Khu công nghiệp tập trung (57)
      • 3.3.5. Khu chế xuất (58)
    • 3.4. Vấn đề đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (59)
      • 3.4.1. Các khía cạnh pháp lý liên quan đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (59)
      • 3.4.2. Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (59)
      • 3.4.3. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam (61)
  • CHƯƠNG IV. THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ (62)
    • 4.1. Hệ thống tiền tệ quốc tế (62)
      • 4.1.1. Khái niệm và phân loại hệ thống tiền tệ quốc tế (62)
      • 4.1.2. Các hệ thống tiền tệ quốc tế (63)
    • 4.2. Tỷ giá hối đoái (68)
      • 4.2.1. Khái niệm về tỷ giá hối đoái (68)
      • 4.2.2. Phương pháp xác định tỷ giá hối đoái (71)
      • 4.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái (73)
    • 4.3. Thị trường ngoại hối (78)
      • 4.3.1. Khái niệm thị trường ngoại hối (78)
      • 4.3.2. Các bên tham gia thị trường ngoại hối (79)
      • 4.3.3. Chức năng của thị trường ngoại hối (80)
      • 4.3.4. Những tính chất của thị trường ngoại hối (80)
      • 4.3.5. Các nghiệp vụ cơ bản trên thị trường ngoại hối (81)
    • 4.4. Cán cân thanh toán quốc tế (84)
      • 4.4.1. Khái niệm và nội dung (84)
      • 4.4.2. Các biện pháp giải quyết tình trạng mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế (89)
  • CHƯƠNG V: LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ QUỐC TẾ (91)
    • 5.1. Liên kết kinh tế quốc tế (91)
      • 5.1.1. Khái niệm và đặc trưng của liên kết kinh tế quốc tế (91)
      • 5.1.2. Các loại hình liên kết kinh tế quốc tế (92)
      • 5.1.3. Tác động kinh tế của liên minh thuế quan (93)
      • 5.1.4. Các điều kiện làm gia tăng hiệu quả phúc lợi của liên minh thuế quan (95)
      • 5.1.5. Các lợi ích của liên minh thuế quan (95)
    • 5.2. Các tổ chức kinh tế quốc tế (95)
      • 5.2.1. Cơ sở hình thành và phát triển các tổ chức kinh tế quốc tế (95)
      • 5.2.2. Vai trò của các tổ chức kinh tế quốc tế (96)
      • 5.2.3. Đặc điểm của các tổ chức kinh tế quốc tế (96)
    • 5.3. Một số liên kết và tổ chức kinh tế quốc tế (97)
      • 5.3.1. Liên minh châu Âu EU (97)
      • 5.3.2. Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA (98)
      • 5.3.3. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN (99)
      • 5.3.4. Tổ chức thương mại thế giới WTO (101)
  • CHƯƠNG VI: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (105)
    • 6.1. Vị thế của nền kinh tế Việt Nam trong nền kinh tế thế giới (105)
      • 6.1.1. Vài nét khái quát (105)
      • 6.1.2. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (106)
    • 6.2. Các nguồn lực phát triển quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam (107)
      • 6.2.1. Nguồn nhân lực (107)
      • 6.2.2. Tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng (108)
      • 6.2.3. Vị trí địa lý thuận lợi (113)
    • 6.3. Những thuận lợi, khó khăn đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế (114)
      • 6.3.1. Thuận lợi của Việt Nam (114)
      • 6.3.2. Những khó khăn và thách thức đối với Việt Nam (115)
      • 6.3.3. Giải pháp tổng thể trong việc phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam 111 6.4. Một số giải pháp chủ yếu đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế (116)
      • 6.4.1. Một số vấn đề đặt ra đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (119)
      • 6.4.2. Một số giải pháp chủ yếu đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế (120)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (126)

Nội dung

Giới thiệu khái quát về môn học

Khái niệm và vị trí của môn học

Kinh tế quốc tế, hay còn gọi là Kinh tế học quốc tế, nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới Môn học này tập trung vào việc phân tích cách thức phân phối và sử dụng tài nguyên giữa các quốc gia thông qua việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, và sự vận động của các yếu tố sản xuất Ngoài ra, kinh tế quốc tế cũng xem xét các vấn đề liên quan đến chuyển đổi tiền tệ và thanh toán giữa các nước.

Đối tượng và nhiệm vụ của môn học

Đối tượng nghiên cứu của môn học kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu Mối quan hệ này được thể hiện qua việc di chuyển nguồn lực thông qua trao đổi quốc tế, nhằm cân đối cung – cầu các nguồn lực như hàng hóa, dịch vụ, vốn, sức lao động và công nghệ Quá trình này tạo ra sự phụ thuộc kinh tế giữa các quốc gia và ràng buộc lợi ích giữa các chủ thể kinh tế Để bảo vệ lợi ích của mình, các chủ thể kinh tế cần nghiên cứu quy luật vận động của dòng chảy nguồn lực và các chính sách ảnh hưởng đến chúng, từ đó đưa ra biện pháp điều chỉnh quá trình trao đổi để đạt được mục tiêu đã đề ra.

Kinh tế quốc tế là môn khoa học cung cấp kiến thức cơ bản để hiểu các quan hệ kinh tế toàn cầu và tác động của chúng đến sự phát triển kinh tế của từng quốc gia Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn liên kết chặt chẽ với sự chuyển động chung của nền kinh tế thế giới Do đó, kiến thức từ môn học này giúp người học có cái nhìn phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Nội dung và phương pháp nghiên cứu của môn học

Từ cách tiếp cận trên nên môn học này tập trung vào nghiên cứu các nội dung chính như sau:

- Thương mại quốc tế (hàng hóa và dịch vụ)

Liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu và học tập môn kinh tế quốc tế Để đạt được kết quả tốt, cần áp dụng các phương pháp của phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử, cùng với các phương pháp nghiên cứu khác.

Trong nghiên cứu kinh tế, các phương pháp quy nạp và diễn giải, so sánh và lịch sử đóng vai trò quan trọng Đặc biệt, các phương pháp mô hình hóa và phân tích trong kinh tế học vĩ mô và vi mô thường được áp dụng để giải quyết các vấn đề kinh tế cụ thể Việc kết hợp các công cụ trừu tượng hóa với phân tích thực tiễn giúp phát triển mối quan hệ kinh tế quốc tế của từng quốc gia.

Nền kinh tế thế giới

Khái niệm và các thành phần của nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới bao gồm tất cả các nền kinh tế quốc gia trên toàn cầu, có sự liên kết chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau thông qua phân công lao động quốc tế và các mối quan hệ kinh tế quốc tế.

Sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu chủ yếu phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động quốc tế và sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tế.

Nền kinh tế thế giới là một thực thể kinh tế độc đáo, có cấu trúc đa tầng và nhiều cấp độ quan hệ Các bộ phận của nền kinh tế này tương tác lẫn nhau, tạo ra sự vận động và biến đổi liên tục.

1.2.1.2 Các thành phần của nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới theo cách tiếp cận hệ thống bao gồm hai bộ phận cơ bản sau đây:

- Các chủ thể kinh tế quốc tế:

Các chủ thể kinh tế quốc tế bao gồm các thực thể kinh tế với các cấp độ khác nhau:

Trên thế giới hiện có khoảng 200 quốc gia và hơn 30 vùng lãnh thổ độc lập tham gia vào nền kinh tế toàn cầu Những chủ thể kinh tế này được công nhận đầy đủ về mặt chính trị, kinh tế và pháp lý Quan hệ giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ thường được thiết lập thông qua các hiệp ước và hiệp định song phương cũng như đa phương, được ký kết bởi các đại diện chính phủ.

Chủ thể ở cấp độ quốc tế bao gồm các tổ chức và thiết chế quốc tế hoạt động như những thực thể độc lập, có địa vị pháp lý vượt trội so với chủ thể quốc gia Mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các chủ thể này được xây dựng dựa trên các hiệp ước đa phương, quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế và sự phát triển của liên kết kinh tế toàn cầu Ví dụ điển hình là Tổ chức Liên hợp quốc cùng các tổ chức chuyên môn như IMF và WB, cũng như các liên kết kinh tế khu vực như ASEAN, EU và NAFTA, bên cạnh các hiệp hội ngành hàng như hiệp hội chè thế giới, hiệp hội tơ tằm thế giới và OPEC.

Ngày nay, bên cạnh ba loại chủ thể truyền thống trong nền kinh tế thế giới, còn xuất hiện các công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia và công ty siêu quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nền kinh tế toàn cầu.

Công ty đa quốc gia (MNC) là những doanh nghiệp có vốn sở hữu từ nhiều quốc tịch khác nhau, hoạt động trên nhiều quốc gia Ví dụ, Airbus, có trụ sở tại Pháp, sản xuất máy bay trên toàn cầu, trong khi Royal Dutch Shell, một tập đoàn năng lượng lớn của Hà Lan và Anh, đứng thứ hai thế giới Unilever cũng là một ví dụ điển hình về công ty đa quốc gia có nguồn gốc từ Anh.

Hà Lan chuyên sản xuất mỹ phẩm, dầu gội, hóa chất…

Công ty xuyên quốc gia (TNC) là những doanh nghiệp có trụ sở chính tại một quốc gia nhưng hoạt động trên nhiều quốc gia khác thông qua hệ thống công ty con và chi nhánh Với sức mạnh kinh tế lớn, các TNC chi phối thị trường toàn cầu và có khả năng vượt ra ngoài sự kiểm soát của chính phủ Trong những thập kỷ qua, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty này đã tạo ra những tác động quan trọng đến quan hệ kinh tế quốc tế, như trường hợp của Toyota và General Electric.

Công ty siêu quốc gia là những doanh nghiệp có hoạt động trải rộng ra nhiều quốc gia, không bị giới hạn bởi biên giới lãnh thổ và không nhất thiết phải tuân theo cấu trúc tổ chức của một quốc gia cụ thể.

Các loại công ty này đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế, đầu tư toàn cầu và chuyển giao công nghệ, chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động kinh tế quốc tế.

Các chủ thể kinh tế đại diện cho nền kinh tế toàn cầu và có tác động lẫn nhau, tạo ra các mối quan hệ kinh tế quốc tế Vậy, quan hệ kinh tế quốc tế được định nghĩa là gì?

Các quan hệ kinh tế quốc tế là phần cốt lõi của nền kinh tế toàn cầu, được hình thành từ sự tương tác giữa các chủ thể kinh tế quốc tế Chúng phát triển dựa trên các hoạt động thương mại, đầu tư, xuất nhập khẩu lao động, dịch vụ quốc tế, chuyển giao công nghệ, và tài chính tín dụng quốc tế Những quan hệ này ngày càng phong phú và đa dạng, liên quan đến mọi giai đoạn của quá trình tái sản xuất, ảnh hưởng đến tất cả doanh nghiệp, địa phương và ngành kinh tế.

Căn cứ vào đối tượng vận động, các quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm:

Quan hệ di chuyển quốc tế hàng hóa và dịch vụ là quá trình mua bán và trao đổi giữa các quốc gia, sử dụng tiền tệ làm phương tiện trung gian Nguyên tắc trao đổi ngang giá được áp dụng nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia.

Các quan hệ di chuyển quốc tế về vốn liên quan đến việc chuyển giao nguồn vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư, bao gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, tạo nên hoạt động đầu tư quốc tế.

Di chuyển quốc tế sức lao động đề cập đến việc di cư tạm thời của một bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động giữa các quốc gia, nhằm điều chỉnh quan hệ cung cầu về sức lao động theo trình độ chuyên môn khác nhau Điều này tạo ra hoạt động xuất nhập khẩu sức lao động, góp phần tối ưu hóa nguồn nhân lực toàn cầu.

Cơ cấu của nền kinh tế thế giới

- Theo hệ thống kinh tế - xã hội, người ta chia hệ thống kinh tế thế giới thành: + Hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa

+ Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa

+ Hệ thống các nước thuộc thế giới thứ ba

Sự phân chia kinh tế - xã hội hiện nay chủ yếu mang tính nhận thức chính trị và tư tưởng, trong khi thực tế lại phản ánh sự đan xen phức tạp giữa các mô hình khác nhau Ngay cả trong các quốc gia tư bản phát triển, không chỉ tồn tại một loại hình kinh tế duy nhất Các nước thuộc thế giới thứ ba cũng chứng kiến sự phối hợp giữa nhiều mô hình phát triển đa dạng Khái niệm thế giới thứ ba, do Mao Trạch Đông khởi xướng, coi Trung Quốc là lãnh đạo Hiện nay, chỉ có năm quốc gia xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, bao gồm Trung Quốc, Cuba, Triều Tiên, Lào và Việt Nam, trong khi Campuchia và Venezuela có các nhóm lãnh đạo cánh tả tạm thời.

- Theo trình độ phát triển kinh tế, người ta chia nền kinh tế thế giới thành 3 nhóm quốc gia:

Các nước công nghiệp phát triển cao là những quốc gia đã hoàn tất quá trình công nghiệp hóa, sở hữu cơ cấu kinh tế hiện đại và có GDP bình quân đầu người hàng năm lên tới hàng chục ngàn USD Hiện nay, thế giới có khoảng 30 quốc gia được xếp vào nhóm này, theo IMF, con số này là 35 Trong số đó, mười quốc gia đứng đầu về phát triển công nghiệp bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Ý, Canada, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và Úc.

Các nước đang phát triển chiếm phần lớn trong nền kinh tế thế giới, với khoảng 150 quốc gia hiện nay theo thống kê của IMF Những nước này đang tiến hành công nghiệp hóa và đã đạt được những kết quả nhất định trong việc tăng tốc phát triển kinh tế Trong số đó, một số quốc gia như Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan, được gọi là "Bốn con rồng của Châu Á", đã thành công với sự tăng trưởng kinh tế cao và được xếp vào nhóm các nước công nghiệp mới (NICs) và đã vươn lên thành các nước công nghiệp phát triển cao.

Các nước chậm phát triển (LDC - Least Developed Country) là những quốc gia gặp khó khăn về kinh tế, chính trị, xã hội và tự nhiên, dẫn đến tình trạng nghèo đói và tăng trưởng kinh tế thấp, mặc dù đã đạt được độc lập Theo số liệu của Liên hợp quốc, số lượng LDC đã tăng gấp đôi từ khi phân loại vào năm 1971, với 33 nước ở châu Phi, 14 nước ở châu Á và Thái Bình Dương, và 1 nước ở Mỹ La-tinh Từ năm 1971 đến nay, chỉ có 3 quốc gia là Botswana, Cape Verde và Maldives thoát khỏi danh sách này.

- Theo mô hình phát triển kinh tế, người ta chia thành:

Hệ thống kinh tế thị trường là mô hình kinh tế trong đó người mua và người bán tương tác theo quy luật cung cầu, từ đó xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.

Hệ thống kinh tế phi thị trường là nền kinh tế mà chính phủ nắm giữ độc quyền thương mại và quy định giá cả nội địa Mỗi quốc gia có tiêu chí riêng để xác định nền kinh tế phi thị trường Khi một quốc gia bị coi là có nền kinh tế phi thị trường, các phương pháp tính toán giá thông thường sẽ không áp dụng, và nước nhập khẩu có thể sử dụng các phương pháp khác Điều này tạo ra bất lợi cho các nhà sản xuất-xuất khẩu từ quốc gia đó Tuy nhiên, một số luật pháp cho phép các nhà sản xuất-xuất khẩu chứng minh rằng hoạt động kinh doanh của họ tuân thủ các nguyên tắc thị trường, bất chấp nền kinh tế của nước xuất khẩu bị xem là phi thị trường.

Kết cấu nền kinh tế thế giới được phân tích qua nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm khu vực địa lý, trình độ công nghệ, và các đặc điểm dân tộc, văn hóa, lịch sử Sự biến đổi của cơ cấu này gắn liền với các cuộc cách mạng công nghiệp toàn cầu.

Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới

Theo tiến trình lịch sử, nền kinh tế thế giới hình thành từ sự phát triển của thị trường thế giới và phân công lao động quốc tế Ban đầu, các mối quan hệ buôn bán giữa các quốc gia chỉ mang tính tự nhiên và phát sinh từ sự khác biệt về điều kiện tự nhiên Cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, những phát kiến địa lý của Christoph Colombo đã giúp nền kinh tế thế giới vượt qua biên giới quốc gia, hình thành các trung tâm thương mại quốc tế lớn Giai đoạn này, phân công lao động quốc tế đã chuyển sang tự giác, dựa trên lợi thế so sánh của từng quốc gia.

Cơ cấu sản xuất và trao đổi quốc tế được biến đổi về chất theo các cuộc cách mạng công nghiệp

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (1820-1870) đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của giao thông vận tải, mở rộng công nghiệp và đánh dấu sự hình thành của một thị trường thế giới rộng lớn.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần 2 (1870-1913) đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong các ngành điện lực, hóa chất và luyện kim, đồng thời làm thay đổi cơ bản trong buôn bán quốc tế và thúc đẩy đầu tư quốc tế Thời kỳ này đánh dấu sự hình thành của nền kinh tế thế giới như một thực thể thống nhất, bao gồm các hoạt động sản xuất, buôn bán, đầu tư và tài chính – tín dụng giữa các quốc gia và khu vực kinh tế chủ yếu.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần 3 (1913-1950) đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các ngành năng lượng, hạt nhân, hóa dầu, công nghệ vũ trụ, khai thác đáy đại dương, tin học và công nghệ sinh học Sự bùng nổ này không chỉ gia tăng dòng đầu tư và thương mại quốc tế mà còn nâng cao nền tảng vật chất – kỹ thuật của nền kinh tế thế giới lên một tầm cao mới.

Hiện nay, nền kinh tế toàn cầu đang trải qua cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, tập trung vào các lĩnh vực như vi điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông, tự động hóa, năng lượng mới, vật liệu mới và công nghệ sinh học Cuộc cách mạng này đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu kinh tế của các quốc gia, đưa xã hội loài người tiến vào nền văn minh thứ ba Sự phân công lao động quốc tế diễn ra rộng rãi và sâu sắc, với nhiều mức độ và phạm vi khác nhau.

Những thay đổi lớn của nền kinh tế thế giới hiện đại

1.2.4.1 Cơ cấu các ngảnh sản xuất và dịch vụ thay đổi mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn

Các ngành công nghiệp truyền thống đang giảm dần vai trò và tỷ trọng, trong khi đó, các ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, đặc biệt là dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất, đang phát triển mạnh mẽ.

Cơ cấu kinh tế đang chuyển biến theo hướng “mềm hóa”, với sự mở rộng của khu vực kinh tế phi hình thức Điều này dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của “nền kinh tế tượng trưng”, có quy mô vượt trội so với “nền kinh tế thực”.

Cơ cấu lao động theo ngành nghề đang trải qua sự chuyển biến mạnh mẽ, với sự xuất hiện của nhiều nghề mới được hình thành từ sự giao thoa giữa các lĩnh vực khoa học và công nghệ.

1.2.4.2 Quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu trên hai cấp độ toàn cầu hóa và khu vực hóa

Sự phát triển của khoa học - công nghệ, phân công lao động quốc tế, cùng với vai trò của các công ty đa quốc gia, đã làm thay đổi nhanh chóng thể chế kinh tế thế giới, đưa nền kinh tế vào cạnh tranh toàn cầu Thể chế kinh tế thế giới đang chuyển biến theo hướng thị trường hóa, thúc đẩy quốc tế hóa và mở cửa giữa các quốc gia, đồng thời tạo ra sự nhất thể hóa và tập đoàn hóa kinh tế khu vực Quá trình này diễn ra trên cơ sở hợp tác tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi, nhằm phát triển kinh tế khu vực và hướng tới xu thế toàn cầu hóa.

Xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng, thể hiện qua vai trò ngày càng lớn của hoạt động tài chính - tiền tệ và sự gia tăng nhanh chóng của mậu dịch quốc tế, vượt xa tốc độ tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, làn sóng sáp nhập các công ty xuyên quốc gia cũng đang gia tăng, cùng với vai trò quan trọng của tri thức trong phát triển kinh tế tri thức Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách thức tổ chức sản xuất và đời sống, dẫn đến tác động ngày càng lớn của kinh tế đối với đời sống chính trị - xã hội.

1.2.4.3 Sự phát triển của vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương đang làm trung tâm của nền kinh tế thế giới dịch chuyển dần về khu vực này

Vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương, từng là nơi phát triển của nhiều nền văn minh, hiện đang trải qua sự phát triển nhanh chóng chưa từng có trong lịch sử Sự khởi đầu của khu vực này là sự xuất hiện của bốn con rồng kinh tế: Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan, tiếp theo là các nước ASEAN và gần đây là sự trỗi dậy của Trung Quốc cùng với tiềm năng mạnh mẽ của nền kinh tế Nhật Bản Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đang đối mặt với tăng trưởng chậm chạp và khủng hoảng, các nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao.

Khu vực châu Á - TBD đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới nhờ vào tốc độ tăng trưởng cao và liên tục Trước đây, giá trị tổng sản phẩm quốc dân của châu Á - TBD chỉ bằng 1/2 của Mỹ và 2/3 của cộng đồng châu Âu, nhưng đến cuối thế kỷ 20, con số này đã gần bằng Mỹ và vượt qua cộng đồng châu Âu Dự đoán đến năm 2010, châu Á - TBD sẽ chiếm 1/3 giá trị tổng sản phẩm quốc dân toàn cầu, vượt cả Mỹ và Tây Âu.

Sự trỗi dậy của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã làm gia tăng cuộc cạnh tranh kinh tế giữa các nước phát triển, khi những "con rồng" châu Á tham gia vào cuộc đua Dự báo cho thấy thế kỷ XXI sẽ là thời kỳ của khu vực này, tạo điều kiện cho sự hình thành các mối quan hệ quốc tế mới.

Sự phát triển của vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương mang đến 8 khả năng mới, đồng thời tạo ra những thách thức cho tất cả các quốc gia Mỗi quốc gia cần xem xét các yếu tố này trong chiến lược phát triển của mình.

1.2.4.4 Xu thế mở cửa kinh tế quốc gia

Chính sách đóng cửa nhằm hạn chế tối đa sự trao đổi hàng hóa giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, đồng thời tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực nội địa để thúc đẩy phát triển kinh tế.

Chính sách kinh tế đóng cửa chủ yếu tập trung vào việc tự đáp ứng nhu cầu nội địa, chỉ xuất khẩu sau khi đã thỏa mãn tiêu dùng trong nước và không khuyến khích đầu tư nước ngoài Ưu điểm của chính sách này là bảo vệ nền sản xuất trong nước khỏi cạnh tranh từ hàng hóa nước ngoài, đồng thời khai thác tiềm năng nội địa và thực hiện quyền tự quyết chính trị Tuy nhiên, nhược điểm của nó bao gồm việc đi ngược lại xu hướng toàn cầu, hạn chế tiếp thu công nghệ tiên tiến, gặp khó khăn trong xuất khẩu và tạo ra thị trường chật hẹp, dẫn đến tăng tỷ lệ thất nghiệp Vì vậy, chính sách này không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện nay.

Chính sách mở cửa là một chiến lược kinh tế nhằm tận dụng lợi thế từ nước ngoài để phát triển nhanh chóng, với trọng tâm là mở rộng quan hệ ngoại thương, ưu tiên xuất khẩu và thu hút vốn cũng như công nghệ Chính sách này mang lại nhiều lợi ích, như gia tăng thu nhập ngoại tệ, cải thiện khả năng nhập khẩu máy móc và công nghệ tiên tiến, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế, như sự phụ thuộc của nền kinh tế trong nước vào nền kinh tế toàn cầu, dẫn đến mất cân đối giữa các ngành nghề Do đó, cần có các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô hợp lý để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững trong tương lai.

Ngoài những xu thế đã đề cập, còn nhiều xu thế khác ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, chẳng hạn như xu thế "mềm hóa" cấu trúc kinh tế thế giới và xu thế hình thành các liên kết kinh tế mới.

9 các liên kết tiểu khu vưc, xu thế phát huy các nhân tố truyền thống, xã hội và văn hóa cạnh tranh trong kinh tế…

Những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế đối ngoại

Phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thế giới hiện nay là một thể thống nhất, trong đó các quốc gia độc lập đang trở thành phần không thể tách rời Lịch sử đã chứng minh rằng không quốc gia nào có thể phát triển bền vững với chính sách đóng cửa và tự cấp tự túc Ngược lại, những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thường áp dụng nền kinh tế “mở”, tận dụng nguồn lực cả trong và ngoài nước để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng.

Việt Nam, với nền kinh tế nông nghiệp còn lạc hậu và hạ tầng kinh tế xã hội chưa phát triển, cần đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại để tăng tốc phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực kinh tế mà còn giảm bớt khoảng cách tụt hậu so với các quốc gia khác.

Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị

Kinh tế và chính trị có mối quan hệ chặt chẽ trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, với sự phát triển của quan hệ chính trị-ngoại giao góp phần thúc đẩy thương mại và kinh tế Việc xử lý mối quan hệ này một cách hợp lý là rất quan trọng, cần dựa trên quan điểm đảm bảo lợi ích dân tộc, bao gồm cả lợi ích kinh tế và chính trị của đất nước trong ngắn hạn và dài hạn.

Quan điểm “mở cửa”, xây dựng hệ thống kinh tế mở

Sau đổi mới kinh tế năm 1986, Đảng ta xác định "mở cửa" là điều kiện thiết yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Cần đánh giá chính xác các tác động tích cực và tiêu cực của chính sách này, từ đó áp dụng mạnh dạn nhằm phát triển kinh tế đối ngoại, đồng thời đảm bảo ổn định chính trị, an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường, cũng như gìn giữ bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Phát huy ý chí tự lực, tự cường, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tận lực khai thác những lợi thế của đất nước trong sự trao đổi và sự phân công lao động quốc tế

Trong bối cảnh hiện nay, việc phát huy ý chí tự lực tự cường và không ỷ lại vào bên ngoài là vô cùng quan trọng Cần khai thác hiệu quả mọi tiềm lực và lợi thế của đất nước, đồng thời tận dụng sức mạnh của thời đại như thành tựu khoa học công nghệ, nguồn vốn lớn từ bên ngoài, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và thị trường rộng lớn Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp.

Việc mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm khai thác sự hỗ trợ từ nước ngoài đòi hỏi các chính sách linh hoạt và khéo léo, cùng với sự điều chỉnh kịp thời Để đạt được hiệu quả, cần có những phương pháp sáng tạo và thông minh trong cách thực hiện.

Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế trong việc tham gia trao đổi và phân công lao động quốc tế Để phát triển kinh tế đối ngoại mạnh mẽ, cần áp dụng hiệu quả quy luật lợi thế so sánh và khai thác tối đa những lợi thế này, từ đó giúp đất nước nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Mở rộng diện bạn hàng, đối tượng hợp tác, đa phương hoá các mối quan hệ

Việc mở rộng quan hệ đối tác cấp nhà nước và hợp tác với các tổ chức kinh doanh có tính chất mật thiết là rất quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hiện nay Thị trường thế giới không chỉ là nguồn cung cấp mà còn là thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của chúng ta Mở rộng thị trường sẽ thúc đẩy sự phát triển sản xuất và ổn định kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động kinh tế đối ngoại rất đa dạng, do đó cần thực hiện phương thức đa dạng hóa để khai thác tối đa tiềm năng Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng, việc điều chỉnh nhận thức và hành động là cần thiết Để phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại, cần dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tuân thủ quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời không đi lệch khỏi mục tiêu và con đường phát triển đã chọn.

Đa dạng hoá hoạt động kinh tế đối ngoại phù hợp với điều kiện của nền kinh tế và điều kiện quốc tế

Đa dạng hóa hoạt động kinh tế đối ngoại cần phải phù hợp với điều kiện kinh tế của từng giai đoạn phát triển Điều này phụ thuộc vào lợi thế của đất nước trong việc trao đổi và phân công lao động quốc tế, cũng như vào chính sách kinh tế đối ngoại và các mối quan hệ kinh tế quốc tế.

Các hướng đa dạng hoá chủ yếu:

- Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, xuất khẩu lao động

- Phát triển các dịch vụ thu ngoại tệ

- Thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài, từng bước đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

- Thu hút công nghệ và kinh nghiệm quản lý của thế giới

- Tranh thủ sự viện trợ quốc tế bằng nhiều hình thức, nhiều nguồn và cả viện trợ không chính thức.

Nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của kinh tế đối ngoại đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội

Kinh tế đối ngoại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, với hiệu quả ngày càng cao thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng Các hoạt động kinh tế đối ngoại bao gồm xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư quốc tế, và các dịch vụ ngoại tệ, tất cả đều có tác động lẫn nhau Hiệu quả kinh tế – xã hội không chỉ là mục tiêu mà còn là thước đo kết quả của các hoạt động này.

Việc nâng cao hiệu quả từng hoạt động kinh tế đối ngoại là cần thiết, đồng thời cần chú trọng đến việc cải thiện hiệu quả kinh tế đối ngoại tổng thể Điều này sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội.

1.3.8 Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại cần thực hiện theo một số hướng sau:

Mở rộng quyền quan hệ quốc tế cho các cơ quan và tổ chức trong nước, đồng thời tăng cường quyền kinh doanh quốc tế cho các tổ chức kinh tế và tư nhân, là cần thiết trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp với điều kiện kinh tế ở từng giai đoạn.

- Xác định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý kinh doanh trong các hoạt động kinh tế đối ngoại

- Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế nhà nước quản lý kinh tế đối ngoại bằng công cụ quản lý vĩ mô

Đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh và tài chính cho các tổ chức kinh doanh đối ngoại là rất quan trọng, đồng thời cần có sự quản lý thống nhất của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.

Nhà nước thực hiện chức năng quản lý bằng cách tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại, đồng thời hướng dẫn các tổ chức kinh doanh đối ngoại hoạt động hiệu quả và tuân thủ pháp luật, mà không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân.

Nền kinh tế thế giới là một hệ thống phức tạp bao gồm các quốc gia và khu vực liên kết với nhau thông qua thương mại, đầu tư và công nghệ Cơ cấu của nền kinh tế thế giới được chia thành các lĩnh vực chính như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, với sự phát triển trải qua các giai đoạn từ nền kinh tế tự cung tự cấp đến nền kinh tế toàn cầu hóa hiện đại Hiện nay, các xu hướng chính của nền kinh tế thế giới bao gồm toàn cầu hóa, chuyển đổi số và phát triển bền vững, ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia Những xu hướng này không chỉ tác động đến tăng trưởng kinh tế mà còn đặt ra thách thức cho việc hoạch định chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu các quốc gia điều chỉnh chiến lược phát triển để tận dụng cơ hội và đối phó với rủi ro trong bối cảnh toàn cầu hóa.

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Một số vấn đề chung

2.1.1 Khái niệm và nội dung của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia, bao gồm cả hàng hóa hữu hình và vô hình Hoạt động này diễn ra thông qua việc mua bán, sử dụng tiền tệ làm phương tiện trung gian, và tuân thủ nguyên tắc trao đổi ngang giá để mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia.

Khác với hoạt động trao đổi hàng hoá thông thường, thương mại quốc tế mang những đặc điểm cơ bản sau:

- Đối tượng của thương mại quốc tế là hàng hóa và dịch vụ

- Việc trao đổi trong thương mại quốc tế dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá (chứ không phải mua đắt bán rẻ)

Quá trình trao đổi trong thương mại quốc tế là sự kết hợp giữa hợp tác và cạnh tranh, nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho tất cả các bên tham gia Hợp tác giúp gia tăng tổng lợi nhuận, trong khi cạnh tranh thúc đẩy việc phân chia lợi ích một cách công bằng Thương mại quốc tế không chỉ mang lại lợi ích cho từng cá nhân mà còn cho toàn bộ nền kinh tế.

- Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, thị trường khu vực hoặc thị trường của nước xuất khẩu hay nước nhập khẩu

Các bên tham gia thương mại quốc tế bao gồm các chủ thể kinh tế từ nhiều quốc gia khác nhau, như chính phủ, công ty, doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế.

Phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa người mua và người bán thường là đồng tiền có khả năng chuyển đổi, có thể là đồng tiền của một trong hai nước hoặc của một nước thứ ba Việc lựa chọn đồng tiền thanh toán được quy định trong hợp đồng và liên quan chặt chẽ đến lợi ích của các bên, do đó thường ưu tiên sử dụng đồng tiền mạnh Hiện nay, Đô la Mỹ vẫn là đồng tiền phổ biến nhất trong các giao dịch thanh toán quốc tế.

Luật pháp trong thương mại quốc tế xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm luật của các quốc gia, luật khu vực, các văn bản pháp lý, điều ước quốc tế, và các tập quán thương mại.

Thương mại quốc tế thường được nghiên cứu dưới ba góc độ: góc độ toàn cầu, góc độ quốc gia và góc độ công ty

Góc độ toàn cầu cho phép chúng ta nhận diện những xu hướng và quy luật chung trên thế giới, đồng thời nêu bật các vấn đề mang tính chất toàn cầu mà không bị ảnh hưởng bởi lợi ích của từng quốc gia riêng lẻ.

Góc độ quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích giao thương, khi xem xét lợi ích và quan điểm của từng quốc gia trong mối quan hệ thương mại với phần còn lại của thế giới.

Góc độ công ty trong hoạt động kinh doanh quốc tế tập trung vào việc tối đa hóa lợi nhuận và mở rộng thị phần trên thị trường toàn cầu.

2.1.1.2 Nội dung thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Đứng trên góc độ quốc gia thì thương mại quốc tế bao gồm những nội dung chính sau:

Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, lương thực thực phẩm và hàng tiêu dùng, thực hiện qua hình thức xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác Ủy thác xuất nhập khẩu là phương thức mà một công ty không có chức năng xuất nhập khẩu sẽ ủy thác cho công ty khác thực hiện việc xuất hoặc nhập khẩu hàng hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình Chức năng xuất nhập khẩu cần được đăng ký trong ngành nghề kinh doanh của công ty.

Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình bao gồm các yếu tố quan trọng như công nghệ, bằng sáng chế, phần mềm máy tính, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả và độc quyền nhãn hiệu Những yếu tố này không chỉ góp phần nâng cao giá trị thương mại mà còn bảo vệ quyền lợi của các nhà sáng tạo và doanh nghiệp trong thị trường toàn cầu.

Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công là hình thức trong đó người đặt gia công cung cấp nguyên liệu, định mức và tiêu chuẩn kỹ thuật Bên nhận gia công sẽ tổ chức sản xuất và giao lại sản phẩm, nhận khoản tiền công tương ứng với lượng lao động hao phí, gọi là phí gia công.

Tái xuất khẩu và chuyển khẩu là hai hoạt động thương mại quan trọng Tái xuất khẩu liên quan đến việc nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ nước ngoài và sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba mà không qua gia công hay chế biến Trong khi đó, chuyển khẩu không bao gồm hành vi mua bán mà chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi và bảo quản hàng hóa.

Xuất khẩu tại chỗ là hoạt động cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong nước với ý nghĩa kinh tế tương tự như xuất khẩu quốc tế, giúp giảm chi phí bao bì, bảo quản, vận tải và rút ngắn thời gian thu hồi vốn Hình thức này không chỉ mang lại ngoại tệ mà còn bao gồm việc cung cấp hàng hóa cho các ngoại giao đoàn và khách du lịch quốc tế Ngoài ra, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam có thể được bán cho nước ngoài nhưng được giao cho doanh nghiệp trong nước theo yêu cầu của đối tác nước ngoài để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất hoặc gia công hàng hóa xuất khẩu.

2.1.2 Lợi ích của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế không chỉ chuyển hóa giá trị sử dụng mà còn thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, giúp thích ứng với nhu cầu tiêu dùng và tích lũy Điều này mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một quốc gia, từ đó đáp ứng nhu cầu hàng hóa của người dân về số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian, với chi phí tối ưu nhất.

Thương mại quốc tế là yếu tố then chốt trong việc phát triển kinh tế, giúp nâng cao hiệu quả nền kinh tế của các quốc gia Nó đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh, đồng thời kết nối các thị trường toàn cầu.

Các lý thuyết về thương mại quốc tế

2.2.1 Quan điểm của trường phái trọng thương về thương mại quốc tế

2.2.1.1 Những đặc điểm kinh tế - xã hội – cơ sở để hình thành các quan điểm

Vào đầu thế kỷ XV, Tây Âu vừa thoát khỏi thời kỳ Trung Cổ, hình thành một xã hội chủ yếu nông nghiệp với sản xuất tự cung tự cấp Đến cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, mậu dịch bắt đầu phát triển nhờ ba nguyên nhân chính.

Con người đã phát triển nhiều sản phẩm cao cấp như đồng hồ và kính hiển vi, giúp cải thiện khả năng quan sát và thực nghiệm Những thiết bị này không chỉ nâng cao hiểu biết của con người mà còn giúp nhận thức rõ ràng hơn về thế giới vật chất xung quanh.

Con người đã khám phá ra những vùng đất mới, từ đó mở rộng giao lưu giữa các khu vực Việc phát hiện ra Tân Thế Giới đã thúc đẩy giao thương với các nước phương Đông, trong khi Tây Ban Nha chinh phục Mexico đã tạo điều kiện cho việc mở rộng thương mại với Mỹ Cuộc hành trình của Vasco da Gama đến Ấn Độ cũng đã mở ra cơ hội cho Bồ Đào Nha giao thương với Ấn Độ và các quốc gia Nam Á qua đường biển.

- Sự gia tăng dân số tạo nên thị trường lao động, thị trường tiêu thụ làm tăng doanh lợi của các nhà sản xuất và thương gia

Ngoài ra, các nguyên nhân khác như vai trò ngày càng quan trọng của thương gia, sự hình thành nhiều quốc gia độc lập về chính trị, và nguồn vàng bạc từ Tân Thế Giới đã góp phần tăng cường mối quan hệ thương mại giữa các quốc gia.

Trong bối cảnh phát triển kinh tế, một nhóm người gồm thương gia, nhân viên ngân hàng, nhân viên chính phủ và một số nhà triết học đã cùng nhau viết tiểu luận và sách nhỏ về mậu dịch quốc tế, nhằm biện hộ cho trường phái kinh tế triết học gọi là chủ nghĩa trọng thương.

2.2.1.2 Những nội dung cơ bản của các quan điểm

Xuất nhập khẩu được coi là con đường chính dẫn đến sự phồn thịnh của đất nước, với phương châm xuất siêu: “Một quốc gia chỉ có thể thu lợi từ ngoại thương nếu xuất khẩu vượt nhập khẩu” Điều này nhấn mạnh rằng ngoại thương cần phải thuận lợi và mang lại lợi ích tối đa cho quốc gia.

Chủ trương “Một cán cân thương mại thặng dư” của CNTT đã dẫn đến:

Chỉ tập trung vào việc tăng cường xuất khẩu về cả số lượng lẫn giá trị kim ngạch, trong khi hạn chế nhập khẩu, đặc biệt là các sản phẩm đã hoàn chế và hàng hóa xa xỉ Học giả người Áo Von-Hornick (1638-1712) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách này.

Trả giá 2 mỹ kim để mua hàng trong nước vẫn có lợi hơn là chỉ trả 1 mỹ kim cho hàng ngoại Điều này dẫn đến nguyên tắc: “Càng để ngoại quốc trả cho mình nhiều càng tốt, mình càng trả cho họ ít càng hay.”

Thực hiện độc quyền mậu dịch là việc loại bỏ ngoại quốc khỏi một số khu vực thương mại nhất định, ví dụ như Bồ Đào Nha nắm quyền mậu dịch tại Đông Ấn và Tây Ban Nha độc quyền buôn bán các thuộc địa của mình Cán cân thương mại được cải thiện khi các quốc gia mua hàng hóa từ những vùng thuộc quyền kiểm soát với giá rẻ và bán lại với giá cao ở những nơi cần thiết.

Để bảo vệ sản xuất trong nước, cần thực hiện biện pháp bảo hộ mậu dịch bằng cách không đánh thuế đối với nhập khẩu nguyên liệu và có thể cung cấp thêm khoản trợ cấp Đồng thời, cấm xuất khẩu nguyên liệu, với hình phạt nghiêm khắc cho vi phạm, lần đầu sẽ bị chặt tay trái và lần thứ hai sẽ bị tử hình.

Vàng bạc đã được coi trọng quá mức trong thời kỳ trọng thương, khi mà các nhà kinh tế đánh giá lợi ích của dân tộc qua kho dự trữ quý kim Họ tin rằng một quốc gia sở hữu nhiều vàng bạc sẽ phát triển hơn là một quốc gia có nhiều thương gia và hàng hóa Những quốc gia có mỏ vàng, bạc được xem là ưu việt, và việc buôn bán với nước ngoài thường chỉ nhằm mục đích đổi lấy quý kim Sự coi trọng này xuất phát từ đặc tính bền vững của vàng bạc, giúp dễ dàng tích trữ và bảo tồn giá trị, cùng với sự hiểu lầm về khái niệm "tài sản quốc gia".

Ngày nay, vàng bạc chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng tài sản quốc gia; điều quan trọng hơn là khả năng cung cấp hàng hóa đáp ứng nhu cầu con người Chúng ta cần đảm bảo có đủ tài nguyên sản xuất để duy trì nguồn cung hàng hóa Trong quá khứ, tiền tệ được xem là tài sản quốc gia, với vàng bạc là hình thức chính, trong khi tiền giấy vẫn chưa phổ biến.

Phái trọng thương chủ trương cấm xuất khẩu vàng bạc, với hình phạt nghiêm khắc cho những ai vi phạm Tuy nhiên, do sản xuất kém phát triển và hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng cao, chính phủ một số nước như Tây Ban Nha, Anh và Hà Lan đã phải điều chỉnh chính sách, cho phép xuất khẩu vàng bạc một cách hạn chế.

- Biết đánh giá cao vai trò của TMQT, coi đó là nguồn quan trọng mang quý kim về cho đất nước

Chính phủ can thiệp mạnh mẽ vào hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương thông qua việc thiết lập hàng rào thuế quan, khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu Những chính sách này nhằm bảo vệ sản xuất trong nước.

Việc buôn bán với nước ngoài thường không chỉ nhằm mục đích mang lại lợi ích chung cho cả hai bên, mà chủ yếu phục vụ cho lợi ích quốc gia của mỗi nước Do đó, các học giả theo trường phái trọng thương thường được gọi là những người chú trọng đến lợi ích quốc gia trong thương mại quốc tế.

Chính sách thương mại quốc tế

2.3.1 Khái niệm và vai trò của chính sách thương mại quốc tế

Chính sách thương mại quốc tế bao gồm các quan điểm, nguyên tắc và công cụ mà một quốc gia sử dụng để quản lý hoạt động thương mại quốc tế Mục tiêu của chính sách này là đạt được các mục tiêu kinh tế, chính trị và xã hội trong một khoảng thời gian nhất định.

Chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia bao gồm các thành phần chính như chính sách mặt hàng, chính sách thị trường và chính sách hỗ trợ, tất cả đều có mối liên hệ chặt chẽ và tương tác với nhau.

Chính sách mặt hàng định hướng danh mục hàng hóa ưu tiên trong xuất nhập khẩu, phù hợp với trình độ phát triển và đặc điểm kinh tế của đất nước Đồng thời, chính sách cũng xác định các mặt hàng cần hạn chế hoặc cấm xuất nhập khẩu trong một thời gian nhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, an toàn xã hội.

Chính sách thị trường bao gồm các định hướng và biện pháp nhằm mở rộng thị trường, xâm nhập thị trường mới, và xây dựng các thị trường trọng điểm Nó cũng đề cập đến các biện pháp hợp tác song phương hoặc đa phương giữa các quốc gia, cùng với việc tham gia vào các hiệp định thương mại và thuế quan khu vực hoặc toàn cầu Mục tiêu của những chính sách này là tạo điều kiện cho sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế, phục vụ cho các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

Chính sách hỗ trợ trong thương mại quốc tế bao gồm các biện pháp kinh tế như chính sách đầu tư, tín dụng, giá cả và tỷ giá hối đoái, nhằm tác động gián tiếp đến hoạt động thương mại Những chính sách này có khả năng thúc đẩy hoặc điều chỉnh sự phát triển của thương mại quốc tế thông qua việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế.

2.3.1.2 Vai trò của chính sách thương mại quốc tế

Chính sách thương mại quốc tế là một phần quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cũng như quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế vào phân công lao động và thương mại quốc tế Hơn nữa, chính sách này giúp khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế.

Chính sách thương mại quốc tế chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được xây dựng dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với nhu cầu thực tế.

Nền kinh tế thế giới hiện nay chịu ảnh hưởng của 30 bối cảnh khách quan, trong đó chú trọng đến đặc điểm và trình độ phát triển của nền kinh tế trong nước Việc tuân thủ các quy luật khách quan trong sự vận động của các quan hệ kinh tế quốc tế là cần thiết, đồng thời cần thường xuyên bổ sung và hoàn chỉnh để phù hợp với những biến đổi của thực tiễn.

Môi trường kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chính trị và mục tiêu phi kinh tế, do đó, chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia cần phải đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau Nhiệm vụ của chính sách này có thể thay đổi theo thời gian, nhưng đều hướng tới việc điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể, chính sách thương mại quốc tế nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường, tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế, đồng thời khai thác lợi thế so sánh của nền kinh tế Ngoài ra, chính sách cũng tập trung bảo vệ thị trường nội địa, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển và tăng cường lợi ích quốc gia.

2.3.2 Những xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế

2.3.2.1 Xu hướng tự do hóa thương mại

Tự do hóa thương mại là quá trình giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào thương mại quốc tế, mang lại lợi ích cho mọi quốc gia, bất kể mức độ phát triển Xu hướng này phù hợp với sự phát triển chung của nền văn minh nhân loại.

Tự do hóa thương mại là quá trình giảm dần các rào cản thuế quan và phi thuế quan trong thương mại quốc tế, nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại toàn cầu.

- Mục tiêu của tự do hóa thương mại: Mở cửa thị trường nội địa cho hàng hóa nhập khẩu và tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu

Tự do hóa thương mại đã mở cửa thị trường nội địa, cho phép hàng hóa, công nghệ và dịch vụ quốc tế dễ dàng xâm nhập Đồng thời, việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài cũng trở nên thuận lợi hơn.

2.3.2.2 Xu hướng bảo hộ mậu dịch

Bảo hộ mậu dịch là sự can thiệp gia tăng của Nhà nước vào hoạt động buôn bán quốc tế, phản ánh sự phát triển không đồng đều và khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia Ngoài ra, các yếu tố chính trị và xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nhu cầu về bảo hộ mậu dịch.

- Mục tiêu: bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của các luồng hàng hóa bên ngoài, bảo vệ lợi ích quốc gia

- : Các lý lẽ ủng hộ bảo hộ mậu dịch

Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ là cần thiết, vì chúng chưa đủ sức cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài có kinh nghiệm Trong những năm đầu, các ngành này khó có thể đứng vững nếu áp dụng chính sách tự do buôn bán mà không có sự hỗ trợ Việc bảo vệ và phát triển các ngành công nghiệp này sẽ giúp tạo ra nền tảng vững chắc cho sự cạnh tranh trong tương lai.

Việc áp dụng thuế quan tạm thời đối với hàng nhập khẩu có thể giúp các doanh nghiệp non trẻ có thêm thời gian để phát triển và cạnh tranh hiệu quả hơn với hàng hóa nước ngoài Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng thay vì hạn chế nhập khẩu, cần có những biện pháp hỗ trợ khác như tài chính ưu đãi hay trợ cấp, vì việc hạn chế này có thể dẫn đến sự méo mó trong tiêu dùng.

+ Tạo thêm nguồn thu cho ngân sách

Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế

Thuế quan là khoản tiền mà các chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan, cơ quan đại diện cho chính quyền địa phương.

Thuế quan có thể phân thành ba loại sau trong đó thuế nhập khẩu thường được áp dụng phổ biến và rộng rãi ở tất cả các quốc gia

Thuế quan xuất khẩu là loại thuế áp dụng cho mỗi đơn vị hàng hóa được xuất khẩu ra nước ngoài, nhằm mục đích hạn chế xuất khẩu, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh Hiện nay, chỉ một số ít quốc gia vẫn sử dụng loại thuế này, chủ yếu áp dụng cho những mặt hàng dễ gây ra khan hiếm như gạo hoặc có tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái như gỗ.

- Thuế quan nhập khẩu: là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài vào

- Thuế quan quá cảnh: là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa được vận chuyển quá cảnh qua một lãnh thổ hải quan thứ ba

2.4.1.3 Cách tính thuế quan nhập khẩu

Thuế quan tính theo số lượng là loại thuế được áp dụng dựa trên một đơn vị vật chất của hàng hóa nhập khẩu Phương pháp này đơn giản và dễ tính toán, không bị ảnh hưởng bởi sự biến động giá cả hàng hóa Công thức tính thuế quan theo số lượng được thể hiện như sau: Pt = P0 + T.

Trong đó: P 0 : Giá cả hàng hóa trước thuế nhập khẩu

T: thuế tính theo đơn vị hàng hóa

Pt: Giá cả hàng hóa sau thuế nhập khẩu

- Thuế quan tính theo giá trị: là mức thuế tính theo tỷ lệ % của giá cả hàng hóa Công thức tính: P t = P 0 (1 + t)

Trong đó: P 0 : Giá cả hàng hóa trước thuế nhập khẩu t: tỷ lệ % thuế đánh vào giá cả hàng hóa

Pt: Giá cả hàng hóa sau thuế nhập khẩu

- Thuế quan hỗn hợp là cách thức tính thuế dựa vào sự kết hợp của hai cách tính trên

2.4.1.4 Tác động của thuế quan nhập khẩu

- Tự do thương mại: giá thế giới Pw, Sản xuất Q s , tiêu dùng Q d , nhập khẩu AB

Hình 2.3: Tác động của thuế quan nhập khẩu

+ Giá tăng từ PW lên PW + T

+ Tiêu dùng trong nước giảm xuống từ Q d xuống Qd’

+ Sản xuất trong nước tăng từ Q s sang Qs’

+ Nhập khẩu giảm từ AB xuống CD

+ Tăng thêm nguồn thu cho ngân sách (thuế x lượng nhập khẩu)

+ Bảo hộ sản xuất trong nước Thu hút các nguồn lực (đáng lẽ được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất khác) vào lĩnh vực được bảo hộ

+ Phân phối lại lợi ích từ người tiêu dùng sang người sản xuất và tạo ra phần mất không của xã hội từ thuế quan Cụ thể:

Thặng dư của người tiêu dùng giảm: - (a+b+c+d) Thặng dư của nhà sản xuất tăng: + a

Tăng nguồn thu từ thuế: + c

 Phần mất không của xã hội: - (b+d)

2.4.2 Các công cụ phi thuế quan

2.4.2.1 Hạn ngạch (Quota) a) Khái niệm

Hạn ngạch là quy định của nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hoặc nhóm hàng được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ một thị trường trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm, thông qua việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu.

Hạn ngạch bao gồm hạn ngạch xuất khẩu và hạn ngạch nhập khẩu, trong đó hạn ngạch nhập khẩu phổ biến hơn so với hạn ngạch xuất khẩu Mặc dù WTO không cho phép các thành viên áp dụng biện pháp hạn ngạch, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, hạn ngạch có thể được áp dụng một cách không phân biệt đối xử Cụ thể, hạn ngạch có thể được sử dụng tạm thời để ngăn chặn hoặc giảm bớt tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm và các sản phẩm thiết yếu khác.

34 b) Tác động của hạn ngạch nhập khẩu

Hình 2.4: Tác động của hạn ngạch nhập khẩu

- Hạn chế số lượng nhập khẩu

- Làm giá nội địa tăng, tiêu dùng trong nước giảm, sản xuất trong nước tăng

- Không mang lại thu nhập cho chính phủ Mang lại lợi nhuận cho những người xin được giấy phép nhập khẩu

- Cho biết trước số lượng hàng nhập khẩu  bảo hộ chặt chẽ hơn thuế nhập khẩu

- Kiểm soát hạn chế nhập khẩu chắc chắn hơn so với áp dụng thuế quan nên bảo hộ sản xuất trong nước triệt để hơn

Nếu chính phủ bán đấu giá hạn ngạch, một phần thiệt hại của người tiêu dùng sẽ được chuyển vào ngân sách, trong khi việc cấp phát hạn ngạch không chỉ gây thiệt hại cho nền kinh tế mà còn tạo điều kiện cho tham nhũng và tiêu cực.

2.4.2.2 Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật

Nước nhập khẩu áp dụng các tiêu chuẩn khắt khe đối với hàng hóa, yêu cầu hàng hóa phải đáp ứng đầy đủ các quy định về vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, vệ sinh thực phẩm và phòng dịch Những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn sẽ không được phép nhập khẩu vào nước này.

Các rào cản kỹ thuật bao gồm:

Quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn sản phẩm đặt ra yêu cầu cụ thể về bề ngoài, bao gồm kích thước, hình dáng, thiết kế, độ dài và chức năng Ngoài ra, các quy định này còn liên quan đến nhãn mác, đóng gói, ký hiệu sản phẩm, cũng như các quy trình và phương pháp sản xuất Mục tiêu chính của các quy định và tiêu chuẩn là bảo vệ an toàn và sức khỏe con người, bảo vệ đời sống động thực vật, bảo vệ môi trường và ngăn chặn hành vi lừa dối.

Các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật là rào cản lớn đối với việc các nước đang phát triển và kém phát triển tiếp cận thị trường nước ngoài Điều này xảy ra do họ thiếu trình độ và kỹ năng cần thiết về công nghệ sản xuất, chế biến, cũng như công nghệ bảo quản an toàn cho sản phẩm, đặc biệt là trong lĩnh vực lương thực và thực phẩm.

- Kiểm dịch động vật và thực vật: (Hiệp định về các biện pháp Vệ sinh dịch tễ

Các biện pháp kiểm dịch động thực vật của WTO nhằm phát hiện dư lượng độc tố như kháng sinh và hóa chất, cũng như dư lượng vi sinh vật như nấm và côn trùng có trong sản phẩm.

Thủ tục đóng gói sản phẩm có thể ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu của các nước đang và kém phát triển (LDCs) sang thị trường các nước phát triển Nhiều quốc gia nhập khẩu thường không tin tưởng vào quy trình bao gói sản phẩm của các nước LDCs Hơn nữa, nhiều nước phát triển cho rằng bao bì từ các nước này không có khả năng tái chế, dẫn đến những lo ngại về xử lý chất thải tại nước nhập khẩu.

Dán nhãn sinh thái là yêu cầu của các nước nhập khẩu đối với các nước xuất khẩu, buộc họ phải gán nhãn sản phẩm theo tiêu chuẩn nhất định để bảo vệ môi trường Mục đích của việc dán nhãn này là thông báo cho người tiêu dùng rằng sản phẩm được coi là thân thiện hơn với môi trường.

Các yêu cầu về phương pháp sản xuất, khai thác và chế biến sản phẩm cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo rằng quy trình này không gây hại cho môi trường Nhiều tranh chấp thương mại đã phát sinh liên quan đến các phương pháp sản xuất bền vững, điển hình như trường hợp tại Hoa Kỳ.

Mexico đã bị cấm nhập khẩu cá ngừ, trong khi Thái Lan gặp phải lệnh cấm đối với tôm, do Hoa Kỳ cho rằng các nước này sử dụng phương tiện đánh bắt gây ảnh hưởng đến loài rùa biển.

Nhiều quốc gia phát triển đã đặt ra các yêu cầu về môi trường đối với nhà xuất khẩu từ các nước đang và chậm phát triển Những yêu cầu này liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường, lao động trẻ em và quyền con người, và chúng đã ảnh hưởng đáng kể đến cơ hội thương mại của các quốc gia xuất khẩu.

Những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh thương mại quốc tế

2.5.1 Nguyên tắc nước ưu đãi nhất

Các bên ký kết cam kết cung cấp cho nhau những ưu đãi và thuận lợi không thấp hơn so với những gì mà một bên dành cho bất kỳ quốc gia thứ ba nào.

Nguyên tắc này thường dùng trong hai trường hợp sau:

Tất cả các ưu đãi mà một bên đã, đang và sẽ dành cho bên thứ ba sẽ được áp dụng một cách vô điều kiện cho bên tham gia.

Hàng hóa và dịch vụ được vận chuyển từ một bên tham gia vào lãnh thổ của nước đối tác sẽ không phải chịu mức thuế quan cao hơn cũng như các thủ tục phức tạp hơn so với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ nước thứ ba.

Nguyên tắc này được Mỹ áp dụng lần đầu trong thương mại với Pháp vào năm 1778 và sau đó được mở rộng sang các quốc gia như Anh, Nhật Bản và Đức Phạm vi áp dụng của nguyên tắc này phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia tham gia.

Tất cả các ưu đãi và miễn giảm mà một bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại quốc tế đã hoặc sẽ cấp cho bất kỳ nước thứ ba nào, đều phải được dành cho bên tham gia kia một cách vô điều kiện.

- Nguyên tắc MFN được thực hiện là:

Mỗi thành viên cam kết đối xử với hàng hóa, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và nhà đầu tư theo các điều kiện cụ thể của các hiệp định, đảm bảo rằng sự đãi ngộ dành cho hàng hóa xuất xứ từ một thành viên không kém phần thuận lợi so với hàng hóa từ thành viên khác.

+ Hàng hóa từ các nước thành viên được đãi ngộ như nhau trên thị trường tất cả các thành viên

Nguyên tắc MFN được áp dụng với mục đích chống phân biệt đối xử và tạo điều kiện cạnh tranh công bằng giữa các đối tác thương mại Điều này nhằm thúc đẩy sự phát triển quan hệ buôn bán giữa các quốc gia.

2.5.1.3 Phương thức áp dụng nguyên tắc MFN

Quốc gia được hưởng chế độ tối huệ quốc có điều kiện phải chấp nhận các yêu cầu về kinh tế và chính trị từ chính phủ của quốc gia cấp quyền.

Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện (MFN) là nguyên tắc mà một quốc gia cung cấp cho quốc gia khác quyền lợi thương mại mà không kèm theo bất kỳ điều kiện ràng buộc nào.

2.5.2 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

Đãi ngộ quốc gia là chính sách mà một quốc gia áp dụng để đảm bảo rằng các sản phẩm và nhà cung cấp nước ngoài được đối xử công bằng trên thị trường nội địa, không kém phần ưu đãi so với sản phẩm và nhà cung cấp trong nước.

Đãi ngộ quốc gia là nguyên tắc quan trọng đảm bảo hàng hóa và nhà kinh doanh nước ngoài được đối xử công bằng như hàng hóa và nhà kinh doanh trong nước Nguyên tắc này tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực ngoại thương và đầu tư.

Chế độ đãi ngộ quốc gia đối với hàng hóa đảm bảo sự bình đẳng trong cơ hội cạnh tranh trên thị trường nội địa giữa các nhà sản xuất và kinh doanh trong nước.

+ Các nước công nhận các khoản thuế và phí nội địa khác

Các sản phẩm nhập khẩu không phải chịu thuế nội địa hay các khoản phí nội địa cao hơn so với sản phẩm nội địa.

+ Mọi luật pháp qui định phải được áp dụng một cách như nhau đối với sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm trong nước

+ Các hạn chế định lượng nội địa cũng phải được áp dụng không phân biệt đối xử

Chế độ đãi ngộ quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ yêu cầu các quốc gia phải đối xử với công dân nước ngoài không kém ưu đãi hơn so với công dân của chính họ Điều này đảm bảo sự công bằng và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và sáng tạo quốc tế, góp phần thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế toàn cầu.

Chế độ đãi ngộ quốc gia trong thương mại dịch vụ đảm bảo rằng các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và dịch vụ tương ứng của họ được đối xử công bằng như các nhà cung cấp dịch vụ trong nước Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự cạnh tranh và phát triển bền vững trong lĩnh vực dịch vụ.

2.5.2.3 Phương thức áp dụng đãi ngộ quốc gia

- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là nguyên tắc chống phân biệt đối xử trong quan hệ kinh tế thương mại giữa các nước

- Nguyên tắc này được áp dụng trong quan hệ đa phương và song phương trên cơ sở hiệp định thương mại ký kết giữa các nước

- Một số trường hợp ngoại lệ như:

Các vấn đề chung

3.1.1 Khái niệm và nguyên nhân của đầu tư quốc tế

3.1.1.1 Khái niệm Đầu tư có đặc trưng là hy sinh một số thứ quý giá hiện nay để hi vọng có được lợi ích sau này từ sự hy sinh đó Chẳng hạn như mua vàng, học tập có phải là đầu tư?

Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng nguồn vốn nhằm phục vụ sản xuất và kinh doanh, với mục tiêu tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội.

Như vậy, đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội

Vốn là nguồn lực quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm tài sản hữu hình như nhà xưởng và máy móc, tài sản vô hình như bằng phát minh và nhãn hiệu, cũng như tài sản tài chính như tiền và giấy tờ có giá Đầu tư nhằm mục tiêu sinh lợi, với lợi nhuận được xác định là chênh lệch giữa thu nhập từ đầu tư và chi phí bỏ ra Lợi ích kinh tế xã hội cũng là một yếu tố quan trọng, phản ánh sự khác biệt giữa lợi ích mà xã hội thu được và những gì mất đi từ hoạt động đầu tư Ví dụ, việc đầu tư xây dựng nhà máy giấy có thể mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư Trong khi tư nhân thường theo đuổi lợi nhuận, chính phủ thường hướng đến lợi ích kinh tế xã hội Đầu tư quốc tế và đầu tư nước ngoài là hai khái niệm tương tự, với đầu tư nước ngoài đề cập đến hoạt động đầu tư giữa các quốc gia, còn đầu tư quốc tế là khái niệm rộng hơn, bao gồm mọi hoạt động di chuyển vốn qua biên giới để thực hiện các dự án đầu tư, mang lại lợi ích cho các bên liên quan.

Đầu tư quốc tế là hình thức xuất khẩu tư bản, được coi là một cấp độ cao hơn so với xuất khẩu hàng hóa Hai hình thức này không chỉ bổ sung mà còn hỗ trợ lẫn nhau trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay.

3.1.1.2 Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế được thực hiện nhằm tận dụng sự chênh lệch trong trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự mất cân đối về các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia, từ đó mang lại lợi ích cho các bên liên quan.

Trình độ phát triển cao ở các nước công nghiệp phát triển đã dẫn đến thừa vốn trong nước, nhưng cũng làm tăng chi phí sản xuất do lương cao và tài nguyên thiên nhiên hạn chế Điều này khiến các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư nước ngoài để giảm chi phí, mở rộng thị trường và tìm nguồn nguyên liệu mới nhằm tối đa hóa lợi nhuận Hơn nữa, việc chuyển dịch vốn và thiết bị ra nước ngoài không chỉ giúp đổi mới công nghệ trong nước mà còn kéo dài tuổi thọ sản phẩm tại các thị trường tiềm năng.

Các nước đang phát triển hy vọng thu hút đầu tư và công nghệ từ các nước phát triển nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và giảm thiểu nguy cơ tụt hậu.

Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển các nguồn lực, bao gồm cả đầu tư, giữa các quốc gia.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và chấp nhận xu hướng tự do hóa thương mại và đầu tư Với sự khác biệt về trình độ phát triển sản xuất, khả năng vốn, công nghệ, tài nguyên và chi phí, nguồn vốn đầu tư quốc tế sẽ tự nhiên tuân theo quy luật thị trường, chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.

Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy dịch chuyển đầu tư quốc tế, thể hiện qua hai khía cạnh chính.

Đầu tư trong ngành công nghiệp hàng không đòi hỏi sự hợp tác quốc tế mạnh mẽ, điển hình là quá trình sản xuất máy bay Airbus A380 Cấu trúc chính của A380 được chế tạo tại Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh, với các bộ phận từ nhiều nhà cung cấp toàn cầu như Rolls-Royce, Safran, United Technologies, General Electric và Goodrich Các phần thân máy bay được vận chuyển từ Hamburg đến Vương quốc Anh qua cảng Ville de Bordeaux, trong khi cánh máy bay được sản xuất tại miền bắc xứ Wales và chuyển đến cảng Mostyn Tại Saint-Nazaire, các bộ phận thân máy bay được lắp ráp trước khi được chuyển đến cảng Bordeaux để hoàn thiện.

Các bộ phận của A380 được vận chuyển từ Cádiz, phía Nam Tây Ban Nha, trước khi chuyển tiếp đến cảng Bordeaux Tại đây, chúng được chuyển bằng sà lan đến Langon để tiếp tục quá trình vận chuyển.

Tại Toulouse, 42 đã hoàn tất công đoạn lắp ráp cuối cùng Sau khi hoàn thành, nó sẽ được chuyển đến sân bay Hamburg Finkenwerder để thực hiện các bước hoàn thiện và sơn.

Vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đầu tư và chuyển giao công nghệ ra nước ngoài Các nhà sản xuất ban đầu có lợi thế độc quyền xuất khẩu nhờ vào việc phát triển sản phẩm mới Trong giai đoạn đầu, sản phẩm được sản xuất chủ yếu tại quốc gia phát minh Khi sản phẩm trở nên chuẩn hóa, các nhà sản xuất bắt đầu đầu tư ra nước ngoài để tận dụng chi phí sản xuất thấp, nhờ vào giá nguyên liệu rẻ và chính sách ưu đãi tại địa phương, đồng thời ngăn chặn việc mất thị trường vào tay các nhà sản xuất địa phương.

Đầu tư quốc tế là một chiến lược hiệu quả giúp các doanh nghiệp vượt qua các rào cản bảo hộ ngày càng phức tạp của các quốc gia, từ đó xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường, mở rộng sức mạnh của các tập đoàn xuyên quốc gia.

Cuối cùng, đầu tư quốc tế là một hình thức quan trọng nhằm nâng cao uy tín quốc tế và thực hiện các mục đích chính trị

3.1.2 Một số lý thuyết về đầu tư quốc tế

3.1.2.1 Lý thuyết lợi ích cận biên

Lý thuyết này được xây dựng đựa trên những giả định sau:

- Thế giới có hai quốc gia: quốc gia 1 và quốc gia 2;

- Tổng vốn đầu tư của toàn thế giới được biển diễn trên hình vẽ là đoạn OO’ và vốn được di chuyển tự do giữa các quốc gia

Với các giả định trên, hiệu quả của đầu tư quốc tế có thể biểu diễn được như hình vẽ 3.1:

Hình 3.1: Ảnh hưởng phúc lợi của đầu tư quốc tế

OO’: tổng vốn đầu tư của thế giới

Oi O’i’: tương ứng là các trục biểu diễn giá trị sản phẩm cận biên tăng thêm của vốn đầu tư ở quốc gia 1 và quốc gia 2

OA: vốn đầu tư của quốc gia 1

O’A: vống đầu tư của quốc gia 2

Đầu tư gián tiếp trong đầu tư quốc tế

3.2.1 Khái niệm và đặc điểm

3.2.1.1 Khái niệm Đầu tư gián tiếp là loại hình di chuyển vốn đầu tư giữa các quốc gia trong đó người chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn Trong hoạt động đầu tư gián tiếp, chủ đầu tư không trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư mà chỉ hưởng lợi tức theo tỷ lệ vốn góp

Theo Luật Đầu tư Việt Nam (2005), đầu tư gián tiếp được định nghĩa là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, cũng như thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác Nhà đầu tư không tham gia trực tiếp vào việc quản lý hoạt động đầu tư này.

- Chủ đầu tư nước ngoài bị khống chế ở tỷ lệ góp vốn tối đa, với mức vốn đó họ không được tham gia trực tiếp điều hành dự án

- Nước nhận đầu tư hoàn toàn chủ động trong quản lý và điều hành dự án

- Thu nhập của chủ đầu tư: thông thường dưới hình thức tiền lãi hoặc cổ tức

Dòng vốn đầu tư gián tiếp tư nhân có tính chất đầu cơ cao và thường xuyên chảy vào thị trường với hy vọng thu lợi nhuận nhanh chóng Tuy nhiên, khi thị trường hoặc nền kinh tế vĩ mô gặp bất lợi, dòng vốn này có thể giảm nhanh chóng Sự nhạy cảm của dòng vốn với niềm tin và tâm lý của nhà đầu tư là rất lớn; khi tâm lý và niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài không ổn định, họ sẽ nhanh chóng rút vốn để giảm thiểu rủi ro, dẫn đến hiện tượng "xì bong bóng".

3.2.2 Các hình thức của đầu tư gián tiếp

Hình thức đầu tư này kết hợp lãi suất thường hoặc ưu đãi, cho phép gia hạn thời gian vay, được gọi là ân hạn Ưu điểm của nó là huy động vốn lớn để giải quyết các công việc cụ thể, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng cần nguồn vốn lớn và thời gian thu hồi dài Chẳng hạn, vào ngày 7/6/2011, Ngân hàng Thế giới (WB) đã phê duyệt dự án tín dụng cho Việt Nam vay 160 triệu USD từ nguồn tín dụng của Hội Phát triển Quốc tế (IDA), với thời hạn 35 năm và ân hạn 10 năm không lãi Mục tiêu dự án là bảo vệ và tăng cường sử dụng nguồn nước ở đồng bằng sông Mekong, phục vụ sản xuất nông nghiệp, đảm bảo quyền tiếp cận nước cho người dân và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Viện trợ không hoàn lại là nguồn vốn mà nước tiếp nhận không cần phải hoàn trả, thường được áp dụng trong các lĩnh vực như y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, hỗ trợ ngân sách, cùng với nghiên cứu khoa học và công nghệ.

Viện trợ có hoàn lại là hình thức hỗ trợ phổ biến trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, bao gồm năng lượng, giao thông, vận tải, thủy lợi, thông tin liên lạc, cấp thoát nước, y tế, giáo dục và đào tạo.

Hình thức này đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội, nhờ vào việc đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu như xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ nhân đạo cho những người gặp khó khăn, cũng như phát triển hệ thống y tế và cung cấp nước sạch.

Theo Luật đầu tư của Việt Nam (2005), nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây:

- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;

- Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;

- Thông qua các định chế tài chính trung gian khác

Hoạt động đầu tư, bao gồm mua bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, phải tuân thủ quy định pháp luật về chứng khoán và các quy định pháp lý liên quan.

3.2.3 ODA - Hỗ trợ phát triển chính thức

ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại và tín dụng ưu đãi từ chính phủ, tổ chức Liên hợp quốc, tổ chức tài chính quốc tế và tổ chức phi chính phủ Mục tiêu của ODA là hỗ trợ phát triển kinh tế cho các quốc gia đang và chậm phát triển.

- Các nhà tài trợ bao gồm:

+ Chính phủ các nước, chủ yếu là các nước phát triển hoặc tương đối phát triển (cấp ODA dưới dạng này còn gọi là ODA song phương)

+ Tổ chức liên chính phủ: EC, OECD

+ Tổ chức thuộc Liên hợp quốc: UNCTAD, UNDP, UNICEF, UNIDO, WFP, FAO, UNESCO, WHO

+ Tổ chức tài chính quốc tế: IMF, WB, WTO (PRGF Trust, MIGA), các ngân hàng phát triển khu vực (ngân hàng phát triển Châu Á, Châu Phi)

+ Các tổ chức phi chính phủ (NGO)

Viện trợ phát triển chính thức (ODA) chủ yếu được cấp cho chính phủ các quốc gia đang và kém phát triển, trong khi cá nhân và doanh nghiệp không thể nhận ODA trực tiếp Chính phủ là đại diện tiếp nhận ODA, chịu trách nhiệm về khoản nợ quốc gia với các nhà tài trợ, đồng thời cũng là bên phải hoàn trả nợ ODA được tính vào ngân sách nhà nước, do đó việc sử dụng vốn ODA cho các dự án cụ thể được xem như là sử dụng vốn ngân sách.

ODA là hình thức hỗ trợ tài chính ưu đãi, với lãi suất thấp và thời gian cho vay dài hạn Người vay được hưởng thời gian ân hạn, chỉ phải trả lãi mà chưa cần trả gốc, cùng với giá trị cho vay lớn.

ODA mang tính ràng buộc yêu cầu các nước nhận viện trợ phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, tùy thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ Các điều kiện này có thể liên quan đến chính trị hoặc thương mại Hiện nay, xu hướng ràng buộc về chính trị đang giảm dần, trong khi các ràng buộc thương mại ngày càng trở nên phổ biến Ví dụ, các yêu cầu mua sắm hàng hóa từ nước tài trợ thường được áp dụng.

Việc cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam dưới sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB) bao gồm các điều kiện liên quan đến điều chỉnh lãi suất, cấu trúc ngân hàng và quy trình quản lý Mặc dù các ràng buộc chính trị được cho là không còn, thực tế cho thấy rằng các nước viện trợ vẫn duy trì ảnh hưởng thông qua các ràng buộc kinh tế, dẫn đến sự tác động chính trị.

ODA đóng vai trò quan trọng trong phát triển phúc lợi xã hội, tập trung vào các lĩnh vực đầu tư không hoặc ít mang lại lợi nhuận Những dự án này chủ yếu liên quan đến cơ sở hạ tầng công cộng, như giáo dục, y tế và giao thông vận tải, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ, thường được đầu tư vào các lĩnh vực ít sinh lợi như xóa đói giảm nghèo và công trình công cộng Do chủ đầu tư không trực tiếp quản lý dự án, hiệu quả sử dụng vốn thường thấp, dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài, thậm chí có nước không khả năng trả nợ Vì vậy, các chính phủ nhận viện trợ ODA cần đề ra mục tiêu phát triển kinh tế cho các khu vực hưởng lợi để thu nhập từ hoạt động kinh tế khác bù đắp chi phí.

3.2.3.3 Các hình thức của ODA

Có nhiều loại ODA, được phân loại theo những tiêu thức khác nhau:

- Theo phương thức hoàn trả, ODA có 3 loại:

+ Viện trợ không hoàn lại: chiếm khoảng 57% tổng số vốn ODA

Đầu tư trực tiếp trong đầu tư quốc tế

3.3.1 Khái niệm và đặc điểm

3.3.1.1 Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn

Trong hình thức đầu tư này, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn đáng kể vào dự án, qua đó giành quyền quản lý hoặc tham gia trực tiếp vào việc quản lý dự án đầu tư.

Các nhà đầu tư nước ngoài cần phải đóng góp một khoản vốn tối thiểu vào vốn pháp định của doanh nghiệp, theo quy định của luật đầu tư từng quốc gia Cụ thể, Luật đầu tư Việt Nam quy định rằng tỷ lệ vốn góp tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài phải đạt 30% vốn pháp định của dự án.

Quyền quản lý của chủ đầu tư được xác định bởi tỷ lệ góp vốn; nếu chủ đầu tư góp 100% vốn, doanh nghiệp sẽ hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý.

- Lợi nhuận của chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn

FDI (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) có thể được thực hiện qua việc thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp hiện có, hoặc mua cổ phiếu nhằm thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp.

3.3.2 Các xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Báo cáo của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) công bố vào tháng 6/2015 cho thấy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu đang giảm Cụ thể, tổng FDI năm 2014 giảm 16% so với năm trước, chỉ đạt 1.23 tỷ USD Đặc biệt, FDI vào các nước phát triển giảm mạnh 28%, trong khi FDI vào các nền kinh tế đang phát triển lại ghi nhận mức tăng nhẹ 2%.

Dòng vốn FDI toàn cầu dự kiến sẽ tăng lên 1.400 tỷ USD trong năm tới, mặc dù FDI vào các nền kinh tế chuyển đổi đã giảm 52%, chỉ còn 48 tỷ USD.

2015, 1.5 tỷ USD vào năm 2016 và 1.7 tỷ USD trong năm 2017

Nguồn: UNCTAD, dữ liệu FDI/MNE

Hình 3.2: Nguồn vốn FDI phân theo các nhóm nền kinh tế từ 1995 - 2014

Hình 3.3: Giá trị của các hình thức M&A và đầu tư mới trên thế giới từ 2003-2014

Giá trị của các dự án đầu tư mới đã công bố giảm 2% trong khi giá trị của M & A tăng 28%

3.3.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam, có các hình thức FDI tại Việt Nam như sau:

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa các bên để thực hiện đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam Hợp đồng này quy định rõ ràng trách nhiệm của mỗi bên và cách phân chia kết quả kinh doanh mà không cần thành lập pháp nhân mới.

Doanh nghiệp liên doanh là hình thức doanh nghiệp được thành lập từ sự góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam thông qua hợp đồng liên doanh Các bên cùng quản lý, chia lợi nhuận và chịu rủi ro tương ứng với tỷ lệ góp vốn Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tỷ lệ góp vốn tối thiểu của bên nước ngoài không được dưới 30% vốn pháp định, và không bị giới hạn về mức cao nhất Đối với một số cơ sở sản xuất quan trọng, chính phủ có thể yêu cầu tăng dần tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong liên doanh.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp được thành lập hoàn toàn từ nguồn vốn của nhà đầu tư nước ngoài tại quốc gia sở tại, và có quyền quản lý toàn bộ hoạt động doanh nghiệp theo quy định pháp luật địa phương Tại Việt Nam, đối với những cơ sở quan trọng được Chính phủ quyết định, doanh nghiệp Việt Nam có thể thỏa thuận với chủ sở hữu doanh nghiệp nước ngoài để mua lại một phần vốn, nhằm chuyển đổi thành doanh nghiệp liên doanh.

Chính phủ nước sở tại đã thiết lập các khu vực ưu đãi đầu tư như khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung và đặc khu kinh tế nhằm thu hút nhà đầu tư Ngoài ra, các hình thức hợp đồng như B.O.T (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao), B.T.O (xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) và B.T (xây dựng - chuyển giao) cũng được áp dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư.

3.3.4 Khu công nghiệp tập trung

Khu công nghiệp tập trung được thiết kế đặc biệt để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, với các nhà máy và dịch vụ tiện ích sẵn có, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của người lao động.

Các quốc gia đang phát triển các khu công nghiệp tập trung để thu hút đầu tư lớn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mục tiêu bao gồm gia tăng xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như cân bằng sự phát triển vùng và kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Các khu công nghiệp tập trung là lãnh thổ thuộc quyền quản lý của nước sở tại, do đó, các doanh nghiệp hoạt động trong những khu vực này phải tuân thủ các quy định pháp luật của quốc gia đó.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật, bao gồm Quy chế khu công nghiệp và khu chế xuất, Luật đầu tư nước ngoài, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật lao động, Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân.

Vấn đề đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

3.4.1 Các khía cạnh pháp lý liên quan đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

3.4.1.1 Quá trình ban hành và sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

- Năm 1977, chính phủ Ban hành “Điều lệ về đầu tư tại nước Cộng hòa xã hội Việt Nam”

- Năm 1987 Quốc hội thông qua “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” và đã được sửa đổi:

Vào tháng 6 năm 1990, Quốc hội đã thông qua lần đầu tiên Luật sửa đổi, bổ sung, cho phép các tổ chức kinh tế Việt Nam, bao gồm công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân để hợp tác trực tiếp với nước ngoài.

+ Lần 2, Quốc hội thông qua tháng 12 năm 1992: Luật sửa đổi, bổ sung (cho phép cả doanh nghiệp tư nhân)

+ Lần 3, Quốc hội thông qua tháng 12 năm 1996: Luật đầu tư nước ngoài

+ Lần 4, Quốc hội thông qua tháng 06 năm 2000: Luật sửa đổi, bổ sung

Tháng 11 năm 2005, Quốc hội thông qua Luật đầu tư, đây là luật điều chỉnh chung thống nhất cả hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài

3.4.1.2 Tư tưởng chủ đạo của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Tạo ra một khung pháp lý công bằng và thuận lợi cho môi trường đầu tư tại Việt Nam là điều cần thiết Luật đầu tư được thiết kế để đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững và thu hút nguồn vốn đầu tư hiệu quả.

3.4.1.3 Quy định của Luật về đối tượng, lĩnh vực và hình thức đầu tư

Đối tượng đầu tư tại Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài, cũng như người Việt Nam định cư ở nước ngoài, những người có đủ năng lực pháp lý để tham gia vào các liên doanh với bên Việt Nam.

- Lĩnh vực đầu tư: hầu hết các ngành kinh tế tại Việt Nam

- Hình thức đầu tư: gồm hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

3.4.2 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam

Năm 2015, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 24,1 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2014 và vượt 9,6% so với kế hoạch 22 tỷ USD của năm 2015.

Năm 2015, Việt Nam đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 2.120 dự án đầu tư nước ngoài mới với tổng vốn đăng ký đạt 16,34 tỷ USD, tương đương 99% so với năm 2014 Bên cạnh đó, có 918 dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm 7,77 tỷ USD, ghi nhận mức tăng 43,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong năm 2015, tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 24,115 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2014 và vượt 9,6% so với kế hoạch 22 tỷ USD cho năm 2015.

Năm 2015, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút sự quan tâm lớn từ nhà đầu tư nước ngoài với 1.012 dự án mới và tổng vốn đầu tư đạt 16,4 tỷ USD, chiếm 68% tổng vốn đầu tư Lĩnh vực sản xuất và phân phối điện, khí, nước đứng thứ hai với 10 dự án mới, tổng vốn đầu tư 2,79 tỷ USD, chiếm 11,6% Kinh doanh bất động sản xếp thứ ba với tổng vốn đăng ký 2,39 tỷ USD, chiếm 9,9% tổng vốn đầu tư.

Năm 2015, Việt Nam thu hút đầu tư từ 62 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 6,98 tỷ USD, chiếm 28,9% tổng vốn đầu tư Malaysia đứng thứ hai với 2,47 tỷ USD, chiếm 10,2%, trong khi Nhật Bản xếp thứ ba với 1,8 tỷ USD, chiếm 7,4% Đài Loan cũng nằm trong danh sách các nhà đầu tư lớn tại Việt Nam.

4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm khoảng 1,46 tỷ USD, chiếm 6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam

Trong năm 2015, không tính dầu khí ngoài khơi, các nhà đầu tư nước ngoài đã rót vốn vào 52 tỉnh và thành phố trên toàn quốc, với những địa phương dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài.

TP Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước với 4,1 tỷ USD vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm, chiếm 17% tổng vốn đầu tư Bắc Ninh theo sau với 3,66 tỷ USD, tương đương 15,1% tổng vốn đầu tư Bình Dương đứng thứ ba với 3,12 tỷ USD Các tỉnh/thành phố khác như Trà Vinh, Đồng Nai và Hà Nội có vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm lần lượt là 2,5 tỷ USD, 1,8 tỷ USD và 1 tỷ USD.

Năm 2015, số lượng dự án đầu tư nước ngoài quy mô lớn chiếm tỷ lệ nhỏ, với chỉ 4 dự án có vốn trên 1 tỷ USD, 32 dự án trên 100 triệu USD, và 74 dự án trên 50 triệu USD Đặc biệt, có tới 363 dự án có vốn trên 10 triệu USD, trong khi các dự án dưới 10 triệu USD chiếm đến 88% tổng số dự án mới Quy mô vốn trung bình của các dự án ĐTNN trong năm này chỉ đạt khoảng 7,9 triệu USD, thấp hơn so với mức trung bình 14 triệu USD của các dự án ĐTNN nói chung.

Vốn thực hiện của khu vực FDI tại Việt Nam năm 2015 ước đạt 14,5 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2014 và vượt kế hoạch năm 2015 Mặc dù gặp nhiều khó khăn, vốn giải ngân FDI vẫn tăng nhờ vào sự chú trọng trong công tác hỗ trợ và thúc đẩy các dự án Đồng thời, việc đối thoại chính sách với các nhà đầu tư được tăng cường, giúp tháo gỡ khó khăn và vướng mắc, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà đầu tư tại Việt Nam.

Trong 12 tháng năm 2015, xuất khẩu của khu vực ĐTNN, bao gồm cả dầu thô, đạt 114,3 tỷ USD, tăng 12,9% so với năm 2014 và chiếm 70,5% tổng kim ngạch xuất khẩu Nếu không tính dầu thô, xuất khẩu đạt 110,5 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước.

Nhập khẩu của khu vực ĐTNN 12 tháng năm 2015 đạt 97,26 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 58,7% tổng kim ngạch nhập khẩu Tính chung trong

12 tháng năm 2015, khu vực ĐTNN xuất siêu gần 17 tỷ USD

Xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đã trở thành điểm sáng trong nền kinh tế Việt Nam năm qua, với tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu Cụ thể, tỷ lệ này đã tăng từ 54,1% vào năm 2010 lên 66,9% vào năm 2013, cho thấy sự đóng góp ngày càng lớn của khu vực này trong bức tranh xuất khẩu của đất nước.

2014 là 68%) Và trong năm 2015 đạt mức cao nhất từ trước đến nay 114,3 tỷ USD, chiếm 70,5% kim ngạch xuất khẩu

3.4.3 Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam

THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ

LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ QUỐC TẾ

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

Ngày đăng: 17/11/2021, 19:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Hoàng Thị Chỉnh (2005), Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Tác giả: Hoàng Thị Chỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
2. Nguyễn Đăng Bằng, Trần Thị Hoàng Mai (2009), Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam và nước ngoài, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử kinh tế Việt Nam và nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Đăng Bằng, Trần Thị Hoàng Mai
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
3. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2008),Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2008
4. Đỗ Đức Bình, Bùi Anh Tuấn (2002),Giáo trình Kinh tế học quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Bùi Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
6. Võ Thanh Thu (2003), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế quốc tế
Tác giả: Võ Thanh Thu
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
7. Nguyễn Văn Thường (2008), Giáo trình Kinh tế Việt Nam, NXB ĐH Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thường
Nhà XB: NXB ĐH Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
8. Luật đầu tư, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
9. Luật doanh nghiệp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
11. Robert J. Carbaugh (2010), International Economics, Cengage Learning Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Economics
Tác giả: Robert J. Carbaugh
Năm: 2010
12. Paul R. Krugman, Maurice Obstfeld, Marc J. Melitz (2012), International Economics - Theory & Policy, ninth edition, Pearson Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Economics - Theory & Policy, ninth edition
Tác giả: Paul R. Krugman, Maurice Obstfeld, Marc J. Melitz
Năm: 2012
5. Cục xúc tiến thương mại , Bộ công thương (2012) , Báo cáo xúc tiến xuất khẩu 2011- 2012 Khác
13. UNCTACD (2013), World Investment Report 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

đối cuối cùng của hàng hoá giữa các nước quyết định lợi thế so sánh và mô hình thương mại (nghĩa là nước nào sản xuất hàng hoá gì) - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
i cuối cùng của hàng hoá giữa các nước quyết định lợi thế so sánh và mô hình thương mại (nghĩa là nước nào sản xuất hàng hoá gì) (Trang 32)
Hình 2.2: Mô hình kim cương của Michael Porter - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 2.2 Mô hình kim cương của Michael Porter (Trang 33)
Hình 2.3: Tác động của thuế quan nhập khẩu - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 2.3 Tác động của thuế quan nhập khẩu (Trang 38)
Hình 2.4: Tác động của hạn ngạch nhập khẩu - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 2.4 Tác động của hạn ngạch nhập khẩu (Trang 39)
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một hình thức hạn chế xuất khẩu mà theo đó nước  nhập  khẩu  yêu  cầu  nước  xuất  khẩu  phải  hạn  chế  bớt  lượng  hàng  xuất  khẩu  sang  nước mình một cách “tự nguyện”, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyế - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
n chế xuất khẩu tự nguyện là một hình thức hạn chế xuất khẩu mà theo đó nước nhập khẩu yêu cầu nước xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách “tự nguyện”, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyế (Trang 41)
Cuối cùng, đầu tư quốc tế là một hình thức quan trọng nhằm nâng cao uy tín quốc tế và thực hiện các mục đích chính trị - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
u ối cùng, đầu tư quốc tế là một hình thức quan trọng nhằm nâng cao uy tín quốc tế và thực hiện các mục đích chính trị (Trang 47)
Hình 3.3: Giá trị của các hình thức M&A và đầu tư mới trên thế giới từ 2003-2014 - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 3.3 Giá trị của các hình thức M&A và đầu tư mới trên thế giới từ 2003-2014 (Trang 56)
Hình 3.2: Nguồn vốn FDI phân theo các nhóm nền kinh tế từ 1995 -2014 - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 3.2 Nguồn vốn FDI phân theo các nhóm nền kinh tế từ 1995 -2014 (Trang 56)
Hình 4.1: Tác động của mức chênh lệch lạm phát đến tỷ giá hối đoái - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 4.1 Tác động của mức chênh lệch lạm phát đến tỷ giá hối đoái (Trang 75)
Hình 4.2: Tác động của yếu tố tâm lý đến tỷ giá hối đoái - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 4.2 Tác động của yếu tố tâm lý đến tỷ giá hối đoái (Trang 76)
Hình 4.3: Sơ đồ cán cân thanh toán quốc tế: - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 4.3 Sơ đồ cán cân thanh toán quốc tế: (Trang 88)
Hình 6.1: Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD) từ năm 1985-2013 - TÀI LIỆU ĐỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 6.1 Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD) từ năm 1985-2013 (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w