1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc

39 273 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi
Tác giả Randolph Barker, David Dawe
Người hướng dẫn Parakrama Weligamage
Trường học Học viện Quản lí Nguồn nước Quốc tế (IWMI), Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI)
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn
Thể loại Bài đọc
Năm xuất bản 2003-2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 513,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn một thập kỉ với giá gạo thế giới thấp và ổn định đã dẫn đến sự tự mãn của các nhà hoạch định chính sách và việc chậm đầu tư vào nghiên cứu, thủy lợi, và các yếu tố khác vốn có thể cả

Trang 1

NỀN KINH TẾ LÚA GẠO CHÂU Á

Randolph Barker và David Dawe2

I GIỚI THIỆU

Vào những năm sau Thế chiến II, người ta ngày càng lo ngại hơn về vấn đề lương thực

ở châu Á Dân số tăng gần 3%/năm và tiềm năng mở rộng thêm diện tích canh tác hạn

chế Người ta đã hướng sự chú ý vào nhu cầu tăng sản lượng gạo, lương thực chủ yếu

An ninh (hay an toàn) lương thực do cuộc cách mạng xanh mang lại chỉ là bước đầu

tiên mang tính quyết định trong việc chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp của châu Á Đối với hầu hết các nước châu Á trong thập niên 60, 2/3 lực

lượng lao động và 1/3 tổng sản phẩm nội địa (GDP) nằm ở nông nghiệp Do những nền kinh tế này tăng trưởng, nên nông nghiệp đang trở nên một bộ phận nhỏ hơn bao giờ hết trong toàn bộ nền kinh tế Đây là mô thức bình thường của phát triển Tuy nhiên, lúa gạo vẫn còn là lương thực chủ yếu trong bữa ăn của người châu Á, và là loại

cây được trồng rộng rãi nhất, ở phần lớn châu Á cây lúa đóng góp từ 1/3 đến 1/2 giá trị

gia tăng trong nông nghiệp và 50-80% lượng calories mọi người tiêu thụ (Hossain và Pingali, 1998) Nhiều người nghèo vẫn không lo nổi một bữa ăn no Tuy nhiên, những

người khá giả đang đa dạng hóa thực đơn của họ và các hộ gia đình trồng lúa đang tìm

các nguồn thu nhập mới để bù đắp mức lợi nhuận thấp của việc trồng lúa do giá lúa hạ

Trong khi đó, việc đưa ra các công nghệ mới và sự tăng trưởng sản xuất vẫn tiếp tục nhưng với tốc độ chậm hơn nhiều Hơn một thập kỉ với giá gạo thế giới thấp và ổn định đã dẫn đến sự tự mãn của các nhà hoạch định chính sách và việc chậm đầu tư vào

nghiên cứu, thủy lợi, và các yếu tố khác vốn có thể cải thiện sự tăng trưởng năng suất

của khu vực trồng lúa Một số người, đặc biệt là ở trong giới khoa học, lo ngại rằng sản

lượng tăng chậm hơn có thể còn không theo kịp sự gia tăng nhu cầu do dân số tăng, nói

1 Bài nghiên cứu này được trình bày tại Đại hội Thường niên lần thứ 12 của Viện Nghiên cứu Nông

nghiệp trên Đại học, Đại học Peradeniya, 16-17/11/2000 Bản trước của bài nghiên cứu này được trình

bày tại Hội thảo về Nghiên cứu và Trồng Lúa trong Thế kỉ 21, Hội thảo để tưởng nhớ Tiến sĩ Robert F

Chandler, Jr., 15-17/6/2000

2 Randolph Barker, Cố vấn Cao cấp cho Tổng Giám đốc Học viện Quản lí Nguồn nước Quốc tế (IWMI),

và David Dawe, nhà kinh tế, Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI)

Các tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến Parakrama Weligamage vì sự giúp đỡ quí báu của Ông trong quá

trình viết bài nghiên cứu này

Trang 2

chi đến việc đáp ứng nhu cầu của ngày càng nhiều người nghèo không có khả năng mua

đủ lương thực

Cuối cùng, vào những năm sau cuộc cách mạng xanh, lợi thế so sánh của việc trồng lúa

lại một lần nữa chuyển từ những vùng trước đây được lợi nhờ cuộc cách mạng xanh về

những đồng bằng lớn nơi lao động rẻ và nguồn nước dồi dào - đồng bằng sông Mekong, đồng bằng sông Ganges-Bramaputra, và có tiềm năng là đồng bằng sông Irradwaddy Nhiều chính phủ một mặt phải đối phó với áp lực trong nước đòi trợ cấp cho việc trồng lúa và duy trì an ninh lương thực, mặt khác với áp lực từ bên ngoài đòi hủy bỏ các hạn chế về thuế quan và đòi tự do hóa ngoại thương

Bài nghiên cứu này mô tả sự chuyển dịch của nền kinh tế lúa nước châu Á trong một số

bình diện Chúng ta xem xét từng bình diện một: (i) các khuynh hướng và các nguồn tăng trưởng trong việc sản xuất lúa; (ii) những người thụ hưởng các thay đổi về công nghệ, tác động của các thay đổi này đối với việc giảm nghèo, và các tác động tiêu cực

đối với môi trường và sức khỏe; (iii) đa dạng hóa trong tiêu dùng và sản xuất nông sản

khác ngoài lúa; (iv) sự thay đổi của lợi thế so sánh và mở rộng việc nghiên cứu lúa trên

thế giới và của kinh tế nông thôn

II CÁC XU HƯỚNG VÀ NGUỒN TĂNG TRƯỞNG TRONG SẢN XUẤT

VÀ NĂNG SUẤT

Người ta chứng minh qua nhiều tài liệu sự tăng trưởng của việc sản xuất gạo diễn ra trong hơn ba thập kỉ qua kể từ khi giống đầu tiên trong các giống lúa cao sản, IR8, được tung ra vào năm 1966 và các yếu tố giải thích sự tăng trưởng đó (Baker và Herdt,

1985, Pingali và Hossain, 1998, Pingali, Hossain, và Gerpacio, 1997) Ngày nay ở nhiều khu vực người ta có chung một lo lắng về sự chậm lại của tăng trưởng sản xuất gạo và ý nghĩa tiềm tàng đối với an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, chúng ta sẽ bắt đầu câu chuyện của chúng ta bằng cách đặt câu hỏi là làm thế nào mà châu Á đã đạt được mức tăng trưởng sản xuất lúa 3%/năm trong hơn hai thập kỉ

qua, một mức tăng trưởng vượt xa những gì đã từng đạt được trong lịch sử

Những mệnh lệnh chính trị và những đột biến về thời tiết

Trong kỉ nguyên hậu Thế chiến II, mối lo của phương Tây liên quan đến tình hình lương thực xấu đi ở châu Á và các ý nghĩa của tình hình đó đối với sự ổn định chính trị

phần lớn bị điều khiển bởi nền chính trị chiến tranh lạnh Cuộc Chơi Lớn (xem Hopkirk, 1991) vốn chi phối cuộc đấu tranh giữa nước Anh và nước Nga để giành quyền kiểm soát châu Á vào thế kỉ 19 vẫn rất sôi động, mặc dù ở một dạng mới và với

Trang 3

một vai diễn khác của những người tham gia cuộc chơi Đối với các chính quyền châu

Á và phương Tây cũng như các cơ quan phát triển quốc tế, ưu tiên là rất rõ ràng – tăng

sản xuất ngũ cốc ở châu Á Dần dần xuất hiện sự đồng thuận về cách thực hiện được

điều này khi mà các bộ phận công nghệ cách mạng xanh đã bắt đầu được áp dụng

Hai sự kiện khí hậu, hiện nay được biết đến dưới cái tên Los Niđos (vốn dẫn đến sự

giảm sút lượng mưa hàng năm ở nhiều nơi trên thế giới) đóng vai trò chất xúc tác đối với việc theo đuổi mục tiêu an ninh lương thực Sự kiện thứ nhất đã xảy ra ở tiểu lục

địa Ấn Độ vào giữa thập niên 60, nơi mà sự giảm sút sản xuất ngũ cốc đã đe dọa dẫn đến nạn đói Sự kiện thứ hai đã xảy ra do sự giảm sút sản xuất lương thực vào năm

1972 dẫn đến việc tăng vọt giá gạo thế giới (Hình 1) và đẩy Thái Lan, nước xuất khẩu

gạo lớn nhất thế giới, đến chỗ cấm xuất khẩu trong vài tháng của năm 1973

Cái gọi là cuộc cách mạng xanh thường được gắn với việc phát triển các giống lúa và lúa mì hiện đại có thân lùn trung bình (MVs) Tuy nhiên, hai yếu tố quyết định khác của công nghệ cách mạng xanh là phân bón và thủy lợi Cùng với các giống mới, cũng

như hai yếu tố phân bón và thủy lợi, một đợt cải tiến công nghệ vững chắc đóng góp vào việc tăng năng suất lúa đã diễn ra Do các nhập lượng này có mức độ bổ trợ lẫn nhau cao, nên các nỗ lực để chia phần tỉ lệ tăng trưởng cho mỗi nhập lượng tỏ ra khó khăn Một phân tích của Herdt và Capule (1983) cho thấy tác động của lúa MV, phân

bón, thủy lợi, và các yếu tố khác (còn lại) đã đóng góp những phần gần như bằng nhau

vào tăng trưởng sản xuất “Các yếu tố khác” bao gồm cả đầu tư lớn lạ thường của phương Tây vào phát triển vốn con người ở châu Á Loại đầu tư thường bị bỏ sót này

đã giúp tạo ra các thay đổi về chính sách và định chế cần thiết để tạo điều kiện cho việc phát triển và phổ biến của công nghệ mới Điều này giúp giải thích tốc độ phổ biến của các công nghệ này

Cải tiến về giống Vào thời điểm Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) bắt đầu hoạt

động vào năm 1962, không ai có thể tiên đoán được là có thể đạt được một bước đột phá trong tiềm năng về sản lượng gạo chỉ trong bốn năm Khám phá vô tình đầu tiên về gien lùn của cây lúa trong bộ sưu tập của Đài Loan đã dẫn đến việc tung ra giống lúa lùn trung bình đầu tiên vào năm 1966, IR8 Các giống lúa cao truyền thống (cao khoảng ngang thắt lưng) cho một sinh khối bao gồm 80% thân rạ và 20% bông lúa trong khi tỉ lệ bông lúa trên thân rạ của lúa lùn trung bình (cao ngang đầu gối) là 50/50 Các giống lúa có thân ngắn hơn, cứng hơn này đáp ứng sản lượng cao hơn đối với phân

bón mà không bị rạp vào thời điểm thu hoạch Cũng quan trọng không kém, các giống

mới này trưởng thành chỉ trong 120 ngày hay ngắn hơn so với 150 ngày đối với các giống truyền thống Việc tung ra IR8 đã thiết lập một mức trần sản lượng cho lúa thụ phấn tự nhiên ở các vùng nhiệt đới vẫn còn tồn tại đến ngày nay (Lúa lai được phát

Trang 4

triển ở Trung Quốc vào thập niên 70 đã nâng cao trần sản lượng lên 15% nhưng các giống phù hợp được sử dụng ở các vùng nhiệt đới vẫn chưa được phát triển)

Việc giống IR8 dễ dàng bị tổn thương trước sâu rầy và dịch bệnh đã nhanh chóng chuyển trọng tâm sang việc nhân giống kháng sâu bệnh Việc tung ra giống IR36 sau

IR8 một thập kỉ (1976) đã đánh dấu một cột mốc khác của sự phát triển các giống hiện

đại kháng sâu bệnh thế hệ hai Người ta ước lượng rằng đầu thập niên 80, hơn 10 triệu

ha đã được gieo trồng IR36 (IRRI, 1982) Tuy nhiên, điều này đưa đến các lo ngại rằng cơ sở di truyền của các giống mới này quá hẹp làm tăng nguy cơ bất lợi là tổn thất

mùa màng tràn lan trong chỉ một năm (Evans, 1986) Việc tung ra giống IR64 vào năm 1985 với nguồn gien từ các giống lúa mọc trên hơn 40 loại đất đã đảm bảo chống

lại loại rủi ro này

Cho đến ngày nay, hạn hán và tác động của các điều kiện khí hậu El Nino và La Nina

vẫn là nguồn chính tạo sự khác biệt từ năm này sang năm khác trong sản xuất mùa vụ Việc tạo ra các giống cho các môi trường biên tế với các cơn hạn hán thường xuyên hay các điều kiện thổ nhưỡng bất lợi lại càng phức tạp hơn Có những người lí luận rằng với sự hỗ trợ của công nghệ sinh học, tiềm năng tăng năng suất (và giảm nghèo)

to lớn nhất trong tương lai thuộc về các môi trường canh tác được tưới tiêu bằng nước mưa Những người khác lại dự đoán rằng các khu vực được thủy lợi hóa trong tương lai

sẽ lại tiếp tục đột phá mức trần sản lượng và rằng những khu vực này sẽ chiếm một tỉ lệ

lớn hơn bao giờ hết trong sản xuất gạo của thế giới

Các tiến bộ trong công nghệ phân bón Kể từ khi cuộc cách mạng xanh ra đời vào thập

niên 60, phân hóa học đã chiếm vị trí trung tâm trong việc chuyển đổi sản lượng nông

nghiệp ở châu Á Mức tiêu thụ phân hóa học ở châu Á đã tăng từ 7 triệu tấn chất dinh

dưỡng (N, P, K) vào năm 1965 lên 17 triệu vào năm 1975, năm “khủng hoảng phân bón”, lên 39 triệu vào năm 1985 và 69 triệu vào năm 1995, về cơ bản tăng gấp đôi sau

mỗi mười năm Sự tăng trưởng nhanh một cách kì lạ trong việc tiêu thụ phân bón, hơn

7% năm trong ba thập kỉ, là do việc giảm đều giá phân bón (Hình 2) và việc nông dân

hiểu được các lợi ích của phân bón khi sử dụng cho các giống MV

Yếu tố chính lí giải việc giảm giá này là các khám phá trong hóa học và ứng dụng kĩ thuật cơ khí liên quan đến việc sản xuất superphosphates (supe−photphat), phosphoric acid (axít photphoric), và trên hết là ammonia vốn sẽ được chuyển hóa thành phân đạm (Tomich và các tác giả khác,1995) Một trong những phát triển ngoạn mục nhất

đã diễn ra vào thời gian ngay trước cuộc cách mạng xanh, năm 1963 Việc chuyển đổi

từ máy nén piston sang máy nén li tâm đã tăng gấp ba lần qui mô tối ưu của nhà máy trong việc sản xuất phân urea càng làm hạ giá thành sản xuất Với tốc độ thay đổi công nghệ nhanh và sự tinh vi và bản chất thâm dụng vốn của công nghệ, các nước phát triển có lợi thế so sánh trong việc sản xuất phân bón Một số nước châu Á làm

Trang 5

ngơ thực tế này và tìm cách tự túc phân hóa học Thường là với sự giúp đỡ của các nước phát triển, họ đã xây dựng các nhà máy mà hầu như ngay vào ngày hoàn thành đã

trở nên lạc hậu

Tiến bộ công nghệ trong thủy lợi và quản lí nguồn nước Các tiến bộ công nghệ trong

thủy lợi có thể được chia thành: (i) những tiến bộ liên quan đến việc phát triển các hệ thống thủy lợi nước mặt hay kênh mương, chủ yếu thông qua đầu tư công cộng và (ii) những tiến bộ liên quan đến khai thác nước ngầm chủ yếu thông qua đầu tư tư nhân Trước Thế chiến II, thủy lợi ở châu Á chủ yếu là các hệ thống gọi là dẫn thủy nhập điền theo đường đó nước được các bờ bao nắn dòng chảy để tưới tiêu bổ sung, đảm bảo

cho vụ lúa chính vào mùa mưa Các tiến bộ công nghệ trong việc xây dựng đập lớn và

hồ chứa nước ở miền Tây nước Mĩ trước Thế chiến II trở thành nền tảng cho việc phát

triển hệ thống thủy lợi nước mặt ở châu Á thời kì sau Thế chiến II Đập Hoover, khai

trương ở Nevada vào năm 1935 mở ra một kỉ nguyên của các đập lớn Trong số hơn 40.000 đập lớn trên khắp thế giới, gần như chỉ có 5.000 được xây dựng kể từ năm 1950

(McCully, 1996) Giá gạo cao biện hộ cho việc đầu tư lớn vào các hệ thống thủy lợi lớn của khu vực công cộng vào thập niên 70 Nhưng việc giảm giá gạo sau đó, việc tăng chi phí xây dựng, và gia tăng sự chống đối từ phía các nhà môi trường đã dẫn đến

việc giảm mạnh đầu tư kể từ giữa thập niên 80 (Rosegrant và Pingali, 1994)

Ngược lại, các tiến bộ trong công nghệ và việc giảm chi phí đã dẫn đến việc tiếp tục mở rộng nhanh chóng của các giếng đóng (và gần đây hơn là các công nghệ thủy lợi nhỏ khác như thủy lợi vòi phun và nhỏ giọt) Ví dụ, ở Ấn Độ và Trung Quốc, hơn hẳn

một nửa tổng diện tích được tưới bằng giếng đóng (Hình 3) Các nông dân, thường miễn cưỡng trả các phí thủy lợi để được phân phối nguồn nước tưới từ kênh mương không đáng tin cậy, lại sẵn sàng trả toàn bộ chi phí cho việc tưới tiêu bằng máy bơm, vốn có thể làm tăng sản lượng gạo hay tạo điều kiện chuyển đổi từ gạo sang các cây trồng có giá trị cao hơn Nhưng việc phát triển các giếng đóng không được kiểm soát đang dẫn đến tình trạng khai thác cạn kiệt nghiêm trọng nước ngầm, đặc biệt là ở các vùng bán khô cằn gồm cả hai vựa lúa chính ở châu Á, vùng Punjab và Bình nguyên Bắc Trung Quốc

Tăng trưởng sản xuất và sản lượng

Sự tăng trưởng sản xuất và sản lượng gạo trong những năm cách mạng xanh (1967-85)

và trong các năm trước và sau cách mạng xanh được thể hiện ở Hình 4 Tiếp theo sự tăng trưởng sản xuất mạnh gần 3% trong thời kì cách mạng xanh, sau đó tốc độ tăng trưởng đã giảm gần một nửa Sự biến thiên đáng kể theo thời gian và không gian của tốc độ áp dụng công nghệ mới và tăng trưởng sản xuất được minh họa trong Bảng 1 Các quốc đảo Đông Nam Á, Trung Quốc, và các khu vực được chọn khác như bang Punjab thuộc Ấn Độ là những nơi được hưởng lợi sớm nhất từ công nghệ cách mạng

Trang 6

xanh Vào năm 1980, 50% diện tích trồng lúa hay nhiều hơn ở các khu vực này được trồng giống MV (Herdt và Capule, 1982) Các phần khác của châu Á bao gồm Bangladesh và Đông Ấn áp dụng giống này gần đây hơn và sản lượng đã tăng nhanh hơn sau năm 1985 Việt Nam đã tăng mạnh diện tích đất và sản lượng kể từ năm 1985 Đáng ngạc nhiên là Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, lại có mức áp dụng

giống MV thấp nhất trong số các nước châu Á lớn, xấp xỉ 15% vào năm 1995 Mức gia

tăng sản lượng và tiêu thụ phân bón cũng thấp vì Thái Lan đã chọn cách tăng diện tích trồng lúa và tiếp tục trồng các giống sản lượng thấp nhưng có chất lượng xuất khẩu cao

Hầu hết những thay đổi về việc định thời gian áp dụng MV dường như gắn với sự phát

triển trong quản lí thủy lợi và nguồn nước Đầu tư vào các dự án thủy lợi lớn đã diễn ra

vào thập niên 70 và đầu thập niên 80 ở nhiều phần của châu Á và việc mở rộng diện tích trồng lúa mùa khô đã tạo một cú thúc cho sản xuất Tuy nhiên, những thay đổi về

mô thức mùa vụ và việc áp dụng các công nghệ thủy lợi vốn cho phép các vùng đồng bằng

tránh được sản lượng thấp của lúa ruộng sâu và tận dụng được các mùa vụ thuận lợi hơn đã

được tiến hành trễ hơn nhiều

Diện tích trồng lúa ở châu Á vẫn còn hầu như không thay đổi kể từ giữa thập niên 80 Việc tiếp tục phát triển thủy lợi giếng đóng đã dẫn đến việc một tỉ lệ lớn diện tích mới

được thủy lợi hóa được dùng để canh tác các cây trồng ngoài lúa Tuy nhiên, phần diện tích lúa được thủy lợi hóa đã tăng từ 51% vào cuối thập niên 70 lên 56% vào đầu

thập niên 90 Đây là kết quả của sự giảm sút cả về diện tích ruộng ở đất cao lẫn ruộng

sâu, một khuynh hướng dường như có khả năng tiếp diễn (Hình 5)

Điều gì lí giải sự suy giảm tăng trưởng?

Điều gì lí giải tốc độ tăng trưởng chậm hơn của sản xuất, diện tích, và sản lượng kể từ

năm 1985? Nguyên nhân rõ rệt nhất là sự giảm sút nghiêm trọng của giá gạo thế giới

từ 1981 đến 1985 (Hình 1) Đánh dấu việc áp dụng thành công các công nghệ cách mạng xanh là thực tế cung tăng nhanh hơn cầu Trong mươi lăm năm qua, giá gạo thế

giới đã duy trì ổn định một cách đáng lưu ý, làm dịu xuống những nỗi lo ngại rằng việc

áp dụng các công nghệ cách mạng xanh sẽ dẫn đến sự biến thiên lớn hơn về sản lượng

và giá cả Có vẻ đã đạt được một sự cân bằng mới giữa cung và cầu với giá thấp hơn và tốc độ tăng trưởng chậm hơn

Sự tăng trưởng chậm hơn bị chi phối bởi cả yếu tố cung lẫn yếu tố cầu Về phía cung,

ở nhiều khu vực của châu Á, mức sản lượng tăng lên do áp dụng các công nghệ mới trước đó hầu như đã được khai thác triệt để và ở những khu vực này việc thâm canh thường dẫn đến việc khai thác cạn kiệt và sự xuống cấp nguồn đất và nước Không còn

khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng sản xuất 2,5 đến 3% năm Ngoài ra, với giá gạo nội địa thấp hơn nhiều và mức lương tăng, nông dân nhận ra rằng việc trồng lúa mang

Trang 7

lại lợi nhuận thấp hơn nhiều Đồng thời, cầu đối với gạo đã giảm do cả thu nhập tăng

lẫn tốc độ tăng dân số giảm Các yếu tố góp phần làm cho tăng trưởng chậm hơn và những ý nghĩa đối với việc nghiên cứu lúa sẽ được bàn tới chi tiết hơn ở các phần sau

III NĂNG SUẤT, SỰ NGHÈO ĐÓI, VÀ KHẢ NĂNG DUY TRÌ BỀN VỮNG

Các thuật ngữ “giảm nghèo” hay “xóa nghèo” chỉ đến gần đây mới trở thành mục đích

được tuyên bố của các chính quyền quốc gia và các cơ quan viện trợ quốc tế Tuy nhiên, người ta dĩ nhiên đã ngầm tin rằng thành công trong việc tăng sản xuất gạo ở châu Á và tăng thu nhập nông trại chắc là có một tác động tích cực đối với việc giảm nghèo ở châu Á bằng cách đẩy lùi nạn đói và tạo an ninh lương thực cho hàng triệu

người Michael Lipton (1989, trang 400), người chỉ trích cuộc cách mạng xanh từ ban

đầu gần đây hơn đã viết rằng “giá như vào năm 1950 các nhà khoa học xã hội đã soạn

thảo một kế hoạch chi tiết đổi mới nông nghiệp nhằm hỗ trợ người nghèo, thì họ hẳn đãõ

muốn có những giống cây hiện đại: những giống cây lương thực chủ yếu rẻ hơn, khỏe hơn, thâm dụng lao động, giảm rủi ro, và có hiệu suất” Một loạt giống hiện đại làm lợi cho các vùng có điều kiện khắc nghiệt hơn, nứt nẻ vì thiếu mưa thậm chí còn tốt hơn Nhưng nếu như trọng tâm ban đầu đã được đặt vào các vùng cận biên, thì trọng tâm đó có thể đã dẫn đến việc không sản xuất ra đủ lượng lương thực phụ trội để đẩy lùi tai họa trong thập kỉ 60 và 70

Một bài báo gần đây trên tạp chí Economist tuyên bố rằng “một loạt các biện pháp của

cuộc cách mạng xanh đã cứu hơn một tỉ người khỏi chết đói” (tạp chí Economist,

25-31/3/2001) Tuy nhiên, thậm chí đến tận hôm nay, dù cho các bằng chứng có thuyết

phục ngược lại, thì một bộ phận lớn ý kiến công chúng vẫn nhìn nhận rằng cuộc cách mạng xanh đã làm cho người giàu càng giàu hơn và người nghèo càng nghèo hơn Mặc

cho thực tế này, vẫn có những lo ngại hợp lí về các lợi ích và chi phí của cuộc cách mạng xanh trong quá khứ, và đặc biệt hơn là của những thay đổi công nghệ tương lai trong nông nghiệp Trong hai phần tới chúng ta sẽ xem xét bên có của bảng cân đối –

đó là việc tăng năng suất lúa đã giúp ích cho người nghèo như thế nào Trong phần thứ

ba, chúng ta sẽ bàn đến các tác động tiêu cực của công nghệ cách mạng xanh và các

vấn đề liên quan đến khả năng tăng trưởng bền vững của sản xuất gạo

Việc tăng năng suất lúa đã giúp ích cho người nghèo như thế nào?

Trang 8

Các nghiên cứu dẫn đến việc tăng năng suất lúa đã đóng góp vào việc giảm nghèo thông qua các con đường, các con đường này dẫn đến lợi ích cho những người trồng lúa, lao động nông nghiệp, và người tiêu dùng Ban đầu năng suất cao hơn dẫn đến lợi

nhuận cao hơn cho nông dân và nhiều việc làm hơn đặc biệt cho các lao động nông nghiệp và những người làm trong các doanh nghiệp liên quan đến nông trại Những người áp dụng sớm nhất thu lợi nhiều nhất bởi vì ban đầu sự tăng trưởng sản xuất quá nhỏ đến nỗi không thể ảnh hưởng đến giá gạo Sau đó, việc áp dụng các công nghệ mới lan rộng và giá gạo giảm, những nông dân có thặng dư thị trường lớn nhất bị giảm

thu nhập nhiều nhất

Hoàn toàn do qui mô của nền kinh tế lúa nước và sự quan trọng của gạo trong bữa ăn châu Á, mà việc tăng năng suất lúa có tác động tiềm năng lớn nhất đối với việc giảm nghèo so với bất kì hàng hóa nông nghiệp nào khác được sản xuất ở châu Á Giá gạo rẻ hơn cho người tiêu dùng là kết quả không thể tránh khỏi của sự gia tăng sản xuất, vốn đã vượt xa gia tăng nhu cầu Giá gạo rẻ hơn cho người tiêu dùng làm lợi cho người

nghèo – bao gồm người nghèo thành thị, nông dân không đất, và các nông dân không

trồng lúa – nhiều hơn một cách quá mức cân xứng bởi vì gạo chiếm đến 70% tổng lượng calorie cần nạp vào cơ thể của những người này Giá gạo thấp hơn kích thích việc làm ở các khu vực công nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế, rút lao động ra khỏi nông nghiệp Đối với nhiều nền kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu này chưa suôn sẻ đặc biệt ở những nơi sự tăng trưởng chậm ở khu vực phi nông trại không thể tạo ra đủ việc

làm cho số lao động nông nghiệp thặng dư Tuy nhiên, sự chuyển dịch này trong nền kinh tế, được mô tả chi tiết hơn ở Phần IV, là cần thiết cho việc giảm nghèo dài hạn

Khi các giống hiện đại lan tràn, các mối quan tâm ban đầu hướng vào sự công bằng chứ không phải vào các tác động của gia tăng năng suất đối với việc giảm nghèo Các

phú nông và địa chủ được coi là hưởng lợi với tổn thất các tiểu nông, tá điền, và nông

dân không đất phải gánh chịu Hơn hai phần ba số nghiên cứu được công bố về việc các giống MV đã giúp gì cho người nghèo đã tập trung vào vấn đề này (Lipton, 1989) Có một bằng chứng mang tính thuyết phục đặc biệt trong trường hợp của cây lúa (gần như toàn bộ các nông trại trồng lúa đều nhỏ), rằng trong các môi trường mà các giống

MV được áp dụng rộng rãi thì các lợi ích đã được phân phối như nhau cho cả người giàu lẫn người nghèo (Barker và Herdt, 1985, David và Otsuka, 1994) Những người tiêu dùng nghèo, đối với họ gạo chiếm một tỉ lệ lớn trong tổng số calorie tiêu thụ, thường được hưởng lợi nhiều hơn một cách quá mức cân xứng

Công nghệ mới này thực sự ưu ái các vùng được thủy lợi hóa hơn là các môi trường biên tế Một nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ lúa hiện đại đối với sự phân phối

thu nhập, dựa vào các nghiên cứu trường hợp điển hình ở bảy nước châu Á, đã kết luận

rằng các điều chỉnh của thị trường các yếu tố sản xuất và thị trường sản phẩm phần lớn

chống lại các ảnh hưởng tiêu cực tiềm tàng của việc áp dụng khác biệt các giống hiện

Trang 9

đại ở các môi trường sản xuất (David và Otsuka, 1994) Ví dụ, cả di chuyển lao động

theo mùa lẫn di cư vĩnh viễn đến các vùng được thủy lợi hóa là một hiện tượng thông thường ở châu Á

Về mặt khoa học, việc phát triển các giống lúa cho các môi trường sản xuất khắc nghiệt khó khăn hơn Tuy nhiên, chiến lược hỗ trợ người nghèo phải nhắm vào những

môi trường không thuận lợi nào mà ở đó có tiềm năng thành công Điều này được minh họa bằng những thành quả gần đây trong sản xuất ở các vùng châu thổ của Đông

Ấn, Bangladesh, và Việt Nam, đạt được nhờ việc đưa vào áp dụng các kĩ thuật thủy lợi

chi phí thấp (các bơm và bơm guồng 2-5 mã lực) và nhờ sự thay đổi trong mô thức canh

tác vốn cho phép chuyển từ lúa ruộng sâu năng suất thấp sang các giống MV Ngược lại, nói chung người ta đồng ý với nhau rằng các cây lương thực ngoài lúa thường phù hợp hơn với các vùng đất gò (không phải đất ruộng)

Đo lường tác động đối với việc giảm nghèo

Trong thời kì từ 1965 đến 1985, sự nghèo đói đã giảm mạnh (đo bằng số người sống dưới mức nghèo khổ 1 USD/ngày) nhờ sự gia tăng sản lượng lương thực, việc làm, và các nỗ lực nghiên cứu nông nghiệp công nhưng sau đó cả bốn yếu tố này đã chựng lại

(Lipton, 1999) Việc giảm số người sống dưới mức nghèo khổ 1 USD/ngày trong giai đoạn 1970-1990 ở sáu nước Đông và Đông Nam Á được thể hiện ở Bảng 2 Đa số người

nghèo sống ở nông thôn và chính ở những khu vực này việc giảm nghèo đạt kết quả gây

ấn tượng nhất

Việc giảm tỷ lệ phần trăm người sống dưới mức nghèo khổ ở Nam Á cũng gây ấn tượng không kém Điều này được mô tả rõ nhất trong một nghiên cứu của Datt và Ravallion (1998b) Nghiên cứu này dựa trên các điều tra về mức độ nghèo khổ và tiêu

dùng, được Cơ quan Điều tra Mẫu Quốc gia tiến hành định kì cho 15 bang lớn ở Ấn Độ, kéo dài từ 1957-58 đến 1990-91 Nghiên cứu này liên kết việc giảm nghèo ở nông

thôn với việc tăng năng suất nông trại ở Ấn Độ Hình 6 so sánh xu hướng giảm trong chỉ số khoảng cách nghèo khổ bình phương (SGP)3 với xu hướng tăng của sản lượng Có tương quan 88%, nhưng đã có một độ trễ đáng kể với việc giảm nghèo không xảy

ra trước năm 1975

Trong một nghiên cứu riêng rẽ dựa vào cùng một nguồn dữ liệu, Datt và Ravallion (1998a) xác định những yếu tố giải thích tại sao một số bang ở Ấn Độ lại có thành quả

3 Khoảng cách nghèo khổ (PG) là cách biệt trung bình của dân số sống dưới mức nghèo khổ - được định

nghĩa trong nghiên cứu này như mức chi phí trên đầu người trung bình để có thể đạt được tiêu chuẩn dinh

dưỡng 2400 calories/người/ngày Đối với khoảng cách nghèo khổ bình phương (SPG), cách biệt dưới

mức nghèo khổ được bình phương để thước đo này sẽ cảnh tỉnh về sự bất bình đẳng giữa những người

nghèo

Trang 10

khá hơn các bang khác Họ kết luận rằng mặc dù xu hướng tăng trưởng sản lượng trung bình của nông trại là quan trọng, nhưng nguồn vốn hạ tầng cơ sở vật chất và nhân

lực khởi đầu − cường độ thủy lợi cao hơn, mức độ biết chữ cao hơn, và mức độ tử vong

trẻ sơ sinh ban đầu thấp − đều đóng góp vào sự gia tăng tốc độ giảm nghèo dài hạn ở

nông thôn Trừ các bang Bihar và Assam, các bang trồng lúa khác đều bằng hoặc vượt

mức giảm nghèo trung bình ở nông thôn

Ngược lại với Đông Nam Á, số lượng tuyệt đối những người nghèo ở Nam Á đang chững lại hoặc tiếp tục tăng Ví dụ, số lượng người nghèo nông thôn ở Ấn Độ vào năm

1994 vẫn gần 250 triệu, cơ bản không thay đổi kể từ năm 1970 mặc dù các dữ liệu cho

thấy tỉ lệ người nghèo ở nông thôn Ấn Độ đã giảm từ 55% xuống 37% cùng thời kì (Fan và các tác giả khác, 2000) Ấn Độ xuất khẩu gạo, trong khi các bộ phận lớn dân

cư vẫn thiếu sức mua để có đủ lương thực Theo một nghiên cứu, khoảng cách ngầm về ngũ cốc này do thiếu cầu hiệu dụng được dự phóng sẽ lên đến 160 ngàn tấn ở Nam

Á vào năm 2020 (Conway, 1997)

Các tác động tiêu cực và khả năng duy trì bền vững

Việc thâm canh lúa và sự tăng trưởng nhanh trong sản xuất lúa đã dẫn đến việc ngày càng có nhiều vấn đề khó khăn về môi trường và sức khỏe và làm phát sinh các câu hỏi về khả năng của chúng ta trong việc duy trì tăng trưởng trong một tương lai có thể

dự đoán Pingali và các tác giả khác (1997) cung cấp một phân tích toàn diện về những vấn đề khó khăn này và các tác động của chúng đối với môi trường và sức khỏe

Các vấn đề khó khăn khác nhau ảnh hưởng đến khả năng duy trì bền vững sản xuất là

hậu quả của quá trình thâm canh gắn chặt với công nghệ cách mạng xanh Công nghệ

mới không những dẫn đến việc tăng sản lượng, mà với sự phát triển của thủy lợi, công

nghệ mới còn cho phép trồng hai hay ba vụ lúa ở những nơi mà trước đây chỉ trồng được một vụ Do hệ sinh thái của ruộng lúa đã thay đổi, một loạt các vấn đề khó khăn

về môi trường từ từ phát sinh theo thời gian Người ta đã tìm ra được các giải pháp với

mức độ thành công khác nhau nhưng thường tỏ ra là tạm thời Chúng ta cần tiếp tục một nỗ lực nghiên cứu đơn giản là để duy trì các tiềm năng sản lượng (nghiên cứu được

gọi là nghiên cứu duy trì)

Tiếp theo việc tung ra lần đầu các giống MV, đã xuất hiện các khó khăn về sâu rầy và

dịch bệnh nghiêm trọng − đáng lưu ý nhất là rầy nâu và virus tungro Điều này dẫn đến sự phát triển thêm nhiều giống kháng sâu bệnh (ví dụ IR36) và dẫn đến những nỗ

lực rất thành công của FAO để phát động chiến dịch kiểm soát sâu bệnh hợp nhất −

IPM (FAO, 1990) Các khó khăn về thổ nhưỡng như suy giảm kẽm và phosphorous dẫn đến việc tăng cường nghiên cứu về sự cân bằng dinh dưỡng Các vấn đề khó khăn

về sự thoái hóa thổ nhưỡng và ô nhiễm nguồn nước xuất phát từ việc gia tăng sử dụng

Trang 11

hóa chất Các chất hóa học cũng tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người, đối với

việc chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Rõ ràng một số khó khăn hay ảnh hưởng phụ đã

đi quá xa chứ không chỉ đơn giản là những khó khăn liên quan đến canh tác lúa

Một trong những khó khăn phát sinh gần đây nhất và khó xử lí nhất liên quan đến việc

quản lí các nguồn nước Cho đến gần đây, đa số mọi người đã tin rằng chúng ta sẽ luôn luôn có đủ nước để trồng cây lương thực, để uống, và để dùng cho công nghiệp Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ tới cơn hạn hán gần đây ở Aán Độ để biết rằng nhiều nước

đang bước vào giai đoạn thiếu nước trầm trọng (Seckler và các tác giả khác, 1998, Barker và các tác giả khác, 1999) Nhiều khó khăn về nước như ngập mặn, ngập úng,

khai thác quá độ nước ngầm đa số giới hạn ở các vùng bán khô cằn Tuy nhiên, những

vùng này bao gồm cả hai vựa lúa chính của châu Á - bình nguyên Punjab và Bắc Trung

Quốc - nơi lúa và lúa mì phổ biến là được trồng luân canh Hơn nữa, sự hiếm hoi ngày

càng tăng và cạnh tranh để có nước sẽ lan tràn ra xa ngoài các vùng bán khô cằn và ảnh hưởng sâu sắc đến cách định giá và sử dụng các nguồn nước của chúng ta

Một nhận thức phổ biến là đối với sản xuất lúa, một khối lượng nước lớn bị “lãng phí” Tuy nhiên, cây lúa tiêu thụ lượng nước bằng với các cây ngũ cốc khác Phần lớn nước

“thất thoát” từ ruộng của một nông dân được dùng ở nơi khác, có thể là ruộng của các

nông dân ở kế bên, có thể theo kiểu dòng đối lưu, hay qua việc hút nước ngầm sâu dưới lưu vực

Dù cho thực tế này, hầu hết các hệ thống thủy lợi ở châu Á gió mùa cũng được thiết kế,

quản lí, và duy tu kém (Pingali và các tác giả khác1998) Thông qua việc quản lí tốt hơn ở cấp nông trại và hệ thống, thì có vẻ có khả năng tăng năng suất của nước (Guerra và các tác giả khác1998) Càng ngày người ta càng quan tâm nghiên cứu việc

quản lí nguồn nước hợp nhất (IWRM) vốn tập trung vào việc phân bổ các nguồn nước

hiếm hoi ở cấp độ lưu vực cho các nhu cầu sử dụng cạnh tranh nhau − thủy lợi, đô thị, công nghiệp, sản xuất thủy điện, và môi trường, và tập trung vào mối quan hệ bổ sung

và cạnh tranh lẫn nhau giữa việc phát triển hệ thống kênh và phát triển nước ngầm ở vùng lưu vực Viện Quản lí Nước Quốc tế (IWMI) hiện đang hợp tác với các đồng nghiệp tại một địa điểm ở Trung Quốc để xác định xem làm sao để người Trung Quốc

có thể giảm phân bổ nước ở hồ chứa lớn cho việc tưới tiêu từ 70% xuống còn 30% mà

không ảnh hưởng đến sản lượng lúa

Một vấn đề hóc búa khác về nước liên quan đến sự phát triển các công nghệ và cách thức quản lí nước đối với các vùng tưới tiêu bằng nước mưa và vùng khô hạn mà cuộc

cách mạng xanh chưa vươn tới Vấn đề hóc búa này bao gồm sự kết hợp giữa việc tạo

ra các giống chịu hạn và việc quản lí lượng cung về nước hạn chế để đảm bảo rằng có

đủ nước vào các giai đoạn phát triển quan trọng như giai đoạn lúa làm đòng Các nhà

khoa học bất đồng về các thành quả tiềm tàng thu được từ việc nghiên cứu ở các môi

Trang 12

trường không thuận lợi Pingali và các tác giả khác(1997) đề nghị rằng ưu tiên nghiên

cứu hỗ trợ người nghèo cần chia đều 50/50 nguồn lực cho việc nghiên cứu giữa các môi

trường đất thấp được thủy lợi hóa và các môi trường trồng lúa ít thuận lợi hơn

Tóm lại, sự xuất hiện từ từ và sự nhìn nhận các vấn đề khó khăn liên quan đến thâm

canh đã mở rộng chương trình nghiên cứu lúa Nghiên cứu duy trì để đảm bảo khả

năng duy trì sản xuất lúa nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lai là một quá trình tiếp

diễn, quá trình này mở rộng vượt quá trọng tâm ban đầu là sản lượng và năng suất cao

hơn sang việc đánh giá tác động tiềm năng của việc tăng năng suất đối với môi trường

và sức khỏe và đối với việc giảm nghèo

Tất cả các nước đều đang cố gắng để thực hiện thành công chuyển dịch − sự tiến hóa dần dần của một nền kinh tế từ chỗ chủ yếu dựa trên nông nghiệp lên một nền kinh tế

có đa số lao động và sản lượng thuộc các khu vực công nghiệp và dịch vụ (Timmer, 1997) Sự đa dạng hóa và thương mại hóa các hệ thống nông nghiệp là bộ phận khắng

khít của quá trình chuyển dịch Nhưng để một sự chuyển dịch như vậy diễn ra, lúc đầu

phải đạt được tăng trưởng năng suất nông nghiệp để tạo ra thặng dư lương thực và giải

phóng lao động và các nguồn lực khác cần thiết để hỗ trợ sự tăng trưởng ở khu vực ngoài nông nghiệp Dù thông qua cải thiện năng suất lúa tiếp theo các cải cách thời kì

Minh Trị (1888) ở Nhật Bản, hay việc đưa vào sử dụng các giống lúa Ponlai năng suất

cao ở Đài Loan vào thập niên 20, hay sự phổ biến công nghệ cách mạng xanh ở Nam và Đông Nam Á vào thập niên 60 và 70, thì điểm khởi đầu hầu hết đều giống nhau Cụ thể là, đối với hầu hết các nền kinh tế châu Á, bước đầu tiên trong việc chuyển dịch

này là tăng năng suất đất và lao động trong việc sản xuất lúa

Sự chuyển dịch cơ cấu ở các nền kinh tế châu Á được mô tả ở Bảng 3 Trong 30 năm

qua, tỉ phần trong GDP và tỉ lệ phần trăm lực lượng lao động của nông nghiệp đã giảm,

ở một số quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, và Thái Lan thì nhanh hơn còn ở các nước khác như Philippines và Sri Lanka thì chậm hơn Do mức độ

thu hút lao động vào các khu vực phi trang trại ở hai nước sau chậm, nên một phần lớn

lực lượng lao động đã tìm công việc ở nước ngoài và số tiền gửi về nước đã trở thành nguồn thu ngoại tệ và nguồn thu nhập quan trọng của hộ gia đình

Đối với hầu hết các nước châu Á, trong thập niên 90, GDP từ nông nghiệp chiếm 25%

tổng GDP, nhưng 50% lực lượng lao động hoặc nhiều hơn vẫn còn làm việc trong khu vực nông nghiệp Tỉ lệ 2 hoặc 3:1 giữa lực lượng lao động trên GDP trong nông nghiệp

cho thấy năng suất lao động ở khu vực phi nông nghiệp cao hơn, và cho thấy lao động

sẽ tiếp tục được thu hút sang khu vực phi nông nghiệp vốn sinh lợi nhiều hơn

Trang 13

Một điều hơi nghịch lí là thành công trong việc tăng năng suất lúa không chỉ dẫn đến thay đổi sâu sắc hơn cách thức sản xuất, mà còn đưa đến sự giảm sút dần dần tầm quan

trọng của gạo cả trong tiêu thụ lẫn dưới góc độ là một nguồn thu nhập nông nghiệp của

hộ gia đình Điều này đi kèm với cả sự đa dạng của tiêu thụ và sản xuất, lẫn sự di chuyển từ một nền nông nghiệp phần lớn là tự cấp tự túc sang một nền nông nghiệp thương mại hay định hướng thị trường Trong các phần dưới đây, chúng tôi sẽ mô tả những thay đổi bắt đầu với sự chuyển dịch về nhân khẩu

Về mặt lịch sử, chuyển dịch cơ cấu đi kèm với chuyển dịch về nhân khẩu (Tomich và

các tác giả khác1995) Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình chuyển dịch, tỉ lệ tử vong giảm nhưng tỉ lệ sinh sản vẫn còn cao và tỉ lệ tăng dân số tăng đáng kể Trong giai đoạn thứ hai, sự gia tăng nhanh dân số chấm dứt khi tỉ lệ tăng dân số giảm xuống

mức gần hơn với tỉ lệ tử vong vốn đã giảm mạnh

Bảng 4 cho thấy xu hướng tăng dân số hàng năm ở Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ trong ba giai đoạn Mặc dù giảm mạnh nhất ở Trung Quốc, rõ ràng Nam và Đông Nam Á đang nhanh chóng bước vào giai đoạn chuyển dịch nhân khẩu thứ hai Do xu hướng giảm tăng trưởng dân số và thu nhập tăng, chúng ta có thể

kì vọng sự gia tăng cầu về gạo sẽ giảm Tuy nhiên, sự gia tăng lực lượng lao động sẽ vẫn còn cao trong tương lai gần và việc tìm đủ việc làm có thu nhập cho lực lượng phình ra này sẽ là mối lo chính của hầu hết các chính phủ Áp lực lớn nhất sẽ phát sinh

ở Nam Á, nơi số người sống dưới mức nghèo khổ sẽ tiếp tục tăng, như đã trình bày ở các phần trước

Các thay đổi về các mô thức tiêu thụ lương thực

Hầu hết các cộng đồng dân cư trên thế giới đều có một nhu cầu nội tại, muốn các bữa ăn đa dạng hơn Đối với nhiều người nghèo ở châu Á, gạo vẫn còn là ưu tiên trong bữa

ăn, cung cấp 70% lượng calorie hoặc nhiều hơn Nhưng khi thu nhập tăng, tỉ lệ gạo trong bữa ăn giảm xuống, lúc đầu được thay bằng lúa mì rồi dần dần đến súc sản và các thực phẩm khác Đối với phần lớn châu Á, điều này nghĩa là gia tăng mức độ nhập

khẩu và thách thức ở đây là tìm ra các nông sản xuất khẩu để bù đắp chi tiêu nhập khẩu này

Ở Bảng 5 các nước đã được xếp hạng theo tỉ lệ phần trăm giảm sút của gạo với vai trò

là một phần lượng calorie được cung cấp trong bữa ăn từ 1965 đến 1995 Tỉ lệ giảm sút rõ ràng gắn với tỉ lệ tăng trưởng kinh tế với Miến Điện không giảm chút nào và ở thái cực bên kia Nhật Bản giảm 50%

Trang 14

Các thay đổi trong cách thức canh tác

Trước đây chúng ta đã chỉ ra rằng làm cách nào các giống cao sản thân lùn trung bình

đã đem lại sự thay đổi trông thấy cho các cánh đồng lúa Tiếp sau đó là thêm nhiều thay đổi dễ thấy Khi tỉ lệ tăng trưởng sản lượng giảm, nhu cầu lao động của khu vực phi nông nghiệp tăng Sự gia tăng năng suất lao động, lúc đầu do tăng sản lượng cây lúa, nay đang đạt được thông qua việc áp dụng công nghệ tiết kiệm lao động Bảng 6 cho thấy sự thay đổi về ngày công lao động đối với sản xuất lúa trong một cuộc điều tra tại các nông trại ở Trung Luzon Từ 1966 đến 1979, nhập lượng lao động đã gia tăng vì người ta cần nhiều lao động hơn cho các hoạt động chăm sóc mùa màng và để

thu hoạch khối lượng gạo gia tăng được sản xuất ra Sau năm 1979, nhập lượng lao động đã giảm sút và người ta có thể kì vọng sự giảm sút này sẽ tiếp diễn

Xu hướng tăng lên và sau đó giảm xuống của nhập lượng lao động phản ánh thực thế là

trong những giai đoạn đầu tiên của chuyển dịch nông nghiệp ở châu Á, lao động đã dư

thừa Các công nghệ cách mạng xanh đã tạo ra việc làm bằng cách tăng nhu cầu về lao

động trong một vụ, bằng cách làm cho nhiều khu vực có thể trồng hai vụ lúa, và bằng

cách tạo ra việc làm ngoài nông trại trong nhiều hoạt động liên quan đến nông trại hoặc phi nông trại Khi sự chuyển dịch tiếp diễn và nhu cầu lao động cho khu vực phi

nông trại tăng, thì lương tăng và nhu cầu đối với các công nghệ tiết kiệm lao động ở cấp nông trại cũng tăng Với hơn 50% tổng lực lượng lao động vẫn còn làm việc trong

khu vực nông nghiệp, xuất hiện một mối nguy là việc áp dụng các công nghệ tiết kiệm

lao động có thể tiến triển nhanh hơn khả năng thu hút lao động của khu vực phi nông trại Sự giảm sút tạm thời về nhu cầu lao động phi nông trại như một hậu quả của cuộc

khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1998 minh họa điểm này Lipton (1989) cảnh

báo rằng ưu tiên cao nhất đối với việc nghiên cứu chống lại đói nghèo phải là tăng sản

lượng bằng những cách thức vốn làm tăng đáng kể nhu cầu đối với lao động Với tư cách là một cách sử dụng các quĩ viện trợ ở các trung tâm nghiên cứu của châu Á, các

nỗ lực để tiết kiệm lao động như nghiên cứu về gieo hạt trực tiếp, máy cấy cơ khí, máy

tìm diệt cỏ dại, và máy đập lúa cơ khí đang đưa đến sự tuyệt vọng Vấn đề này chủ yếu là vấn đề định thời gian Khi các nền kinh tế tăng trưởng, người ta đạt đến một điểm lúc đó không còn là thừa mà là thiếu lao động ở khu vực nông nghiệp

Tốc độ áp dụng các công nghệ tiết kiệm lao động này thay đổi theo vùng, nhưng xu thế

hiển nhiên được đánh dấu bằng việc các cách thực hành và kĩ thuật đã được sử dụng hàng thế kỉ qua trong sản xuất lúa nước đang biến mất từ từ ở nhiều vùng Máy cày đang thay thế con trâu trong khâu làm đất; gieo hạt trực tiếp đang thay thế cấy; thuốc diệt cỏ đang thay thế nhổ cỏ bằng tay; máy đập cơ khí đang thay thế cách đập lúa bằng

tay truyền thống

Trang 15

Quả thật, bài hát cổ truyền Philippine: “trồng lúa không bao giờ sung sướng, làm việc từ sáng sớm đến chiều tối; đứng không yên, ngồi cũng không yên, không được nghỉ ngơi lấy một chút”, xem ra đã là một báo hiệu của những điều sắp đến Trong khi thanh niên không còn xem việc làm ruộng là một kế sinh nhai, những người còn ở lại chăm sóc các cánh đồng lúa đang áp dụng các cách làm mới để giảm nhẹ gánh nặng và tăng năng suất lao động của họ

Thay đổi về nguồn thu nhập của hộ gia đình nông thôn

Trong khi cây lúa đang trở nên một phần ngày càng nhỏ hơn trong toàn bộ nền kinh tế,

đối với các nông dân trồng lúa, cây lúa cũng trở thành một phần nhỏ hơn trong thu nhập hộ gia đình Nghiên cứu của Hayami và Kikuchi (2000) về làng Laguna, Philippine trong hơn ba thập kỉ đã chứng minh phương hướng của những thay đổi này (Hình 7) Tỷ phần thu nhập từ cây lúa đã giảm từ 50% vào thập niên 70 xuống còn 15% vào thập niên 90 Tỷ phần thu nhập của các hoạt động nông trại khác cũng đã giảm sút, nhưng từ từ hơn, và vào thập niên 80, đã vượt thu nhập từ cây lúa Thu nhập

từ các hoạt động phi nông trại tăng từ 10% lên hơn 60%

Các điều tra xác định các nguồn thu nhập hộ gia đình đã được tiến hành ở sáu làng ở hai địa điểm tại Thái Lan vào năm 1987 và 1994 (Isvilanonda và Hossain, 1998) và ở

bốn làng tại Philippine vào năm 1985 và 1997 (Marciano, Gascon, Cabrera, và Hossain, 2000) Các làng này đại diện cho ba hệ sinh thái trồng lúa − có thủy lợi, tưới

tiêu nhờ nước mưa, và đất cao Các kết quả được tóm tắt ở Bảng 7 Mặc dù thời gian

nghiên cứu có ngắn hơn, mô thức này hầu như giống với mô thức của làng Laguna Tầm quan trọng của cây lúa như một nguồn thu nhập hộ gia đình đã giảm sút và thu nhập phi nông trại tăng ở cả ba môi trường trồng lúa

Chúng ta phải cẩn trọng khi khái quát hóa các kết quả từ những nghiên cứu điển hình các làng này đặc biệt liên quan đến tốc độ và độ lớn của sự thay đổi Ví dụ, vị trí của

làng sẽ liên quan rất nhiều đến các cơ hội việc làm phi nông trại Một điều tra mẫu đã

được tiến hành ở Bangladesh bao gồm 1245 hộ gia đình nông thôn vào năm 1988 và

1316 hộ gia đình nông thôn vào năm 1995 (Hossain, 1998) Mô thức thay đổi tương tự

nhưng từ từ hơn với tỉ lệ thu nhập từ cây lúa giảm từ 28 xuống còn 24% và tỉ phần thu

nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp tăng từ 37 lên đến 46%

Đa dạng hóa trong khu vực nông nghiệp

Muốn phát triển thành công nông nghiệp phải đa dạng hóa nông nghiệp ra ngoài các cây lương thực cơ bản như gạo mà nhu cầu đang dần dần giảm xuống Đối với các

Trang 16

nước nhỏ hơn, đa dạng hóa phải gắn liền với việc phát triển các thị trường xuất khẩu

Đa dạng hóa nông nghiệp có thể xuất hiện ở cấp độ nông trại, hay trong toàn bộ khu vực nông nghiệp, với các khu vực khác nhau của một nước chuyên môn hóa trong các loại cây khác nhau

Nói chung ở châu Á, sự đa dạng hóa các nông trại trồng lúa sang các cây khác cây lúa

là khó khăn Điều này là do các hệ thống thủy lợi bề mặt đã được thiết kế và quản lí để cung cấp đủ nước tưới cho cây lúa chứ không phải để cung cấp nước cho các cây ngoài cây lúa khi cần đến Các hệ thống này được gọi là do “cung” chứ không phải do

“cầu” thúc đẩy Đối với hệ thống do cung thúc đẩy, nông dân phải điều chỉnh mùa màng phù hợp với thời gian có nước tưới Đối với hệ thống do cầu thúc đẩy, lượng nước tưới cung cấp được điều chỉnh theo mùa màng mà nông dân đã chọn gieo trồng Một ngoại lệ đáng lưu ý là Đài Loan (Levine và các tác giả khác, sắp được xuất bản)

Ở đây, khu vực được tưới tiêu vẫn giữ nguyên tương đối không thay đổi từ giữa thập niên 60 đến giữa thập niên 80 Nhưng suốt thời kì này, diện tích trồng lúa và mía đã giảm gần 50% và được thay thế bằng cây ăn trái, rau, và hạt làm thức ăn cho vật nuôi

cho phép giá trị của sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng và giá trị xuất khẩu - bao gồm

vật nuôi - đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngoại tệ Khả năng điều chỉnh cây trồng này của nông dân phần lớn là do các nguồn đầu tư to lớn của chính phủ vào việc hợp nhất đất đai và vào cơ sở hạ tầng thủy lợi và thoát nước suốt thập niên 50 và 60 cho phép lưu chuyển nước ở mức 10 hectare Cũng như ở Đài Loan, nhiều hệ thống thủy lợi của Trung Quốc đã được thiết kế với mức độ ăn khớp của cơ sở hạ tầng và mức độ

kiểm soát và quản lí nguồn nước cao, những yếu tố này cần thiết để tạo điều kiện đa dạng hóa mùa màng từ cây lúa sang các cây trồng khác

Tuy nhiên đối với hầu hết phần còn lại của châu Á, sự đa dạng hóa nông nghiệp được thủy lợi hóa đang diễn ra không phải thông qua việc quản lí tốt hơn các hệ thống thủy

lợi kênh rạch, mà phần lớn thông qua đầu tư của nông dân cá thể vào giếng đóng và gần đây hơn là thông qua các hệ thống thủy lợi nhỏ như vòi phun, máng tràn, và nhỏ giọt Như đã trình bày trước đây, thủy lợi nước ngầm đã phát triển nhanh hơn thủy lợi

nước mặt ở một số nước và chi phí của những công nghệ thủy lợi nhỏ này đã giảm nhanh Các khu vực lớn của các vùng mới được thủy lợi hóa đang được trồng các cây ngoài lúa Sự khai thác ban đầu nước ngầm (và hiện nay là sự khai thác quá mức) phần nhiều diễn ra ở các vùng bán khô cằn nhưng hiện nay đang dần dần lan ra các vùng khí hậu gió mùa

Vài nước châu Á đã thành công trong việc phát triển các loại cây không cần thủy lợi hóa để phục vụ xuất khẩu Tiếp sau thành công ban đầu trong việc phát triển sản phẩm cao su xuất khẩu, Malaysia chiếm lĩnh 80% thị trường dầu cọ của thế giới vào thập niên 70 và 80 Mặc dù vẫn duy trì vị trí nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Thái Lan đã phát triển thành công các thị trường xuất khẩu khoai mì, bắp, và đường

Trang 17

Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nhưng cũng là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ tư thế giới

VÀ CÁC CHÍNH SÁCH VỀ GẠO Ở TRONG NƯỚC

Giá gạo thế giới cao và không ổn định vào thập niên 60 và 70 đã tạo ra một động cơ

khuyến khích mạnh mẽ cho các nước nhập khẩu châu Á áp dụng công nghệ cách mạng

xanh và nỗ lực để tự túc về gạo Các đầu tư lớn vào thủy lợi đã cho các nước và vùng

nằm ngoài các vùng châu thổ lớn ở châu Á ít nhất là lợi thế so sánh tạm thời trong việc

sản xuất gạo Về lí do chính trị, vào thời gian này sự biến mất của các sản phẩm xuất

khẩu từ Miến Điện, Campuchia và Việt Nam đã mang thêm sự không chắc chắn vào thị trường thế giới Nhưng sự áp dụng thành công các công nghệ mới và sự tăng trưởng

cũng như sự trưởng thành của các nền kinh tế trồng lúa ở châu Á đã thay đổi bức tranh

một cách đầy ấn tượng Trong phần này, chúng ta sẽ lần theo sự phát triển của thị trường gạo thế giới, sự chuyển dịch lợi thế so sánh trong sản xuất gạo, và ý nghĩa của điều này đối với các chính sách về gạo ở trong nước

Thị trường gạo thế giới

Việc đưa vào hoạt động kênh đào Suez vào năm 1856 đã thúc đẩy sự phát triển xuất khẩu gạo từ các nước đồng bằng lớn ở Đông Nam Á - lưu vực sông Irrawaddy, Chao Phia, và Mekong Sự thống trị của Miến Điện, Thái Lan, và các nước Đông Dương trong nền thương mại gạo thế giới đã tiếp diễn cho đến sau Thế chiến thứ II, cung cấp

nguồn ngoại tệ lớn cho những nước này Xuất khẩu gạo vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng

sản lượng, từ 3 đến 5% Sau Thế chiến II, xuất khẩu gạo đến Nam và Đông Nam Á đã

tăng, vượt hơn một nửa tổng số Từ thập niên 50 đến giữa thập niên 60, giá gạo xuất khẩu duy trì ổn định Việc rút lui của Miến Điện, Campuchia, và Việt Nam khỏi thị trường xuất khẩu và sự thay đổi chính sách ở Thái Lan và các nước nhập khẩu gạo dẫn

đến sự dao động lớn của giá gạo thế giới Các nước nhập khẩu gạo đã áp dụng các chính sách để ổn định giá gạo nội địa, do đó chuyển sự bất ổn sang cho thị trường thế giới Từ 1961 đến 1980, hệ số biến thiên của giá gạo thế giới là 30% trong khi hệ số biến thiên của giá gạo nội địa ở đa số các nước châu Á là chưa đến một nửa hệ số thế

giới (Siamwalla và Haykin, 1983)

Sự kết hợp các yếu tố dẫn đến gia tăng mạnh sản lượng gạo trên đầu người từ 1981 đến

1985 (Hình 8) Điều này dẫn đến sự rớt giá đột ngột gạo thế giới xuống còn chưa đến

50% mức trước đây (Hình 1) Chúng ta có thể đặt câu hỏi là tại sao xu hướng tăng vững chắc của sản lượng trên đầu người trước đầu thập niên 80 đã không dẫn đến sự sụt giảm sớm hơn nhiều của giá gạo thế giới Lí do xác đáng nhất là các nước châu Á

nghèo hơn nhiều vào thời kì sớm hơn này, điều này nghĩa là độ co dãn theo thu nhập

Trang 18

của cầu vẫn dương Do đó, sự tăng trưởng trong sản xuất gạo đã phải chạy theo không

chỉ sự gia tăng dân số, mà còn với sự gia tăng thu nhập Việc gia tăng sản lượng trên đầu người là cần thiết để giữ giá gạo thế giới bình ổn xét theo giá trị thực Khi các nền

kinh tế này tăng trưởng, gia tăng dân số giảm (Bảng 4) và tỉ lệ gạo trong các bữa ăn cũng giảm (Bảng 5) Sự tăng cầu trong tương lai được dự phóng sẽ bằng với mức tăng

dân số thấp hơn trong thời điểm hiện tại (Rosegrant và những tác giả khác 1995)

Trong 15 năm qua, giá gạo thế giới vẫn duy trì ở mức thấp và tương đối ổn định Tầm

quan trọng to lớn hơn của thủy lợi trong sản xuất gạo và sự cải thiện khả năng kháng sâu rầy và dịch bệnh của các giống lúa hiện đại đã có khuynh hướng giảm sự biến thiên về sản lượng trên đầu người Sự tái xuất hiện và tăng cường định hướng thương mại của các nước xuất khẩu gạo lớn và sự chuyển động về phía thương mại tự do hơn và hội nhập hơn sẽ cải thiện hoạt động của thị trường gạo thế giới Ngoài Thái Lan và

Việt Nam, nếu may mắn thì Campuchia và Myanmar (Miến Điện) có thể trỗi dậy để một lần nữa trở thành những đấu thủ quan trọng trong tương lai gần

Cuối cùng, từ 1995 đến 1999, đã có sự gia tăng mạnh về xuất khẩu gạo trên thị trường

thế giới (Hình 9) Xuất khẩu trung bình của thế giới trong giai đoạn 1990-94 là 14,3 triệu tấn mét (1.000kg), và trong giai đoạn 1995-99 là 22,5 triệu tấn mét Mặc dù cầu

đối với gạo xuất khẩu tăng đều đặn ở châu Phi và Mỹ Latin, nhưng sự tăng vọt bất ngờ

này là do cầu tăng gấp đôi ở các nước OPEC và gấp ba ở các nước nhập khẩu châu Á −

phần lớn là do giảm sản lượng ở Indonesia và Phillipine vào năm 1998 Liệu khối lượng ngoại thương này có được duy trì hay tiếp tục tăng trưởng hay không sẽ phụ thuộc vào sự gia tăng tiếp tục của cầu ở ngoài châu Á, và vào quyết định của các nước

nhập khẩu châu Á liên quan đến mức độ bảo hộ sản xuất gạo trong nước

Lợi thế so sánh

Việc đưa vào áp dụng công nghệ mới đã làm tăng lợi thế so sánh trong sản xuất gạo cho nhiều trong số các nước nhập khẩu gạo ở châu Á Tổng lượng gạo nhập khẩu của

châu Á đã giảm từ trung bình 4,5 triệu tấn mét trong giai đoạn 1965-75 xuống còn xấp

xỉ 3 triệu tấn mét trong giai đoạn 1985-95 Trong giai đoạn trước, xuất khẩu của châu

Á chiếm xấp xỉ một nửa xuất khẩu của thế giới trong khi vào giai đoạn sau chỉ còn chiếm 25% Gần đây hơn, nhập khẩu của châu Á một lần nữa đã tăng lên, nhưng vẫn cần chờ xem liệu xu hướng này có tiếp diễn hay không

Từ đầu thập niên 80, nhiều nước nhập khẩu gạo ở châu Á đã bắt đầu mất lợi thế so sánh Đặc biệt xu thế này bao gồm các nền kinh tế quốc đảo ở Nam và Đông Nam Á

vốn đã được hưởng lợi rất sớm từ công nghệ cách mạng xanh (Hình 10) Các nghiên cứu gần đây về lợi thế so sánh kinh tế đã được tiến hành ở Philippine (Estudillo và những tác giả khác 1999) và ở Sri Lanka (Kikuchi và những tác giả khác, sắp công bố)

Trang 19

Ở cả hai nghiên cứu này, đã xuất hiện một xu hướng tăng chi phí sản xuất gạo nội địa

kể từ thập niên 80, phần lớn là do gia tăng mức lương Chi phí sản xuất nội địa trên mỗi

tấn mét gạo đã tăng cao hơn mức chi phí nhập khẩu một tấn gạo Đối với những nước này,

tỉ lệ lợi ích - chi phí không còn biện minh cho việc đầu tư vào các cơ sở vật chất thủy lợi mới vì những lí do kinh tế

Ngược lại, lợi thế so sánh của các nước đồng bằng, vốn bao gồm các nước xuất khẩu gạo truyền thống, đã được tăng cường Những tiến bộ gần đây trong quản lí nguồn nước và phát triển nước ngầm đã tạo điều kiện cho việc đưa vào áp dụng công nghệ

cách mạng xanh và đẩy nhanh sự gia tăng sản lượng gạo ở Việt Nam, Bangladesh, và

Tây Bengal Do mức lương thấp, phản ánh sự thiếu cầu đối với lao động phi nông trại,

và do nguồn nước dồi dào, các nước đồng bằng sẽ duy trì một lợi thế so sánh mạnh trong sản xuất gạo trong tương lai có thể dự kiến

Các chính sách về gạo ở trong nước

Các nhà hoạch định chính sách đối với gạo ở trong nước đứng trước hai quyết định - nên ấn định giá gạo ở mức nào và làm sao để đảm bảo ổn định giá gạo Việc ấn định

mức giá gạo nội địa trở nên một vấn đề chính trị khó khăn hơn khi giá gạo thế giới đã

giảm mạnh vào giữa thập niên 80 Các nước sản xuất gạo châu Á phát triển hơn về cơ

bản đều đã chọn cùng một chính sách trong những năm gần đây: giữ giá nội địa cao hơn giá thế giới Nhật Bản và Hàn Quốc hiện nay có các tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa rất cao, và là những ví dụ rõ nhất về lựa chọn này (Bảng 8) Chọn lựa này có thể phần lớn

là do sự tăng giá đáng kể của đồng tiền quốc gia (đồng yên và won), vì giá gạo nội địa

thực cao hơn chỉ góp phần nhỏ vào các tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa cao (Timmer, 1993)

Do đó, liệu các nước khác có đi theo con đường bảo hộ cao mà Nhật Bản và Hàn Quốc

đã chọn hay không, điều này có thể phụ thuộc vào những điều xảy đến cho giá gạo thế

giới và tỉ giá hối đoái tương lai

Mâu thuẫn giữa mức độ bảo hộ cao đối với gạo và tự do hóa thương mại gia tăng sẽ được giải quyết như thế nào vẫn còn chưa rõ ràng Mặc dù Vòng đàm phán Uruguay của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) là một cột mốc chính đối với

thương mại nông nghiệp quốc tế, nhưng chưa có nước sản xuất gạo châu Á nào đưa ra

các cam kết quốc tế có tính ràng buộc quan trọng theo hướng cho phép cân bằng giữa giá gạo thế giới và giá gạo nội địa Có thể các cam kết đáng kể nhất đã được đưa ra trong khuôn khổ Hiệp định Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) Indonesia và Malaysia đã đồng ý dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan (NTBs) đối với gạo vào năm 2010, với thuế nhập khẩu tối đa là 20% đối với thương mại trong nội bộ ASEAN Philippine cũng đã

đồng ý dỡ bỏ NTBs vào thời điểm đó, nhưng với thuế nhập khẩu tối đa đến nay vẫn chưa được xác định Các thỏa thuận này có thể có ảnh hưởng lớn đến người sản xuất và tiêu thụ gạo ở những nước đó, đặc biệt là từ khi hai nước dẫn đầu về xuất khẩu gạo

Ngày đăng: 23/12/2013, 14:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tăng trưởng trung bình chung hàng năm của diện tích, sản lượng và sản - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Bảng 1 Tăng trưởng trung bình chung hàng năm của diện tích, sản lượng và sản (Trang 25)
Bảng 2:   Sự nghèo khó tuyệt đối trong giai đoạn 1970-90 ở các nước được chọn - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Bảng 2 Sự nghèo khó tuyệt đối trong giai đoạn 1970-90 ở các nước được chọn (Trang 26)
Bảng 6: Nhập lượng lao động trong sản xuất gạo (ngày công / ha) ở Trung Luzon, - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Bảng 6 Nhập lượng lao động trong sản xuất gạo (ngày công / ha) ở Trung Luzon, (Trang 28)
Bảng 5: Thay đổi về phần trăm calorie từ gạo trong tổng cung calorie trên đầu - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Bảng 5 Thay đổi về phần trăm calorie từ gạo trong tổng cung calorie trên đầu (Trang 28)
Bảng 7: Thay đổi của phần trăm thu nhập từ cây lúa, các hoạt động sản xuất nông - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Bảng 7 Thay đổi của phần trăm thu nhập từ cây lúa, các hoạt động sản xuất nông (Trang 29)
Hình 1: Giá gạo thực của thế giới (100 Bs, FOB Bangkok) - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 1 Giá gạo thực của thế giới (100 Bs, FOB Bangkok) (Trang 30)
Hình 2:  Mối quan hệ giữa giá phân urea thế giới và tổng lượng phân bón mà - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 2 Mối quan hệ giữa giá phân urea thế giới và tổng lượng phân bón mà (Trang 31)
Hình 3:   Tỉ lệ của diện tích được thủy lợi hóa theo nguồn, Trung Quốc và Aán - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 3 Tỉ lệ của diện tích được thủy lợi hóa theo nguồn, Trung Quốc và Aán (Trang 32)
Hình 4:   Các thay đổi về diện tích và sản lượng ở châu Á theo hướng - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 4 Các thay đổi về diện tích và sản lượng ở châu Á theo hướng (Trang 33)
Hình 5:  Tổng kết về diện tích lúa ở châu Á theo loại hình canh tác - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 5 Tổng kết về diện tích lúa ở châu Á theo loại hình canh tác (Trang 34)
Hình 6:  Khoảng cách nghèo khổ bình phương (SPG)và sản lượng nông trại - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 6 Khoảng cách nghèo khổ bình phương (SPG)và sản lượng nông trại (Trang 35)
Hình 7:     Thay đổi về phần trăm thu nhập từ lúa, các hoạt động nông trại - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 7 Thay đổi về phần trăm thu nhập từ lúa, các hoạt động nông trại (Trang 36)
Hình 8:     Sản xuất lúa trên đầu người ở châu A Ù - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 8 Sản xuất lúa trên đầu người ở châu A Ù (Trang 37)
Hình 9:    Tỉ lệ của xuất khẩu gạo thế giới trong sản xuất gạo thế giới - Tài liệu Nền kinh tế lúa gạo châu Á trong quá trình chuyển đổi doc
Hình 9 Tỉ lệ của xuất khẩu gạo thế giới trong sản xuất gạo thế giới (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w